Tải bản đầy đủ

Hội đồng xét xử sơ thẩm vụ án hình sự từ thực tiễn thành phố Hồ Chí Minh (Luận văn thạc sĩ)

VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGUYỄN TUẤN ANH

HỘI ĐỒNG
XÉT XỬ SƠ THẨM VỤ ÁN HÌNH SỰ
TỪ THỰC TIỄN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Ngành: Luật hình sự và tố tụng hình sự
Mã số: 8.38.01.04

Thành phố Hồ Chí Minh, năm 2020

ĐỀ CƯƠNG LUẬN VĂN THẠC SĨ


VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI


NGUYỄN TUẤN ANH

HỘI ĐỒNG
XÉT XỬ SƠ THẨM VỤ ÁN HÌNH SỰ TỪ THỰC TIỄN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Ngành: Luật hình sự và tố tụng hình sự
Mã số: 8 38 01 04

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
PGS.TS. NGUYỄN TẤT VIỄN

Thành phố Hồ Chí Minh, năm 2020.



LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của bản thân tôi, được
thực hiện trên cơ sở nghiên cứu tổng hợp lý thuyết, khảo sát tình hình thực
tiễn và dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS Nguyễn Tất Viễn.
Luận văn này chưa từng được công bố.
Tp. Hồ Chí Minh, ngày 22 tháng 3 năm 2020
Học viên

Nguyễn Tuấn Anh


MỤC LỤC
Danh mục các từ viết tắt
Danh mục các bảng biểu
MỞ ĐẦU ...................................................................................................... 1
Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ
THẨM VỤ ÁN HÌNH SỰ .......................................................................... 7
1.1 Khái quát chung về Hội đồng xét xử sơ thẩm vụ án hình sự .................. 7
1.2. Đặc trưng mô hình tố tụng hình sự ở Việt Nam và sự khác biệt mô hình tố
tụng hình sự so với một số nước ................................................................. 20
Tiểu kết chương 1........................................................................................ 27
Chương 2: PHÁP LUẬT VỀ HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM VỤ ÁN
HÌNH SỰ VÀ THỰC TIỄN ÁP DỤNG TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ


MINH.......................................................................................................... 28
2.1. Khái quát các quy định pháp luật về Hội đồng xét xử từ năm 1945 đến
trước khi ban hành Bộ luật TTHS năm 2015 .............................................. 28
2.2. Các quy định về Hội đồng xét xử sơ thẩm vụ án hình sự theo Bộ luật
TTHS năm 2015 .......................................................................................... 33
2.3. Thực tiễn áp dụng các quy định pháp luật về hội đồng xét xử vụ án hình
sự tại Thành phố Hồ Chí Minh ................................................................... 41
Tiểu luận Chương 2 ..................................................................................... 56
Chương 3: YÊU CẦU VÀ GIẢI PHÁP BẢO ĐẢM THỰC HIỆN ĐÚNG
CÁC QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM VỤ
ÁN HÌNH SỰ ............................................................................................. 57
3.1. Yêu cầu thực hiện các quy định pháp luật về Hội đồng xét xử sơ thẩm vụ
án hình sự .................................................................................................... 57
3.2. Một số giải pháp bảo đảm thực hiện đúng các quy định pháp luật về Hội
đồng xét xử sơ thẩm vụ án hình sự ............................................................. 64
KẾT LUẬN ................................................................................................ 74
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ................................................. 76


DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

BLTTHS

Bộ luật Tố tụng hình sự

TTHS

Tố tụng hình sự

HĐXX

Hội đồng xét xử

XHCN

Xã hội chủ nghĩa

BLHS

Bộ luật Hình sự

TP.HCM

Thành phố Hồ Chí Minh


DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU

Số hiệu
bảng

Tên bảng

Trang

Bảng 2.1

Bảng thống kê kết quả thụ lý và giải quyết các vụ án
hình sự sơ thẩm tại TAND TP.HCM từ năm 2015 đến
2019

45

Bảng 2.2

Bảng thống kê kết quả thụ lý và giải quyết các vụ án
hình sự sơ thẩm tại TAND cấp huyện từ năm 2015 đến
2019.

47

Bảng 2.3

Số lượng biên chế Thẩm phán ngành Tòa án nhân dân 48, 49
hai cấp Thành phố Hồ Chí Minh tính đến tháng 6/2019

Bảng 2.4 Chất lượng Thẩm phán ngành Tòa án nhân dân hai cấp 50, 51
Thành phố Hồ Chí Minh tính đến tháng 6/2019


MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài.
Quá trình giải quyết vụ án hình sự là một quá trình liên tục, trải qua nhiều
giai đoạn tố tụng khác nhau như: Khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án.
Mỗi giai đoạn tố tụng đều có những đặc điểm và nhiệm vụ riêng do một cơ quan
nhất định thực hiện, các cơ quan này được gọi là cơ quan tiến hành tố tụng (Cơ
quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án). Suy cho cùng, hoạt động của các cơ quan
tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đều hướng tới chất
lượng xét xử thông qua phiên tòa, thể hiện bằng bản án nghiêm minh, đúng pháp
luật và được xã hội đồng tình. Để đạt được điều đó phụ thuộc vào nhiều yếu tố,
trong đó có trách nhiệm và quyền hạn của Hội đồng xét xử để các quy định pháp
luật có tính khả thi khi áp dụng.
Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược
cải cách tư pháp đến năm 2020, tiếp theo đó là Kết luận số 79-KL/TW của Bộ
Chính trị về Đề án đổi mới tổ chức và hoạt động của toà án, viện kiểm sát và cơ
quan điều tra theo Nghị quyết 49-NQ/TW và Kết luận số 92-KL/TW của Bộ
Chính trị về tiếp tục thực hiện Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020, là
bước ngoặt quan trọng trong công cuộc cải cách tư pháp. Theo đó, xác định Tòa
án là khâu trung tâm của quá trình cải cách tư pháp, xét xử là khâu trọng tâm của
toàn bộ hoạt động tư pháp. Bởi lẽ, thực chất hiệu quả của hoạt động tư pháp thể
hiện chủ yếu ở hoạt động xét xử tại phiên tòa của HĐXX bằng bản án hay quyết
định của Tòa án. Trong số các quan điểm và chủ trương của Đảng về cải cách tư
pháp thì chủ trương đề cao vai trò của Tòa án trong quá trình xây dựng và hoàn
thiện nhà nước pháp quyền XHCN là cấp thiết. Theo đó, về mặt nhận thức cũng
như quá trình tổ chức thực tiễn và xây dựng, hoàn thiện pháp luật phải đảm bảo
để Tòa án thực sự đóng vai trò là trung tâm của hệ thống tư pháp, hoạt động xét
xử của Tòa án là hoạt động trọng tâm của tố tụng hình sự (TTHS) ở nước ta mà
cụ thể là Hội đồng xét xử.


