Tải bản đầy đủ

ĐẶC ĐIỂM LŨ LỤT LƯU VỰC SÔNG LAM

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
KHOA KHÍ TƯỢNG THỦY VĂN VÀ HẢI DƯƠNG HỌC

Nguyễn Thị Khánh Ly

ĐẶC ĐIỂM LŨ LỤT LƯU VỰC SÔNG LAM

Khóa luận tốt nghiệp đại học hệ chính quy
Ngành Thủy văn
(Chương trình đào tạo chuẩn)

Hà Nội - 2017


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
KHOA KHÍ TƯỢNG THỦY VĂN VÀ HẢI DƯƠNG HỌC

Nguyễn Thị Khánh Ly


ĐẶC ĐIỂM LŨ LỤT LƯU VỰC SÔNG LAM

Khóa luận tốt nghiệp đại học hệ chính quy
Ngành Thủy văn
(Chương trình đào tạo chuẩn)

Cán bộ hướng dẫn: PGS.TS Nguyễn Thanh Sơn

Hà Nội - 2017


LỜI CẢM ƠN
Em xin chân thành bày tỏ lòng biết ơn tới PGS.TS. Nguyễn Thanh Sơn là người
trong suốt thời gian qua đã tận tình trực tiếp hướng dẫn, dìu dắt, giúp đỡ em hoàn thành
được khóa luận này. Em cũng xin gửi lời cảm ơn tới các cô chú ,anh chị ở Đài KTTV Bắc
Trung Bộ tại Nghệ An đã luôn quan tâm, giúp đỡ em trong quá trình thực hiện khóa luận
này. Khóa luận này đã hoàn thành nhưng không thể tránh khỏi những sai lầm và thiếu sót
do bản thân còn rất ít kinh nghiệm . Em rất mong nhận được những ý kiến đóng góp cũng
như những lời phê bình quý báu để em có thể tiếp tục hoàn chỉnh khóa luận của mình hơn
nữa.

Em xin chân thành cảm ơn !

Hà Nội, Tháng 5 năm 2017
Sinh viên

Nguyễn Thị Khánh Ly


MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ...................................................................................................................................................... 1
CHƯƠNG 1: ĐẶC ĐIỂM ĐỊA LÝ TỰ NHIÊN LƯU VỰC SÔNG LAM ................................................. 2
1.1. Vị trí địa lý lưu vực sông Lam .......................................................................................................... 2
1.2. Đặc điểm địa hình, địa mạo ............................................................................................................... 3
1.2.1 đặc điểm địa hình ......................................................................................................................... 3
1.2.2. Đặc điểm về địa mạo ................................................................................................................... 3
1.3. Đặc điểm về địa chất, thổ nhưỡng lưu vực sông Lam ....................................................................... 4
1.3.1. Đặc điểm về địa chất ................................................................................................................... 4
1.3.2. Đặc điểm về thổ nhưỡng ............................................................................................................. 5
1.4. Thảm thực vật .................................................................................................................................... 6


1.5. Đặc điểm khí hậu trên lưu vực sông .................................................................................................. 7
1.6. Mạng lưới thủy văn ............................................................................................................................ 8
CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU VỀ LŨ, LỤT TRÊN LƯU VỰC SÔNG LAM ......... 10
2.1. Phân mùa mưa và mùa khô trên lưu vực sông Lam ......................................................................... 10
2.2. Lũ tiểu mãn, lũ chính vụ và lũ muộn ............................................................................................... 12
2.3. Sự biến động của dòng chảy lũ theo thời gian ................................. Error! Bookmark not defined.
2.4. Sự biến động dòng chảy lũ theo không gian .................................... Error! Bookmark not defined.
2.5 Các trận lũ đặc biệt lớn và tình hình ngập úng hạ du lưu vực sông Lam. ......................................... 16
2.5.1 Các trận lũ đặc biệt lớn trên lưu vực. ......................................................................................... 16
2.5.2. Tình hình ngập lụt khu vực hạ du sông Lam. ........................................................................... 18
CHƯƠNG 3. ĐẶC ĐIỂM LŨ LƯU VỰC SÔNG LAM............................................................................ 21
3.1. Tình hình tài liệu .............................................................................. Error! Bookmark not defined.
3.2. Thời gian lũ và thời gian kéo dài lũ ................................................................................................. 21
3.3. Tính toán tần suất lũ và cường suất lũ ............................................................................................. 22
3.3.1 Tần suất lũ lưu vực sông Lam: ................................................................................................... 22
3.3.2. Cường suất lũ lưu vực sông Lam .............................................................................................. 22
3.4. Tính toán lưu lượng lũ cực đại ......................................................... Error! Bookmark not defined.
3.5. Tình hình phòng chống lũ trên lưu vực sông Lam ........................................................................... 27
KẾT LUẬN................................................................................................................................................. 33
TÀI LIỆU THAM KHẢO .......................................................................................................................... 34


DANH MỤC HÌNH
Hình 1. Sơ đồ lưu vực sông Lam (phần lãnh thổ Việt Nam)
Hình 2. Bản đồ địa hình lưu vực sông Lam
Hình 3. Bản đồ thổ nhưỡng trong lưu vực sông Lam
Hình 4. Bản đồ thảm phủ thực vật lưu vực sông Lam ( phần lãnh thổ Việt Nam)
Hình 5. Bản đồ mạng lưới trạm KTTV trên lưu vực sông Lam.
Hình 6. Đường quá trình mực nước của trận lũ tháng IX/2002 trên sông Lam
Hình 7. Đường quá trình mực nước của trận lũ tháng VIII/2007 trên sông Lam


DANH MỤC BẢNG
Bảng 1. Đặc trưng lượng mưa tháng, năm tại một số vị trí trên lưu vực sông Lam
Bảng 2. Khả năng xuất hiện lũ vào các tháng trong năm trên lưu vực sông Lam
Bảng 3. Mực nước lũ đo được tại một số trạm trên lưu vực
Bảng 4. Thống kê một số trận lũ lớn đã xảy ra tại một số vị trí trên lưu vực sông Lam
Bảng 5. Bảng minh họa diện tích và độ sâu ngập lụt hạ du sông Lam
Bảng 6. Thời gian kéo dài lũ của các trạm trên sông Lam
Bảng 7. Thống kê số trận lũ vượt báo động III từ năm 1961 đến năm 2008 tại một số vị trí
Bảng 8. Cường suất lên của trận lũ lớn tháng IX/2002 trên sông Lam
Bảng 9. Cường suất lên của trận lũ tháng VIII/2007 trên sông Lam
Bảng10. Cường suất lũ xuống của trận lũ tháng IX/2002 trên sông Lam
Bảng 11. Cường suất lũ xuống của trận lũ tháng VIII/2007 trên sông La
Bảng 12. Qmax trận lũ IX/2002 tại một số vị trí sông Lam
Bảng 13. Thông số chính của một số hồ chứa


