Tải bản đầy đủ

Tội cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự theo pháp luật hình sự Việt Nam - từ thực tiễn thành phố Hồ Chí Minh (Luận văn thạc sĩ)

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

NGUYỄN HỮU TRUNG

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGUYỄN HỮU TRUNG

LUẬT HÌNH SỰ VÀ TỐ TỤNG HÌNH SỰ

TỘI CHO VAY LÃI NẶNG TRONG GIAO DỊCH DÂN SỰ
THEO PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM - TỪ THỰC TIỄN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

KHÓA VIII.2

HÀ NỘI - 2020



VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGUYỄN HỮU TRUNG

TỘI CHO VAY LÃI NẶNG TRONG GIAO DỊCH DÂN SỰ
THEO PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM - TỪ THỰC TIỄN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Ngành: Luật học – Chuyên ngành: Luật hình sự và tố tụng hình sự
Mã số: LH VIII.2 – 082

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS. TRẦN ĐÌNH NHÃ

HÀ NỘI - 2020


LỜI CAM ĐOAN
Luận văn này là công trình nghiên cứu của cá nhân tôi, được thực hiện
dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS Trần Đình Nhã. Các số liệu, những
kết luận nghiên cứu được trình bày trong luận văn này hoàn toàn trung thực.
Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về lời cam đoan này.
Học viên

Nguyễn Hữu Trung


MỤC LỤC
MỞ ĐẦU

1

Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT VỀ TỘI CHO
VAY LÃI NẶNG TRONG GIAO DỊCH DÂN SỰ

8

1.1. Những vấn đề lý luận về tội cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự 8
1.2. Quy định pháp luật về tội cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự


23

Chương 2 THỰC TIỄN ÁP DỤNG PHÁP LUẬT VỀ TỘI CHO VAY
LÃI NẶNG TRONG GIAO DỊCH DÂN SỰ TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ
MINH

33

2.1. Khái quát tình hình xét xử sơ thẩm các vụ án về tội cho vay lãi nặng
trong giao dịch dân sự tại thành phố Hồ Chí Minh

34

2.2. Thực tiễn áp dụng pháp luật hình sự trong xét xử các vụ án về tội cho
vay lãi nặng trong giao dịch dân sự tại thành phố Hồ Chí Minh

34

Chương 3 YÊU CẦU VÀ GIẢI PHÁP ĐẢM BẢO ÁP DỤNG ĐÚNG
PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VỀ TỘI CHO VAY LÃI NẶNG TRONG GIAO
DỊCH DÂN SỰ

54

3.1. Yêu cầu

54

3.2. Các giải pháp

59

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

79


DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
BLHS

: Bộ luật Hình sự

BLTTHS

: Bộ luật Tố tụng hình sự

BLDS

: Bộ luật Dân sự

CVLN

: Cho vay lãi nặng

TAND

: Toà án nhân dân

TANDTC

: Toà án nhân dân Tối cao

TANDCC

: Toà án nhân dân Cấp cao

TNHS

: Trách nhiệm hình sự

XHCN

: Xã hội chủ nghĩa

Nxb

: Nhà xuất bản


MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong quá trình tiến hành công cuộc đổi mới kinh tế, Đảng và Nhà
nước ta luôn luôn nỗ lực tìm kiếm các giải pháp nhằm đưa nền kinh tế nước
nhà phát triển một cách toàn diện và hội nhập có hiệu quả với nền kinh tế thế
giới. Những giải pháp đưa ra và được thực hiện trên thực tế đã thu được
những kết quả khả quan, trong đó có những biện pháp quy định về hoạt động
cấp tín dụng, cho vay dân sự và sâu hơn là những quy định ràng buộc về lãi
suất. Việc điều chỉnh lãi suất hợp lí sẽ giúp phát triển nền kinh tế. Tuy nhiên,
hiện nay những quy định của pháp luật về hợp đồng vay và đặc biệt là lãi suất
cho vay có những bất cập nhất định. Những bất cập đó thể hiện ở chỗ những
quy định pháp luật này còn thiếu cụ thể, nhiều quy định lỗi thời không phù
hợp với thực tế, bộc lộ những khiếm khuyết khi được áp dụng trong cuộc
sống. Bên cạnh đó nền kinh tế của nước ta đang ngày càng phát triển mạnh
mẽ đem lại thành tựu lớn nhưng cũng kéo theo nhiều hệ luỵ gây hậu quả
nghiêm trọng cho sự phát triển của xã hội, một trong những hệ luỵ đó là tình
hình tội phạm về kinh tế đang diễn biến phức tạp trong đó có các tội phạm
liên quan về “tín dụng đen”, đặc biệt là tội phạm CVLN trong giao dịch dân
sự.
Để quản lý được nền kinh tế, Đảng và nhà nước không ngừng ban hành
những quy định pháp luật nhằm quản lý nền kinh tế cũng như quản lý hoạt
động cấp tín dụng, cho vay, với nhiều điều luật quy định các tội phạm cùng
những chế tài mang tính răn đe. Tuy nhiên, lợi ích của kinh tế quá lớn đã làm
xuất hiện nhiều tội phạm trong đó có tội CVLN trong giao dịch dân sự xâm
hại đến trật tự quản lý của nhà nước. CVLN trong giao dịch dân sự không
những ảnh hưởng đến cuộc sống của người dân, mà còn làm ảnh hưởng đến
nguồn cấp tín dụng của ngân hàng, gây bất ổn xã hội, xâm hại tới trật tự xã