Như vậy, khâu đầu tiên trong các nỗ lực này là vấn đề nhận thức, trên cơ
sở đó để triển khai các giải pháp tổ chức, hoạt động thực tiễn và hoàn thiện pháp
luật mà trọng tâm là pháp luật về TTHS. Thực tiễn công tác triển khai cải cách
tư pháp những năm qua, kể từ khi có Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005
của Bộ Chính trị cho thấy mặc dù đã đạt được những nhận thức chung về vị trí,
vai trò của Tòa án trong hệ thống tư pháp, cũng như trong TTHS nhưng vẫn
chưa có những chuyển biến tích cực trên thực tiễn. Tình hình này do nhiều
nguyên nhân nhưng trước hết là nhận thức lý luận về "khâu trung tâm" của hệ
thống tư pháp. Từ đó, đang thiếu những cơ sở pháp lý nhằm chuyển hóa ý chí và
nhận thức thành những cơ chế pháp lý, những đảm bảo về chức năng, thẩm
quyền và tổ chức cán bộ làm cho Tòa án thực sự đóng vai trò là trung tâm và
hoạt động xét xử thực sự là hoạt động trọng tâm.
Hiến pháp năm 2013 đã chính thức quy định: “Tòa án nhân dân là cơ quan
xét xử của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thực hiện quyền tư pháp.
Tòa án nhân dân có nhiệm vụ bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người, quyền
công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền
và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân”. Cùng với đó, Luật Tổ chức Tòa án
nhân dân và Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014 được ban hành để
bảo đảm tính đồng bộ, thống nhất với hệ thống pháp luật.
Ngày 27/11/2015, tại Kỳ họp thứ 10, Quốc hội khóa XIII đã thông qua Bộ
luật Tố tụng hình sự năm 2015, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2018. Đây là
một trong những đạo luật quan trọng về tố tụng tư pháp liên quan trực tiếp đến
quyền con người, quyền công dân theo tinh thần Hiến pháp năm 2013.
Trong những năm qua, thực hiện các nghị quyết của Đảng, nhận thức của
cán bộ, đảng viên và toàn xã hội về quyền tư pháp đã có những chuyển biến tích
cực. Để đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ đặt ra, ngành Tòa án đã không ngừng nâng
cao chất lượng trong việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình, đặc biệt
trong công tác xét xử các vụ án hình sự sơ thẩm mà trọng tâm là nâng cao chất
lượng tranh tụng tại phiên tòa. Kết quả cho thấy, ngành Tòa án đã thực hiện tốt
Trang 9/80


chức năng, nhiệm vụ của mình, góp phần không nhỏ vào công cuộc đấu tranh
phòng chống tội phạm trong thời kỳ mới.
Tại Thành phố Hồ Chí Minh do đặc thù là đô thị đặc biệt, một trung tâm
lớn về kinh tế, văn hóa, giáo dục, khoa học công nghệ, đầu mối giao lưu và hội
nhập quốc tế; có vị trí chính trị quan trọng của cả nước là đầu tàu, động lực, có
sức hút lan tỏa lớn của vùng kinh tế trong điểm phía Nam. Bên cạnh đó, cũng là
địa phương có số lượng các vụ án hình sự lớn hơn rất nhiều so với các tỉnh thành
còn lại và chiếm tỷ lệ cao trên cả nước. Do đó, vị trí và vai trò của ngành Tòa án
nhân dân hai cấp Thành phố Hồ Chí Minh trong việc thực hiện chức năng xét xử
có ý nghĩa quan trọng trong việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ của Tòa án. Tuy
nhiên, bên cạnh những kết quả tích cực đạt được, công tác thực hành quyền xét
xử và thực hiện quyền tư pháp của Tòa án vẫn còn tồn tại những mặt hạn chế
nhất định.
Trước tình hình đó, việc tiếp tục nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực
tiễn về Hội đồng xét xử sơ thẩm vụ án hình sự tại Tòa án nhân dân hai cấp
Thành phố Hồ Chí Minh, từ đó đưa ra những kiến nghị, giải pháp nhằm nâng
cao chất lượng của Hội đồng xét xử sơ thẩm vụ án hình sự tại Thành phố Hồ Chí
Minh là rất cần thiết.
Từ những lý do nêu trên, học viên lựa chọn đề tài “Hội đồng xét xử sơ
thẩm vụ án hình sự từ thực tiễn thành phố Hồ Chí Minh”.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Từ khi BLTTHS năm 2015 có hiệu lực và trước đó là BLTTHS năm
2003, đã có một số công trình nghiên cứu về Hội đồng xét xử sơ thẩm vụ án
hình sự và một số nội dung có liên quan như:
- TS. Uông Chu Lưu (Chủ nhiệm) Báo cáo Tổng hợp kết quả nghiên cứu
Đề tài khoa học cấp Nhà nước “Cải cách các cơ quan tư pháp, hoàn thiện hệ
thống các thủ tục tư pháp, nâng cao hiệu quả và hiệu lực xét xử của Tòa án