MỞ ĐẦU
Lũ lụt là một trong những thiên tai thường xuyên đe dọa tới cuộc sống của người
dân và sự phát triển của kinh tế xã hội nước ta. Nó để lại hâu quả hết sức nặng nề cả về
người và của. Hằng năm có hàng ngàn hộ dân bị ngập lụt, công trình bị tàn phá, các hoạt
động kinh tế xã hội bị gián đoạn. Đặc biệt quá trình đô thị hóa mạnh mẽ cùng với sư tác
động của biến đổi khí hậu và tình hình mưa lớn gây ngập úng với tuần suất lớn dần.
Khu vực miền trung là một trong những vùng có khí hậu phức tạp, thiên tai lũ lụt
xảy ra thường xuyên với mức độ ngày càng trầm trọng hơn, đã gây ra nhiều thiệt hại
nghiêm trọng về người, của cải và môi trường sinh thái. Thiên tai lũ lụt ngày càng gia
tăng là do biến động về khí hậu toàn cầu và tác động của con người đã làm cho môi
trường tự nhiên bị thay đổi theo hướng xấu
Khu vực thuộc lưu vực sông Lam nói riêng là nơi chịu ảnh hưởng nặng nề của lũ
lụt, kết quả của quá trình tập trung nước với khối lượng lớn và tràn vào các vùng địa hình
thấp gây ngập lụt trên diện rộng gây thiệt hại về cả người ,tài sản và tác động tiêu cực
đến môi trường sinh thái, ảnh hưởng trực tiếp tới đời sống và hoạt động kinh tế xã hội.
Để tăng cường với ứng phó với lũ lụt ngoài các biện pháp công trình ( đê kè, vận
hành liên hồ, hồ chứa cắt lũ thượng lưu,cải tạo lòng sông..) thì các giải pháp phi công
trình như trồng rừng, bảo vệ rừng, xây dựng và vận hành các phương án phòng tránh lũ
và di dân lúc cần thiết khi có thông tin dự báo và cảnh báo chính xác rất quan trọng.
Khóa luận “ Đặc điểm lũ lụt, lưu vực sông Lam” có bố cục bao gồm :
Mở đầu
Chương 1: Đặc điểm địa lý tự nhiên lưu vực sông Lam
Chương 2: Tổng quan về nghiên cứu lũ, lụt trên lưu vực sông Lam
Chương 3: Đặc điểm lũ lưu vực sông Lam.
Kết luận.
Tài liệu tham khảo.

1


CHƯƠNG 1: ĐẶC ĐIỂM ĐỊA LÝ TỰ NHIÊN LƯU VỰC SÔNG LAM
1.1. VỊ TRÍ ĐỊA LÝ
Lưu vực sông Lam nằm ở vị trí 18o15’50’’ đến 20o10’30’’ vĩ độ Bắc và , từ
103045'10" đến 105015'20" kinh độ Đông. Phía Bắc giáp lưu vực sông Chu, phía Tây giáp
lưu vực sông Mê Công, phía Nam giáp lưu vực sông Gianh và phía Đông giáp Biển
Đông.Diện tích toàn bộ lưu vực là 27.200 km2 , phần nằm trên lãnh thổ Việt Nam chiếm
65,2% diện tích toàn bộ lưu vực, phần diện tích còn lại 9.470km2 thuộc đất Xiêng
Khoảng của Lào chiếm34,8 % diện tích lưu vực.[7]
Dòng chính sông Lam dài 531 km, đoạn sông chảy qua lãnh thổ Lào là 170 km
còn lại là 361 km sông chảy qua hai tỉnh Nghệ An và Hà Tĩnh rồi đổ ra biển Đông tại
biển Cửa Hội. Sông Lam hợp với sông La tại Trường Xá và chảy ra biển Đông.[7]

Hình 1. Sơ đồ lưu vực sông Lam (phần lãnh thổ Việt Nam)

2


1.2. ĐẶC ĐIỂM ĐỊA HÌNH
1.2.1. Đặc điểm địa hình
Lưu vực sông Lam phần thuộc lãnh thổ Việt Nam có thể phân chia 3 dạng địa hình
chính:
- Vùng đồi núi cao : Vùng này chỉ yếu tập trung ở phía Tây, Tây Bắc và Tây Nam
lưu .vùng đồi núi cao gồm các dãy núi chạy dài theo hướng từ Đông Bắc xuống Tây
Nam, tạo nên những thung lũng sông hẹp và dốc nối thành những sông nhánh lớn như
Nậm Mô, Huổi Nguyên, sông Hiếu, sông Giăng, sông La. Dạng địa hình này có độ dốc
lớn, thung lũng hẹp, chiếm 60% diện tích lưu vực. [5]
- Vùng trung du: Thuộc các huyện Nghĩa Đàn, Quỳ Hợp, Anh Sơn, Tân Kỳ,
Thanh Chương (Nghệ An), một phần nhỏ đất đai của Hương Sơn, Hương Khê, Vũ Quang
(Hà Tĩnh). Diện tích vùng trung du thường hẹp nằm ở hạ lưu các sông nhánh cấp I. Đây
là dạng địa hình phức tạp bị chia cắt mạnh có thế dốc nhiều chiều do các sông nhỏ tạo
nên.
- Vùng đồng bằng hạ du sông Lam : Có độ cao trung bình từ 6-8m ở vùng tiếp
giáp với vùng đồi núi thấp, hoặc từ 0,5 – 2,0 m ở vùng ven biển. Vùng đồng bằng được
bảo vệ bằng đê hai bờ sông trừ vùng hữu ngạn Thanh Chương và vùng hữu ngạn Nam
Đàn chỉ bảo vệ bằng đê bối. Vùng đồng bằng sông Lam thấp vừa thường xuyên bị ngập
úng do mưa to trong đó đáng kể là vùng Nam Đàn, Hưng Nguyên, Nghi Lộc, Diễn Châu,
Yên Thành, Quỳnh Lưu (Nghệ An) và vùng Đức Thọ, Can Lộc(Hà Tĩnh). Các vùng trên
đều là vựa lúa đồng thời tập trung dân cư và tiềm năng kinh tế của hai tỉnh Nghệ An và
Hà Tĩnh
Tóm lại, địa hình (Hình 2) sông Lam tổng hợp nhiều dạng địa hình có thế dốc
chung theo hướng Tây - Đông, Tây Bắc - Đông Nam, Tây Nam - Đông Bắc và rốn trũng
nhất là cửa sông Lam. Độ dốc bình quân lưu vực lớn, phần đồng bằng hẹp.Đặc điểm của
địa hình như vậy đã ảnh hưởng trực tiếp đến khí hậu và hình thái thái của sông suối của
lưu vực. Địa hình ở lưu vực đa dạng thích hợp cho phát triển kinh tế tổng hợp đồng thời
rất thuận lợi cho nền nông nghiệp đa dạng hoá cây trồng vật nuôi và có khả năng tạo ra
các vùng chuyên canh cây hàng hoá,cây công nghiệp.[5]
1.2.2. Đặc điểm về địa mạo
Toàn bộ lưu vực sông lam nằm trong miền uốn nếp Bắc Bộ và miền uốn nếp
Varixêt Đông Dương, ranh giới giữa hai miền uốn nếp là đới khâu sông Mã. Những
nghiên cứu trong chuyên khảo “ Thành hệ địa chất và địa động học Việt Nam 1993 “ do
Nguyễn Xuân Tùng biên tập, xếp lưu vực sông Lam nằm trong “ lĩnh vực Bắc Bộ Dương tử - KaTaZia” giữa đai vỏ lục địa Bắc Trường Sơn tuổi Paleozoi. Thời kì trước
Cambri đến Paleozoi sớm đến Paleozoi muộn vùng sông Lam tồn tại chế độ đại dương vi
lục địa, sườn châu lục địa, cận lục địa. Chế độ rift và prerift tồn tại trong thời gian
Peleozoi muộn đến Merozoi muộn. Từ Merozoi muốn phát sinh các bồn trũng nhỏ mang
tính orogen dọc theo đứt gãy sông Lam lấp đầy bởi trầm tích lục nguyên vụn thô.[5]
3


Hình 2. Bản đồ địa hình lưu vực sông Lam

1.3. ĐẶC ĐIỂM VỀ ĐỊA CHẤT, THỔ NHƯỠNG LƯU VỰC SÔNG LAM
1.3.1. Đặc điểm về địa chất
Theo tài liệu của Cục địa chất Việt Nam, bản đồ địa chất và khoáng sản Việt Nam
tỷ lệ 1/200.000 địa chất và khoáng sản tờ Vinh trong vùng nghiên cứu xuất lộ gần như
đầy đủ địa tầng địa chất có tuổi từ cổ đến trẻ.
Toàn bộ lưu vực sông Lam thuộc hai đới kiến tạo chính là đới kiến tạo sông Lam
và đới oằn võng Sầm Nưa, ngoài ra còn có đới nâng Phu Hoạt. Trong đó:
- Phía Bắc vùng nghiên cứu thuộc đới nâng Phu Hoạt.
- Từ Nghĩa Đàn trở xuống gần dòng chính sông Lam thuộc đới oằn võng Sầm
Nưa.
4


