Tải bản đầy đủ

Xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực trật tự đô thị từ thực tiễn huyện Cần Đước, Tỉnh Long An (Luận văn thạc sĩ)

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

PHAN VĂN HẬU

XỬ PHẠT VI PHẠM HÀNH CHÍNH TRONG LĨNH VỰC
TRẬT TỰ ĐÔ THỊ TỪ THỰC TIỄN HUYỆN CẦN ĐƯỚC,
TỈNH LONG AN

LUẬN VĂN THẠC SĨ
LUẬT HIẾN PHÁP VÀ LUẬT HÀNH CHÍNH

HÀ NỘI, 2020


VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

PHAN VĂN HẬU

XỬ PHẠT VI PHẠM HÀNH CHÍNH TRONG LĨNH VỰC

TRẬT TỰ ĐÔ THỊ TỪ THỰC TIỄN HUYỆN CẦN ĐƯỚC,
TỈNH LONG AN

Ngành: Luật Hiến pháp và luật hành chính
Mã số: 8.38.01.02

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS. NGUYỄN VĂN QUÂN

HÀ NỘI, 2020


LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn này là công trình nghiên cứu khoa học độc lập
của cá nhân tôi.
Nội dung cũng như các số liệu trình bày trong luận văn hoàn toàn trung
thực. Những kết luận khoa học của luận văn chưa từng được công bố trong bất
kỳ các công trình nghiên cứu khoa học nào khác.
TÁC GIẢ LUẬN VĂN

PHAN VĂN HẬU


MỤC LỤC
MỞ ĐẦU .................................................................................................................. 1
Chương 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LÝ VỀ XỬ PHẠT VI PHẠM
HÀNH CHÍNH TRONG LĨNH VỰC TRẬT TỰ ĐÔ THỊ .............................. 7
1.1. Khái niệm, đặc điểm của xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực trật tự đô
thị.

..................................................................................................................... 7

1.1.1 Khái niệm của xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực trật tự đô thị .... 7
1.1.2. Đặc điểm của xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực trật tự đô thị... 13
1.2. Cơ sở pháp lí về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực trật tự đô thị . 17
1.2.1. Các quy định về xử phạt hành chính trong lĩnh vực trật tự đô thị .... 17
1.2.2. Hình thức xử phạt ........................................................................................ 18
1.2.3. Thẩm quyền xử phạt ..................................................................................... 26
1.2.4. Trình tự, thủ tục, xử phạt……………………………………………..…27
1.3. Các yếu tố tác động đến hoạt động xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực


trật tự đô thị ............................................................................................................. 30
1.3.1. Các quy định của pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính ..................... 30
1.3.2. Tổ chức bộ máy xử phạt vi phạm hành chính............................................. 31
1.3.3. Đội ngũ công chức trong thực thi công vụ.................................................. 31
1.3.4. Yếu tố kinh tế ................................................................................................ 33
Chương 2. THỰC TRẠNG XỬ PHẠT VI PHẠM HÀNH CHÍNH TRONG
LĨNH VỰC TRẬT TỰ ĐÔ THỊ TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN CẦN ĐƯỚC,
TỈNH LONG AN .................................................................................................. 36
2.1. Khái quát chung về đặc điểm tự nhiên, đặc điểm kinh tế -xã hội, đặc điểm hệ
thống hạ tầng đô thị trên địa bàn huyện Cần Đước, tỉnh Long An ...................... 36
2.1.1. Đặc điểm tự nhiên......................................................................................... 36
2.1.2. Đặc điểm kinh tế-xã hội ............................................................................... 37
2.1.3. Đặc điểm hệ thống hạ tầng đô thị ................................................................ 38
2.2. Tình hình vi phạm hành chính về trật tự đô thị trên địa bàn huyện Cần Đước,


tỉnh Long An ........................................................................................................... 39
2.2.1. Vi phạm trật tự xây dựng đô thị................................................................... 39
2.2.2. Vi phạm trong quản lý, sử dụng đất đai ...................................................... 41
2.2.3. Vi phạm trong quản lý trật tự giao thông, trật tự công cộng đô thị ........... 42
2.2.4. Nguyên nhân của vi phạm hành chính trong lĩnh vực trật tự đô thị trên địa
bàn huyện Cần Đước, tỉnh Long An ...................................................................... 45
2.3. Thực tiễn công tác xử phạt vi phạm hành chính về trật tự đô thị trên địa bàn
huyện Cần Đước, tỉnh Long An ............................................................................. 47
2.3.1. Hoạt động chỉ đạo của các cấp chính quyền huyện Cần Đước, tỉnh Long An
trong lĩnh vực trật tự đô thị ..................................................................................... 47
2.3.2. Công tác kiểm tra, xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực trật tự đô thị
trên địa bàn huyện Cần Đước, tỉnh Long An ........................................................ 48
2.3.3. Các cơ quan xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực trật tự đô thị trên
địa bàn huyện Cần Đước, tỉnh Long An................................................................ 48
2.3.4. Những kết quả đạt được và những khó khăn, vướng mắc trong xử lý vi phạm
hành chính trong lĩnh vực trật tự đô trên địa bàn huyện Cần Đước, T.Long An 49
Chương 3. QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP NHẰM TĂNG CƯỜNG XỬ
PHẠT VI PHẠM HÀNH CHÍNH TRONG LĨNH VỰC TRẬT TỰ ĐÔ THỊ
TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN CẦN ĐƯỚC, TỈNH LONG AN........................ 588
3.1. Quan điểm xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực trật tự đô thị trên địa
bàn huyện Cần Đước, tỉnh Long An .................................................................... 588
3.2. Một số giải pháp nhằm tăng cường xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực
trật tự đô thị trên địa bàn huyện Cần Đước, tỉnh Long An................................... 60
3.2.1. Nhóm giải pháp chung ............................................................................... 660
3.2.2. Nhóm giải pháp cụ thể ................................................................................. 69
KẾT LUẬN .......................................................................................................... 755
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ........................................................ 777


DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

ATGT

: An toàn giao thông

HĐND

: Hội đồng nhân dân

QLNN

: Quản lý nhà nước

TNHH

: Trách nhiệm hữu hạn

TTĐT

: Trật tự đô thị

UBND

: Ủy ban nhân dân

VPHC

: Vi phạm hành chính

XHCN

: Xã hội chủ nghĩa

XLVPHC

: Xử lý Vi phạm hành chính


DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Bảng 2.1 Kết quả xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực xây dưng từ năm
2015 đến 2019. ................................................................................ 40
Bảng 2.2 Kết quả xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực kết cấu hạ tầng
giao thông đường bộ từ năm 2015 đến 2019 ................................ 444


MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong bối cảnh hiện nay, dưới tác động của nền kinh tế toàn cầu và sự
phát triển mạnh mẽ của công nghệ thông tin, đô thị hóa không còn giới hạn
trong phạm vi một thành phố, đô thị, một vùng lãnh thổ hay quốc gia mà mở
rộng trên quy mô liên quốc gia và toàn cầu. Dân cư đô thị được dự báo vẫn tiếp
tục tăng trưởng nhanh chóng trong thời gian tới. Dân số đô thị thế giới đã tăng
gấp 5 lần kể từ năm 1950 (hơn 0,7 tỷ người dân đô thị/ 2,5 tỷ dân). Dự báo đến
năm 2050 dân số thế giới là 9,15 tỷ người, trong đó 2/3 có là dân đô thị (68%).
Tính trong phạm vi cả nước cho đến ngày nay có khoảng 831 đô thị, trong
đó tỷ lệ thành phố và thị xã chiếm khoảng 1/8 , nghĩa là có khoảng hơn 100
thành phố và thị xã. Nhà nước ta đã phê duyệt việc quy hoạch các thành phố và
thị xã này. Tuy nhiên, khi xây dựng thì phải đảm bảo các đô thị phải được xây
dựng đúng yêu cầu mà quy hoạch đã đặt ra. Đồng thơi việc xây dựng cũng phải
đúng với quy chuẩn và đúng với các tiêu chuẩn cho phép đối với từng khu vực
cụ thể. Huyện Cần Đước nằm ở phía Đông Nam vùng hạ của tỉnh Long An với
diện tích tự nhiên (DTTN) 218,103 km2, chiếm 4,86% diện tích tự nhiên toàn
tỉnh, được chia thành 17 đơn vị hành chính (16 xã và 1 thị trấn). Cần Đước là
địa bàn nằm trong vùng kinh tế trọng điểm của tỉnh Long An, thuộc vành đai
ngoài của vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, được bao bọc bởi sông Rạch Cát
và Sông Vàm Cỏ. Những điều kiện về tự nhiên, vị trí địa lý và điều kiện kinh
tế - xã hội đã giúp cho huyện Cần Đước có lợi thế thuận tiện cho việc lưu thông
hàng hóa trong và ngoài tỉnh, có điều kiện tiếp thu nhanh và ứng dụng tốt khoa
học kỹ thuật, có nhiều cơ hội phát triển kinh tế - xã hội, có khả năng thu hút
các nhà đầu tư lớn từ TP. Hồ Chí Minh và nước ngoài. Đây là điều kiện vô cùng
thuận lợi để Cần Đước xây dựng và phát triển kinh tế - xã hội của địa phương
trong vùng kinh tế trọng điểm.

1


Để thực hiện phát triển đô thị đòi hỏi các cơ quan quản lý nhà nước phải
thiết lập được trật tự đô thị, điều này phản ánh trình độ phát triển kinh tế, văn
hóa, xã hội của địa phương. Thời gian qua, công tác quản lý trật tự đô thị tại
Long An đã được tập trung chỉ đạo thực hiện nhiều giải pháp đồng bộ như: đẩy
mạnh công tác thông tin, tuyên truyền, công tác quy hoạch, quản lý xây dựng
theo quy hoạch, quản lý đất đai; tăng cường thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm;
huy động sự vào cuộc tích cực của nhiều chủ thể và nhân dân. Vì vậy, công tác
quản lý trật tự xây dựng đô thị đã có nhiều chuyển biến tích cực, tỷ lệ các công
trình xây dựng có phép, đúng phép tăng dần, góp phần vào cải thiện cảnh quan
kiến trúc đô thị và điều kiện sinh sống của nhân dân.Tuy nhiên, công tác quản lý
trật tự đô thị ở một số nơi trên địa bàn tỉnh Long An còn bộc lộ nhiều bất cập,
yếu kém.
Với mục đích lập lại trật tự đô thị nói trên, không chỉ riêng cho huyện Cần
Đước, mà là cho cả tỉnh Long An nói chung thì công tác xử lý vi phạm trật tự
đô thị một cách triệt để nghiêm minh trên địa bàn huyện này là vô cùng quan
trọng. Chính vì vậy tác giả chọn đề tài “Xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh
vực trật tự đô thị từ thực tiễn huyện Cần Đước, Tỉnh Long An” làm đề tài
nghiên cứu luận văn thạc sĩ của mình, nhằm phân tích rõ về lý luận và thực tiễn
thực trạng vi phạm hành chính trong lĩnh vực trật tự đô thị ở Long An là hết
sức cần thiết và mang ý nghĩa thiết thực.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Qua khảo sát, tìm hiểu và nghiên cứu, tác giả nhận thấy có những công trình
liên quan đến đề tài luận văn của mình như sau:
- Phan Thị Kim Giao (2006), “Giải pháp cơ bản để thiêt lập trật tự, kỷ
cương trong quản lý nhà nước ở đô thị”, Nhà xuất bản Tư pháp, Hà Nội;
- Đỗ Vượng (2012),“Trách nhiệm pháp lý đối với vi phạm hành chính
trong lĩnh vực xây dựng từ thực tiễn thị xã Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh”, luận văn