Trang 10/80


trong nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân”, Mã số:
KX.04.06; Bộ Tư pháp, Hà Nội 2006;
- Luận án tiến sỹ của Nguyễn Duy Giảng “Các chủ thể tiến hành tố tụng
trong Luật Tố tụng hình sự Việt Nam trước yêu cầu cải cách tư pháp”, bảo vệ tại
Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội, 2014;
- Sách“Trình tự thủ tục giải quyết các vụ án hình sự” của Mai Thanh
Hiếu và Võ Chí Công, 2005, Nxb Lao động, Hà Nội;
- Sách “Cẩm nang pháp luật và nghiệp vụ dành cho Hội thẩm trong xét xử
các vụ án hình sự”, Vũ Hoài Nam (2014), Nxb Tư pháp, Hà Nội.
- Luận văn Thạc sĩ luật học“Người tiến hành tố tụng trong cơ quan Tòa án
nhân dân (Trên cơ sở số liệu thực tiễn địa bàn tỉnh Đắk Lắk)”, của Tạ Thị Ngọc
Điệp (2015), Khoa Luật - Đại học Quốc Gia Hà Nội;
- Luận văn Thạc sĩ luật học “Áp dụng pháp luật hình sự của Tòa án nhân
dân (qua thực tiễn tỉnh Thanh Hóa)”, của Đàm Cảnh Long (2012), Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội;
- Luận án tiến sỹ luật học “Xét xử sơ thẩm hình sự từ thực tiễn thành phố
Hồ Chí Minh”, của Lê Thanh Phong (2018), Học viện Khoa học xã hội;
- Luận văn thạc sĩ luật học “Chức năng xét xử sơ thẩm vụ án hình sự của
Tòa án theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam từ thực tiễn quận Sơn Trà,
thành phố Đà Nẵng”, của Nguyễn Thị Thùy Trang (2018), Học viện Khoa học
xã hội;
- “Vai trò của Thẩm phán trong tố tụng hình sự Việt Nam”, của Hà Duy
Hiển (2016), luận văn thạc sĩ luật học - Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội;
- Luận văn thạc sĩ luật học “Vị trí, vai trò của Thẩm phán Tòa án nhân dân
cấp tỉnh trong hoạt động xét xử các vụ án hình sự”, Hà Anh Tuấn (2014), Khoa
Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội.
Nhìn chung, các bài viết, các công trình nghiên cứu nêu trên đã góp phần
tạo ra những cơ sở lý luận và chỉ ra những vấn đề thực tiễn cho việc hoàn thiện
pháp luật về một số nội dung có liên quan đến HĐXX sơ thẩm vụ án hình sự tại
Trang 11/80


Tòa án. Tuy nhiên, các công trình này trong phạm vi giới hạn nghiên cứu của
mình chưa tập trung vào nghiên cứu về Hội đồng xét xử sơ thẩm vụ án hình sự
từ thực tiễn Thành phố Hồ Chí Minh.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của đề tài là góp phần làm rõ những vấn đề lý luận
về HĐXX sơ thẩm vụ án hình sự và đánh giá thực trạng áp dụng các quy định
pháp luật về HĐXX sơ thẩm vụ án hình từ thực tiễn TP.HCM. Trên cơ sở đó, đề
xuất các giải pháp đảm bảo cho HĐXX thực hiện đúng các quy định của pháp
luật TTHS.
Với mục đích nêu trên, nhiệm vụ nghiên cứu được xác định như sau:
- Phân tích làm rõ các vấn đề lý luận về HĐXX sơ thẩm vụ án hình sự.
- Đánh giá thực trạng các quy định pháp luật về HĐXX sơ thẩm vụ án
hình sự và tình hình thực hiện tại Tòa án nhân dân hai cấp TP.HCM.
- Đề xuất một số giải pháp để đảm bảo áp dụng đúng các quy định pháp
luật TTHS về HĐXX sơ thẩm vụ án hình sự.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của Luận văn là: Hoạt động của HĐXX sơ thẩm vụ
án hình sự.
Về phạm vi nghiên cứu:
- Về nội dung: Địa vị pháp lý và hoạt động của HĐXX;
- Về không gian nghiên cứu: Tòa án cấp huyện ở TP.HCM và Tòa án
nhân dân TP.HCM.
- Thời gian nghiên cứu: Trong giai đoạn từ năm 2015 - 2019.
4. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Luận văn thực hiện trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật
biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử.

Trang 12/80


Các phương pháp nghiên cứu cụ thể được sử dụng trong nghiên cứu là:
phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh, logic, thống kê…
5. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Những kết quả nghiên cứu của luận văn có giá trị tham khảo cho các cơ
quan hữu quan trong quá trình nghiên cứu hoàn thiện chế định về HĐXX sơ
thẩm vụ án hình sự trong Tòa án, luận văn cũng có thể được sử dụng làm tài liệu
tham khảo trong công tác giảng dạy và hướng dẫn nghiệp vụ xét xử trong thực
tiễn.
6. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn
được kết cấu thành 3 chương:
*Chương 1: Những vấn đề lý luận về Hội đồng xét xử sơ thẩm vụ án hình
sự.
*Chương 2: Pháp luật về Hội đồng xét xử sơ thẩm vụ án hình sự và thực
tiễn áp dụng tại Thành phố Hồ Chí Minh
*Chương 3: Yêu cầu và giải pháp bảo đảm áp dụng đúng các quy định
pháp luật về Hội đồng xét xử sơ thẩm vụ án hình sự.
Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
SƠ THẨM VỤ ÁN HÌNH SỰ
1.1. Khái niệm, đặc điểm của Hội đồng xét xử sơ thẩm vụ án hình sự
1.1.1. Khái niệm Hội đồng xét xử sơ thẩm vụ án hình sự
Hội đồng xét xử (HĐXX) là thuật ngữ pháp lý thường gặp trong hoạt
động tư pháp. Một trong những chức năng quan trọng của HĐXX là nhân danh
Nhà nước xét xử các vụ án hình sự, dân sự, hành chính, kinh doanh thương mại,
hôn nhân và gia đình…; qua đó, thiết lập lại các quan hệ xã hội bị xâm hại, bảo
vệ quyền và lợi ích hợp pháp của Nhà nước, của tổ chức và cá nhân. Tuy nhiên,
cho đến nay khái niệm về HĐXX vẫn chưa được làm rõ trong các văn bản quy
Trang 13/80