- Phần còn lại là thuộc đới kiến tạo sông Lam.
Về địa chất thủy văn, nước dưới đất trong vùng nghiên cứu có nhiều hạn chế,
không phong phú. Vấn đề này được giải thích trên cơ sở cấu tạo địa chất, đặc điểm địa
mạo, điều kiện khí tượng thủy văn. Trên toàn vùng nghiên cứu nhận thấy: Các đất đá có
khả năng chứa nước chiếm một khối lượng không lớn so với các loại đất đá thấm nước
kém và chứa nước kém. Mặt khác do địa hình bị phân cách mạnh, sườn núi dốc, độ dốc
lòng sông, suối lớn làm cho nước không có điều kiện tích tụ lại mà thoát nhanh ra các hệ
thống sông suối lớn.[7]
1.3.2. Đặc điểm về thổ nhưỡng

Hình 3. Bản đồ thổ nhưỡng trong lưu vực sông Lam.

Theo Bộ Nông nghiệp và phát triển Nông thôn các loại đất chính và phân bố trên
lưu vực sông Lam là:
+ Đất phù sa và đất cát ven biển.
5


+ Đất bùn lầy.
+ Đất mặn.
+ Đất feralit mùn vàng nhạt trên núi.
Đất trong lưu vực (Hình 3) có các nguồn gốc hình thành khác nhau. ở vùng đồi núi
đất được phát triển trên nhiều loại nham thạch. Ở vùng đồng bằng đất được hình thành từ
phù sa sông. Phần lớn vùng đồi núi nằm dưới độ cao 800 -1000 m, nên được phong hóa
mạnh. Quá trình Feralit là chủ yếu. Nhóm đất feralit đồi và núi thấp, phân bố ở độ cao
dưới 800 m -1000 m, chiếm diện tích lớn nhất và là nơi hoạt động của con người. Đất đai
vùng trung du khá đa dạng: Các loại đất chua, đất glây hoặc glây mạnh úng nước.
Nhìn chung, đất ở vùng đồi núi còn khá tốt, độ dày tầng đất hơn 50 cm, cấu trúc
đất tốt; đất ở vùng đồng bằng nhất là loại đất phù sa có nhiều dinh dưỡng phù hợp cho
sản xuất nông nghiệp
1.4. THẢM THỰC VẬT
Lưu vực sông Lam có rừng tập trung chủ yếu thuộc 6 huyện miền núi Nghệ An và
hai huyện thuộc Hà Tĩnh.
Trên địa phận Việt Nam, diện tích rừng bị giảm nhanh do tốc độ phát triển dân số
cao ở miền núi, cùng với tập quán du canh du cư của đồng bào các dân tộc.
- Thảm phủ thực vật vùng canh tác nông nghiệp :
+ Thảm phủ thực vật vùng canh tác nông nghiệp
Diện tích canh tác nông nghiệp trên toàn lưu vực chỉ chiếm khoảng 7% diện tích
toàn lưu vực. Trên diện tích đất này hiện nay canh tác với hệ số quay vòng ruộng đất từ
1,7 đến 1,8 lần trong năm nghĩa là trong một năm chỉ có khoảng 6 tháng có cây che phủ
còn lại 6 tháng đất trống. Trong 6 tháng phần cây có lá che phủ cho diện tích chỉ chiếm
3,5-4 tháng, có thể đánh giá thảm phủ thực vật trên đất nông nghiệp chỉ đạt 20-25%.[5]
+ Thảm phủ thực vật trên đất lâm nghiệp
Rừng ở lưu vực sông Lam tập trung chủ yếu ở ba tỉnh phía Lào (Bô-li-khăm-xay,
Siêng Khoảng và Hủa Phăn). Theo khảo sát sơ bộ và đánh giá tài nguyên riêng phía Lào
thảm phủ còn hơn 555.000 ha. Ở Việt Nam Rừng tập trung ở phía Bắc, Tây Bắc và Tây
Nam lưu vực trên cao độ từ 150 ÷ 1.500 m (Hình 4). Toàn bộ lưu vực có hai vùng rừng
quốc gia là Pù Mát (Nghệ An) và Vũ Quang (Hà Tĩnh). Trước năm 1995 rừng trên lưu
vực sông Lam bị suy giảm nhanh do chế độ khai thác kém bảo dưỡng và trồng bổ sung
không kịp với tốc độ cháy rừng, phá rừng làm nương rẫy và du canh du cư của đồng bào
dân tộc ít người. Theo tài liệu điều tra rừng trên lưu vực sông Lam phía Việt Nam năm
1943 có khoảng 1,2.106 ha, đến năm 1999 đánh giá rừng chỉ còn khoảng 710.000 ha, mức
che phủ còn 35,5 % so với cùng thời kỳ các khu vực khác phía Bắc như rừng ở Tuyên
Quang còn 28,5%, vùng Tây Bắc còn 8% thì lưu vực sông Lam rừng còn phong phú hơn.
Từ năm 1995 đến 2003 do tốc độ trồng rừng nhanh cộng với chính sách giao đất, giao
rừng và các chương trình phát triển kinh tế miền núi cho tới nay rừng trên lưu vực đã bắt
6


đầu được bảo tồn và phục hồi. Độ che phủ rừng đã đạt 41,51% ở Nghệ An và 39,18% ở
Hà Tĩnh. Trong đó có trên 90% là rừng tự nhiên.[5]

Hình 4. Bản đồ thảm phủ thực vật lưu vực sông Lam ( phần lãnh thổ Việt Nam)

1.5. ĐẶC ĐIỂM KHÍ HẬU LƯU VỰC SÔNG
Lưu vực sông Lam nằm trong khu vực khí hậu nhiệt đới gió mùa, trong năm chịu
ảnh hưởng của các hoàn lưu khí quyển sau:
- Khối không khí cực đới lực địa Châu Á biến biến tính mạnh khi di chuyển từ Bắc
về phía Nam bán cầu. Hoạt động của khối không khí này từ tháng XI tới tháng III năm
sau, gây nên thời tiết lạnh, khô vào các tháng mùa đông và mưa phùn.
- Khối không khí Xích Đạo Thái Bình Dương với hướng gió Đông Nam hoạt động
mạnh từ tháng V đến tháng X và mạnh nhất vào tháng IX, X. Đặc điểm của khối không
7