2


thạc sĩ luật học, Học viện khoa học xã hội;
- Trần Sơn Hà (2012), “Vấn đề cải cách thủ tục hành chính trong xử lý
vi phạm trật tự, an toàn giao thông đường bộ”, Tạp chí Quản lý nhà nước số
199;
- Hoàng Thế Liên (2013), “Luật xử lý vi phạm hành chính với nhiệm vụ
bảo đảm trật tự, kỷ cương quản lý hành chính, trật tự an toàn xã hội và bảo vệ
quyền, lợi ích hợp pháp của công dân”, Tạp chí Dân chủ và pháp luật số 8;
- Nguyễn Bá Phùng (2014), “Một số hạn chế, tồn tại trong công tác xử
phạt vi phạm hành chính về lĩnh vực quản lý trật tự xây dựng đô thị giai đoạn
hiện nay”, Tạp chí Khoa học kiểm sát số 3.
- Nguyễn Chi Mai (2018), “Xây dựng Thành phố Hồ Chí Minh trở thành
đô thị thông minh hướng tới bảo đảm trật tự an toàn xã hội”, Tạp chí Nghiên
cứu phát triển số 25;
- Phạm Tiến Luật (2018), “Định hướng xây dựng đô thị thông minh ở
Việt Nam”, Tạp chí Quản lý nhà nước số 266;
- Vương Văn Đạt, Trần Hữu Dào (2019), “Tăng cường công tác quản lý
nhà nước về trật tự xây dựng trên địa bàn huyện Thạch Thất, TP. Hà Nội”, Tạp
chí Kinh tế và Dự báo số 11.
Các công trình này hầu hết đã nghiên cứu về thực tiễn cũng như lí luận về
xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực trật tự đô thị. Tuy nhiên, chưa có
công trình nào nghiên cứu về vấn đề xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực
trật tự đô thị từ thực tiễn huyện Cần Đước, tỉnh Long An. Đó là lí do tác giả đã
lựa chọn đề tài này để nghiên cứu mang ý nghĩa thiết thực. Kết quả nghiên cứu
của luận văn, dự kiến sẽ có những đóng góp mới về khoa học của chuyên ngành
Luật Hiến pháp và luật Hành chính như sau:
- Tổng hợp các kết quả có giá trị khoa học từ các công trình nghiên cứu
có liên quan trước đó ở trong nước, các quy định của pháp luật về xử phạt vi

3


phạm hành chính trong lĩnh vực trật tự đô thị, từ đó tác giả đã kế thừa và phát
huy có chọn lọc để định hướng cho luận văn những vấn đề cần nghiên cứu tiếp
theo.
- Làm rõ chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, các quy định cụ
thể về vấn đề xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực trật tự đô thị, rút ra
những đặc trưng cơ bản của xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực trật tự
đô thị.
- Đánh giá những ưu điểm, tồn tại, hạn chế, nguyên nhân của việc xử phạt
vi phạm hành chính trong lĩnh vực trật tự đô thị.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Luận văn đi sâu vào việc nghiên cứu phân tích phân tích cơ sở lý luận của
pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực trật tự đô thị; từ cơ sở
lý luận đó, luận văn đi sâu vào đánh giá thực trạng, kết quả đạt được trong việc
xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực trật tự đô thị trên địa bàn huyện Cần
Đước; đồng thời luận văn cũng nêu lên được những hạn chế, bất cập, khó khăn,
vướng mắc trong thực tiễn xử lý vi phạm trật tự đô thị ở huyện Cần Đước; trên
cơ sở những bất cập, khó khăn và vướng mắc ấy tác giả đề xuất các giải pháp
để nâng cao hiệu quả xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực trật tự đô thị
trên địa bàn huyện Cần Đước, tỉnh Long An.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
+ Tìm hiểu và làm sáng tỏ các vấn đề lý luận có liên quan đến vấn đề
nghiên cứu của đề tài.
+ Đánh giá và làm sáng tỏ các quy định pháp luật cũng như thực tiễn xử
phạt liên quan đến xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực trật tự đô thị trên
địa bàn huyện Cần Đước, tỉnh Long An.
+ Đưa ra các giải pháp hoàn thiện các quy định pháp luật liên quan đến xử

4


phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực trật tự đô thị trên địa bàn huyện Cần
Đước, tỉnh Long An.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1.Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là những vấn đề liên quan đến việc xử
phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực trật tự đô thị trên địa bàn huyện Cần
Đước, tỉnh Long An.
4.2.Phạm vi nghiên cứu
Về nội dung nghiên cứu: Luận văn nghiên cứu vấn đề xử phạt vi phạm hành
chính trong lĩnh vực trật tự đô thị trên địa bàn huyện Cần Đước, tỉnh Long An.
Thời gian nghiên cứu của luận văn là từ năm 2015 đến năm 2019.
Không gian nghiên cứu là trên địa bàn huyện Cần Đước, tỉnh Long An.
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
Để làm rõ các vấn đề cần nghiên cứu, đề tài dựa trên cơ sở phương pháp
luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, đồng thời sử dụng các phương pháp
nghiên cứu cụ thể sau:
Phương pháp thu thập, nghiên cứu tài liệu, số liệu: Bằng các phương pháp
này, tác giả đã gặp gỡ các nhà khoa học để tìm hiểu, thu thập, thống kê số liệu,
sau đó đọc, phân tích, tổng hợp những số liệu, tài liệu cần thiết liên quan đến
nội dung của luận văn.
Phương pháp phân tích, tổng hợp: Được sử dụng để ghi chép, lập luận,
giải thích làm sáng tỏ những tài liệu, số liệu đã xử lý trong suốt quá trình nghiên
cứu đề tài luận văn.
Phương pháp thống kê: Sử dụng phương pháp thống kê là quá trình thu
thập, tích lũy, so sánh, tổng hợp, phân tích các tài liệu thống kê phản ánh về
vấn đề vi phạm hành chính trong lĩnh vực trật tự đô thị, nhằm rút ra kết luận
đúng đắn về xử phạt vi phạm hành chính và soạn thảo các biện pháp giải quyết