phạm pháp luật hiện hành, đây là vấn đề cần đặt ra trong quá trình cải cách tư
pháp, xây dựng Nhà nước pháp quyền mà Đảng ta đang chỉ đạo thực hiện.
Về thuật ngữ pháp lý “Hội đồng xét xử”, theo các tài liệu khoa học, hiện
nay có các giải thích sau:
“HĐXX gồm các Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân tham gia xét xử một
vụ án hình sự hoặc một vụ kiện dân sự…”. [46]
“Theo tinh thần của BLTTHS và Luật Tổ chức Tòa án nhân dân thì việc
xét xử do một tập thể quyết định gọi là HĐXX thực hiện. Việc xét xử của Tòa
án nhân dân có Hội thẩm nhân dân tham gia theo quy định của pháp luật tố tụng
hình sự…”.
“Hội đồng gồm các Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân do Tòa án có thẩm
quyền lập ra để nhân danh Nhà nước trực tiếp xét xử tại phiên tòa các vụ án và
ra bản án hoặc quyết định đối với các vụ án. Pháp luật quy định cụ thể thành
phần của HĐXX xét xử…”. [45, tr.225].
Các tác giả nêu trên đã không đưa ra khái niệm trực tiếp về HĐXX nhưng
thông qua cách giải thích về thành phần, chức năng xét xử, thẩm quyền thành
lập… để đưa ra một cách gián tiếp khái niệm về HĐXX. Theo quy định pháp
luật hiện hành có liên quan: tại Điều 10 Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm
2014, quy định: “Tòa án nhân dân xét xử tập thể và quyết định theo đa số, trừ
trường hợp xét xử theo thủ tục rút gọn. Thành phần HĐXX ở mỗi cấp xét xử do
luật tố tụng quy định”.
Liên quan đến thành phần HĐXX, tại Điều 254 BLTTHS năm 2015 quy
định về thành phần HĐXX: “1. HĐXX sơ thẩm gồm một Thẩm phán và hai Hội
thẩm. Trường hợp vụ án có tính chất nghiêm trọng, phức tạp thì Hội đồng xét xử
sơ thẩm có thể gồm hai Thẩm phán và ba Hội thẩm. Đối với vụ án có bị cáo về
tội mà Bộ luật hình sự quy định mức cao nhất của khung hình phạt là tù chung
thân, tử hình thì Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm hai Thẩm phán và ba Hội thẩm.
2. Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm ba Thẩm phán.”
Trang 14/80


Theo đó, chúng ta có thể thấy rằng: Không phải lúc nào cũng có sự tham
gia của Hội thẩm vào HĐXX mà chỉ trong trường hợp xét xử ở cấp sơ thẩm thì
sự tham gia của Hội thẩm với tư cách thành viên HĐXX là bắt buộc; còn đối với
cấp xét xử phúc thẩm, pháp luật quy định sự tham gia của Hội thẩm vào HĐXX
chỉ trong trường hợp cần thiết. Xét xử sơ thẩm là xét xử lần đầu một vụ án theo
thẩm quyền của từng cấp Tòa án. Sau khi có bản án sơ thẩm, bị cáo, bị hại,
người đại diện hợp pháp của bị hại và đương sự, có thể kháng cáo hoặc Viện
kiểm sát có thể kháng nghị bản án của Tòa án, khi đó vụ án sẽ được xét xử phúc
thẩm.
Theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam, xét xử sơ thẩm
được xác định là một giai đoạn kết thúc một vụ án hình sự, mọi chứng cứ của vụ
án do cơ quan điều tra thu thập được trong quá trình điều tra đều được xem xét
công khai tại phiên tòa, người tham gia tố tụng được nghe trực tiếp lời khai của
nhau, được tranh luận những điều mà tại cơ quan điều tra không có điều kiện
thực hiện. Do đó, có thể nói xét xử sơ thẩm là trung tâm của quyền tư pháp, đòi
hỏi những người tiến hành tố tụng phải tập trung trí tuệ, xử lý các tình huống
một cách mau lẹ, các lý lẽ đưa ra không chỉ đòi hỏi sự chính xác mà phải có sức
thuyết phục và đồng thời phải tuân theo những quy định của pháp luật. Thông
qua chất lượng xét xử tại phiên tòa có thể đánh giá được trình độ nghiệp vụ của
Thẩm phán, của Hội thẩm, của Kiểm sát viên, của Luật sư và những người tham
gia tố tụng khác.
Như vậy, HĐXX sơ thẩm vụ án hình sự, gồm Thẩm phán và Hội thẩm là
những người được cơ quan có thẩm quyền bổ nhiệm theo quy định của pháp luật
và có nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm tiến hành xét xử lần đầu các vụ án hình
sự của Tòa án theo trình tự, thủ tục do Bộ luật Tố tụng hình sự quy định.
1.1.2. Vị trí, vai trò của Hội đồng xét xử sơ thẩm
HĐXX sơ thẩm vụ án hình sự gồm Thẩm phán và Hội thẩm là những
người được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền bổ nhiệm theo quy định của pháp
Trang 15/80


luật có nhiệm vụ, quyền hạn của Nhà nước, bảo vệ các quyền và lợi ích hợp
pháp của xã hội, của tổ chức và công dân. Về bản chất, đây là hoạt động giải
quyết mối quan hệ giữa Nhà nước và người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã
hội, nhằm xác định trách nhiệm hình sự của người đó, có thể đưa đến một hậu
quả pháp lý bất lợi cho người bị xét xử cũng như những người khác có liên
quan. Bản án, quyết định của Tòa án phải đảm bảo chính xác, đúng người, đúng
tội, đúng pháp luật. Do đó, pháp luật quy định các thủ tục xét xử ở các cấp khác
nhau nhằm nhằm mục đích giải quyết đúng đắn vụ án hình sự, bảo đảm các
nhiệm vụ cơ bản của TTHS.
Xét xử sơ thẩm vụ án hình sự được xác định như là một công đoạn trong
quá trình giải quyết vụ án hình sự nhưng là một công đoạn đặc biệt quan trọng.
Việc xét xử sơ thẩm chỉ được tiến hành khi cơ quan điều tra đã điều tra vụ án,
Viện kiểm sát đã truy tố bị can ra trước Tòa án bằng bản cáo trạng. Trên cơ sở
hồ sơ vụ án và quyết định truy tố do Viện kiểm sát chuyển sang, Tòa án có thẩm
quyền xét xử lần đầu tiên sẽ nghiên cứu để quyết định có đưa vụ án ra xét xử
hay không? Như vậy, vụ án hình sự lần đầu tiên sẽ được đưa ra xem xét công
khai tại phiên tòa. Tất cả các tài liệu, chứng cứ thu thập được trong giai đoạn
điều tra cùng với các chứng cứ mới được đưa ra tại phiên tòa sẽ được kiểm tra,
xem xét một cách khách quan, toàn diện, trực tiếp, công khai tại phiên tòa. Nếu
như bản kết luận điều tra của Cơ quan điều tra, bản cáo trạng của Viện kiểm sát
chỉ là những kết luận sơ bộ về vụ án thì bản án của Tòa án mới là kết luận chính
thức và công khai về việc bị cáo có tội hay không có tội? Nếu có tội thì bị cáo
phạm tội gì? theo quy định tại điều nào, khoản nào của BLHS? và mức hình phạt
cụ thể được áp dụng đối với bị cáo.
Với vị trí là hoạt động trung tâm của quá trình giải quyết vụ án hình sự,
giai đoạn xét xử có mối quan hệ chặt chẽ với các giai đoạn tố tụng khác. Khởi tố
vụ án hình sự là giai đoạn đầu tiên của quá trình tố tụng, là cơ sở để các cơ quan
có thẩm quyền tiến hành các hoạt động tố tụng tiếp theo, cụ thể là cơ sở để Cơ
quan điều tra tiến hành các hoạt động điều tra, Viện kiểm sát ra quyết định truy
Trang 16/80