khí này là nóng ẩm mưa nhiều, gây nên nhiều nhiễu động thời tiết như bão, áp thấp nhiệt
đới. Những nhiễu động thời tiết có thể đơn thuần là một hình thế thời tiết gây mưa hoặc
tổ hợp nhiều hình thế thời tiết như bão và áp thấp, áp thấp nhiệt đới kết hợp với không
khí lạnh gây mưa trên diện rộng tạo nên lũ lụt nghiêm trọng trên lưu vực sông Lam
- Khối không khí nhiệt đới Ấn Độ Dương với hướng gió Tây Nam hoạt động
mạnh vào các tháng V, VI, VII, VIII và mạnh nhất vào tháng VII mang đặc điểm khô
nóng sau khi vượt núi tràn vào lưu vực. Đây là thời kỳ hoạt động mạnh của gió Tây Nam
(gió Lào). Ảnh hưởng của gió Tây Nam (gió Lào) đã làm cho nhiệt độ không khí, nhiệt
độ đất tăng rất nhanh. Nhiệt độ không khí đạt tới 40- 42oC , nhiệt độ đất đạt tới 50-60oC .
Nhân tố khí hậu kết hợp với yếu tố địa hình đã tạo nên sự phân hóa khí hậu giữa
các vùng sâu sắc. Phần phía Bắc và Đông Bắc của lưu vực mang đặc điểm của vùng khí
hậu chuyển tiếp từ Bắc Bộ và Trung Bộ. Với mùa mưa đến sớm hơn phía Nam, lượng
mưa tháng lớn nhất xảy ra vào tháng VIII, ba tháng có lượng mưa lớn nhất là tháng VII,
VIII , IX. Mùa lạnh nhiệt độ xuống thấp nhất vào tháng I, về phía Nam của lưu vực ảnh
hưởng của các hoàn lưu phương Bắc yếu hơn, nhiệt độ tăng dần, mùa mưa đến chậm hơn
và kết thúc sớm, lượng mưa tháng lớn nhất xảy ra vào tháng IX, ba tháng có lượng mưa
lớn nhất là VIII, IX, X. Những vùng được bao bọc bởi các dãy núi, ảnh hưởng của gió
mùa Đông Bắc và gió mùa Tây Nam ít hơn dần, lượng mưa năm khá nhỏ như vùng Cửa
Rào, Khe Bố, có năm lượng mưa chỉ đạt 500-700 mm.
Những vùng có điều kiện địa hình thuận lợi đón gió (dạng phễu) đã tạo nên
những tâm mưa lớn trên lưu vực như vùng sông Ngàn Phố, Ngàn Sâu, sông Giăng với
lượng mưa năm trung bình đạt 2.000 – 2.400 mm. [7]
1.6. MẠNG LƯỚI THỦY VĂN
Các sông suối đổ vào dòng chính đều ngắn và dốc bắt nguồn từ vùng núi cao của
các tỉnh Xiêng Khoảng (Lào), Nghệ An, Hà Tĩnh. Tổng số có 44 sông nhánh cấp I có
diện tích nhỏ nhất như Khe Trò 20 km2 và sông có diện tích lớn nhất là sông Hiếu F =
5.340 km2. Những sông nhánh lớn của sông Lam là Nậm Mô, Huổi Nguyên, sông Hiếu,
sông Giăng và sông La. Các sông này đóng góp lượng dòng chảy đáng kể vào dòng chính
sông Lam. [5]
Các nhánh sông chính của sông Lam :
+ Sông La là hợp lưu của hai nhánh sông lớn Ngàn Phố và Ngàn Sâu với tổng
diện tích là 3.210 km2 đỏ vào sông Lam tại Chợ Tràng. Hai nhánh sông lớn này bắt
nguồn từ vùng núi cao phía Tây Hà Tĩnh có lượng mưa năm lớn, lũ lớn và thường xảy ra
lũ quét đặc biệt là trên sông Ngàn Phố gây thiệt hại nghiệm trọng tới đời sống và tài sản
của dân trong vùng. Đặc biệt là các năm 1960, 1989, 2002, 2010.
+ Sông Hiếu là nhánh sông cấp I lớn nhất của sông Cả được bắt nguồn từ dãy núi
cao Phu Hoạt có độ cao 2.452 m trên Huyện Quế Phong , Quỳ Châu, Nghĩa Đàn, Tân Kỳ
thuộc tỉnh Nghệ An đổ vào sông Lam tại ngã ba Cây Chanh. Với diện tích lưu vực là
5.340 km2, chiều dài là 228 km, lượng mưa trung bình ở thượng nguồn sông là 2.200
mm, hạ du là 1.600 mm. Dòng chảy chiếm 32,2% dòng chảy sông Lam tại Yên Thượng.
8


Lũ lớn trên sông Hiếu xảy ra vào các năm 1962, 1978, 1988, 2010, 2013
Ngoài ra còn có các nhánh sông lớn như Nậm Mô, Huổi Nguyên, sông Giăng.
Lượng dòng chảy năm của các sông Nậm Mô, sông Hiếu, sông Giăng chiếm tới 62,3%
lượng dòng chảy năm tới Yên Thượng trên sông Lam. Hệ thống sông Lam có mật độ lưới
sông 0,6 km/km2.

Hình 5. Bản đồ mạng lưới trạm KTTV trên lưu vực sông Lam.

9


CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU VỀ LŨ, LỤT TRÊN LƯU VỰC
SÔNG LAM
2.1. PHÂN MÙA MƯA VÀ MÙA KHÔ TRÊN LƯU VỰC SÔNG LAM
Mưa là loại hình thời tiết nhìn chung là có lợi cho các hoạt động kinh tế xã hội trên
lưu vực. Mưa là tác nhân điều chỉnh khí hậu rất tốt trên lưu vực. Cũng như chế độ mưa
vùng miền Bắc lượng mưa bình quân lưu vực dao động từ 1.100 ÷ 2.500 mm/năm, có các
trung tâm mưa lớn như thượng nguồn sông Hiếu, lưu vực sông La, lưu vực sông Giăng
lượng mưa bình quân năm đạt 2.000 ÷ 2.400 mm/năm. Trung tâm mưa nhỏ dọc theo
dòng chính sông Lam, tại Cửa Rào, Mường Xén đạt 1.100 ÷ 1.400 mm/năm. Vùng đồng
bằng hạ du sông Lam có lượng mưa bình quân năm từ 1.700 ÷ 1.800 mm/năm.
Mưa phân bố theo thời gian trong năm có 2 mùa rõ rệt : mùa mưa ít (mùa khô) và
mùa mưa nhiều.
- Mùa mưa: Ở thượng nguồn sông Lam, sông Hiếu mùa mưa được tính từ tháng V
đến tháng X, ở hạ du và phía sông La mùa mưa được tính từ tháng VI đến tháng XI. Diễn
biến mưa trong năm cũng mang tính đặc thù của miền Trung. Mưa lớn trong năm thường
có 2 đỉnh, đỉnh lớn thứ nhất xuất hiện vào cuối tháng V đầu tháng VI khi gió giao mùa.
Đỉnh mưa này là nguyên nhân chính xuất hiện lũ tiểu mãn. Đỉnh mưa lớn nhất trong năm
thường xuất hiện vào cuối tháng IX, tháng X hàng năm. Đầu mùa hạ lượng mưa đạt cực
đại vào tháng V và VI chiến 20% tổng lượng mưa năm. Tháng IX và X lượng mưa đạt
40-50% tổng lượng mưa năm, cường độ mưa trong mùa mưa rất lớn. Lượng mưa có thể
đạt 700mm đến 800mm/ ngày. Điển hình trận mưa ngày 20/VIII/1965 tại TP. Vinh đạt
142mm/giờ. Những trận mưa lớn như trên thường gây lũ nghiêm trọng trên thường gây lũ
nghiêm trọng.
- Mùa mưa ít (mùa khô): có thể tính mùa khô bắt đầu từ cuối tháng XI năm này
đến đầu tháng V năm sau. Tổng lượng mưa 6 tháng mùa khô lại rất nhỏ chỉ chiếm 15 –
20% tổng lượng mưa năm. Lượng mưa nhỏ nhất vào tháng II và III. Nhiều trạm đo trong
vùng lượng mưa tại hai tháng này chỉ đạt 1-2 % lượng mưa năm. Lưu vực nghiên cứu ảnh
hưởng của gió mùa Đông Bắc đã giảm đi nhiều nhưng số ngày mưa phùn trong các tháng
mùa khô khá nhiêu. Vùng đồng bằng có số ngày mưa phùn đạt tới 30 – 40 ngày/năm.
Lượng mưa mùa Đông từ tháng XII năm này đến tháng IV năm sau có thể đạt tới 130300 mm/tháng, loại hình mưa này tạo nên thuận lợi cho canh tác vụ Đông xuân.
10


Bảng 1. Đặc trưng lượng mưa tháng, năm tại một số vị trí trên lưu vực sông Lam
( Đơn vị: mm)
Trạm
%
Quỳ Châu
(%)
Tây Hiếu
(%)
Nghĩa
Khánh
(%)
Sông Con
(%)
Mường
Xén
(%)
Cửa Rào
(%)
Con
Cuông
(%)
Dừa
(%)
Đô Lương
(%)
Nam Đàn
(%)
Hoà
Duyệt
(%)
Sơn Diệm
(%)
Linh Cảm
(%)
Chợ
Tràng
(%)
Vinh
(%)
Nghi
Xuân
(%)
Đại Lộc
(%)