5


phù hợp.
Phương pháp chuyên gia, trao đổi: Trong quá trình nghiên cứu luận văn,
tác giả đã trao đổi với các chuyên gia, các nhà khoa học, cán bộ thực tiễn để
làm rõ những vấn đề lý luận và thực tiễn của luận văn.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn
- Ý nghĩa lý luận: Việc phân tích các vấn đề lý luận liên quan đến việc
xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực trật tự đô thị góp phần hoàn thiện
các thể chế pháp luật phục vụ yêu cầu công tác xử phạt vi phạm hành chính
trong lĩnh vực trật tự đô thị trong thời gian tới.
- Ý nghĩa thực tiễn: Kết quả nghiên cứu của Luận văn có thể dùng làm
tài liệu tham khảo cho các cán bộ trực tiếp thực hiện công tác xử lý vi phạm
hành chính trong lĩnh vực trật tự đô thị. Ngoài ra kết quả nghiên cứu này còn
dùng làm tài liệu học tập trong các trường luật, hoặc làm tài liệu tham khảo cho
những ai muốn tìm hiểu về vấn đề này.
7. Kết cấu của luận văn
Tác giải phân bố cục của luận văn được kết cấu gồm 3 Chương:
Chương 1: Những vấn đề lý luận và pháp lý về xử phạt vi phạm hành chính
trong lĩnh vực trật tự đô thị.
Chương 2: Thực trạng xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực trật tự
đô thị tại huyện Cần Đước, tỉnh Long An.
Chương 3: Quan điểm và giải pháp nhằm tăng cường xử phạt vi phạm
hành chính trong lĩnh vực trật tự đô thị trên địa bàn huyện Cần Đước, tỉnh Long
An.

6


Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LÝ VỀ XỬ PHẠT VI PHẠM HÀNH
CHÍNH TRONG LĨNH VỰC TRẬT TỰ ĐÔ THỊ
1.1. Khái niệm, đặc điểm của xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực
trật tự đô thị.
1.1.1

Khái niệm của xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực trật tự

đô thị
Vi phạm hành chính là một trong số các hành vi vi phạm pháp luật, tuy
nhiên so với các vi phạm pháp luật khác như vi phạm pháp luật hình sự (tội
phạm), vi phạm pháp luật dân sự (vi phạm dân sự), vi phạm kỷ luật nhà nước
(vi phạm kỷ luật)… thì vi phạm hành chính là loại vi phạm pháp luật phổ biến
nhất trong đời sống xã hội hiện nay.
Thuật ngữ “vi phạm hành chính” lần đầu tiên được pháp luật hành chính
Việt Nam định nghĩa trong Điều lệ xử phạt vi cảnh ban hành kèm theo Nghị
định số 143-CP của Hội đồng Chính phủ ngày 27/5/1977 với tên gọi “phạm
pháp vi cảnh”. Theo đó, Điều 2 của Điều lệ xử phạt vi cảnh giải thích “phạm
pháp vi cảnh” là những hành vi xâm phạm đến trật tự an toàn xã hội mà có tính
chất đơn giản, rõ ràng và hậu quả không nghiêm trọng, chưa đến mức truy cứu
trách nhiệm hình sự hoặc chưa đến mức xử phạt bằng các biện pháp hành chính
khác”.
Sau đó, ngày 07/12/1989, Hội đồng nhà nước ban hành Pháp lệnh số 28LCT/HĐNN8 về xử phạt vi phạm hành chính, đây là văn bản pháp luật đầu tiên
đề cập đến thuật ngữ “vi phạm hành chính”. Điều 1 của Pháp lệnh Xử phạt vi
phạm hành chính năm 1989 giải thích: “Vi phạm hành chính là hành vi do cá
nhân, tổ chức thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, xâm phạm quy tắc quản lý
Nhà nước mà không phải là tội phạm hình sự và theo quy định của pháp luật
phải bị xử phạt hành chính”.

7


Có thể thấy nội hàm của thuật ngữ “vi phạm hành chính” trong Pháp lệnh
Xử phạt vi phạm hành chính năm 1989 rộng hơn so với thuật ngữ “phạm pháp
vi cảnh” trong Nghị định số 143-CP. Theo Điều lệ xử phạt vi cảnh, có 3 dấu
hiệu để xác định một hành vi là “phạm pháp vi cảnh” như sau: (i) là hành vi
xâm phạm đến trật tự an toàn xã hội; (ii) có tính chất đơn giản, rõ ràng và hậu
quả không nghiêm trọng và (iii) chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự
hoặc chưa đến mức xử phạt bằng các biện pháp hành chính khác. Nếu thiếu một
hoặc một số dấu hiệu nêu trên thì không được coi là “phạm pháp vi cảnh”.
Trong khi đó, theo định nghĩa của Pháp lệnh Xử phạt vi phạm hành chính năm
1989 thì hành vi bị coi là vi phạm hành chính phải có đầy đủ các dấu hiệu sau:
(i) do cá nhân, tổ chức thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý; (ii) xâm phạm quy
tắc quản lý Nhà nước mà không phải là tội phạm hình sự và (iii) theo quy định
của pháp luật phải bị xử phạt hành chính.
Đến ngày 06/7/1995, Ủy ban thường vụ Quốc hội ban hành Pháp lệnh số
41-L/CTN xử lý vi phạm hành chính mới thay thế cho Pháp lệnh Xử phạt vi
phạm hành chính năm 1989. So với trước đây, Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành
chính năm 1995 không đưa ra quy định giải thích thuật ngữ “vi phạm hành
chính” một cách trực tiếp mà lại quy định gián tiếp qua khái niệm “xử phạt vi
phạm hành chính”. Theo khoản 2 Điều 1 Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính
năm 1995: “Xử phạt vi phạm hành chính được áp dụng đối với cá nhân, tổ chức
có hành vi cố ý hoặc vô ý vi phạm các quy tắc quản lý nhà nước mà chưa đến
mức truy cứu trách nhiệm hình sự và theo quy định của pháp luật phải bị xử
phạt hành chính”. Tuy không đưa ra định nghĩa “vi phạm hành chính” nhưng
thông qua định nghĩa “xử phạt vi phạm hành chính” có thể thấy nội hàm của
thuật ngữ “vi phạm hành chính” trong Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính
năm 1995 và Pháp lệnh Xử phạt vi phạm hành chính năm 1989 cũng tương tự
nhau.