tố và có như vậy, Tòa án mới tiến hành xét xử được. Tuy nhiên, các hoạt động
trong giai đoạn khởi tố, điều tra chỉ nhằm thu thập chứng cứ phục vụ cho việc
xét xử tại Tòa án. Giai đoạn thi hành án chỉ có thể được thực hiện khi Tòa án đã
ra phán quyết bằng bản án hay quyết định có hiệu lực pháp luật.
Trên cơ sở các quy định pháp luật hiện hành, chúng ta có thể đưa ra các
đặc trưng pháp lý của HĐXX như sau:
- Một là, HĐXX là tập thể những người do Thẩm phán được phân công
làm Chủ tọa phiên tòa ra quyết định đưa vụ án ra xét xử thành lập theo sự phân
công của Chánh án;
- Hai là, thành phần HĐXX bao gồm: Thẩm phán, có sự tham gia của Hội
thẩm nhân dân hay Hội thẩm quân nhân tùy theo phiên tòa;
- Ba là, HĐXX chịu sự điều hành của Thẩm phán chủ tọa phiên tòa.
- Bốn là, HĐXX có chức năng xét xử các vụ án hình sự, dân sự, hành
chính, kinh doanh thương mại, hôn nhân và gia đình…, tại các phiên tòa sơ
thẩm, phúc thẩm đều quyết định theo nguyên tắc đa số; đồng thời thực hiện các
chức năng khác theo quy định pháp luật. Ngoài ra, số lượng, thành phần của
HĐXX trong pháp luật TTHS còn phụ thuộc vào tính chất nghiêm trọng, phức
tạp của vụ án.
Về mặt lý luận, vị trí và vai trò của một chủ thể quan hệ pháp luật (tổ
chức, cá nhân) được hiểu là tổng hợp các quy định của pháp luật làm cơ sở cho
sự tồn tại, tổ chức và hoạt động, cũng như thực hiện chức năng, nhiệm vụ của
chủ thể đó, làm căn cứ để phân biệt chủ thể đó với các chủ thể khác.
Vị trí, vai trò của HĐXX xử sơ thẩm về nguyên tắc phải thống nhất,
không thể tách rời vị trí, vai trò của các cơ quan tiến hành tố tụng. Trong hoạt
động TTHS, để thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình, các cơ quan tiến hành
tố tụng không thể hoạt động tập thể mà phải thông qua các cá nhân đại diện
thường xuyên. Những cá nhân này trong cơ quan Tòa án là Chánh án, Phó

Trang 17/80


Chánh án, Thẩm phán và Hội thẩm được phân công thực hiện nhiệm vụ trong
từng giai đoạn tố tụng tương ứng mà pháp luật TTHS quy định.
Việc xác định vị trí, vai trò của HĐXX sơ thẩm vụ án hình sự phải xuất
phát từ vị trí, vai trò, chức năng và nhiệm vụ của cơ quan tiến hành tố tụng.
Nghĩa là với vị trí, vai trò của Chánh án, Phó Chánh án, Thẩm phán và Hội thẩm
được quy định bởi vị trí, vai trò, chức năng và nhiệm vụ của Tòa án, cụ thể:
‘‘Tòa án nhân dân là cơ quan xét xử của nước Cộng hòa XHCN Việt Nam, thực
hiện quyền tư pháp”.
Tòa án nhân dân có nhiệm vụ bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người,
quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước,
quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân. Bằng hoạt động của mình, Tòa
án góp phần giáo dục công dân trung thành với Tổ quốc, nghiêm chỉnh chấp
hành pháp luật, tôn trọng những quy tắc của cuộc sống xã hội, ý thức đấu tranh
phòng, chống tội phạm, các vi phạm pháp luật khác” (Điều 1 Luật Tổ chức Tòa
án nhân dân năm 2014). Theo đó, vị trí, vai trò của HĐXX sơ thẩm vụ án hình
sự được xác định như sau:
- Một là, HĐXX sơ thẩm là người duy nhất được Nhà nước giao trách
nhiệm thực hiện các hành vi tố tụng trong hoạt động xét xử sơ thẩm do pháp luật
quy định. Nói cách khác, HĐXX sơ thẩm là người nhân danh Nhà nước thực
hiện các hoạt động xét xử theo quy định của pháp luật. Khi thực hiện nhiệm vụ
chỉ tuân theo pháp luật, chịu trách nhiệm trước pháp luật và được pháp luật bảo
vệ. HĐXX có vai trò quan trọng, giữ vị trí trung tâm trong hoạt động tố tụng
hình sự. Tư cách đạo đức, ý thức pháp luật, trình độ nghiệp vụ, kỹ năng nghề
nghiệp của người tiến hành tố tụng trong HĐXX là những tiêu chí để người dân,
dư luận xã hội đánh giá về bộ máy Nhà nước, về tính nghiêm minh của pháp luật
trong công tác đấu tranh phòng chống tội phạm. HĐXX khi tiến hành các hoạt
động tố tụng chỉ được làm những gì pháp luật cho phép và phải tuân theo đúng
trình tự, thủ tục, thời gian do pháp luật quy định; phải chịu trách nhiệm trước
pháp luật về các hành vi và quyết định của mình. HĐXX sơ thẩm có vị trí mang
Trang 18/80


