Tải bản đầy đủ (.pdf) (77 trang)

ĐÁNH GIÁ KHẢ NĂNG ĂN BỌ GẬY AEDES AEGYPTI (LINNAEUS, 1762) CỦA MỘT SỐ LOÀI CÁ ĐƢỢC SỬ DỤNG TRONG PHÒNG CHỐNG SỐT XUẤT HUYẾT DENGUE TẠI HÀ NỘI

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.51 MB, 77 trang )

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC
VÀ CÔNG NGHỆ VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ

PHẠM ANH TUẤN

ĐÁNH GIÁ KHẢ NĂNG ĂN BỌ GẬY AEDES AEGYPTI
(LINNAEUS, 1762) CỦA MỘT SỐ LOÀI CÁ ĐƢỢC SỬ DỤNG
TRONG PHÒNG CHỐNG SỐT XUẤT HUYẾT DENGUE TẠI HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SĨ SINH HỌC

HÀ NỘI - 2019


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC
VÀ CÔNG NGHỆ VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ

PHẠM ANH TUẤN

ĐÁNH GIÁ KHẢ NĂNG ĂN BỌ GẬY AEDES AEGYPTI
(LINNAEUS, 1762) CỦA MỘT SỐ LOÀI CÁ ĐƢỢC SỬ DỤNG
TRONG PHÒNG CHỐNG SỐT XUẤT HUYẾT DENGUE TẠI HÀ NỘI


Chuyên ngành: Động vật học
Mã số: 8420103

LUẬN VĂN THẠC SĨ SINH HỌC

NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC:
Hƣớng dẫn 1: TS. Phạm Quỳnh Mai
Hƣớng dẫn 2: TS. Trần Vũ phong

HÀ NỘI - 2019


i

LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan công trình này là nghiên cứu của bản thân tôi.Các số
liệu, kết quả nêu trong luận văn này là trung thực và chƣa từng đƣợc ai công
bố trong bất kỳ một công trình nào khác.
Tác giả

Phạm Anh Tuấn


ii

LỜI CẢM ƠN
Trƣớc hết tôi xin trân trọng cảm ơn Học viện Khoa học và Công nghệ,
Phòng Đào tạo, Khoa Sinh thái và Tài nguyên sinh vật Học viện Khoa học và
Công nghệ đã tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi học tập nghiên cứu.
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới TS.Phạm Quỳnh Mai và TS.

Trần Vũ Phong là những ngƣời thầy, cô đã hƣớng dẫn tôi rất tận tình và chu
đáo trong quá trình thực hiện cũng nhƣ hoàn thành luận văn.
Tôi xin trân trọng cảm ơn tới Ban Giám đốc Trung tâm Kiểm soát bệnh
tật thành phố Hà Nội, Ban Chủ nhiệm khoa Ký sinh trùng – Côn trùng (Trung
tâm Kiểm soát bệnh tật thành phố Hà Nội) nơi tôi công tác đã tạo mọi điều
kiện thuận lợi cho tôi trong quá trình học tập, hoàn thành luận văn và hỗ trợ
kinh phí để tôi hoàn thành công tác học tập, nâng cao kiến thức chuyên môn,
nghiệp vụ.
Tôi xin bày tỏ sự chân thành cảm ơn đến các đồng nghiệp trong Khoa
Ký sinh trùng – Côn trùng (Trung tâm Kiểm soát bệnh tật thành phố Hà Nội)
nói chung cũng nhƣ đồng nghiệp trong nhóm Côn trùng của Khoa nói riêng
đã giúp đỡ tôi trong quá trình thu thập số liệu hoàn thiện luận văn.
Cuối cùng tôi xin cảm ơn vợ, các con yêu quý của tôi và bạn bè đã
động viên, chia sẻ và tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt quá trình học
tập và hoàn thiện luận văn.
Trân trọng
Tác giả

Phạm Anh Tuấn


iii

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
BG

Bọ gậy

CS


Cộng sự

NXB

Nhà xuất bản

PGS.TS.

Phó Giáo sƣ, Tiến sĩ

TB

Trung bình

TS

Tiến sĩ

TT

Thứ tự

Ae.

Aedes


iv

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN ............................................................................................. 1
LỜI CẢM ƠN ................................................................................................... ii
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT ................................................................. iii
MỤC LỤC ........................................................................................................ iv
DANH MỤC BẢNG ........................................................................................ vi
DANH MỤC HÌNH ........................................................................................ vii
MỞ ĐẦU ........................................................................................................... 1
1.1. Đặt vấn đề ............................................................................................... 1
1.2. Mục đích và yêu cầu của đề tài ............................................................... 2
1.2.1. Mục đích............................................................................................ 2
1.2.2. Yêu cầu .............................................................................................. 2
1.2.3. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài. ......................................... 2
Chƣơng I. TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU .............................. 4
1.1. Cơ sở khoa học của đề tài ....................................................................... 4
1.2. Tình hình bệnh sốt xuất huyết Dengue ................................................... 5
1.2.1. Tình hình sốt xuất huyết Dengue trên thế giới ................................. 5
1.2.2.Tình hình sốt xuất huyết Dengue tại Đông Nam Á và Tây Thái Bình
Dương ......................................................................................................... 8
1.2.3. Tình hình sốt xuất huyết Dengue tại Việt Nam. ................................ 9
1.3. Tình hình nghiên cứu về sử dụng cá diệt bọ gậy .................................. 11
1.3.1. Những nghiên cứu trên thế giới về kiểm soát bọ gậy bằng thiên địch
................................................................................................................... 11
1.3.2. Tình hình nghiên cứu tại Việt Nam ................................................. 14
1.3.3. Một số đặc điểm sinh học sinh thái của các loài cá tiến hành thử
nghiệm ....................................................................................................... 15
Chƣơng II.NỘI DUNG VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ..................... 21
2.1. Thời gian và địa điểm nghiên cứu ........................................................ 21
2.1.1. Thời gian nghiên cứu ...................................................................... 21
2.1.2. Địa điểm nghiên cứu ....................................................................... 21
2.2. Đối tƣợng, vật liệu nghiên cứu ............................................................. 21