8


Vào ngày 02/7/2002, Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 10 đã ban hành
Pháp lệnh số 44/2002/PL-UBTVQH10 về việc xử lý vi phạm hành chính (được
sửa đổi, bổ sung vào năm 2007, 2008) thay thế cho Pháp lệnh Xử lý vi phạm
hành chính năm 1995. Pháp lệnh này cũng không trực tiếp đưa ra khái niệm “vi
phạm hành chính” nhưng thông qua định nghĩa “xử phạt vi phạm hành chính”
để “ngầm” giải thích thuật ngữ “vi phạm hành chính” như sau: “Xử phạt vi
phạm hành chính được áp dụng đối với cá nhân, cơ quan, tổ chức (sau đây gọi
chung là cá nhân, tổ chức) có hành vi cố ý hoặc vô ý vi phạm các quy định của
pháp luật về quản lý nhà nước mà không phải là tội phạm và theo quy định của
pháp luật phải bị xử phạt hành chính” (khoản 2 Điều 1).
Vào ngày 20/6/2012, Quốc hội khóa 13 ban hành Luật xử lý vi phạm hành
chính thay thế cho Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính năm 2002. Đây là đạo
luật đầu tiên quy định về vi phạm hành chính và xử phạt vi phạm hành chính ở
nước ta. Đạo luật này đã quay lại cách quy định như Pháp lệnh Xử phạt vi phạm
hành chính năm 1989 để đưa ra một định nghĩa rõ ràng về “vi phạm hành chính”
tại khoản 1 Điều 2 như sau: “Vi phạm hành chính là hành vi có lỗi do cá nhân,
tổ chức thực hiện, vi phạm quy định của pháp luật về quản lý nhà nước mà
không phải là tội phạm và theo quy định của pháp luật phải bị xử phạt vi phạm
hành chính”. Như vậy, vi phạm hành chính theo Luật xử lý vi phạm hành chính
năm 2012 có các dấu hiệu sau: (i) là hành vi có lỗi; (ii) xâm hại đến hoạt động
quản lý nhà nước mà không phải là tội phạm; (iii) theo quy định phải bị xử phạt
vi phạm hành chính.
Tuy nhiên, theo một số nhà nghiên cứu thì định nghĩa “vi phạm hành
chính” trong Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012 vẫn tồn tại một số điểm
chưa hợp lý. Cụ thể như sau:
Một là, Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012 chưa làm rõ khách thể
của vi phạm hành chính, dẫn đến gây nhầm lẫn khách thể là quy định của pháp

9


luật về quản lý nhà nước. Theo lý luận về pháp luật, khách thể của vi phạm
pháp luật là các quan hệ xã hội được pháp luật bảo vệ bị hành vi vi phạm pháp
luật xâm phạm đến. Do đó, định nghĩa của luật cho rằng khách thể của vi phạm
hành chính là các quy định của pháp luật về quản lý nhà nước là chưa chính
xác. Bên cạnh đó, các nhà nghiên cứu còn cho rằng nội hàm của “quản lý nhà
nước” là vô cùng rộng, chính vì vậy khi đồng nhất khách thể của vi phạm hành
chính với “trật tự quản lý nhà nước” dễ tạo ra sự lúng túng khi tiếp cận khái
niệm khoa học, bởi suy cho cùng tất cả các ngành luật đều bảo vệ “trật tự quản
lý nhà nước” chứ không chỉ có ngành luật hành chính.
Hai là, Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012 sử dụng cụm từ “mà
không phải là tội phạm” để phân biệt vi phạm hành chính với vi phạm hình sự
(tội phạm) dễ làm cho các chủ thể có thẩm quyền hiểu lầm rằng mình có thẩm
quyền xác định hành vi nào là tội phạm, hành vi nào là vi phạm hành chính
trong khi thẩm quyền xác định các loại vi phạm pháp luật thuộc về nhà làm luật
chứ không phải là các chủ thể áp dụng pháp luật.
Ba là, điều kiện thứ ba để xác định vi phạm hành chính đó là “phải bị xử
phạt hành chính”, tức là hành vi vi phạm phải chịu ít nhất một trong các hình
thức xử phạt tại Điều 21 Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012. Tuy nhiên,
quy định này chưa phù hợp ở cả góc độ khoa học lẫn góc độ thực tiễn bởi lẽ
theo quy định của Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 thì không phải mọi
vi phạm hành chính đều bị xử phạt vi phạm hành chính, chẳng hạn các trường
hợp quy định tại khoản 2 Điều 65 như: không xác định được đối tượng vi phạm
hành chính, cá nhân vi phạm hành chính chết, mất tích, tổ chức vi phạm hành
chính đã giải thể, phá sản trong thời gian xem xét ra quyết định xử phạt... Trong
khi đó nếu phân tích kỹ có thể thấy định nghĩa “vi phạm hành chính” trong Luật
Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 đã thiếu đi một chế tài hành chính quan
trọng đó là “các biện pháp khắc phục hậu quả”. Do đó, định nghĩa “vi phạm