tính độc lập cả về nhiệm vụ lẫn quyền hạn trong khi thực hiện các hoạt động tố
tụng được giao. Khi họ thực thi nhiệm vụ, không ai, không cơ quan nào được
can thiệp, tác động để có thể buộc họ làm trái pháp luật hay lấy quyền hành
chính để thay thế, chỉ đạo hoạt động tố tụng của họ.
Trong hệ thống những chức danh của bộ máy Nhà nước, chức danh tư
pháp là chức danh đặc thù, chỉ do Nhà nước quy định và bổ nhiệm để làm nhiệm
vụ khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử... (như chức danh Điều tra viên chỉ có trong
cơ quan điều tra để làm nhiệm vụ điều tra vụ án hình sự; chức danh Kiểm sát
viên chỉ có trong hệ thống viện kiểm sát để thực hiện quyền công tố và kiểm sát
việc tuân theo pháp luật; chức danh Thẩm phán chỉ có trong cơ quan Tòa án để
làm nhiệm vụ xét xử...). Vì vậy, khi nói đến HĐXX sơ thẩm vụ án hình sự là nói
đến người duy nhất có thẩm quyền thay mặt Nhà nước để tổ chức và thực hiện
các hoạt động tố tụng theo quy định của pháp luật TTHS.
Trong quá trình giải quyết vụ án, Nhà nước trao cho HĐXX nói chung và
HĐXX sơ thẩm vụ án hình sự nói riêng trong tòa án những nhiệm vụ, quyền hạn
và trách nhiệm để thực hiện chức năng xét xử, được quy định cụ thể trong
BLTTHS năm 2015 (từ Điều 44 đến Điều 54).
- Hai là, HĐXX sơ thẩm vụ án hình sự là hạt nhân của hoạt động tố tụng,
tạo nên uy tín, sức mạnh của cơ quan tiến hành tố tụng. Nếu như hoạt động của
tòa án là trung tâm của các cơ quan tiến hành tố tụng trong công tác đấu tranh
phòng và chống tội phạm, thì hoạt động của HĐXX sơ thẩm vụ án hình sự là hạt
nhân của hoạt động tố tụng thông qua việc thực hiện chức năng xét xử của mình
và tạo nên sức mạnh, uy tín của các cơ quan tiến hành tố tụng. Hiệu quả hoạt
động của HĐXX sơ thẩm vụ án hình sự cũng chính là hiệu quả hoạt động của
các cơ quan tiến hành tố tụng. Tòa án có rất nhiều cán bộ, các chức danh tư pháp
nhưng chỉ có Thẩm phán và Hội thẩm là người có thẩm quyền tố tụng để thực
hiện chức năng xét xử. Chính vì thế, HĐXX sơ thẩm vụ án hình sự có vai trò
đặc biệt quan trọng trong cơ quan tiến hành tố tụng, vì hoạt động của họ mang
tính chất quyết định đến hiệu quả hoạt động của các cơ quan tiến hành tố tụng
Trang 19/80


trước đó và trực tiếp tác động đến quyền, lợi ích hợp pháp của Nhà nước, tổ
chức và công dân. Do đó, nếu hiệu quả hoạt động xét xử tốt sẽ tạo nên dư luận
xã hội tốt, tạo dựng được uy tín của các cơ quan tiến hành tố tụng và cao hơn
nữa là sự tin tưởng vào tính nghiêm minh, công bằng của pháp luật. Ngược lại,
nếu hiệu quả kém sẽ gây nên dư luận bất bình trong xã hội và làm suy giảm lòng
tin của Nhân dân đối với cơ quan tiến hành tố tụng nói riêng và đối với nhà nước
XHCN Việt Nam nói chung.
- Ba là, hoạt động của HĐXX nói chung và HĐXX sơ thẩm vụ án hình sự
nói riêng góp phần quyết định trong việc bảo vệ trật tự pháp luật, tăng cường
pháp chế XHCN. Việc áp dụng đúng các quy định của pháp luật về trình tự, thủ
tục khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử... là yêu cầu quan trọng nhất đối với HĐXX.
Vì khi thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn tố tụng đúng pháp luật thì việc phát hiện,
xác định tội phạm và người phạm tội mới chính xác, xử lý nghiêm minh, không
để lọt tội phạm và không làm oan người vô tội; bảo vệ các quyền và lợi ích hợp
pháp của Nhà nước, tổ chức và công dân. Đồng thời, hoạt động này có hiệu quả
sẽ củng cố hiệu lực của pháp luật, tăng cường pháp chế XHCN, nâng cao uy tín
của bộ máy Nhà nước mà đại diện là các cơ quan bảo vệ pháp luật.
Từ những phân tích nêu trên có thể thấy, HĐXX sơ thẩm vụ án hình sự có
vị trí, vai trò rất quan trọng trong cơ quan tòa án, trong việc tổ chức xét xử để
thực hiện nhiệm vụ đấu tranh phòng chống tội phạm. Do đó, trong những năm
gần đây, Đảng và Nhà nước ta đã hết sức chú trọng đến việc củng cố, xây dựng
và đào tạo những người tiến hành tố tụng trong HĐXX sơ thẩm vụ án hình sự
không chỉ tăng về lượng, mà còn tăng về chất nhằm nâng cao chất lượng và hiệu
quả của hoạt động tố tụng hình sự. Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được,
hiệu quả hoạt động của HĐXX sơ thẩm còn có những mặt hạn chế nhất định,
chưa đáp ứng được nhiệm vụ so với yêu cầu cải cách tư pháp trong thời kỳ mới
đặt ra. Điều này có nhiều nguyên nhân, nhưng một trong những nguyên nhân cơ
bản là quy định của pháp luật về nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của
HĐXX sơ thẩm vụ án hình sự còn chưa cụ thể, dẫn đến tình trạng làm giảm vai
Trang 20/80