Tháng
VII

I

II

III

IV

V

VI

26,2
1,5
40,0
2,1
65,0
2,7

27,8
1,6
27,6
1,4
51,3
2,1

36,2
2,1
48,1
2,5
55,3
2,3

69,0
4,0
102,9
5,4
83,9
3,5

143,6
8,2
199,0
10,4
219,4
9,1

139,0
8,0
148,6
7,8
146,0
6,1

36,8
2,0
41,0
2,0

29,4
1,6
33,2
1,7

41,5
2,2
41,2
2,1

68,0
3,7
61,5
3,1

148,3
8,0
125,1
6,2

53,7
2,6
77,9
3,4

41,5
2,0
60,8
2,6

48,9
2,4
53,1
2,3

67,5
3,3
66,4
2,9

31,9
1,6
26,2
1,5
65,0
2,7
36,8
2,0

25,4
1,2
27,8
1,6
51,3
2,1
29,4
1,6

36,6
1,8
36,2
2,1
55,3
2,3
41,5
2,2

41,0
2,0
53,7
2,6
77,9
3,4

33,2
1,7
41,5
2,0
60,8
2,6

31,9
1,6
26,2
1,5
40,0
2,1

Năm
VIII

IX

X

XI

XII

112,0
6,4
120,8
6,3
135,7
5,6

227,5
13,0
231,9
12,1
271,3
11,3

403,9
23,1
408,6
21,4
514,3
21,4

399,5
22,9
412,2
21,6
550,0
22,9

119,4
6,8
130,1
6,8
212,4
8,8

42,7
2,4
38,9
2,0
100
4,2

1.747
100
1.909
100
2.405
100

128,0
6,9
122,0
6,1

123,6
6,6
97,0
4,8

212,9
11,4
216,1
10,8

419,9
22,6
464,3
23,2

454,7
24,4
552,3
27,6

148,3
8,0
179,2
8,9

50,4
2,7
69,6
3,5

1.862
100
2.003
100

136,0
6,6
145,2
6,3

114,7
5,6
120,6
5,2

117,1
5,7
115,2
5,0

200,9
9,7
222,5
9,7

495,6
24,0
541,7
23,5

540,8
26,2
578,1
25,1

179,3
8,7
240,4
10,4

68,2
3,3
82,1
3,6

2.064
100
2.304
100

62,7
3,1
69,0
4,0
83,9
3,5
68,0
3,7

134,9
6,6
143,6
8,2
219,4
9,1
148,3
8,0

126,4
6,2
139,0
8,0
146,0
6,1
128,0
6,9

102,4
5,0
112,0
6,4
135,7
5,6
123,6
6,6

184,3
9,0
227,5
13,0
271,3
11,3
212,9
11,4

540,3
26,4
403,9
23,1
514,3
21,4
419,9
22,6

553,5
27,0
399,5
22,9
550,0
22,9
454,7
24,4

188,3
9,2
119,4
6,8
212,4
8,8
148,3
8,0

63,5
3,1
42,7
2,4
100
4,2
50,4
2,7

2.050
100
1.747
100
2.405
100
1.862
100

41,2
2,1
48,9
2,4
53,1
2,3

61,5
3,1
67,5
3,3
66,4
2,9

125,1
6,2
136,0
6,6
145,2
6,3

122,0
6,1
114,7
5,6
120,6
5,2

97,0
4,8
117,1
5,7
115,2
5,0

216,1
10,8
200,9
9,7
222,5
9,7

464,3
23,2
495,6
24,0
541,7
23,5

552,3
27,6
540,8
26,2
578,1
25,1

179,2
8,9
179,3
8,7
240,4
10,4

69,6
3,5
68,2
3,3
82,1
3,6

2.003
100
2.064
100
2.304
100

25,4
1,2
27,8
1,6

36,6
1,8
36,2
2,1

62,7
3,1
69,0
4,0

134,9
6,6
143,6
8,2

126,4
6,2
139,0
8,0

102,4
5,0
112,0
6,4

184,3
9,0
227,5
13,0

540,3
26,4
403,9
23,1

553,5
27,0
399,5
22,9

188,3
9,2
119,4
6,8

63,5
3,1
42,7
2,4

2.050
100
1.747
100

27,6
1,4

48,1
2,5

102,9
5,4

199,0
10,4

148,6
7,8

120,8
6,3

231,9
12,1

408,6
21,4

412,2
21,6

130,1
6,8

38,9
2,0

1.909
100

Nguồn : “ Trung tâm KTTV TW’’

11


2.2. LŨ TỂU MÃN, LŨ CHÍNH VỤ, LŨ MUỘN
Vào đầu mùa mưa tháng V,VI do hoạt động mạnh của gió Tín Phong Bắc Bán Cầu
và gió mùa Tây Nam thường gây nên lũ tiểu mãn trong vùng tuy nhiên lũ tiểu mãn không
kéo dài, lượng lũ không lớn nhưng cường suất lũ lên nhanh cũng gây tổn thất nặng nề cho
vùng bãi ven biển sông như trận lũ tháng V/1989. Lũ trên sông Lam tại Nam Đàn mực
nước đạt 7.17 m trên báo động 2, lưu lượng ở Yên Thượng đạt 3.720 m3/s gần lưu lượng
lũ trung bình nhiều năm. Tại Sơn Diệm trận lũ tiểu mãn này đã tạo nên con lũ lịch sử về
Qmax, Qmax = 4.400 m3/s với Mmax = 5,53 m3/s.km2 gây xói lở nghiêm trọng vùng hạ
du sông Ngàn Phố.
Lũ chính vụ bắt đầu từ tháng VII, VIII trở đi. Lũ lớn được gây ra bởi các hoạt
động của các hình thế thời tiết gây mưa lớn xảy ra liên tiếp đặc biệt là ảnh hưởng của bão
và vào Bắc Bộ vùng Ninh Bình, Thanh Hóa vào thượng nguồn sông Lam. Các trận lũ lớn
như tháng VII/1963, tháng VII/1971 và đặc biệt là trận lũ tháng VIII/1973 là trận lũ lịch
sử tại Cửa Rào ở hạ du. Mực nước bắt đầu dâng cao đưa lũ thượng nguồn dồn về mực
nước cao nhất tại Nam Đàn là 8,04 m tháng VIII/1973.
Bắt đầu vào tháng IX, X khi mà các nhiễu động thời tiết trở nên mạnh mẽ, hoạt
động của bão tăng lên, nhiều trận bão đổ bộ trực tiếp hoặc ảnh hưởng gián tiếp đến vùng
gây nên những đợt mưa có cường độ lớn trên diện rộng và kéo dài. Đặc biệt bão tan thành
áp thấp di chuyển lên phía Bắc gặp khối không khí lạnh tăng cường gây nên lượng mưa
lớn toàn vùng như đợt mưa tháng X/1978, 3 cơn bão số 6, 7, 8 đã đổ bộ vào lưu vực gây
mưa đặc biệt lớn ở trung hạ du lưu gây lũ lịch sử hạ du sông Lam.
Lũ muộn trên dòng chính thường xảy ra vào cuối mùa lũ như tháng XI hoặc đầu
tháng XII tuy nhiên lũ thường không lớn. Đặc biệt lũ lũ trên sông La bắt đầu từ tháng IX
và kết thúc vào tháng XI, có thể kết thúc muộn vào tháng XII.
2.3. SỰ BIẾN ĐỘNG LŨ THEO THỜI GIAN.
Thời gian bắt đầu, kết thúc của mùa lũ và thời gian xuất hiện lũ lớn trên dòng
chính sông Lam và các nhánh là khác nhau.
Trên dòng chính sông Lam lũ bắt đầu từ tháng VII, vào tháng VI có thể có lũ tiểu
mãn, ở thượng nguồn và trung lưu lũ thường kết thúc vào tháng XI. Lũ lớn thường xuất
hiện vào tháng VII ở thượng nguồn và tháng IX ở trung và hạ lưu.