10


hành chính” trong đạo luật này vừa không thống nhất với các quy định khác
của Luật vừa không phù hợp với thực tế xử phạt vi phạm hành chính [14, tr.56].
Trật tự đô thị là sự điều chỉnh, sắp xếp các quan hệ xã hội đô thị hoạt động
theo một quy tắc, quy chuẩn phù hợp các quy định của pháp luật hiện hành để
đảm bảo cho môi trường dân sự đô thị được phát triển bền vững theo những
nguyên tắc nhất định. Ở nước ta, Nhà nước điều chỉnh các quan hệ xã hội theo
đúng quy tắc, quy chuẩn của pháp luật hiện hành vì vậy để đánh giá đô thị đó
có trật tự hay không thì sẽ căn cứ vào nhiều yếu tố. Trong các yếu tố đó có các
văn bản quy phạm pháp luật ban hành, năng lực của chủ thể quản lý, quy hoạch
tổng thể của địa phương…
Qua đó, có thể rút ra khái niệm về “vi phạm hành chính trong lĩnh vực trật
tự đô thị” như sau: “Vi phạm hành chính trong lĩnh vực trật tự đô thị là hành
vi do cá nhân, tổ chức có năng lực trách nhiệm hành chính thực hiện, xâm hại
đến các quan hệ xã hội trong lĩnh vực trật tự đô thị được pháp luật hành chính
bảo vệ và theo quy định của pháp luật phải chịu trách nhiệm hành chính”.
Pháp lệnh Xử phạt vi phạm hành chính năm 1989 mặc dù có đưa ra khái
niệm “vi phạm hành chính” nhưng lại không đưa ra khái niệm về “xử phạt vi
phạm hành chính”. Điều này xuất phát từ lý do nội dung của Pháp lệnh này chỉ
điều chỉnh vấn đề xử phạt vi phạm hành chính chứ không điều chỉnh vấn đề áp
dụng các biện pháp xử lý hành chính khác như các Pháp lệnh sau này do đó
không cần thiết phải đưa ra khái niệm “xử phạt vi phạm hành chính” để phân
biệt với thuật ngữ “xử lý vi phạm hành chính”.
Trong khi đó, Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính năm 1995 tuy không
định nghĩa “vi phạm hành chính” nhưng lại quy định rất rõ ràng khái niệm “xử
phạt vi phạm hành chính” tại khoản 2 Điều 1 như sau: “Xử phạt vi phạm hành
chính được áp dụng đối với cá nhân, tổ chức có hành vi cố ý hoặc vô ý vi phạm

11


các quy tắc quản lý nhà nước mà chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự
và theo quy định của pháp luật phải bị xử phạt hành chính”.
Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính năm 2002 tiếp tục kế thừa gần như
toàn bộ khái niệm “xử phạt vi phạm hành chính” của Pháp lệnh Xử lý vi phạm
hành chính năm 1995. Theo khoản 2 Điều 1 của Pháp lệnh này thì “Xử phạt vi
phạm hành chính được áp dụng đối với cá nhân, cơ quan, tổ chức (sau đây gọi
chung là cá nhân, tổ chức) có hành vi cố ý hoặc vô ý vi phạm các quy định của
pháp luật về quản lý nhà nước mà không phải là tội phạm và theo quy định của
pháp luật phải bị xử phạt hành chính”.
Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 là đạo luật đầu tiên điều chỉnh
hoạt động xử lý vi phạm hành chính đã rất tiến bộ khi vừa đưa ra khái niệm “vi
phạm hành chính” vừa giải thích khái niệm “xử phạt vi phạm hành chính”.
Cách quy định của Luật thể hiện sự hợp lý, có tính khoa học, khắc phục nhầm
lẫn trong nhận thức về hai khái niệm này vốn đã tồn tại trong các Pháp lệnh Xử
lý vi phạm hành chính năm 1995 và 2002. Theo đó, khoản 2 Điều 2 Luật Xử lý
vi phạm hành chính năm 2012 định nghĩa: “Xử phạt vi phạm hành chính là việc
người có thẩm quyền xử phạt áp dụng hình thức xử phạt, biện pháp khắc phục
hậu quả đối với cá nhân, tổ chức thực hiện hành vi vi phạm hành chính theo
quy định của pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính”.
Cách định nghĩa về “xử phạt vi phạm hành chính” của Luật là đúng với
bản chất của hoạt động xử phạt vi phạm hành chính vì định nghĩa này cho thấy
yếu tố quan trọng nhất, không thể thiếu trong nội hàm của khái niệm này là việc
áp dụng các chế tài hành chính đối với cá nhân, tổ chức vi phạm hành chính
(gồm hình thức xử phạt và biện pháp khắc phục hậu quả) mà không bao gồm
việc áp dụng các biện pháp mang tính cưỡng chế khác (chẳng hạn như biện
pháp phòng ngừa hay ngăn chặn vi phạm). Các chế tài này thể hiện sự đánh giá
cuối cùng của Nhà nước đối với hành vi và chủ thể vi phạm hành chính, là “hậu