2.2.1. Đối tượng nghiên cứu ..................................................................... 21


v

2.2.2. Vật liệu nghiên cứu ......................................................................... 21
2.3. Nội dung và phƣơng pháp nghiên cứu .................................................. 22
2.3.1. Nội dung nghiên cứu ....................................................................... 22
2.3.2. Phương pháp nghiên cứu ................................................................ 23
2.3.3. Phương pháp thực nghiệm .............................................................. 28
2.3.4. Một số tình huống bất lợi xảy ra và cách xử lý .............................. 30
Chƣơng III. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN .......................... 31
3.1. Tỉ lệ nhiễm bọ gậy Ae. albopictus và Ae. aegypti trong các loại dụng
cụ chứa nƣớc tại Hà Nội từ năm 2016 đến năm 2018 ................................. 31
3.1.1. Sự đa dạng các loại dụng cụ chứa nước tại Hà Nội từ năm 2016
đến năm 2018 ............................................................................................ 31
3.1.2. Tỉ lệ phát hiện BG Aedes trong các loại dụng cụ chứa nước tại Hà
Nội từ năm 2016 đến năm 2018 ................................................................ 35
3.2. Khả năng ăn bọ gậy Ae. aegypti theo loài của 4 loài cá trong phòng thí
nghiệm .......................................................................................................... 38
3.2.1. Khả năng ăn bọ gậy Ae. aegypti của 4 loài cá được thử nghiệm... 39
3.2.2. Đánh giá sự chênh lệch trong khả năng ăn bọ gậy Ae. aegypti của
mỗi loài cá qua các thí nghiệm khác nhau ............................................... 40
3.2.3. Đánh giá sự chênh lệch trong khả năng ăn bọ gậyAe. aegypti của
các loài cá qua các ngày trong thời gian thí nghiệm ............................... 42
3.3. Khả năng ăn bọ gậy Ae. aegypti theo thể trọng cơ thể (trọng lƣợng và
chiều dài cơ thể) của các loài cá trong phòng thí nghiệm............................ 44
3.3.1. Khả năng ăn bọ gậyAe. aegypti theo trọng lượng cơ thể của 4 loài
cá ............................................................................................................... 44
3.3.2. Khả năng ăn bọ gậy Ae. aegypti theo chiều dài cơ thể của 4 loài cá

................................................................................................................... 46
3.4. Khả năng ăn bọ gậy Ae. aegypti theo giới tính của 4 loài cá trong
phòng thí nghiệm ......................................................................................... 48
KẾT LUẬN ..................................................................................................... 50
TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................................... 53
PHỤ LỤC ........................................................................................................ 58


vi

DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1. Một số tình huống bất lợi xảy ra và cách xử lý .............................. 30
Bảng 3.1. Sự đa dạng và tỉ lệ các loại dụng cụ chứa nƣớc tại Hà Nội............ 32
từ năm 2016 - 2018 ......................................................................................... 32
Bảng 3.2. Tỉ lệ phát hiện BG Aedes trong các loại dụng cụ chứa nƣớc tại Hà
Nội từ năm 2016 - 2018 .................................................................. 35
Bảng 3.3. Khả năng ăn bọ gậy của 4 loài cá đƣợc thử nghiệm....................... 39
Bảng 3.4. Số lƣợng BG Ae. aegypti bị ăn trong mỗi thử nghiệm ................... 41
Bảng 3.5. Số lƣợng BG Ae. Aegypti bị các loài cá tiêu thụ trong 7 ngày thử
nghiệm đầu tiên ............................................................................... 42
Bảng 3.6. Khả năng ăn BG Ae. aegypti theo 1 gram trọng lƣợng cơ thể của 4
loài cá .............................................................................................. 44
Bảng 3.7. Khả năng ăn BG Ae. aegypti theo trọng lƣợng cơ thể của cá qua các
thí nghiệm ....................................................................................... 45
Bảng 3.8. Khả năng ăn bọ gậy Ae. aegypti theo 1 mm chiều dài cơ thể của các
loài cá đƣợc thử nghiệm.................................................................. 46
Bảng 3.9. Khả năng ăn bọ gậy Ae. aegypti của các loài cátheo chiều dài cơ thể
qua các lần thí nghiệm .................................................................... 47
Bảng 3.10. Số lƣợng trung bình bọ Ae. aegypti tiêu thụ trong mỗi thí nghiệm
theo giới tính của các loài cá đƣợc thử nghiệm .............................. 48

Bảng 3.11. Khả năng ăn BG/ngày của các loài cá theo giới tính ................... 49