12


Trên các nhánh sông như sông Hiếu mùa lũ bắt đầu từ tháng VIII và kết thúc vào
tháng IX, lũ lớn nhất xuất hiện vào tháng X. Sông La mùa lũ bắt đầu vào tháng IX, kết
thúc vào tháng XI, lũ lớn thường xuất hiện vào cuối tháng IX hoặc đầu tháng X.
Thời gian lũ kéo dài có liên quan đến hình thế thời tiết gây mưa, phân bố mưa theo
thời giạn, khả năng thoát lũ do cơ sở hạ tầng, triều cường và cả tác động lũ lớn trên sông
Lam. Lũ lớn nhất thường xuất hiện vào tháng IX trên sông Ngàn Phố, tháng X trên sông
Ngàn Sâu. Do mức độ tập trung lũ và khả năng xảy ra lũ lớn nhất ở các vùng không đồng
thời đã phần nào giảm bớt được nguy cơ gây lũ lớn ở hạ du. Tuy nhiên, cũng có những
năm, do mưa bão lớn trên diện rộng, lũ đặc biệt lớn xảy ra đồng đều trên toàn bộ hệ thống
sông như năm 1978. Mực nước lũ tại Linh Cảm trên sông Lam không chỉ phụ thuộc vào
nước lũ các sông Ngàn Phố, Ngàn Sâu đổ về mà còn chịu ảnh hưởng nước lũ của sông
Cả. Trong trường hợp lũ dòng chính sông Lam xuất hiện đồng bộ với lũ các sông bên hệ
thống sông Lam thì mực nước lũ ở Linh Cảm rất cao như các năm 1978, 1960, 1988,
1983, 2010.[7]
Bảng 2. Khả năng xuất hiện lũ vào các tháng trong năm trên lưu vực sông Lam.
STT
1
2
3
4
5
6
7
8
9

Trạm
Cửa Rào
Dừa
Thác Muối
Nghĩa Khánh
Yên Thượng
Bến Thủy
Sơn Diệm
Hòa Duyệt
Linh Cảm

Sông
Lam
Lam
Giăng
Hiếu
Lam
Lam
Ngàn Phố
Ngàn Sâu
La

VI
6,0
3,45

VII
17,6
6,9
6,25
3,75

5,0
3,84
3,45

VIII
52,9
17,4
12,5
17,9
15,0
3.57
3,84
10,34
7,42

IX
23,5
37,9
43,8
35,7
45,0
28,6
50,0
37,9
37,03

X

XI

31,03
18,8
32,1
25,0
50,0
30,7
41,4
44,4

3,45
18,8
10,7
10,0
14,3
11,54
6,89
11,1

XII

3,57

Nguồn : “Trung tâm Dự Báo KTTV TW’’
2.4. SỰ BIẾN ĐỘNG DÒNG CHẢY THEO KHÔNG GIAN
Theo nghiên cứu lũ lớn trên sông chính và sông nhánh, giữa các sông nhánh với
nhau, giữa sông Cả và sông La xuất hiện lệch pha nhau. Lượng nước lũ ở khu giữa chiếm
tỉ lệ khá lớn. Nguồn gốc nước lũ ở các sông Hiếu, sông Ngàn Phố, sông La lớn hơn so
với các sông còn lại.

13


2.4.1. Mực nước lũ ở một số vị trí đo được trên lưu vực
Ở thượng nguồn sông Lam tại Cửa Rào mực nước lũ lớn nhất vào tháng VIII/1973
với mực nước lớn nhất 76,3m. Vào tháng IX/1978 từ Dừa trở về hạ du mực nước lũ lớn
nhất là 19,71m đo được tại Đô Lương và tại Nam Đàn mực nước lũ lớn nhất là 9.64 m,
tại Bến Thủy là 5,68m.
Trên sông Hiếu mực nước lũ lớn nhất đạt 80,05 m vào ngày 14/X/1988 tại Quỳ
Châu
Trên sông Ngàn Phố tại Sơn Diệm mực nước lớn nhất là 15,82 m vào ngày
20/IX/2002. Trên sông Ngàn Sâu tại Hòa Duyệt, mực nước lớn nhất đạt 12,74 m vào
ngày 5/X/1960 và đạt 11,78 m vào ngày 20/IX/2002. Mực nước lớn nhất tại Linh Cảm
trên sông La xuất hiện vào ngày 29/IX/1978 là 7,83 m tiếp đến là trận lũ năm 2002 với
mực nước lớn nhất là 7,7 m vào ngày 21/ IX.
Bảng 3. Mực nước lũ đo được tại một số trạm trên lưu vực.
( Đơn vị: Mét)
Stt
1
2
3
4
5
6
7
8
9
10
11

Trạm
Cửa Rào
Dừa
Đô Lương
Yên Thượng
Nam Đàn
Bến Thủy
Cửa Hội
Quỳ Châu
Sơn Diệm
Hòa Duyệt
Linh Cảm

Sông
Lam
Lam
Lam
Lam
Lam
Lam
Lam
Hiếu
Ngàn Phố
Ngàn Sâu
La

Hmax
76,3
24,98
19,71
12,38
9,64
5,68
4,71
80,05
15,82
12,74
7,83

Thời gian
27/8/1973
18/10/1988
28/9/1978
28/9/1978
29/9/1978
28/9/1978
13/10/1989
14/10/1988
20/9/2002
5/10/1960
29/9/1978

Nguồn: “Trung tâm Dự báo KTTV TW ’’
Thống kê theo trận lũ lớn nhất đã xảy ra cho thấy:
- Mực nước lũ lớn nhất vùng trung lưu trên sông Lam xảy ra từ trận lũ tháng
IX/1978 nhưng vùng thượng nguồn sông Lam là lũ tháng VIII/1973.
- Mực nước lũ lớn nhất trên sông Ngàn Phố tại Sơn Diệm là trận lũ tháng IX/2002
trong khi đó trên sông Ngàn Sâu tại Hòa Duyệt là trận lũ tháng X/1960. [7]
2.4.2. Lưu lượng lũ đo được tại ở một số vị trí trên lưu vực
Tại Cửa Rào trên dòng chính sông Lam lưu lượng lũ lớn nhất trung bình nhiều
năm đạt 2.190 m3/s. Vào năm 1963 với lưu lượng lớn nhất 5.350 m3/s ngày 25/VII. Tiếp
14