12


quả kết cục” của vi phạm và là sự giải quyết thực chất vụ việc vi phạm [15,
tr.21]. Nếu thiếu đi nội dung này thì không thể đưa ra một khái niệm hợp lý về
“xử phạt vi phạm hành chính”.
Qua những phân tích nêu trên, có thể đưa ra khái niệm “Xử phạt vi phạm
hành chính trong lĩnh vực thi hành án dân sự” như sau:
“Xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực trật tự đô thị là việc người
có thẩm quyền xử phạt tiến hành các hoạt động nhằm áp dụng hình thức xử
phạt, mức xử phạt và biện pháp khắc phục hậu quả đối với cá nhân, tổ chức có
năng lực trách nhiệm hành chính thực hiện hành vi trái với quy định của pháp
luật trong lĩnh vực trật tự đô thị mà theo quy định phải bị xử phạt vi phạm hành
chính”.
1.1.2. Đặc điểm của xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực trật tự đô
thị
Trong lĩnh vực trật tự đô thị, khi xử phạt vi phạm hành chính có một số
đặc điểm sau:
Nhiều cơ quan có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính, mỗi cơ quan
lại có thẩm quyền xử phạt khác nhau, khác với các vụ việc hình sự chỉ do một
cơ quan xem xét Tòa án. Thẩm quyền chung là Chủ tịch UBND các cấp, thẩm
quyền của Công an nhân dân, Hải quan, cơ quan Thuế, Quản lý thị trường, Thanh
tra v.v..
Xử phạt hành chính là biện pháp xử lý có tính cưỡng chế của Nhà nước,
do Nhà nước đặt ra dưới hình thức ban hành văn bản quy phạm pháp luật để áp
dụng đối với các loại vi phạm pháp luật khác nhau tùy theo tính chất, mức độ
của vi phạm và được Nhà nước bảo đảm thực hiện.
Người có thẩm quyền cưỡng chế khi ra quyết định cưỡng chế có nhiệm vụ
tổ chức cưỡng chế như lập kế hoạch, huy động và phân công nhiệm vụ cụ thể
cho các cơ quan, đơn vị có liên quan, chỉ đạo, đôn đốc, kiểm tra việc thực hiện

13


cưỡng chế.
Cá nhân, tổ chức nhận được quyết định cưỡng chế phải nghiêm chỉnh chấp
hành quyết định cưỡng chế và phải chịu trách nhiệm mọi chi phí về việc tổ chức
thực hiện các biện pháp cưỡng chế; trách nhiệm của cơ quan, tổ chức trong việc
phối hợp thi hành quyết định cưỡng chế.
Thủ tục xử phạt vi phạm hành chính là trình tự pháp luật quy định mà
người có thẩm quyền xử phạt phải nắm vững và tuân thủ triệt để khi tiến hành
xử phạt vi phạm hành chính. Có 02 loại thủ tục xử phạt vi phạm hành chính là
xử phạt vi phạm hành chính không lập biên bản và xử phạt vi phạm hành chính
có lập biên bản.
Xử phạt vi phạm hành chính không lập biên bản được áp dụng trong
trường hợp xử phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền đến 250.000 đồng đối với cá nhân
và 500.000 đồng đối với tổ chức và người có thẩm quyền xử phạt phải ra quyết
định xử phạt vi phạm hành chính tại chỗ. Trường hợp vi phạm hành chính phải
lập biên bản đó là vi phạm được phát hiện nhờ sử dụng phương tiện thiết bị kỹ
thuật, nghiệp vụ. Đối với các trường hợp vi phạm còn lại sẽ thực hiện xử phạt
theo thủ tục có lập biên bản.
Khi xử phạt theo thủ tục có lập biên bản, biên bản vi phạm hành chính là
cơ sở pháp lý quan trọng để người có thẩm quyền ban hành quyết định xử lý vi
phạm hành chính.
Đối tượng bị xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực trật tự đô thị bao
gồm: Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi vi phạm hành chính trong lĩnh vực
trật tự đô thị chỉ bị xử phạt vi phạm hành chính với lỗi cố ý; người từ đủ 16 tuổi
trở lên bị xử phạt vi phạm hành chính về mọi vi phạm hành chính trong lĩnh
vực trật tự đô thị. Mọi vi phạm hành chính trong lĩnh vực trật tự đô thị do tổ
chức gây ra đều bị xử phạt vi phạm hành chính.
1.1.3. Sự khác nhau giữa xử phạt vi phạm hành chính và xử lý vi phạm

14


hành chính
Xử phạt vi phạm hành chính và xử lý vi phạm hành chính là hai khái niệm
hoàn toàn khác biệt và không đồng nhất với nhau. Việc phân biệt hai khái niệm
này phải dựa trên sự phân biệt về các tiêu chí. Đó là sự khác nhau về: Khái
niệm; đối tượng áp dụng; hình thức xử phạt; nguyên tắc áp dụng; thời hiệu xử
phạt… Cụ thể như sau:
- Về khái niệm:
+ Xử phạt vi phạm hành chính: là việc người có thẩm quyền xử phạt áp
dụng hình thức xử phạt, biện pháp khắc phục hậu quả đối với cá nhân, tổ chức
thực hiện hành vi vi phạm hành chính theo quy định của pháp luật về xử phạt
vi phạm hành chính (Khoản 2 Điều 2 Luật Xử lý vi phạm hành chính 2012)
+ Xử lý vi phạm hành chính: là biện pháp được áp dụng đối với cá nhân
vi phạm pháp luật về an ninh, trật tự, an toàn xã hội mà không phải là tội phạm,
bao gồm biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn; đưa vào trường giáo
dưỡng; đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc và đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.
Ngoài ra, còn có biện pháp thay thế xử lý vi phạm hành chính là biện pháp
mang tính giáo dục được áp dụng để thay thế cho hình thức xử phạt vi phạm
hành chính hoặc biện pháp xử lý hành chính đối với người chưa thành niên vi
phạm hành chính, bao gồm biện pháp nhắc nhở và biện pháp quản lý tại gia
đình (Khoản 3, khoản 4 Điều 2 Luật Xử lý vi phạm hành chính)
- Về đối tượng áp dụng:
+ Xử phạt vi phạm hành chính: Cá nhân, tổ chức trong và ngoài nước
(Khoản 1 Điều 5 Luật Xử lý vi phạm hành chính).
+ Xử lý vi phạm hành chính: Chỉ áp dụng với cá nhân trong nước. Các
biện pháp xử lý hành chính không áp dụng đối với người nước ngoài.
- Về hình thức xử phạt:
+ Xử phạt vi phạm hành chính:

15


Tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính;
Trục xuất.
Lưu ý: Hình thức xử phạt cảnh cáo và phạt tiền chỉ được quy định và áp
dụng là hình thức xử phạt chính; Các hình thức xử phạt còn lại có thể là hình
thức xử phạt bổ sung hoặc hình thức xử phạt chính (Theo Điều 21 Luật Xử lý
vi phạm hành chính).
+ Xử lý vi phạm hành chính: Xử lý vi phạm hành chính gồm các biện
pháp:
Giáo dục tại xã, phường, thị trấn;
Đưa vào trường giáo dưỡng;
Đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc;
Biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.
- Về nguyên tắc áp dụng:
+ Xử phạt vi phạm hành chính: Mọi vi phạm hành chính phải được phát
hiện, ngăn chặn kịp thời và phải bị xử lý nghiêm minh, mọi hậu quả do vi phạm
hành chính gây ra phải được khắc phục theo đúng quy định của pháp luật;
Chỉ xử phạt vi phạm hành chính khi có hành vi vi phạm hành chính do
pháp luật quy định.
Một hành vi vi phạm hành chính chỉ bị xử phạt một lần.
Một người thực hiện nhiều hành vi vi phạm hành chính hoặc vi phạm hành
chính nhiều lần thì bị xử phạt về từng hành vi vi phạm…(Khoản 1 Điều 3 Luật
Xử lý vi phạm hành chính).
+ Xử lý vi phạm hành chính: Cá nhân chỉ bị áp dụng biện pháp xử lý hành
chính nếu thuộc một trong các đối tượng quy định;
Việc quyết định thời hạn áp dụng biện pháp xử lý hành chính phải căn cứ
vào tính chất, mức độ, hậu quả vi phạm, nhân thân người vi phạm và tình tiết
giảm nhẹ, tình tiết tăng nặng;

16


Việc xử lý vi phạm hành chính được tiến hành nhanh chóng, công khai,
khách quan, đúng thẩm quyền, bảo đảm công bằng, đúng quy định của pháp
luật;
Người có thẩm quyền áp dụng biện pháp xử lý hành chính có trách nhiệm
chứng minh vi phạm hành chính. Cá nhân bị áp dụng biện pháp xử lý hành
chính có quyền tự mình hoặc thông qua người đại diện hợp pháp chứng minh
mình không vi phạm hành chính (Khoản 2 Điều 3 Luật này).
- Về thời hiệu xử phạt:
+ Xử phạt vi phạm hành chính: Thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính là
1 năm, trừ một số trường hợp đặc biệt (điểm a khoản 1 Điều 6 Luật Xử lý vi
phạm hành chính)
+ Xử lý vi phạm hành chính: Thời hiệu áp dụng biện pháp giáo dục tại xã,
phường, thị trấn từ 3 tháng - 1 năm kể từ ngày cá nhân thực hiện hành vi vi
phạm tùy từng trường hợp cụ thể:
Thời hiệu áp dụng biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng từ 6 tháng - 1
năm kể từ ngày cá nhân thực hiện hành vi vi phạm tùy từng trường hợp sẽ là,
Thời hiệu áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc là 1 năm,
kể từ ngày cá nhân thực hiện lần cuối một trong các hành vi vi phạm;
Thời hiệu áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc là 3 tháng,
kể từ ngày cá nhân thực hiện lần cuối hành vi vi phạm.
1.2. Cơ sở pháp lí về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực trật tự
đô thị
1.2.1. Các quy định về xử phạt hành chính trong lĩnh vực trật tự đô thị
Vi phạm hành chính trong lĩnh vực trật tự đô thị là một dạng của vi phạm
pháp luật, do đó cần phải xác định các bộ phận cấu thành của loại vi phạm này
để xác định một hành vi xảy ra có phải là vi phạm hành chính hay không. Các
yếu tố cấu thành vi phạm hành chính trong lĩnh vực trật tự đô thị gồm: khách

17


thể, mặt khách quan, chủ thể, mặt chủ quan.
Khách thể của vi phạm hành chính trong lĩnh vực trật tự đô thị là các quan
hệ xã hội phát sinh trong lĩnh vực quản lý nhà nước về trật tự đô thị được pháp
luật bảo vệ như các quy tắc về an toàn giao thông, trật tự quản lý đất đai, xây
dựng, trật tự công cộng đô thị… được quy định trong các văn bản pháp luật của
các cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
Hành vi vi phạm hành chính là dấu hiệu bắt buộc trong mặt khách quan
của vi phạm hành chính trong lĩnh vực trật tự đô thị. Khi xem xét để đi đến kết
luận rằng hành vi của cá nhân hay tổ chức có phải là vi phạm hành chính trong
lĩnh vực trật tự đô thị hay không thì ta phải có những căn cứ pháp lý xác định
hành vi đó phải được pháp luật quy định là hành vi vi phạm hành chính và hành
vi đó phải bị xử phạt bằng các biện pháp xử phạt hành chính.
Chủ thể của vi phạm hành chính trong lĩnh vực trật tự đô thị là các tổ
chức, cá nhân có năng lực trách nhiệm hành chính.
Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi có thể là chủ thể của vi phạm hành
chính với lỗi cố ý. Cần xác định yếu tố lỗi trong mặt chủ quan của họ khi xác
định người ở độ tuổi này có vi phạm hành chính hay không. Cá nhân từ đủ 16
tuổi trở lên và tổ chức có thể là chủ thể của vi phạm hành chính trong lĩnh vực
trật tự đô thị trong mọi trường hợp.
1.2.2. Hình thức xử phạt
Hình thức xử phạt là biện pháp chế tài hành chính được pháp luật quy định
đối với chủ thể vi phạm hành chính, thể hiện sự đánh giá của Nhà nước về mức
độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi và chủ thể vi phạm. Xây dựng hệ thống
các hình thức xử phạt đủ nghiêm khắc, đáp ứng yêu cầu đấu tranh phòng chống
VPHC luôn là nhiệm vụ hàng đầu của pháp luật xử phạt vi phạm hành chính.
Mỗi hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực trật tự đô thị của tổ chức,
cá nhân họ phải chịu một hình thức chế tài hành chính nhất định. Các hình thức

18


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×