1


hội, kìm hãm sản xuất và ảnh hưởng tới những vấn đề xã hội khác.
Hành vi CVLN trong giao dịch dân sự hiện nay đang có xu hướng lan
rộng ở cả thành thị và nông thôn, tiềm ẩn nhiều nguy cơ gây nguy hiểm cho
xã hội, làm gia tăng các tội phạm khác như: cố ý gây thương thương tích,
cướp tài sản hoặc cưỡng đoạt tài sản... Việc xử lý hình sự đối với loại tội
phạm này là hết sức cần thiết và có tác dụng răn đe, giáo dục, phòng ngừa
chung.
Tuy nhiên trong những năm gần đây công tác xử lý các hành vi CVLN
trong giao dịch dân sự, đặc biệt là đưa các hành vi này ra xét xử còn gặp
nhiều khó khăn, làm hoang mang quần chúng nhân dân và ảnh hưởng đến sự
phát triển kinh tế của đất nước. Quá trình xử lý gặp khó khăn, diễn ra chậm
chạp có một phần nguyên nhân do quy định của pháp luật có liên quan chưa
thực sự rõ ràng. Tuy BLHS mới ra đời và sự đổi mới trong quy định về loại
tội phạm này tại Điều 201 đã cơ bản khắc phục được những bất cập của
BLHS trước đó (Điều 163) nhưng với thực trạng CVLN trong giao dịch dân
sự ngày càng biến tướng theo chiều hướng tinh vi, mở rộng quy mô thì quy
định của BLHS mới đã bộc lộ một số bất cập. Do đó việc xử lý, ngăn chặn tệ
nạn CVLN trong giao dịch dân sự là nhiệm vụ quan trọng, cấp bách cần phải
được giải quyết ngay góp phần thúc đẩy công cuộc phòng chống tội phạm
kinh tế phục vụ cho sự nghiệp phát triển đất nước, bài trừ tệ nạn xã hội, đảm
bảo an ninh kinh tế cho đất nước.
CVLN trong giao dịch dân sự là một rào cản lớn trong phát triển nền
kinh tế nước ta, vì vậy cần phải tăng cường phòng chống, xử lý nạn CVLN
trong giao dịch dân sự để ổn định nền kinh tế. Tuy nhiên cơ sở lý luận về tội
CVLN trong giao dịch dân sự trong pháp luật hình sự là gì? Pháp luật quy
định và thực tiễn áp dụng pháp luật vào thực tế có phù hợp và hiệu quả
không? Xung quanh tội CVLN trong giao dịch dân sự còn có những quan

2


điểm lý luận và những quan hệ xã hội nào còn chưa được pháp luật cụ thể
hóa? v.v. là những vấn đề cần được nghiên cứu, giải đáp.
Thành phố Hồ Chí Minh là một trong những đầu tàu kinh tế phía nam
cũng như cả nước, nhưng sự phát triển đó cũng đồng thời kéo theo nhiều hệ
lụy. Tình hình tội phạm nói chung, tình hình các tội xâm phạm trật tự quản lý
kinh tế nói riêng ở thành phố Hồ Chí Minh diễn biến phức tạp, gây thiệt hại
nhiều mặt cho đời sống xã hội. Các cơ quan tố tụng, đặc biệt là ngành TAND
đã rất nỗ lực trong công tác điều tra, truy tố, xét xử tội phạm, thu được nhiều
kết quả. Nhưng do nhiều nguyên nhân chủ quan lẫn khách quan, việc áp dụng
các quy định của pháp luật hình sự để điều tra, truy tố, xét xử hành vi CVLN
trong giao dịch dân sự vẫn tồn tại những hạn chế, đòi hỏi phải có thêm những
giải pháp khắc phục. Do đó, việc nghiên cứu một cách hệ thống, toàn diện tội
CVLN trong giao dịch dân sự theo pháp luật hình sự Việt Nam nhằm củng cố,
phát triển về mặt lý luận, làm rõ bất cập trong các quy định của pháp luật, bên
cạnh đó chỉ ra những hạn chế, thiếu sót trong quá trình áp dụng pháp luật trên
thực tiễn, trên cơ sở đó kiến nghị những giải pháp đảm bảo áp dụng đúng quy
định của BLHS hiện hành về tội phạm này là có tính cấp thiết. Với những
phân tích nêu trên, học viên đã chọn đề tài: “Tội cho vay lãi nặng trong giao
dịch dân sự theo pháp luật hình sự Việt Nam - từ thực tiễn thành phố Hồ Chí
Minh”.
2. Tình hình nghiên cứu
Tội CVLN trong giao dịch dân sự xảy ra tương đối phổ biến trong đời
sống xã hội. Dù vậy, tính đến thời điểm thực hiện đề tài này, chưa có nhiều
công trình khoa học chuyên nghiên cứu về tội phạm này dưới các phương
diện, cấp độ khác nhau.
- Nghiên cứu về lý luận: Vấn đề được đề cập trong các giáo trình như:
Giáo trình Luật hình sự Việt Nam của Đại học Luật Hà Nội, Đại học Luật

3


TP.HCM, hay Giáo trình Luật hình sự Việt Nam do GS. TS. Võ Khánh Vinh
làm chủ biên, phát hành năm 2013 bởi Nhà xuất bản Khoa học xã hội. Tại các
văn bản trên, các nhà nghiên cứu đều làm sáng tỏ về mặt lý luận và quy phạm
pháp luật về Tội CVLN trong giao dịch dân sự nhưng chỉ ở mức độ khái quát,
cơ bản nhất. Ngoài hệ thống giáo trình Luật hình sự, nghiên cứu quy định của
BLHS về Tội CVLN trong giao dịch dân sự là các cuốn bình luận khoa học
BLHS của nhiều tác giả, tiêu biểu là cuốn Bình luận khoa học BLHS năm
2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 (phần các tội phạm) do GS.TS. Nguyễn
Ngọc Hòa làm chủ biên, được Nxb. Tư pháp phát hành năm 2018.
- Theo tìm hiểu của học viên, hiện tại chưa có công trình nghiên cứu
khoa học chuyên sâu về tội phạm cụ thể này mà chủ yếu các tác giả nghiên
cứu những khía cạnh khác nhau về Tội CVLN trong giao dịch dân sự trong
các bài báo khoa học, như: bài viết “Tội cho vay lãi nặng - những bất cập của
Bộ luật Hình sự và giải pháp khắc phục” của tác giả Nguyễn Văn Hương,
Tạp chí Tòa án nhân dân số 19 năm 2004; bài viết “Về tội làm tiền giả, tội
tàng trữ tiền giả, tội phá hủy tiền tệ, tội cho vay nặng lãi” của tác giả Phạm
Thanh Bình, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật số 132 năm 1999.
Ngoài ra có một số tác giả nghiên cứu về hành vi này ở góc độ luật dân
sự hoặc nghiệp vụ tài chính – ngân hàng. Có thể kể đến các bài báo, như: bài
viết “Giải pháp ngăn chặn hữu hiệu hoạt động tín dụng đen” của tác giá
Nguyễn Thanh Cai, Tạp chí Tài chính số 706 tháng 6/2019; bài “Giải pháp
ngăn chặn tín dụng đen” của tác giả Trần Thị Hồng Vân, Tạp chí Tài chính
số 621 tháng 11/2015; bài “Phát triển tín dụng vi mô - Giải pháp đẩy lùi "tín
dụng đen" ở Việt Nam” của tác giả Bùi Diệu Anh, Tạp chí Tài chính số 630
tháng 4/2016;…
Như vậy, mặc dù có nhiều công trình khoa học đề cập đến Tội CVLN
trong giao dịch dân sự ở các phương diện, cấp độ và cách tiếp cận khác nhau,