vii

DANH MỤC HÌNH
Hình 1.1. Cá ăn muỗi Gambusia affinis .................................................................... 12
Hình 1.2. Cá bảy màu Poecilia reticulate .................................................................. 16
Hình 1.3. Cá đuôi kiếm Xiphophorus helleri ............................................................ 17
Hình 1.4. Cá chọi Nghi Tàm ..................................................................................... 18
Hình 1.5. Quá trình đẻ trứng ..................................................................................... 18
Hình 1.6. Cá đực trông tổ trứng ................................................................................ 18
Hình 1.7. Cá cờ Macropodus opercularis.................................................................. 20
Hình 3.1. Tỉ lệ các loại dụng cụ chứa nƣớc tại Hà Nội năm 2016 ............................ 33
Hình 3.2. Tỉ lệ các loại dụng cụ chứa nƣớc tại Hà Nội năm 2017 ............................ 34
Hình 3.3. Tỉ lệ các loại dụng cụ chứa nƣớc tại Hà Nội năm 2018 ............................ 34
Hình 3.4. Tỉ lệ nhiễm BG trong các loại dụng cụ chứa nƣớctại Hà Nội năm
2016 .......................................................................................................... 36
Hình 3.5. Tỉ lệ nhiễm BG trong các loại dụng cụ chứa nƣớctại Hà Nội năm
2017 .......................................................................................................... 37
Hình 3.6. Tỉ lệ nhiễm BG ở các loại dụng cụ chứa nƣớctại Hà Nội năm 2018 ........ 37
Hình 3.7. TB số lƣợng bọ gậy tiêu thụ/mẫu cá/ngày ................................................ 40
Hình 3.8. Tỉ lệ % số bọ gậy bị ăn bởi các loài cá qua các thí nghiệm ...................... 40
Hình 3.9. Biểu đồ so sánh số lƣợng BG bị ăn bởi các loài cáqua 3 thí nghiệm........ 41
Hình 3.10. Biểu đồ tổng lƣợng bọ gậy tiêu thụ qua 7 ngày thí nghiệm đầu tiên
của 4 loài cá .............................................................................................. 43
Hình 3.11. Biểu đồ về khả năng ăn BG Ae. aegypti theo 1 gram trọng lƣợng cơ
thể của 4 loài cá ........................................................................................ 45
Hình 3.12. Biểu đồ so sánh trung bình số BG bị ăn/gram/ngày củacác loài cá
qua các thí nghiệm .................................................................................... 46

Hình 3.13. Biểu đồ về khả năng ăn bọ gậy Ae. aegypti theo 1 mm chiều dàicơ
thể của 4 loài cá đƣợc thử nghiệm ............................................................ 47
Hình 3.14. Biểu đồ so sánh trung bình số BG bị ăn/mm/ngày củacác loài cá qua
các thí nghiệm ........................................................................................... 48
Hình 3.15. So sánh khả năng ăn bọ gậy của 4 loài cá theo giới tính ........................ 49


1

MỞ ĐẦU
1.1. Đặt vấn đề
Muỗi (Culicidae) là véc-tơ chính truyền một số bệnh nguy hiểm cho
con ngƣời. Hàng năm, trên thế giới có hàng triệu ca tử vong do các bệnh lan
truyền từ muỗi. Sốt xuất huyết Dengue là một bệnh đang lƣu hành tại Việt
Nam với hai loài muỗi truyền bệnh là Aedes aegypti và Aedes albopictus,
trong đó quan trọng nhất là Ae.aegypti.Hiện nay vẫn chƣa có thuốc đặc trị và
vắc-xin phòng bệnh sốt xuất huyết Dengue nên việc bùng phát bệnh thành
dịch rất có khả năng xảy ra và rất khó kiểm soát.
Hà Nội là một thành phố lớn, có môi trƣờng sinh thái rất đa dạng: khu
dân cƣ đô thị, các hệ sinh thái nông nghiệp, lâm nghiệp. Các hệ sinh thái đất
ngập nƣớc... Tính đa dạng cao của các hệ sinh thái nhân sinh và tự nhiên cùng
với sự ô nhiễm ngày càng gia tăng của môi trƣờng sống làm cho công tác
kiểm soát véc-tơ truyền bệnh sốt xuất huyết Dengue gặp rất nhiều khó khăn.
Có hai phƣơng thức quan trọng nhất để kiếm soát véc-tơ truyền bệnh sốt xuất
huyết Dengue là hoá học và sinh học, trong đó, diệt bọ gậy của các loài muỗi
bằng biện pháp sinh học đã đƣợc chứng minh là biện pháp phòng chống bệnh
an toàn, có hiệu quả lâu dài và bền vững.
Theo Báo cáo điều tra ổ bọ gậy nguồn năm 2015 tại Hà Nội đã phát
hiện 15 loại dụng cụ chứa nƣớc có bọ gậy Aedes. Những dụng cụ chứa nƣớc
đó thƣờng đƣợc sử dụng để chứa nƣớc dùng cho sinh hoạt hằng ngày của

ngƣời dân nên không thể sử dụng hóa chất diệt bọ gậy mà phải sử dụng các
biện pháp sinh học khác..
Trên thế giới đã có nhiều nghiên cứu về diệt bọ gậy của các loài muỗi
truyền bệnh cho con ngƣời bằng các biện pháp sinh học nhƣ: sử dụng các loài
giáp xác thuộc giống Mesocyclop, sử dụng các loài côn trùng thuộc họ
Corixidae, sử dụng các loài cá ăn bọ gậy... Trong đó, việc sử dụng cá để diệt


2

bọ gậy trong các khu dân cƣ đã đƣợc chứng minh là khả thi và có hiệu quả
hơn do có lợi thế về an toàn sinh học, dễ sử dụng và đƣợc sự chấp thuận cao
của cộng đồng ngƣời dân.
Trong báo cáo điều tra ổ bọ gậy nguồn năm 2015 tại Hà Nội cũng đã
chỉ ra khoảng 59% dụng cụ chứa nƣớc sinh hoạt ở Hà Nội có thể thả cá để
diệt bọ gậy của các loài muỗi Aedes. Nhƣng sử dụng những loài cá nào để diệt
bọ gậy có hiệu quả cao cần đƣợc nghiên cứu cụ thể. Để góp phần giải quyết
vấn đề này, chúng tôi lựa chọn đề tài nghiên cứu cho luận văn Thạc sỹ của
mình là: “Đánh giá khả năng ăn bọ gậy Aedes aegypti (Linnaeus, 1762) của
một số loài cá được sử dụng trong phòng chống sốt xuất huyết Dengue tại
Hà Nội” nhằm làm rõ khả năng ăn bọ gậy của 4 loài cá thƣờng đƣợc nuôi làm
cảnh ở Hà Nội để có cơ sở khuyến cáo sử dụng chúng trong công tác kiểm
soát véc tơ truyền bệnh sốt xuất huyết Dengue tại Hà Nội.
1.2. Mục đích và yêu cầu của đề tài
1.2.1. Mục đích
- Đánh giá tỷ lệ nhiễm bọ gậy trong các dụng cụ chứa nƣớc tại Hà Nội;
- Đánh giá khả năng ăn bọ gậy của 4 loài cá (Cá bảy màu, Cá đuôi
kiếm, Cá chọi, Cá cờ đỏ) trong điều kiện thí nghiệm và tiềm năng sử dụng
chúng để diệt bọ gậy trong các dụng cụ chứa nƣớc khác nhau.
1.2.2. Yêu cầu