đến là trận lũ lớn nhất vào năm 1973 với lưu lượng đỉnh lũ đạt 5.690 m3/s, ngày
28/IX/1978 lưu lượng lũ là 5.350 m3/s ,trận lũ năm 1988 với lưu lượng lớn nhất là 4.600
m3/s ngày 17/IX. Ngày 18/X/1988 với lưu lượng lũ là 3.890 m3/s.
Trên sông Hiếu tại Quỳ Châu, theo số liệu quan trắc được lưu lượng lũ trung bình
đạt 1.470 m3/s. Trận lũ lớn nhất tại Quỳ Châu xảy ra vào 14/X/1988 với lưu lượng lớn
nhất là 2870 m3/s, tiếp theo là các trận lũ ngày 7/IX/1980 với lưu lượng là 2730 m3/s,
năm 1966 lưu lượng là 2.530 m3/s, lũ ngày 18/VIII/1991 với lưu lượng 2.430 m3/s, năm
1962 với lưu lượng lớn nhất là 2.410 m3/s ngày 28/IX.
Lưu lượng lũ lớn nhất tại Dừa 10.200 m3/s ngày 28/IX/1978, tiếp theo là trận lũ
năm 1988 với lưu lượng đỉnh lũ là 8.840 m3/s ngày 18/X/1988, trận lũ 1963 lưu lượng
lớn nhất là 8.630 m3/s ngày 26/VII/1963, trận lũ 1973 lưu lượng là 7.300 m3/s ngày
27/VIII/1973.
Trên sông Giăng, dòng chảy lũ trung bình nhiều năm tại Thác Muối là 1190 m3/s.
Lũ lớn nhất tại Thác Muối là vào năm 1974 với lưu lượng đỉnh lũ 5.150 m3/s.
Tại Yên Thượng có sự gia nhập của lượng nước khu giữa đặc biệt là lượng nước lũ
của lưu vực sông Giăng. Lưu lượng lũ lớn nhất trung bình đạt 4.110 m3/s. Lưu lượng lũ
lớn nhất hoàn nguyên tại Yên Thượng là 13.180 m3/s ngày 28/IX/1978, tiếp theo là các
trận lũ tháng X/1988 với lưu lượng đinh lũ là 10.280 m3/s ngày 19/XI/1988, trận lũ năm
1996 với lưu lượng là 6.210 m3/s ngày 25/IX/1996.
Biến động dòng chảy lũ trên dòng chính sông Lam khá lớn, tại Cửa Rào năm 1973
lưu lượng lớn nhất là 5.690 m3/s còn năm có lũ nhỏ nhất vào ngày 4/VII/1998 lưu lượng
lũ 634 m3/s, năm 1976 không có bão đổ bộ ảnh hưởng, lưu lượng đạt 1.190 m3/s ngày
14/VIII/1976. Tại Dừa, năm có lưu lượng lũ nhỏ nhất đạt 862 m3/s ngày 4/VII/1998 lũ
trên các sông nhánh lớn.
Trên sông Ngàn Phố tại Sơn Diệm lưu lượng lũ lớn nhất trung bình nhiều năm đạt
1.730 m3/s. Lũ đạt trị số lớn nhất là vào tháng IX/2002 với lưu lượng là 5.200 m3/s. Sau
đó là các trận lũ tháng V/1989 với lưu lượng lớn nhất là 4.400 m3/s ngày 26. Năm 1960
có lưu lượng là 3.820 m3/s, vào tháng X/1988 với lưu lượng đỉnh là 3.820 m3/s và tháng
IX/1978 với lưu lượng đỉnh là 3.630 m3/s.
Trên sông Ngàn Sâu tại Hòa Duyệt, lũ lớn nhất trung bình nhiều năm là 1.890
m /s. Lũ lớn nhất là trận lũ năm 1960 với 3.880 m3/s, tiếp theo là các trận lũ 1979, 1983,
1978 và 2002. Lũ năm 2002 trên sông Ngàn Sâu tại Hòa Duyệt xét về độ lớn Qmax chỉ ở
vị trí thứ 5 sau các trận lũ 1960, 1979, 1983, 1978 trong khi đó trên sông Ngàn Phố tại
Sơn Diệm, lũ lớn nhất xảy ra vào tháng IX/2002.
3

Qua Yên Thượng nước lũ chảy về vùng đồng bằng hạ du sông Lam. Những năm
lũ lớn như trận lũ tháng IX/1978, tháng 10/1988 đã gây ra tình trạng ngập úng lớn, do khả
năng thoát lũ lòng sông có hạn, do sự gặp gỡ lũ lớn bên sông La và do ảnh hưởng của
triều cường.

15


Ở hạ du sông Lam, nước lũ không chỉ phụ thuộc vào lũ dòng chính sông Lam mà
còn phụ thuộc vào nước lũ sông La.
Sông La là hợp lưu giữa hai sông nhánh Ngàn Phố và Ngàn Sâu. Xét về thứ tự
xuất hiện lưu lượng nước lũ lớn nhất, tại Sơn Diệm trên sông Ngàn Phố mực nước lũ lớn
nhất xảy ra vào các năm 2002, 1989, 1960, 1988, 1978, 1983. Trên sông Ngàn Sâu tại
Hòa Duyệt xảy ra vào các năm 1960, 1979, 1983, 1978, 2002.
Trên cơ sở tài liệu thực đo về dòng chảy của các trận lũ điển hình tại 11 vị trí
(Mường Xén, Dừa, Đô Lương, Yên Thượng, Nam Đàn, Sơn Diệm, Hòa Duyệt, Linh
Cảm, Chợ Tràng) giai đoạn 1960 – 2013 ta thấy các trận lũ xảy ra gây ngập lụt nghiêm
trọng trên các lưu vực sông Lam, Hiếu, La, Lam có thời kì lụt và cường độ là khác nhau.
Sự phân bố và diễn biến xảy ra là không đồng nhất về số lượng cũng như năm xuất
hiện.[7]
2.5. CÁC TRẬN LŨ ĐẶC BIỆT LỚN VÀ TÌNH HÌNH NGẬP ÚNG VÙNG HẠ DU
SÔNG LAM
2.5.1. Các trận lũ đặc biệt lớn trên lưu vực.
Bảng 4. Thống kê một số trận lũ lớn đã xảy ra tại một số vị trí trên lưu vực sông Lam
STT

Trạm

1

Sông

Thời gian xuất hiện

Hmax

Ghi chú

Nậm Mộ

25/VI/2011

14549

Lũ lịch sử

28/IX/2005

14215

27/VIII/1973

14047

23/X/1978

4135

15/X/1988

4099

07/IX/1980

4095

18/X/1988

2498

28/IX/1978

2490

28/VIII/1973

2366

29/I X/1978

964

19/X/1988

941

25/IX/1996

830

20/IX/2002

1582

26/V/1989

1535

17/X/1988

1460

17/X/2010

1283

Mường Xén
2
Nghĩa Khánh

Hiếu

3
Dừa

Lam

4
Nam Đàn

Lam

5
Sơn Diệm
6

Ngàn Phố

16

Lũ lịch sử

Lũ lịch sử

Lũ lịch sử

Lũ lịch sử


STT

Trạm

Sông

Thời gian xuất hiện

Hmax

Hòa Duyệt

Ngàn Sâu

06/X/1960

1273

08/VIII/2007

1205

29/IX/1978

775

21/IX/2002

771

18/X/1988

730

7
Linh Cảm

Sông La

Ghi chú

Thống kê trong 5 thập kỷ qua, trên lưu vực sông Lam đã xảy ra nhiều trận lũ
lớn, đặc biệt trận lũ xảy ra tháng IX/1978 trên lưu vực sông do bão xảy ra liên tiếp
đã gây mưa lớn trong nhiều ngày. Tình hình một số trận lũ lớn trên lưu vực sông
Lam được thống kê trong Bảng 4.
Một số trận lũ lớn điển hình gây nhiều thiệt hại về người và của như:
Trận lũ tháng X/1978: Đây được coi là trận lu lịch sử trên lưu vực, làm vỡ tới 605
vị trí đê với tổng chiều dài 29,4 km, trong đó đê trung ương vỡ 7 đoạn dài 570 m và riêng
sông Lam bị vỡ tới 125 vị trí.
Trận lũ tháng IX/2002: Làm ngập lụt trên diện rộng, gây thiệt hại nặng.
Tại Nghệ An có 24 người chết, 5 người bị thương; 10.225 ngôi nhà bị ngập và trên 23
ngàn ha đất trồng trọt bị ngập và mất trắng, nhiều công trình phúc lợi công cộng, giao
thông thuỷ lợi bị mất và hỏng nặng; thiệt hại khoảng 127 tỷ đồng. Tại Hà Tĩnh có 53
người chết; ngập toàn bộ huyện Hương Sơn và huyện Vũ Quang; huyện Hương Khê có
18/22 xã bị ngập; huyện Đức Thọ có 19/28 xã bị ngập; thiệt hại khoảng 771 tỷ đồng.
Trận lũ tháng VIII và tháng X/2007: Từ Hà Tĩnh đến Quảng Bình có mưa rất to và
gây lũ lớn trên các sông làm thiệt hại nặng nề cho các tỉnh: tại Hà Tĩnh có 29 người chết,
5 người bị thương; 121 nhà bị cuốn trôi, 26.051 nhà bị ngập; nhiều công trình hồ đập vị
vỡ; 25.663 ha lúa và hoa màu bị ngập, thiệt hại khoảng 2.000 tỷ đồng. Tại Nghệ An có 2
người chết; 5.500 ha lúa và hoa màu bị ngập, 350 ha ao hồ bị ngập; 10.000 m3 hồ đập bị
sạt lở; thiệt hại gần 40 tỷ đồng. Trận lũ lớn tháng X/2007 lại xảy ra ở Bắc miền Trung,
tỉnh Nghệ An thiệt hại hơn 550 tỷ đồng. Huyện Hương Sơn, Hà Tĩnh có 16 xã bị ngập
nặng, trong đó 3 xã Sơn Phú, Sơn Mai và Sơn Thủy bị cô lập hoàn toàn, thiệt hại 230 tỷ
đồng.
17