4


song do mục đích, nhiệm vụ, phạm vi nghiên cứu của các công trình đó nên
đến nay vẫn chưa có một công trình nghiên cứu một cách hệ thống, chuyên
sâu Tội CVLN trong giao dịch dân sự theo quy định tại Điều 201 BLHS năm
2015 từ thực tiễn thành phố Hồ Chí Minh. Vì vậy học viên nhận thấy đề tài
luận văn này không trùng lặp với các công trình nghiên cứu trước đây.
3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận, quy định của pháp luật hình sự về Tội
CVLN trong giao dịch dân sự theo quy định của BLHS năm 2015 và thực tiễn
áp dụng tại thành phố Hồ Chí Minh trong những năm gần đây, luận văn
hướng tới mục đích xây dựng các giải pháp đảm bảo áp dụng đúng quy định
của BLHS năm 2015 về tội phạm này trong thời gian tới, đồng thời đề xuất
một số ý tưởng mới trong hoàn thiện các quy định pháp luật có liên quan.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Nhằm phục vụ cho mục đích đã đề ra, người viết tập trung vào các
nhiệm vụ sau:
+ Phân tích, làm rõ những vấn đề lý luận về Tội CVLN trong giao dịch
dân sự; phân biệt với những tội phạm có dấu hiệu tương tự.
+ Bình luận, đánh giá các quy phạm pháp luật có liên quan đến Tội
CVLN trong giao dịch dân sự. Từ đó nêu lên những hạn chế, bất cập trong
thực tiễn áp dụng.
+ Khảo sát, đánh giá thực tiễn áp dụng quy định của BLHS năm 2015
về Tội CVLN trong giao dịch dân sự của các cơ quan tiến hành tố tụng hình
sự (chủ yếu là TAND) tại thành phố Hồ Chí Minh, rút ra và đánh giá những
kết quả đạt được, cũng như những hạn chế, thiếu sót và nguyên nhân.
+ Đề xuất, kiến nghị những giải pháp nhằm đảm bảo áp dụng đúng quy

5


định của pháp luật về Tội CVLN trong giao dịch dân sự trong tương lai.
4. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn bao gồm những vấn đề lý luận, quy
định của pháp luật hình sự Việt Nam về Tội CVLN trong giao dịch dân sự,
thực tiễn áp dụng những quy định đó nhằm xử lý loại tội phạm này.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
- Về lý luận: Luận văn tập trung trong phạm vi hệ thống lý luận chuyên
ngành Luật hình sự và tố tụng hình sự.
- Về thực tiễn: Luận văn tập trung nghiên cứu thực tiễn định tội danh và
quyết định hình phạt đối với Tội CVLN trong giao dịch dân sự, chủ yếu ở giai
đoạn xét xử.
- Về không gian: địa bàn thành phố Hồ Chí Minh
- Về thời gian: từ năm 2018 (thời điểm BLHS năm 2015 có hiệu lực thi
hành) đến đầu năm 2020.
5. Phương pháp luận về phương pháp nghiên cứu
5.1. Phương pháp luận
Luận văn được thực hiện dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ
nghĩa Mác – Lê Nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng và Nhà
nước về pháp luật và sử dụng pháp luật trong đấu tranh phòng, chống tội
phạm. Ngoài ra còn dựa trên hệ thống lý luận chuyên ngành Luật hình sự và
tố tụng hình sự.
5.2 Các phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng kết hợp các phương pháp nghiên cứu như: phân tích,
tổng hợp, so sánh, thống kê,v.v để phân tích, đánh giá, giải quyết những vấn

6


đề được đặt ra.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
- Ý nghĩa lý luận: Kết quả nghiên cứu của luận văn có thể góp phần làm
rõ thêm cho hệ thống lý luận chuyên ngành luật hình sự về Tội CVLN trong
giao dịch dân sự.
- Ý nghĩa thực tiễn: Kết quả nghiên cứu của luận văn có thể tham khảo
trong thực tiễn áp dụng pháp luật hình sự đấu tranh phòng, chống tội phạm
mà cụ thể là đấu tranh phòng, chống tội phạm CVLN trong giao dịch dân sự.
Luận văn còn có thể dùng làm tài liệu tham khảo trong học tập, giảng
dạy và nghiên cứu tại các cơ sở đào tạo chuyên ngành luật hình sự và tố tụng
hình sự.
7. Kết cấu của luận văn
Nội dung của luận văn được cấu trúc thành 3 chương:
Chương 1. Những vấn đề lý luận và pháp luật về Tội cho vay lãi nặng
trong giao dịch dân sự.
Chương 2. Thực tiễn áp dụng quy định của pháp luật về Tội cho vay lãi
nặng trong giao dịch dân sự tại thành phố Hồ Chí Minh
Chương 3. Yêu cầu và giải pháp đảm bảo áp dụng đúng các quy định
của pháp luật hình sự về Tội cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự
Ngoài ra luận văn còn có các phần bổ trợ khác như: Mở đầu, Kết luận,
Danh mục tài liệu tham khảo.