Cung cấp những số liệu định lƣợng về tỷ lệ nhiễm bọ gậy Ae.aegypti
trong các dụng cụ chứa nƣớc tại Hà Nội năm 2016-2018 và khả năng ăn bọ
gậy Ae.aegypti của 4 loại cá thí nghiệm làm cơ sở cho việc khuyến cáo sử
dụng các loài cá này trong phòng chống vectơ truyền bệnh sốt xuất huyết
Dengue ở Hà Nội.
1.2.3. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài.
Đề tài có ý nghĩa khoa học, thực tiễn và tham khảo cao.
Về mặt khoa học, các kết quả nghiên cứu của đề tài góp phần làm giàu


3

thêm tri thức trong lĩnh vực sử dụng các biện pháp sinh học trong kiểm soát
và phòng chống các bệnh Sốt xuất huyết, Zika… lan truyền do muỗi.
Ý nghĩa thực tiễn của đề tài thể hiện trong việc đƣa ra những khuyến
cáo cụ thể sử dụng 4 loài cá cảnh là Cá bảy màu, Cá chọi, Cá đuôi kiếm, Cá
cờ đỏ để diệt bọ gậy Aedes trong các dụng cụ chứa nƣớc ở Hà Nội.
Các kết quả thu đƣợc trong đề tài là tài liệu tham khảo có giá trị trong
công tác sử dụng các biện pháp sinh học trong kiểm soát các véc tơ truyền
bệnh và phòng chống bệnh Sốt xuất huyết, Zika… ở các địa phƣơng khác
trong cả nƣớc


4

Chƣơng I. TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1. Cơ sở khoa học của đề tài
sốt xuất huyết Dengue là bệnh nhiễm vi-rút Dengue cấp tính do muỗi
vằn Aedes aegypti truyền và có thể gây thành dịch lớn. Bệnh lƣu hành phổ
biến ở cả miền Bắc, Trung, Nam và Tây Nguyên, kể cả ở thành thị và vùng

nông thôn.Bệnh xảy ra quanh năm nhƣng thƣờng bùng phát thành dịch lớn
vào các tháng 7 - 10.Các nhà khoa học hiện vẫn đang nghiên cứu phát triển
vắc-xin phòng bệnh sốt xuất huyết Dengue và có loại vắc xin đã đƣợc cấp
phép sử dụng tại một số ít quốc gia trên thế giới, tuy nhiên hiệu quả vẫn còn
hạn chế. Diệt bọ gậy và muỗi vằn truyền bệnh hiện là biện pháp chủ đạo trong
việc hạn chế sự lan truyền của bệnh sốt xuất huyết Dengue.
Các biện pháp phổ biến để kiểm soát bọ gậy hiện nay ở Việt Nam gồm
có sử dụng một số loại hóa chất, sử dụng các biện pháp sinh học, loại bỏ và
xử lý các dụng cụ chứa nƣớc có bọ gậy. Trong đó, biện pháp hóa học chỉ có
thể áp dụng đối với những nguồn nƣớc và nơi chứa nƣớc mà ngƣời dân không
sử dụng. Đối với những dụng cụ chứa nƣớc sử dụng cho sinh hoạt hằng ngày
cần sử dụng biện pháp sinh học diệt bọ gậy để đạt đƣợc hiệu quả cao và an
toàn cho ngƣời dân.
Số liệu thống kê tại Hà Nội từ những năm 2014 – 2016 cho thấy tỉ lệ
các loại dụng cụ chứa nƣớc có bọ gậy có thể thả cá chiếm tỉ lệ cao
(60%).Dùng cá để diệt bọ gậy trong các dụng cụ chứa nƣớc là một trong
những biện pháp không thể thiếu đƣợc trong các chiến dịch vệ sinh môi
trƣờng diệt bọ gậy tại Việt Nam.Ƣu thế của phƣơng pháp sử dụng cá trong
việc kiểm soát bọ gậy là sự chấp thuận của cộng đồng, mang lại hiệu quả cao
và lâu dài.Bên cạnh đó việc đƣa hóa chất vào môi trƣờng sống của ngƣời dân
cũng đƣợc giảm thiểu, và tỉ lệ rủi ro so với các biện pháp sử dụng hóa chất
thấp hơn rất nhiều.Nhƣng việc sử dụng loài cá nào hiệu quả cần đƣợc nghiên
cứu cụ thể. Bên cạnh đó cần triển khai các hoạt động nghiên cứu về các loài


5

cá khi đƣợc thả ngoài thực địa để đánh giá khả năng sống cũng nhƣ nghiên
cứu về các nguyên nhân và cách khắc phục khi cá bị chết hay mất trong các
bể chứa nƣớc sinh hoạt tại cộng đồng.