trò, tính chịu trách nhiệm, tính độc lập và tính hiệu quả hoạt động của HĐXX sơ
thẩm vụ án hình sự. Do đó, vấn đề cấp bách đặt ra là cần quy định đầy đủ, rõ
ràng, khoa học về nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của HĐXX sơ thẩm
trong việc giải quyết các vụ án hình sự, làm cơ sở để họ hoàn thành tốt nhiệm vụ
mà Đảng, Nhà nước giao phó trong công tác xét xử và đáp ứng được yêu cầu
thực tiễn đặt ra.
1.1.3. Sự khác biệt của chế định Hội đồng xét xử sơ thẩm vụ án hình sự
trong mô hình tố tụng thẩm vấn so với mô hình tố tụng tranh tụng.
Trong mô hình TTHS thẩm vấn, Tòa án (HĐXX) có vai trò tích cực, chủ
động trong việc xác định sự thật của vụ án. Tòa án hoàn toàn không giữ vai trò
trung gian, không phải là “trọng tài” trong “trận đối tụng” giữa bên buộc tội và
bên bị buộc tội như trong mô hình tố tụng hình sự tranh tụng. Việc xét xử tại tòa
án là giai đoạn tiếp theo của quá trình đi tìm sự thật vụ án. Tại phiên tòa, HĐXX
đóng vai trò tích cực, chủ động trong việc thẩm tra các chứng cứ. Diễn biến tại
phiên tòa không phải là sự tranh tụng giữa bên buộc tội và gỡ tội mà thực chất là
sự tiếp tục của hoạt động điều tra để đi tìm sự thật của vụ án. HĐXX xác định sự
thật của vụ án thông qua việc chủ động thẩm vấn bị cáo, hỏi những người tham
gia tố tụng khác, xem xét vật chứng, hiện trường vụ án hoặc những địa điểm liên
quan đến vụ án.
Trong mô hình TTHS tranh tụng, vai trò của bồi thẩm đoàn rất quan trọng.
Theo các nhà nghiên cứu, từ thời Hy Lạp cổ đại, hệ thống bồi thẩm đoàn khá lớn
và hoạt động có hiệu quả, có nhiều nét giống với mô hình bồi thẩm đoàn hiện
đại. Lần đầu tiên, bồi thẩm đoàn xuất hiện ở Anh năm 1066, với đại bồi thẩm
đoàn và tiểu bồi thẩm đoàn (còn gọi là bồi thẩm đoàn sơ thẩm) 1; và từ Anh, hệ
thống bồi thẩm đoàn đã được du nhập sang Mỹ trong thời kỳ người Anh xâm

Thông tin Khoa học pháp lý, Viện Khoa học pháp lý, Bộ Tư pháp, Chuyên đề Tư pháp hình sự so
sánh, Hà Nội 1999, tr. 188-189
1

Trang 21/80


chiếm thuộc địa Mỹ 2 và năm 1673, thủ tục xét xử có bồi thẩm đoàn đã được tiến
hành ở một số bang của Hoa Kỳ như Virginia, Pennsilvania, New York 3. Ngày
nay, hệ thống bồi thẩm đoàn kinh điển được coi là truyền thống của luật án lệ.
Nhưng ở Pháp và Úc, chế định bồi thẩm đoàn không hoàn toàn giống Anh và
Hoa Kỳ. Vào cuối thế kỷ XVIII, đầu thế kỷ XIX, chế định bồi thẩm đoàn đã trở
nên không thích hợp với các nước ở châu Âu theo hệ thống luật lục địa. Thay
vào đó là chế định “HĐXX hỗn hợp”, theo đó các công dân bình thường và các
Thẩm phán chuyên nghiệp cùng nhau hợp thành một thể thống nhất để xét xử vụ
án về nội dung, kể cả định tội và quyết định hình phạt. Ở Đức và Áo, nửa cuối
thế kỷ XIX, các Tòa án sơ cấp và Tòa án đất đai khi xét xử có thành phần, gồm
một Thẩm phán và hai Hội thẩm do cơ quan tự quản của nhân dân địa phương
bầu ra. Nước Đức có 3 hình thức HĐXX có hội thẩm: Hình thức thứ nhất gồm 1
thẩm phán chuyên nghiệp và 2 thẩm phán không chuyên. Hình thức thứ hai gồm
3 thẩm phán chuyên nghiệp và 2 thẩm phán không chuyên, xét xử các vụ án hình
sự nghiêm trọng. Hình thức thứ ba cũng gồm 3 thẩm phán chuyên nghiệp và 2
thẩm phán không chuyên xét xử các vụ án đặc biệt nghiêm trọng như giết người.
Nhật Bản là quốc gia có chế định HĐXX gần giống với Đức nhưng có sự kết
hợp với chế định bồi thẩm.
Nhiệm vụ chính của bồi thẩm đoàn là xem xét và cân nhắc các bằng
chứng để tuyên án có tội hay vô tội sau khi nghe công tố viên (biện lý) và luật sư
bị cáo dẫn giải và lý luận tại pháp đình. Bồi thẩm đoàn góp sức duy trì quan
điểm vô tư và trung thực của người dân thay vì bị cơ cấu chính quyền chi phối
nếu quyền xét án chỉ tập trung trong tay vị chánh án. Tuy đồng sự với bồi thẩm
đoàn ngồi nghe án nhưng vị Chánh án có nhiệm vụ riêng, nặng về phần thủ tục
và khía cạnh chuyên môn của luật pháp.
Xem: TS. Dương Thanh Mai, Về chế định " Công dân tham gia xét xử" ở Mỹ và một số nước
ASEAN, trong đề tài khoa học cấp bộ: “Đổi mới chế định Hội thẩm trong cải cách tư pháp ở Việt Nam
hiện nay”, Chủ nhiệm đề tài: Nguyễn Văn Sản, Bộ Tư pháp, 2000
2

Thông tin Khoa học pháp lý, Viện Khoa học pháp lý, Bộ Tư pháp, Chuyên đề Tư pháp hình sự so
sánh, 1999, tr. 190
3