7


Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT VỀ TỘI CHO VAY LÃI
NẶNG TRONG GIAO DỊCH DÂN SỰ
Lĩnh vực kinh tế là lĩnh vực quan trọng nhất để phát triển xã hội và phát
triển con người. Đảng và Nhà nước ta đã thấy được tầm quan trọng của nền
kinh tế, vì vậy đã tập trung nghiên cứu, tìm hiểu, đầu tư phát triển nền kinh tế
và đã thu được nhiều thành tựu to lớn. Đảng và Nhà nước đã không ngừng
đưa ra những chính sách, pháp luật để điều tiết phát triển nền kinh tế theo
hướng kinh tế thị trường, đồng thời đưa ra những quy định cấm đối với các
hành vi gây ảnh hưởng đến sự phát triển bình thường của nền kinh tế. Để có
cái nhìn khái quát các vấn đề lý luận của tội CVLN trong giao dịch dân sự,
sau đây tác giả phân tích làm rõ một số vấn đề như: các yếu tố cấu thành tội
CVLN trong giao dịch dân sự; khái niệm, đặc điểm, dấu hiệu và lịch sử phát
triển của tội CVLN trong giao dịch dân sự.
1.1. Những vấn đề lý luận về tội cho vay lãi nặng trong giao dịch
dân sự
1.1.1. Khái niệm tội cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự
1.1.1.1. Khái niệm về tội phạm
Khái niệm tội phạm là một trong những vấn đề quan trọng nhất của luật
hình sự. Chế định tội phạm là chế định trung tâm thể hiện rõ nét bản chất giai
cấp, các đặc điểm chính trị, xã hội cũng như pháp lý của luật hình sự ở mỗi
nước. Tội phạm là một hiện tượng xã hội, cho nên khái niệm của nó luôn luôn
gắn liền với sự phát triển xã hội và ngày càng được nghiên cứu hoàn thiện.
Hiện nay, một số quốc gia trên thế giới có quy định khái niệm tội phạm
trong Bộ luật hình sự, tuy nhiên cũng có một số quốc gia không đưa khái
niệm tội phạm vào Bộ luật hình sự.

8


Cụ thể: BLHS Cộng hòa Liên bang Đức không có điều luật về khái
niệm tội phạm nhưng có cả một chương quy định về hành vi phạm tội. Trong
đó, các quy định tập trung vào các vấn đề như: chủ thể của tội phạm, vấn đề
lỗi và các trường hợp sai lầm, vấn đề thực hiện qua không hành động và vấn
đề thực hiện cho người khác, các căn cứ biện hộ, phạm tội chưa đạt, người
thực hiện phạm tội và người tòng phạm. Hay như ở Cộng hòa Pháp, trong
Phần chung của Bộ luật hình sự không nêu các dấu hiệu của hành vi phạm tội.
Tuy nhiên, tại Phần các tội phạm lại quy định các dấu hiệu của hành vi phạm
tội,v.v.
Tại Việt Nam, tuy vẫn còn tồn tại nhiều quan điểm khác nhau về việc
có cần thiết phải đưa khái niệm tội phạm vào BLHS hay không. Nếu quy định
thì nên theo hướng nào.v.v. Nhưng về mặt lập pháp, khái niệm tội phạm đã
được quy định tại Điều 8 BLHS năm 2015 trên cơ sở kế thừa quy định của
các Bộ luật trước đó. Cụ thể, phân tích điều khoản này có thể hiểu tội phạm
theo pháp luật hình sự Việt Nam là một khái niệm bao gồm các thành tố sau:
- Thứ nhất, tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội.
Có thể nói đây là dấu hiệu quan trọng nhất của tội phạm. Bởi vì tội
phạm trước hết phải là hành vi, không có hành vi thì không có tội phạm. Đối
với luật hình sự Việt Nam không truy cứu trách nhiệm đối với những âm
mưu, ý nghĩ, dự định chưa được thể hiện ra thế giới bên ngoài bằng hành vi.
Đồng thời tội phạm phải là hành vi nguy hiểm đáng kể cho xã hội thể hiện ở
mặt đe dọa gây thiệt hại đáng kể cho xã hội. Thiệt hại ở đây có thể là thiệt hại
về vật chất, tinh thần, thể chất hoặc những thiệt hại khác mà hành vi gây ra
cho xã hội.
- Thứ hai, hành vi của tội phạm do người có năng lực trách nhiệm hình
sự thực hiện.

9


Đây cũng là một dấu hiệu quan trọng của tội phạm. Năng lực trách
nhiệm hình sự là khả năng nhận thức và điều khiển hành vi của mình. Một
hành vi được coi là tội phạm khi hành vi đó do người có năng lực trách nhiệm
hình sự thực hiện và đạt độ tuổi nhất định do luật định. Như vậy người thực
hiện hành vi dù có nguy hiểm đáng kể cho xã hội nhưng không có năng lực
trách nhiệm hình sự thực hiện, như người bị tâm thần hoặc mất khả năng nhận
thức thì không phải là tội phạm và không phải chịu trách nhiệm hình sự.
- Thứ ba, hành vi của tội phạm là hành vi trái pháp luật hình sự có
nghĩa là tội phạm phải được quy định trong BLHS.
Đây còn được gọi là dấu hiệu hình thức của tội phạm. Theo quy định
tại Điều 2 BLHS năm 2015 thì chỉ người nào phạm một tội đã được BLHS
quy định mới phải chịu trách nhiệm hình sự. Quy định này nhằm bảo đảm cho
đường lối đấu tranh phòng chống tội phạm được thống nhất, bảo đảm cho
quyền chính đáng của công dân tránh sự tùy nghi không có cơ sở từ các cơ
quan có thẩm quyền.
- Thứ tư, tội phạm phải chịu hình phạt.
Bất kỳ một hành vi phạm tội nào cũng bị áp dụng một hình phạt đã
được quy định trong Bộ luật hình sự.
Một người thực hiện các hành vi có đủ 4 dấu hiệu trên thì được coi là
tội phạm.
1.1.1.2. Khái niệm về cho vay
Ngày nay, để phát triển kinh tế nhằm nâng cao đời sống vật chất của
người dân thì việc đầu tư nguồn vốn để phát triển kinh tế đồng thời tìm kiếm
nguồn vốn, tài chính để phục vụ cho nhu cầu cuộc sống hàng ngày là gần như
bắt buộc. Với nguồn tài chính dồi dào nhằm để hổ trợ giúp đỡ cho người khác
và tăng nguồn thu nhập cho bản thân, nhiều cá nhân, tổ chức đã tận dụng