Xuất phát từ những lý do trên, chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài:
“Đánh giá khả năng ăn bọ gậy Aedes aegypti của một số loài cá được sử
dụng trong phòng chống sốt xuất huyết Dengue tại Hà Nội” nhằm đánh giá tỉ
lệ các loại dụng cụ chứa nƣớc có bọ gậy tại Hà Nội từ năm 2016 đến năm
2018 và khả năng ăn bọ gậy của 4 loại cá cảnh là Cá bảy màu, Cá cờ đỏ, Cá
đuôi kiếm và Cá chọi, vốn là những loài cá đƣợc nuôi rộng rãi làm cảnh. Bên
cạnh đó, đề tài cũng tìm hiểu về khả năng thả các loài cá này vào các dụng cụ
chứa nƣớc khác nhau với mục đích vừa diệt bọ gậy vừa để làm cảnh.
1.2. Tình hình bệnh sốt xuất huyết Dengue
1.2.1. Tình hình sốt xuất huyết Dengue trên thế giới
Sốt xuất huyết Dengue là căn bệnh nhiệt đới do muỗi Ae. aegypti và Ae.
albopictus lan truyền. Đây là căn bệnh nguy hiểm do virus truyền qua muỗi vằn
đốt ngƣời vào ban ngày. Khí hậu vùng nhiệt đới với nhiệt độ giao động từ 15 đến
400C và độ ẩm cao kết hợp với môi trƣờng sống đông đúc, mất vệ sinh sẽ tạo
điều kiện thuận lợi cho căn bệnh này phát triển. Căn bệnh này có hai thể: Sốt
Dengue và sốt xuất huyết Dengue. Sốt Dengue có triệu chứng tƣơng tự nhƣ cảm
cúm, thƣờng xảy ra ở trẻ lớn, ngƣời lớn và ít khi gây tử vong.Trái lại, sốt xuất
huyết Dengue là thể thứ phát rất nguy hiểm, có xuất huyết và bệnh nhân có thể
bị chết nếu không đƣợc chẩn đoán và điều trị kịp thời[45], [47].
Dịch sốt Dengue đƣợc biết đến cách đây ba thế kỷ ở các khu vực có khí
hậu nhiệt đới, á nhiệt đới và ôn đới. Trƣớc đó đã có một bệnh tƣơng tự nhƣ
sốt Dengue cũng đã đƣợc ghi nhận ở Trung Quốc vào khoảng đầu năm 992
sau công nguyên và sau đó là năm 1635 ở những vùng Tây Ấn Độ thuộc
Pháp. Năm 1780, có tác giả đã mô tả bệnh “Sốt gãy xƣơng” ở Philadenphia có
thể chính là sốt Dengue. Trong thế kỷ 18, 19 và đầu thế kỷ 20 đã xảy ra


6

những vụ dịch của các bệnh tƣơng tự nhƣ sốt Dengue ở các khu vục có khí

hậu nhiệt đới và một số vùng có khí hậu ôn đới. Vụ dịch đầu tiên đƣợc khẳng
định là sốt xuất huyết Dengue đƣợc ghi nhận tại Philippin vào năm 1953-1954
[4,41].
Sốt xuất huyết Dengue là nguyên nhân hàng đầu của các trƣờng hợp
nhập viện và tử vong của trẻ em ở các nƣớc Đông Nam Á và Tây Á Thái Bình
Dƣơng. Ở Việt Nam, sốt xuất huyết Dengue xảy ra ở hầu hết các tỉnh thành
phố vào các tháng rải rác trong năm, nhƣng tập trung chủ yếu vào các tháng
mùa mƣa từ tháng 6 đến tháng 10 [1,43,47]. Theo dự đoán của Epstein thì
biến đổi khí hậu là một nguyên nhân chính gây ra sự lan tràn bệnh sốt xuất
huyết. Ngày nay, sốt xuất huyết xuất hiện khá phổ biến ở các nƣớc Châu Á và
Châu Mỹ - La Tinh. Ngoài ra các nguyên nhân khác làm bùng phát bệnh này
ở nhiều quốc gia trên thế giới là do gia tăng dân số, đô thị hóa không theo quy
hoạch, giao thông đi lại phát triển giữa các vùng miền, sự biến đổi của virut
Dengue cũng nhƣ tập quán trữ nƣớc và điều kiện vệ sinh môi trƣờng kém…
Những vụ dịch sốt xuất huyết Dengue lớn gần đây xảy ra ở nhiều nƣớc
thuộc nhiều khu vực, trừ Châu Âu.Tuy vậy một số nƣớc trong khu vực này đã
có một số lƣợng đáng kể các trƣờng hợp sốt xuất huyết Dengue ngoại lai từ
các nƣớc khác đến. Tổng số dân trên toàn cầu có nguy cơ mắc bệnh ƣớc tính
vào khoảng từ 2,5 - 3 tỷ ngƣời, phần lớn trong số này sống ở khu vực có khí
hậu nhiệt đới và cận nhiệt đới. Mặc dù trƣớc kia sốt xuất huyết Dengue đƣợc
cho là bệnh chỉ xuất hiện ở khu vực đô thị, nhƣng ngày nay, bệnh đã trở nên
phổ biến ở khu vực nông thôn các nƣớc đông nam Á. Hàng năm, ƣớc tính có
ít nhất 100 triệu ngƣời mắc Sốt Dengue và 500.000 trƣờng hợp sốt xuất huyết
Dengue cần phải nhập viện. Trong số trƣờng hợp sốt xuất huyết Dengue, thì
90% là trẻ em dƣới 15 tuổi. Tỷ lệ tử vong trung bình do sốt xuất huyết
Dengue là 5%, số tử vong là 25.000 trƣờng hợp mỗi năm. Từ năm 1975 đến
năm 1995, sốt xuất huyết Dengue xảy ra ở 102 nƣớc, trong đó có 20 nƣớc