Qua nghiên cứu, phân tích đặc điểm và khả năng gây thiệt hại của một số trận
lũ lớn điển hình xảy ra trên lưu vực sông Lam cho thấy:
- Lũ lớn xảy ra trên lưu vực sông Lam với tần số khá cao. Những năm gần đây, lũ
lớn xảy ra ngày càng ác liệt và phạm vi ảnh hưởng cũng lớn hơn. Mỗi khi lũ lớn xảy ra,
nhiều vùng rộng lớn trên lưu vực sông bị ảnh hưởng nghiêm trọng. Thiệt hại do các trận
lũ lớn gây ra ngày càng nặng nề hơn.
- Nguyên nhân chính gây ra các trận lũ lớn là do bão, áp thấp nhiệt đới gây ra mưa
lớn, diện rộng, thời gian kéo dài.
Vì vậy để phòng tránh và giảm nhẹ thiệt hại của lũ lớn trên lưu vực sông Lam rất
cần có giải pháp quản lý lũ lớn theo hướng tổng hợp trên cơ sở xem xét tất cả cáckhía
cạnh có liên quan từ nguyên nhân, diễn biến, khai thác tài nguyên, xây dựng công trình
đến nhận thức, tham gia của các cấp, các ngành và cộng đồng dân cư.[4]
2.5.2.Tình hình ngập lụt khu vực hạ du sông Lam.
.5.2.1. Diện tích ngập lụt
Dựa vào điều kiện tự nhiên của lưu vực sông Cả mà phân vùng ngập lụt. Phân chia lưu
vực sông thành 2 vùng chính:
Vùng sinh lũ: Bao gồm lưu vực sông Lam tính từ thượng nguồn đến Yên Thượng;
Lưu vực sông La tính từ thượng nguồn sông Ngàn Sâu và sông Ngàn Phố đến Linh Cảm.
Vùng ngập lụt ( vùng chịu lũ ): là phần còn lại phía hạ du sông Lam.
Nghệ An có 5 huyện bị ngập là Vinh, Cửa Lò, Nghi Lộc, Nam Đàn, Hưng
Nguyên. Trong đó Nam Đàn chiếm 54% diện tích ngập, độ sâu ngập phổ biến từ 0 đến
1m chiếm khoảng 78%. Thị xã Cửa Lò có diện tích ngập lụt ít nhất chiếm 4% diện tích
ngập.
Hà Tĩnh có 3 huyện bị ngập là Nghi Xuân, Hồng Lĩnh và Đức Thọ, trong đó huyện
Đức Thọ ngập rộng nhất chiếm 47% diện tích ngập, độ sâu ngập lụt phổ biến từ 0 đến 1
m chiếm 76% diện tích ngập, thị xã Hồng Lĩnh ngập ít nhất chiếm khoảng 18% diện tích
ngập.
Trận tháng IX/1978, Do mưa lớn, một số đập và kênh bị phá gây ngập úng nặng ở
đồng bằng. Diện tích ngập là 21.000 ha.
Trong năm 2002 lũ đã tràn đê chậm lũ ( hữu sống Lam ) gây ngập 5 xã thuộc
huyện Nam Đàn và một số xã thuộc huyện Hưng Nguyên , Thanh Chương, Anh Sơn...
ngập 420 ha.

18


Năm 2006 do ảnh hưởng của bão số 5 và số 6 trên lưu vực sông Lam có lũ lớn ,
đường giao thông tỉnh lộ, huyện lọ và giao thông nông thôn bị ngập lụt, sạt lở. Nhiều cơ
sở hạ tầng bị thiệt hại nghiêm trọng. Diện tích lúa, hoa màu bị ngập 4.764 ha.
Trận lũ tháng VIII/2007 làm 23.182 ha diện tích lúa bị úng ngập. Nhiều tuyến
đường giao thông bị ngập sâu.
Trận lũ tháng X/2010 tại Hà Tĩnh ngập lụt diện rộng 178/262 xã của tất cả 12
huyện, thành phố, thị xã ( Hương Khê 22/22 xã; Vũ Quang 12/12 xã; Hương Sơn 20/31
xã; Đức Thọ 27/28 xã; Cẩm Xuyên 15/27 xã; Thạch Hà 31/31 xã; Can Lộc 22/23 xã, Lộc
Hà 09/13 xã; TP. Hà Tĩnh 16/16 phường xã; TX.Hồng Lĩnh 3 phường; Nghi Xuân 05/19
xã. Trong trận lũ vừa qua thời gian ngập úng vùng này lên tới hơn 20 ngày.
Năm 2011, xảy ra trận lũ lịch sử ở thượng nguồn sông Lam, trận lũ đã làm ngập
trắng 14.329 ha diện tích lúa canh tác và hoa màu .
2.5.2.2. Mức độ ngập lụt trên lưu vực sông Lam
Năm 1978, do mưa bão số 9, hầu hết diện tích canh tác, nhiều làng xã đã ngập
chìm trong nước . nhiều nơi ngập sâu 2-3 m, quốc lộ số 1 A có nhiều nơi ngập sâu 0,8 –
1,2 m.
Trong năm 2002 là một trong những năm đã xảy ra thiệt hại rất lớn, lũ đã gây ngập
lụt nghiêm trọng có nơi ngập sâu từ 3,0 – 4,0 m (18-22/9).
Năm 2006 có 8.988 ngôi nhà bị ngâp chìm trong nước sâu từ 0,3 -3,0 m chủ yếu ở
các huyện miền núi Hương Sơn, Hương Khê, Vũ Quang và Đức Thọ.
Trận lũ tháng 10/2010 kéo dài từ 15/10 đến 18/10/210 là một đợt mưa lũ lớn trên
diện rộng tại các tỉnh Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị và Thừa Thiên Huế . lũ
lụt đã lam 32 người chết và mất tích, hàng chục ngàn ngôi nhà bị ngập trong nước lũ,
giao thông đường bộ và đường sắt tê liệt. Lũ lớn còn đe dọa sự an toàn của các đập thủy
điện, làm hàng chục nghìn người phải sơ tán.
Năm 2011 , trận lũ đã làm ngập hoàn toàn các xã Phương Điền, Phương Mỹ,
Hương Giang huyện Hương Khê và Đức Lĩnh, Đước Hương, Đức Bống, Hương Thọ, Ân
Phú huyện Vũ Quang. Tuyến đường Quốc Lộ 15A đoạn khe Giao đi Phúc Đồng, Hương
Khê bị chia cắt hoàn toàn, có chỗ ngập sâu tới 1,2 m. [6]
Bảng 5. Bảng minh họa diện tích và độ sâu ngập lụt hạ du sông Lam



Độ
sâu

Nghệ An

Tổng diện
tích ngập
Số huyện

0-5

64.588

5
19

Hà Tĩnh

Diện tích
(ha)

Số huyện

44.718

3

Diện tích
( ha)
19.870


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×