10


nguồn vốn của mình cho các chủ thể khác vay, mượn để sinh hoạt và sản
xuất. Để hiểu rõ thuật ngữ cho vay, người viết đưa ra một số khái niệm được
chấp nhận rộng rãi tại Việt Nam về cho vay như sau:
BLDS năm 2015 định nghĩa như sau về hợp đồng vay tài sản: “Hợp
đồng vay tài sản là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên cho vay giao tài
*

*

*

sản cho bên vay; khi đến hạn trả, bên vay phải hoàn trả cho bên cho vay tài
*

*

*

sản cùng loại theo đúng số lượng, chất lượng và chỉ phải trả lãi nếu có thỏa
*

*

*

thuận hoặc pháp luật có quy định” (Điều 463).
*

Còn đối với Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010, sửa đổi bổ sung năm
2017 thì cho vay: “là hình thức cấp tín dụng, theo đó bên cho vay giao hoặc
*

*

*

cam kết giao cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích xác
*

*

*

định trong một thời gian nhất định theo sự thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn
*

*

*

*

trả cả gốc và lãi” (khoản 16 Điều 4).
Ngoài ra, theo Từ điển luật học thì cho vay được hiểu là: “Bên cho vay
giao cho bên vay một khoản tiền hoặc vật cùng loại để làm sở hữu trong thời
hạn hoặc các bên đã thỏa thuận. Cho vay có thể có lãi hoặc không có lãi,
người vay chỉ phải trả lãi nếu các bên có thỏa thuận hoặc pháp luật có quy
định”1.
Theo Từ điển Tiếng Việt thì cho vay là: “đưa tiền cho vay trong một
thời hạn nhất định rồi trả cả vốn lẫn tỷ suất lại”2. Theo Từ điển Tưởng giải
và liên tưởng thì khái niệm cho vay là “tạm cho người khác sử dụng một
khoản tiền hoặc vật dụng và sẽ được hoàn lại theo thỏa thuận”3.
Từ các khái niệm pháp lý và khái niệm trong từ điển Việt Nam, tác giả
đưa ra khái niệm về cho vay như sau: cho vay là việc một người (người cho
1

Từ điển luật học, Nxb Từ điển Bách Khoa,tr.143

2

Nguyễn Như Ý, Đại từ điển tiếng Việt, Nxb Văn hóa thông tin, tr.371

3

Ngyễn Văn Đạm, Từ điển tưởng giải và liên tưởng tiếng Việt, Nxb Văn hóa thông tin, tr.149

11


vay) cho người khác (người vay) sử dụng tài sản thuộc sở hữu của mình trong
một thời gian xác định, sau đó người vay phải hoàn trả tài sản đó cho bên
người cho vay với một khoản lãi suất theo thỏa thuận hoặc theo quy định của
pháp luật.
Ví dụ: ông A cho ông B vay 10.000.000 đồng để hoạt động sản xuất,
với thỏa thuận là ông B sẽ trả lại cho ông A 10.000.000 đồng đó trong 10
tháng, hàng tháng phải trả cho ông A 1.000.000 đồng tiền gốc cộng với
100.000 đồng tiền lãi suất, đến khi ông B trả hết số tiền 10.000.000 đồng đó
cho ông A. Như vậy, việc vay và trả này là theo thỏa thuận (hợp đồng) giữa
ông A và ông B, và hợp đồng này được pháp luật thừa nhận, bảo hộ.
1.1.1.3. Khái niệm giao dịch dân sự
Giao dịch dân sự là một trong những vấn đề phổ biến và quan trọng
trong lĩnh vực dân sự bởi đây là phương tiện hữu hiệu để thỏa mãn quyền và
lợi ích hợp pháp của các chủ thể. Do đó, làm rõ những vấn đề liên quan đến
hiệu lực của giao dịch dân sự luôn là nội dung then chốt của giao dịch dân sự,
góp phần đảm bảo hiệu quả thực thi của luật, quyền và lợi ích hợp pháp của
các bên có liên quan.
Điều 116 BLDS năm 2015 xác định: Giao dịch dân sự là hợp đồng
hoặc hành vi pháp lí đơn phương làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt
quyền, nghĩa vụ dân sự.
Từ quy định này ta thấy giao dịch dân sự được xác định là kết quả của
việc làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự của chủ
thể trong quan hệ pháp luật dân sự. Giao dịch dân sự là một sự kiện pháp lí
(hành vi pháp lí đơn phương hoặc đa phương - một bên hoặc nhiều bên) làm
phát sinh hậu quả pháp lí. Tuỳ từng giao dịch cụ thể mà làm phát sinh, thay
đổi, chấm dứt quan hệ pháp luật dân sự. Giao dịch là hành vi có ý thức của