7


châu Phi, 42 nƣớc châu Mỹ, 7 nƣớc Đông Nam Á, 4 nƣớc phía Đông Địa
Trung Hải và 29 nƣớc thuộc khu vực Tây Thái Bình Dƣơng. Hiện nay, những
khu vực có khí hậu nhiệt đới đều là những vùng có nguy cơ bị dịch cao với tất
cả 4 típ vi rút lƣu hành, đó là các khu vực châu Mỹ, châu á, Tây Thái Bình
Dƣơng và châu Phi. Ở phía bắc Queensland (Úc), có 3 típ vi rút là DEN-1,
DEN-2 và DEN-3, ở Trung Đông có 2 típ là DEN-1 và DEN-2. Hiện nay trên
thế giới sốt xuất huyết Dengue chƣa có thuốc điều trị đặc hiệu, vắc xin phòng
chống sốt xuất huyết Dengue đang trong giai đoạn thử nghiệm lâm sàng mà
chƣa đƣa vào sử dụng, chính vì vậy biện pháp phòng chống sốt xuất huyết
Dengue chủ yếu vẫn dựa vào việc kiểm soát véc tơ, trong đó biện pháp sử
dụng hóa chất diệt côn trùng là đặc biệt có hiệu quả trong việc giảm nhanh
chóng các quần thể muỗi gây bệnh [11,32].
Khoảng thời gian từ 1975 đến 1995 dịch đã xảy ra ở 102 nƣớc thuộc
năm trong sáu khu vực là thành viên của Tổ chức Y tế Thế giới, chỉ trừ khu
vực châu Âu, bao gồm 20 nƣớc châu Phi, 4 nƣớc khu vực Địa Trung Hải, 29
nƣớc khu vực Tây Thái Bình Dƣơng, 42 nƣớc thuộc châu Mỹ, 7 nƣớc khu
vực Đông Nam Á. Cho tới nay, bệnh có tính lƣu hành địa phƣơng tại Châu
Mỹ, Châu Phi và Địa Trung Hải. Tại khu vực châu Á và Thái Bình Dƣơng,
bệnh là gánh nặng về y tế tại các nƣớc có dịch lƣu hành [5,18].
Trong những năm gần đây, sốt xuất huyết Dengue đã trở nên trầm trọng
hơn bởi phân bố địa lý rộng rãi cả về vi rút gây bệnh và véc tơ truyền bệnh.
Tần suất các vụ dịch ngày càng gia tăng với sự xuất hiện của nhiều túp vi rút
Dengue cùng lƣu hành và xuất hiện những trƣờng hợp sốt xuất huyết Dengue
trong các vùng địa lý mới. Hiện nay bệnh vẫn đang lƣu hành ở trên 100 nƣớc,
trong đó có khoảng 2,5 tỷ ngƣời có nguy cơ mắc bệnh. Mỗi năm có khoảng
100 triệu trƣờng hợp mắc sốt Dengue, 500.000 trƣờng hợp Sốt xuất huyết
Dengue cần nhập viện, trong đó 90% là trẻ em dƣới 15 tuổi. Tỷ lệ tử vong
trung bình do sốt xuất huyết Dengue là 5%. [32]



8

1.2.2.Tình hình sốt xuất huyết Dengue tại Đông Nam Á và Tây Thái Bình Dương
Tại Đông Nam Á, sốt xuất huyết Dengue lần đầu tiên đƣợc mô tả nhƣ
một bệnh mới ở Philippin năm 1953 (Gọi là bệnh sốt xuất huyết Philippin).
Từ đó, dịch sốt xuất huyết Dengue lớn đã xảy ra ở hầu hết các nƣớc Đông
Nam Á, bao gồm cả Ấn Độ, Inđônêxia, Manđivơ, Mianma, Xri Lanca, Thái
Lan và các nƣớc thuộc khu vực Tây Thái Bình Dƣơng nhƣ Singapo,
Campuchia, Trung Quốc, Lào, Malaixia, Niu Calêđônia, Palau, Philippin,
Tahiti và Việt Nam với tỷ lệ tử vong cao và sự có mặt cả 4 type vi rút. Sốt
xuất huyết Dengue là nguyên nhân dẫn đến nhập viện và gây tử vong hàng
đầu tại một số nƣớc thuộc khu vực Châu Á – Thái Bình Dƣơng trong đó có
Việt Nam [5,32].
Sốt xuất huyết Dengue đã trở thành dịch lƣu hành ở Thái Lan và
Philippine. Có sự tăng rõ rệt số bệnh nhân mắc sốt xuất huyết Dengue trong
những từ 1971 đến 1978 ở nhiều nƣớc khác nhau thuộc Đông Nam Á, Tây
Thái Bình Dƣơng. Trong giai đoạn 1975 - 1978, số bệnh nhân mắc sốt xuất
huyết Dengue phải vào viện là 17.251, chết 772 ở Miến Điện, 21.818, chết
916 ở Inđônêsia, và 71.312, chết 1.676 ở Thái Lan [8,9]. ở vùng Tây Thái Bnh
Dƣơng, WHO đã nhận đƣợc báo cáo về tình hìnhsốt xuất huyết Dengue năm
1975 từ các nƣớc Malaysia, Philippine, Singapore, năm 1976 từ Việt Nam và
năm 1979 từ các nƣớc Nam Á và Thái Bình Dƣơng [2,10,17]. Năm 1978, một
vụ dịch sốt xuất huyết Dengue lớn xảy ra ở miền Nam Trung Quốc do vi rút
DEN-4 gây ra có 22.122 bệnh nhân (chết 14). Năm 1979 - 1980, dịch xảy ra ở
Nam Thái Bình Dƣơng và Niu-Ghi-nê (dân số 3.000 ngƣời) với 616 bệnh
nhân, chết 4. Năm 1982, Malaysia thông báo dịch sốt xuất huyết Dengue do
vi rút DEN-1, 2 và 3 gây ra với 3.005 bệnh nhân, chết 53. Dịch xảy ra ở đảo
Sôlômôn năm 1982 do vi rút DEN-3, ở Bắc Queensland (Úc) năm 1981 1982 do vi rút DEN-1, 2 và 3 với tổng số 455 bệnh nhân. Kể từ đó sốt xuất
huyết Dengue ngày càng trở nên trầm trọng ở hầu hết các nƣớc Đông Nam