Trang 22/80


Tại Hoa Kỳ bồi thẩm đoàn có hai loại:
- Đại bồi thẩm đoàn: Đây là nhóm 20 người trở lên được tuyển chọn để
nghe công tố viên trình bày nghi vấn đang cứu xét. Sau đó, họ sẽ quyết định
rằng sự kiện hình sự đó có đủ bằng chứng để khởi tố hay không. Trong trường
hợp này, công tố viên sẽ trình bày trước đại bồi thẩm đoàn mà không có mặt của
nghi can hay thẩm phán. Nếu không đủ chứng cứ thì vụ án sẽ bị bãi.
- Bồi thẩm đoàn thường thì trực tiếp theo dõi cáo trạng và mọi diễn tiến
tại tòa án và phán quyết khi phiên tòa kết thúc. Nhóm này thường là 12 người và
có thêm một hoặc hai người trừ bị.
Để chọn bồi thẩm viên, Tòa án sẽ triệu tập một số công dân vào hầu tòa
rồi mở cuộc rút thăm. Để đạt tiêu chuẩn vô tư, phải tránh bồi thẩm viên có thiên
kiến. Luật sư hai bên bị tố và nguyên cáo có quyền chất vấn những người được
chọn, rồi loại bỏ nếu bồi thẩm viên đã có sẵn thành kiến. Bồi thẩm đoàn sau đó
sẽ chọn một người làm trưởng đoàn. Có khi Tòa án sẽ ấn định người trưởng
đoàn, tùy luật pháp địa phương. Người trưởng đoàn có trách nhiệm đệ lên Chánh
án những câu hỏi của đoàn và cũng là người đại diện của bồi thẩm đoàn khi
tuyên án.
Bồi thẩm đoàn có vai trò rất quan trọng vì họ sẽ là người lắng nghe lập
luận, bằng chứng từ hai phía nguyên đơn và bị đơn trong vụ việc dân sự, hoặc
công tố và bị cáo trong vụ án hình sự. Sau đó, 12 thành viên của bồi thẩm đoàn
sẽ họp trong phòng kín và thảo luận về vụ việc cho tới khi thống nhất với nhau
về việc bị đơn hoặc bị cáo có phải chịu trách nhiệm dân sự hoặc hình sự hay
không. Chỉ sau khi có quyết định của bồi thẩm đoàn, căn cứ vào đó Thẩm phán
mới ra phán quyết.
Thoạt nhìn, tưởng rằng bồi thẩm đoàn (jury) hay hội thẩm nhân dân (lay
judge/schoeffen) được thiết kế ra nhằm mang sự phán xét của người bình dân
vào Tòa án. Nhưng phân tích kỹ, chế độ bồi thẩm đoàn ở các nước theo hệ thống

Trang 23/80


“common law” khác căn bản với chế độ hội thẩm nhân dân hiện hành ở Việt
Nam ở một số điểm, cụ thể như sau:
Bồi thẩm đoàn

Tiêu chí
Hệ thống pháp luật

Hội thẩm nhân dân

Thông luật (Mỹ, Anh, Việt Nam
Hồng Kông…)

Quá trình hình thành

Tuyển chọn từ người dân, Do Hội đồng nhân dân
sau đó thực hiện bốc thăm

tuyển chọn

Tên gọi thành viên

Bồi thẩm viên

Hội thẩm nhân dân

Thời gian hoạt động

Ngắn (trong 01 vụ án)

Dài (5 năm)

Từ khi được lực chọn đến Từ khi được bầu đến khi
khi giải quyết xong vụ án

hết nhiệm kỳ

Việc lựa chọn

Ngẫu nhiên

Bầu, cử

Đối tượng lựa chọn

Bất kỳ ai đáp ứng đủ điều Thường lựa chọn những
kiện

người đang công tác trong
một lĩnh vực nhất định, có
uy tín, kinh nghiệm làm
công tác xét xử…

Cơ quan tham gia vào Tòa án

Tòa án, Ủy ban Mặt trận tổ

việc lựa chọn

quốc, Hội đồng nhân dân

Chấm dứt tư cách

Xét xử xong, bị loại trong Hết nhiệm kỳ, bãi nhiệm,
quá trình xét xử

Trở lại tư cách

miễn nhiệm

Được lựa chọn ngẫu nhiên Được bầu lại ở nhiệm kỳ
trở lại sau 1 – 3 năm

Chế tài đối với hành Phạt tiền, phạt tù
vi trốn tránh nghĩa vụ

Trang 24/80

tiếp theo
Bãi nhiệm, miễn nhiệm


Mức chi cho một 40 – 50 USD

90.000 đồng

người/ngày
Phụ cấp hoạt động Không

Trưởng đoàn 40% lương cơ

của

sở. Phó trưởng đoàn 30%

Trưởng

đoàn,

Phó Trưởng đoàn

lương cơ sở

Chế độ bảo vệ



Không

Chế độ trang phục

Không



Chế độ cách ly



Không

Số lượng thành viên Thường là 12 người

02 hoặc 03 người

khi giải quyết 01 vụ
án
Mức độ tham gia vào Toàn bộ quá trình xét xử Phiên tòa sơ thẩm, một số
quá trình xét xử

vụ án

trường hợp tham gia vào
phiên toàn phúc thẩm

Vai trò trong xét xử

Quyết định bị cáo có tội Cùng với Thẩm phán quyết
hay vô tội

định bị cáo có tội hay vô tội

1.2 Các nguyên tắc hoạt động của Hội đồng xét xử
1.2.1 Nguyên tắc thực hiện chế độ xét xử có Hội thẩm tham gia
Xét xử sơ thẩm là xét xử vụ án lần đầu, việc Hội thẩm với tư cách đại diện
cho quần chúng nhân dân tham gia vào hoạt động xét xử thể hiện tính dân chủ
trong hoạt động xét xử, là cơ sở để tòa án ra bản án, quyết định một cách công
khai, khách quan.
Hội thẩm nhân dân đã được khẳng định và trở thành một chế định truyền
thống trong nền tư pháp XHCN. Nếu như coi nguyên tắc xét xử công khai là sự
kiểm tra có tính chất tổng thể, chung nhất và từ bên ngoài của xã hội đối với
hoạt động xét xử của tòa án thì nguyên tắc hội thẩm tham gia xét xử là sự kiểm
Trang 25/80


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×