12


chủ thể nhằm đạt được mục đích nhất định, cho nên giao dịch dân sự là hành
vi mang tính ý chí của chủ thể tham gia giao dịch, với những mục đích và
động cơ nhất định.
Trong giao dịch dân sự ý chí và sự thể hiện ý chí của chủ thể tham gia
giao dịch là vô cùng quan trọng. Ý chí là nguyện vọng, mong muốn chủ quan
bên trong của con người mà nội dung của nó được xác định bởi các nhu cầu
về sản xuất, tiêu dùng của bản thân họ. Ý chí phải được thể hiện ra bên ngoài
dưới một hình thức nhất định để các chủ thể khác có thể biết được ý chí của
chủ thể muốn tham gia đã tham gia vào một giao dịch dân sự cụ thể. Bởi vậy,
giao dịch dân sự phải là sự thống nhất giữa ý chí và bày tỏ ý chí. Thiếu sự
thống nhất này, giao dịch dân sự có thể bị tuyên bố là vô hiệu hoặc sẽ vô hiệu.
Điều này không chỉ đúng với cá nhân mà đúng với cả pháp nhân, hộ gia đình,
tổ hợp tác. Bởi khi xác lập giao dịch dân sự các chủ thể này đều thông qua
người đại diện. Người đại diện thể hiện ý chí của pháp nhân, hộ gia đình, tổ
hợp tác trong phạm vi thẩm quyền đại diện.
1.1.1.4. Khái niệm tội cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự
Với nhu cầu vay vốn để tiến hành hoạt động sản xuất cũng như tiêu
dùng, sinh hoạt ngày càng tăng cao, một số đối tượng, tổ chức đã lợi dụng vào
các hoàn cảnh khó khăn, cấp thiết hoặc sự thiếu kiến thức về quan hệ cho
vay/cấp tín dụng của người khác để tiến hành cho vay và đặt ra mức lãi suất
rất cao làm cho người vay gặp nhiều khó khăn, khó có thể trả xong khoản tiền
đã vay.
Hành vi CVLN trong giao dịch dân sự được ghi nhận với tư cách là tội
phạm lần đầu tiên tại Điều 171 BLHS năm 1985, sau đó tiếp tục được ghi
nhận tại Điều 163 BLHS năm 1999. Tuy có sự thay đổi về nội hàm nhằm
khắc phục khó khăn trong công tác xử lý hành vi này nhưng do quy định của
các điều luật nói trên chưa thật rõ ràng nên đã làm cho việc xác định hành vi

13


đó có phải tội phạm hay không gặp nhiều khó khăn. Trong thực tế có rất ít
trường hợp bị xử lý hình sự mặc dù tình trạng CVLN trong giao dịch dân sự
diễn ra khá phổ biến và phức tạp, với tính chất nguy hiểm rất cao cho xã hội.
Thấy được sự bất hợp lý này nên tại BLHS năm 2015, hành vi CVLN trong
giao dịch dân sự được sửa đổi, bổ sung cụ thể, dễ dàng áp dụng hơn so với
các quy định trước đó.
So với quy định tại Điều 163 BLHS năm 1999 thì tội CVLN trong giao
dịch dân sự được quy định tại Điều 201 BLHS năm 2015 đã cụ thể hơn, phù
hợp hơn với thực tiễn. Nếu Điều 163 BLHS năm 1999 quy định đối với hành
vi cho CVLN trong giao dịch dân sự là “cho vay với mức lãi suất cao hơn lãi
suất cao nhất mà pháp luật quy định từ mười lần trở lên có tính chuyên bóc
lột” thì Điều 201 BLHS năm 2015 quy định rõ ràng cụ thể hơn là “Người nào
trong giao dịch dân sự mà cho vay với lãi suất gấp 05 lần mức lãi suất cao
nhất quy định trong BLDS, thu lợi bất chính từ 30.000.000 đồng đến dưới
100.000.000 đồng”.
Như vậy BLHS 2015 đã thay thế quy định về mức lãi suất làm căn cứ
xác định có hay không hành vi CVLN trong giao dịch dân sự từ “lãi suất cao
nhất mà pháp luật quy định” thành “lãi suất cao nhất quy định trong BLDS”.
Việc thay đổi này thu hẹp đáng kể phạm vi các quy định cần đối chiếu với
mức lãi suất thực tế mà người cho vay áp đặt lên người vay, từ phạm vi toàn
bộ hệ thống pháp luật thành BLDS. Thay đổi quan trọng khác là yếu tố “có
tính chuyên bóc lột” – vốn rất khó chứng minh trên thực tế - đã được thay thế
bằng “thu lợi bất chính” với quy định rõ ràng về định lượng. Việc này góp
phần không nhỏ trong việc đưa những đối tượng CVLN trong giao dịch dân
sự ra xử lý trước pháp luật.
Từ những phân tích trên và quy định của BLHS năm 2015 học viên đưa
ra khái niệm về tội CVLN trong giao dịch dân sự như sau: Tội CVLN trong

14


giao dịch dân sự là hành vi do cá nhân từ 16 tuổi thực hiện, cho chủ thể khác
vay một số tiền với lãi suất gấp từ 05 lần trở lên mức lãi suất cao nhất được
quy định trong BLDS, và sau khi trừ đi khoản lãi suất được pháp luật cho
phép thì người đó thu được số tiền từ 30.000.000 đồng trở lên được coi là tội
phạm theo quy định của Bộ luật hình sự.
Ví dụ: ông A cho ông B vay 100.000.000 đồng với thỏa thuận lãi suất
là cứ 1.000.000 đồng được vay thì ông B phải trả lãi 10.000 đồng/ngày, tương
đương lãi suất của khoản vay là 30.000.000/tháng = 30%/tháng = 360%/năm.
Trong khi tại thời điểm giao kết hợp đồng vay, BLDS quy định lãi suất theo
thỏa thuận không được vượt quá 20%/năm của khoản tiền vay, trừ trường hợp
luật khác có liên quan quy định khác. Tức là mức lãi suất cao nhất pháp luật
cho phép đối với hợp đồng vay tại thời điểm đó là 100%/năm của khoản tiền
vay. Như vậy mức 360%/năm mà các bên thỏa thuận đã vượt hơn 05 lần mức
lãi suất cao nhất quy định trong BLDS (100%/năm), và nếu vay trong vòng 01
năm thì ông A thu lợi trên 30.000.000 đồng Do đó hành vi của ông A có dấu
hiệu phạm tội CVLN trong giao dịch dân sự.
1.1.2. Đặc điểm của tội cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự
Tội CVLN trong giao dịch dân sự được quy định tại Điều 201 thuộc
chương XVIII các tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế của BLHS năm 2015
cũng giống như những tội phạm khác đều có các đặc điểm riêng biệt để phân
biệt với các tội phạm khác.
Tội CVLN trong giao dịch dân sự có các đặc điểm cơ bản sau:
Thứ nhất, hầu hết các hành vi CVLN trong giao dịch dân sự đều nhằm
vào lợi ích vật chất là số tiền lãi mà họ nhận được trong việc cho vay lấy lãi.
Và các đối tượng cho vay với lãi suất rất cao, lãi suất cho vay gấp 05 lần mức
lãi suất cao nhất quy định trong BLDS (tại thời điểm nghiên cứu là 20%/năm