9

Châu á và Tây Thái Bình Dƣơng. Theo thống kê chƣa đầy đủ của WHO, ở
một số nƣớc Đông Nam Châu Á và Tây Thái Bình Dƣơng từ 1960 đến 1993
số mắc đã lên tới 2.900.595, trong đó có 39.143 ngƣời chết. Kết quả của
nghiên cứu của Chadee (2013), xác định tập tính của Ae. aegypti ở St
Augustine, Trinidad, thấy đa số muỗi cái thu thập từ phòng ngủ (81,9%),
phòng sinh hoạt (8,7%) và bếp (6,9%) và hầu hết muỗi đƣợc thu thập từ bề
mặt tƣờng tối gần sàn chứ không phải trên bề mặt phía trên cao của bức
tƣờng. Những kết quả này tƣơng tự nhƣ quan sát thấy của một số tác giả ở
Cộng hòa Dominica năm 1990, Puerto Rico năm 1994, Panama năm 2000,
Costa Rica năm 2003 [6,7,22].
1.2.3. Tình hình sốt xuất huyết Dengue tại Việt Nam.
Tại Việt Nam, dịch sốt xuất huyết Dengue đầu tiên xảy ra ở miền Bắc
vào năm 1958 đƣợc Chu Văn Tƣờng và Mihow thông báo vào năm 1959, ở
miền Nam vào năm 1960 với 60 bệnh nhân nhi tử vong. Từ đó bệnh trở thành
dịch lƣu hành địa phƣơng ở vùng châu thổ sông Hồng, sông Cửu Long và dọc
theo bờ biển miền Trung. Bệnh không chỉ xuất hiện ở đô thị mà cả ở vùng
nông thôn, nơi có muỗi truyền bệnh sốt xuất huyết Dengue. [37]
Trong những năm gần đây tỉ lệ mắc bệnh cao nhất đƣợc ghi nhận tại
các tỉnh đồng bằng Sông Cửu Long và các tỉnh ven biển miền Trung.Tuy
nhiên, những số liệu mới đây đã chỉ ra rằng bệnh đã phát triển đến vùng cao
nguyên Trung bộ, nơi đang phát triển đô thị mới với điều kiện cung cấp nƣớc
sinh hoạt và vệ sinh môi trƣờng kém. Tại các tỉnh đồng bằng Sông Hồng, sự
lan truyền bệnh bị hạn chế trong những tháng đông xuân do nhiệt độ môi
trƣờng thấp không thích hợp cho sự phát triển và sinh sản của muỗi truyền
bệnh. Ở những vùng núi xa xôi hẻo lánh cao nguyên biên giới phía Bắc không
thấy bệnh xuất hiện, kể cả những năm có dịch lớn. [43]

Trƣớc năm 1990, bệnh sốt xuất huyết Dengue mang tính chất chu kỳ
tƣơng đối rõ nét, với khoảng cách trung bình 3 - 4 năm. Sau năm 1990, bệnh


10

xảy ra liên tục với cƣờng độ và qui mô ngày một gia tăng. Vụ dịch lớn gần
đây nhất xảy ra vào năm 1998 ở 56/61 tỉnh thành phố với số mắc 234.920
trƣờng hợp và 377 trƣờng hợp tử vong, tỷ lệ mắc là 306,3 trƣờng hợp/100.000
dân, tỷ lệ chết/mắc là 0,19%. Giai đoạn từ năm 1999 - 2003, số mắc trung
bình hàng năm đã giảm đi chỉ còn 36.826 trƣờng hợp và số tử vong là 66
trƣờng hợp. Tuy nhiên trong vòng 3 từ 2004 - 2006 số mắc và số tử vong vì
sốt xuất huyết Dengue có xu hƣớng gia tăng. Năm 2006 cả nƣớc đã ghi nhận
77.818 trƣờng hợp mắc sốt xuất huyết Dengue, trong đó 68 ca tử vong, tỷ lệ
mắc 88,6 trƣờng hợp/100.000 dân và tỷ lệ chết/mắc là 0,09%, những năm
2007 đến 2009 mặc dù đã có nhiều biện pháp phòng chống dịch nhƣng số
mắc vẫn tiếp tục tăng, năm 2007 số mắc sốt xuất huyết Dengue là 122,61
trƣờng hợp/100.000 dân, năm 2008 số mắc 106,27 và năm 2009 là 117,55
trƣờng hợp/100.000 dân, tuy nhiên tỷ lệ chết/mắc không tăng [33,34,44].
Bệnh sốt xuất huyết Dengue ở Việt Nam phát triển theo mùa và cũng
có sự khác biệt giữa miền Bắc và miền Nam. Ở miền Bắc thuộc vùng khí hậu
á nhiệt đới, bệnh thƣờng xảy ra từ tháng 4 đến tháng 11, những tháng khác
bệnh ít xảy ra vì thời tiết lạnh, ít mƣa, không thích hợp cho sự sinh sản và
hoạt động của Ae.aegypti. Bệnh phát triển nhiều hơn từ tháng 6 đến tháng 10
và đỉnh cao vào tháng 7,8,9 và 10. Ở miền Nam và nam Trung bộ bệnh sốt
xuất huyết Dengue xuất hiện trong suốt năm với tần số mắc nhiều hơn vào
tháng 4 đến tháng 11, đỉnh cao cũng vào những tháng 7, 8, 9 và 10 [43,46,47].
Qua các số liệu thống kê cho thấy, tuổi mắc bệnh có sự khác biệt giữa
các miền.Ở miền Bắc Việt Nam, nơi có bệnh lƣu hành thấp thì tất cả các lứa
tuổi đều có thể bị mắc bệnh.Nhƣng ở miền Nam, bệnh lƣu hành cao, lứa tuổi

mắc bệnh phần lớn là trẻ em. Năm 2006 trẻ em < 15 tuổi mắc bệnh ở miền
Bắc chiếm 21,8%, miền Trung 47,9% và miền Nam 64,3%, Tây Nguyên
15,9% [40,42].
Ở các tỉnh miền Bắc, virus DEN-1 có chu kỳ hoạt động từ 1989 đến