15


của khoản vay).
Thứ hai, người cho vay thường lợi dụng hoàn cảnh khó khăn, cấp bách
hoặc sự thiếu kiến thức của người vay để ép người vay phải trả lãi suất cao
ngất ngưỡng nhằm thu hồi vốn nhanh và thu lợi bất chính rất lớn từ việc cho
vay đó.
Thứ ba, hành vi cho vay lấy lãi rất cao của các đối tượng cho vay được
thực hiện với nhiều hình thức khác nhau, tinh vi khó phát hiện, bởi việc cho
vay này không thông qua sự quản lý của cơ quan chức năng, hầu như là các
thỏa thuận ngầm. Hiện nay đã ghi nhận ngoài hình thức vay bằng giao kết hợp
đồng bằng văn bản như truyền thống, đã xuất hiện biến tướng của loại hình tội
phạm này là thông qua các ứng dụng trên di động – vốn rất dễ tiếp cận với đa
số người dân và đánh đúng vào tâm lý thích nhanh gọn của người vay.
Thứ tư, các hành vi CVLN trong giao dịch dân sự khi bị phát hiện
thường là đã xảy ra một khoảng thời gian dài khi con nợ không còn khả năng
chi trả và khoản nợ gốc cộng nợ lãi đã lên tới con số có thể gấp nhiều chục lần
khoản vay ban đầu. Các đối tượng cho vay đã đe dọa và hành hung người vay,
con nợ và làm xuất hiện thêm một số loại tội phạm mới như: tội đe dọa giết
người, tội cố ý gây thương tích, bắt giữ người trái pháp luật, tội cưỡng đoạt tài
sản,…
Thứ năm, người CVLN trong giao dịch dân sự thường là các đối tượng
sẵn sàng thực hiện hành vi vi phạm pháp luật, với mọi thủ đoạn phạm pháp để
đòi được nợ vì vậy khi cho vay chỉ cần tờ ghi nợ hoặc chỉ là lời nói. Với
những đối tượng này, vì lợi ích vật chất đem lại, họ sẵn sàng ép người đi vay
vào đường cùng, mặc cho hành vi của họ có vi phạm pháp luật hay không.
Đối tượng CVLN trong giao dịch dân sự thường không có đăng ký kinh
doanh, cũng như không có giấy phép kinh doanh nhưng họ vẫn cố ý thực hiện
hành vi cho vay trái pháp luật đó.

16


Thứ sáu, người CVLN trong giao dịch dân sự thường có mối quan hệ
rộng rãi, có kinh nghiệm, hiểu biết pháp luật, một số trường hợp thậm chí có
quan hệ với những người có quyền lực trong cơ quan nhà nước,… nên dễ thực
hiện hành vi cho vay và khó phát hiện hành vi CVLN trong giao dịch dân sự
đó.
1.1.3. Dấu hiệu của tội cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự
1.1.3.1. Khách thể
Khách thể của tội phạm này là trật tự trong lĩnh vực kinh doanh tiền tệ,
nằm trong nhóm quan hệ xã hội trật tự quản lý kinh tế.
“Có ý kiến cho rằng, ngoài lĩnh vực kinh doanh tiền tệ, tội CVLN trong
giao dịch dân sự còn bao gồm cả lĩnh vực kinh doanh khác như: cho thuê tài
sản (kể cả bất động sản và động sản), vì trên thực tế không chỉ cho vay tiền
mà còn cho thuê, mướn tài sản với số tiền thuê rất cao và cũng có tính chất
bóc lột, nếu chỉ giới hạn trong lĩnh vực kinh doanh tiền tệ thì chưa đáp ứng
được tình hình, nhất là trong một nền kinh tế thị trường”4. Tuy nhiên, hiện tại
lĩnh vực cho thuê tài sản chưa được quy định vì các nhà làm luật không cho
rằng cho thuê tài sản thuộc nội hàm của khái niệm CVLN trong giao dịch dân
sự, dù xét đến cùng về bản chất thì hành vi cho thuê tài sản cũng là hành vi
cho vay, giống như cho vay tiền tệ. Thực chất thì cho vay cũng giống như cho
người khác thuê số tiền đó để làm ăn, để sinh hoạt, hiện không có khái niệm
cho thuê tiền tệ mà chủ yếu gọi là cho vay, hơn nữa việc cho vay tiền còn phải
áp dụng các quy định của BLDS nhằm xác định mức trần lãi suất cho vay.
Ngoài việc cho vay trong lĩnh vực kinh doanh tiền tệ thì thực tế hiện
nay còn có cả hành vi cầm đồ cũng là một trong những hành vi CVLN trong
giao dịch dân sự nếu lãi suất cầm đồ gấp 05 lần mức lãi suất cao nhất quy
4

Đinh Văn Quế, Bình luận khoa học Bộ luật hình sự phần các tội phạm (tập VI), nxb Thành phố Hồ Chí
Minh. tr.107

17


định trong BLDS, thu lợi bất chính từ 30.000.000 đồng đến dưới 100.000.000
đồng. Xét về bản chất thì hành vi cầm đồ này thực chất là cho vay có tài sản
bảo đảm là tài sản mà người vay phải để lại cho người cho vay để bảo đảm
rằng số tiền vay đó người cho vay có thể thu hồi được cả tiền gốc lẫn tiền lãi
theo sự thỏa thuận của các bên.
Về đối tượng tác động của tội phạm này: là quyền sở hữu hợp pháp của
bên vay đối với số tiền lãi mà bên cho vay thu lợi bất chính.
1.1.3.2. Mặt khách quan
Mặt khách quan của Tội CVLN trong giao dịch dân sự là những biểu
hiện của tội phạm ra thế giới khách quan, gồm: hành vi khách quan, hậu quả
nguy hiểm cho xã hội, mối quan hệ nhân quả giũa hành vi và hậu quả, công
cụ phương tiện, phương pháp, thủ đoạn, hoàn cảnh, địa điểm phạm tội v.v.
Hành vi khách quan của tội CVLN trong giao dịch dân sự thể hiện ở một
trong các mặt sau:
- Cho người khác vay và áp đặt mức lãi suất gấp 05 lần trở lên của
mức lãi suất cao nhất quy định trong BLDS, thu lợi bất chính từ 30.000.000
đồng trở lên;
Theo quy định của Bộ luật Dân sự 2015 (Điều 468) thì lãi suất trong
hợp đồng vay được xác định như sau:
“1. Lãi suất vay do các bên thỏa thuận. Trường hợp các bên có thỏa
*

thuận về lãi suất thì lãi suất theo thỏa thuận không được vượt quá 20%/năm

*

*

*

*

*

của khoản tiền vay, trừ trường hợp pháp luật liên quan có quy định khác.

*

*

*

*

*

*

Căn cứ tình hình thực tế và theo đề xuất của Chính phủ, Ủy ban thường vụ
*

*

*

*

Quốc hội quyết định điều chỉnh mức lãi suất nói trên và báo cáo Quốc hội tại
*

*

*

*

*

kỳ họp gần nhất. Trường hợp lãi suất theo thỏa thuận vượt quá lãi suất giới
*

*

*

*

hạn được quy định tại khoản này thì mức lãi suất vượt quá không có hiệu lực.
*

*

*

*

18

*

*


2. Trường hợp các bên có thỏa thuận về việc trả lãi, nhưng không xác
định rõ lãi suất và có tranh chấp về lãi suất thì lãi suất được xác định bằng
50% mức lãi suất giới hạn quy định tại khoản 1 Điều này tại thời điểm trả
nợ”.
Như vậy, theo quy định về mức lãi suất tối đa của BLDS, nếu lãi suất
cho vay gấp 05 lần trở lên của mức lãi suất tối đa nói trên, tức là từ
100%/năm khoản tiền vay trở lên thì hành vi cho vay có dấu hiệu của Tội
CVLN trong giao dịch dân sự. Tuy nhiên số tiền thu lợi bất chính có được từ
hành vi này phải từ 30.000.000 đồng trở lên. Nếu trong giao dịch dân sự,
người cho vay với lãi suất gấp 05 lần trở lên của mức lãi suất cao nhất quy
định trong BLDS nhưng thu lợi bất chính dưới 30.000.000 đồng thì hành vi
không cấu thành tội phạm này.
Tội phạm hoàn thành kể từ thời điểm cho vay với thỏa thuận mức lãi
suất rất cao như luật định và người cho vay đã thu lợi bất chính với số tiền từ
30.000.000 đồng. Nếu các bên đã giao kết hợp đồng vay với mức lãi suất như
vậy nhưng trên thực tế người cho vay chưa thu lợi bất chính hoặc thu lợi bất
chính chưa đủ theo quy định thì cũng không thể xử lý họ với tội danh này.
Một điểm cần lưu ý trong quy định của Điều luật này là về mặt từ ngữ,
nhà làm luật không quy định hậu quả của hành vi cho vay với lãi suất đặc biệt
cao (đặc trưng của việc quy định hậu quả là dùng những từ liên kết như
“gây”, “làm”,… giữa hành vi và hậu quả). Tuy nhiên, nếu xét về mặt ngữ
nghĩa, có thể thấy để xác định một người có hành vi CVLN trong giao dịch
dân sự thì theo quy định này, bắt buộc họ phải có hành vi cho vay với lãi suất
đặc biệt cao và hành vi này lại là điều kiện bắt buộc để họ có thể thu lợi bất
chính với số tiền cao hơn luật định. Như vậy, có thể ngầm hiểu rằng tồn tại
mối quan hệ nhân – quả giữa hành vi cho vay với lãi suất đặc biệt cao và hậu
quả là người vay bị thiệt hại với mức thiệt hại bằng số tiền người cho vay thu

19


lợi bất chính. Tuy nhiên, hậu quả không phải là dấu hiệu bắt buộc của cấu
thành tội phạm nên việc xác định hậu quả sẽ có ý nghĩa trong việc đánh giá
tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi CVLN trong giao dịch dân sự khi
quyết định hình phạt.
- Cho vay lãi gấp 05 lần mức lãi suất cao nhất quy định trong
BLDS, thu lợi bất chính chưa đến 30.000.000 đồng nhưng trước đó đã bị xử
phạt vi phạm hành chính về hành vi CVLN hoặc đã bị kết án về tội CVLN,
chưa được xoá án tích mà còn vi phạm.
Như vậy, cấu thành của tội danh này bắt buộc phải có yếu tố thu lợi bất
chính (với số tiền nhất định) mới bị xử lý hình sự. Tuy nhiên nhằm đáp ứng
nhu cầu đấu tranh, phòng chống, xử lý đối với các trường hợp mang tính chất
tái phạm thì Điều luật cũng quy định cả trường hợp tuy vẫn chưa thu lợi bất
chính hoặc thu lợi bất chính chưa đủ số tiền luật định vẫn có thể bị truy cứu
TNHS, đó là:
Đã bị xử phạt hành chính về hành vi CVLN mà còn vi phạm, là trường
hợp, trước khi thực hiện hành vi CVLN trong giao dịch dân sự, người phạm
tội đã bị xử phạt hành chính cũng về hành vi CVLN trong giao dịch dân sự
bằng một trong các hình thức được quy định trong Luật Xử lý vi phạm hành
chính do cơ quan Nhà nước có thẩm quyền áp dung mà chưa quá một năm;
nếu người phạm tội bị xử phạt hành chính về hành vi khác mà không phải là
CVLN trong giao dịch dân sự thì không thuộc trường hợp quy định tại Điều
này.
Đối với trường hợp đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản chưa được
xoá án tích mà còn vi phạm là trước khi thực hiện hành vi CVLN trong giao
dịch dân sự, người phạm tội đã bị Toà án kết án về tội này nhưng chưa được
xoá án tích theo quy định tại Chương X Bộ luật hình sự; nếu người phạm tội
bị kết án về tội phạm khác mà không phải tội CVLN trong giao dịch dân sự

20


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×