11

1996; DEN-2 hoạt động từ 1987-1997; DEN-3 bắt đầu hoạt động từ 1995 và
còn hoạt động trong thời gian tới. Virus DEN-4 xuất hiện rải rác các năm
1987, 1990, 1991, 1992, 1998. Vụ dịch ở Hà Nội năm 1991 có cả 4 loại virus,
năm 1998 chỉ có DEN-1, DEN-2 và DEN-3. Xét nghiệm MAC - ELISA trong
năm 1998 ở miền Bắc có 30036 trƣờng hợp mắc sốt xuất huyết Dengue (lâm
sàng), xét nghiệm 1142 trƣờng hợp (tỷ lệ 3,80%; dƣơng tính 525 trƣờng hợp
45,59%) [35,38].
Ở các tỉnh phía Nam, năm 1998 là năm có dịch lớn với 445 trƣờng hợp
mắc/100 000 dân và 1,27 trƣờng hợp chết/100 000 dân, chủng virus DEN-3
chiếm ƣu thế. Ngƣợc lại, năm 1999 số trƣờng hợp mắc và chết thấp (80,7
trƣờng hợp/100000 dân và 0,23 trƣờng hợp chết/100000 dân), tuýp DEN-4
mới xuất hiện và tăng dần [36].
Năm 2012 cả nƣớc ghi nhận 87.202 trƣờng hợp mắc, 79 trƣờng hợp tử
vong [39], năm 2013 tuy có giảm hơn nhƣng cũng ghi nhận 66.138 trƣờng
hợp mắc và 42 trƣờng hợp tử vong. Hàng năm số ca mắc tăng dần từ tháng 5
có đỉnh vào các tháng tháng 7,8,9,10 và giảm thấp nhất vào các tháng 1,2,3.
Theo thống kê của TTYTDP Hà Nội năm 2017, số ca mắc của Hà Nội
là 37.745 cao hơn rất nhiều lần so với cùng kỳ năm 2016. Tại 6 quận huyện
có số bệnh nhân cao nhất tập trung ở 5 quận (Hoàng Mai – 5.136; Đống Đa –
4.946; Hai Bà Trƣng – 3.110; Thanh Xuân – 2.865; Hà Đông – 2.766) và 1
huyện (Thanh Trì – 2.549). Năm 2018, số ca bệnh sốt xuất huyết Dengue
đƣợc báo cáo là 4.430; số lƣợng này đã giảm rất nhiều so với năm 2017 tuy

nhiên có nguy cơ tăng trở lại vào những năm sau đó.
1.3. Tình hình nghiên cứu về sử dụng cá diệt bọ gậy
1.3.1. Những nghiên cứu trên thế giới về kiểm soát bọ gậy bằng thiên địch
Kiểm soát sinh học bao gồm việc sử dụng các thiên địch, ký sinh trùng và
mầm bệnh [12].Biện pháp sinh học nhằm mục đích kiểm soát véc-tơ đến một
mức độ chấp nhận đƣợc và đồng thời để tránh tác dụng phụ đến hệ sinh thái.


12

Việc sử dụng các loài thiên địch vào việc kiểm soát muỗi lần đầu tiên
đƣợc ghi nhận trong thế kỷ XIX [24]. Tuy nhiên, sự phát triển hàng loạt các
biện pháp sinh học vào trong kiểm soát sinh học mà không có những nghiên
cứu và tìm hiểu kĩ lƣỡng có thể mang lại hiệu quả không cao hoặc có thể
mang lại ảnh hƣởng xấu đến sinh thái khi không thể kiểm soát đƣợc chính
loài thiên địch là loài xâm lấn gây hại cho hệ sinh thái bản địa.
Từ những nghiên cứu khởi đầu đó, việc sử dụng các loài thiên địch nhƣ
một số loài thân mềm, giun dẹp, động vật giáp xác ăn thịt vào việc kiểm soát
sinh học lại mang đến nhiều vấn đề khác về đa dạng sinh học. Qua những
nghiên cứu và thử nghiệm đó, việc sử dụng một số loài cá trong việc kiểm
soát véc-tơ đã đƣợc nghiên cứu. Trong đó nhiều quốc gia đã đƣa loài Cá ăn
muỗi Gambusia affinis vào việc kiểm soát bọ gậy kể từ đầu những năm 1900,
các quốc gia hƣởng ứng phƣơng pháp này chủ yếu là các nƣớc có loài Cá ăn
muỗi là cá bản địa (Legner 1995).
Loài G. affinis còn đƣợc gọi là Cá ăn muỗi (mosquitofish hay gambezi)
thuộc họ Cá khổng tƣớc - Poeciliidae (bộ Cá Sóc – Cyprinodontiformes) có
nguồn gốc từ Bắc và Trung Mỹ đã đƣợc nhiều nƣớc trên thế giới sử dụng vào
việc kiểm soát véc tơ.

Hình 1.1. Cá ăn muỗi Gambusia affinis



13

Cá ăn muỗi G. affinis là loài ăn động vật tạp; chúng ăn phù du, ấu trùng
côn trùng và đôi khi ăn cả mùn bã. Cá ăn muỗi G. affinis là có kích thƣớc nhỏ
và sông ở các thủy vực nƣớc ngọt. Bọ gậy chỉ chiếm một phần nhỏ trong chế
độ ăn của loài cá này [26]. Tại Mĩ, cá ăn muỗi G. affinis đƣợc coi là một loài
cá bản địa và một số địa phƣơng đã phát cho ngƣời dân trong việc diệt bọ gậy
tại các gia đình có các dụng cụ chứa nƣớc nhân tạo [32, 33].
Tại Châu Âu và một số nƣớc khác khuyến cáo ngƣời dân chỉ nên sử
dụng các loại cá bản địa trong việc kiểm soát véc-tơ, do tính ăn tạp của G.
affinis nên việc trở thành ngoại lai xâm lấn hoặc thích nghi sinh thái không
phù hợp sẽ làm ảnh hƣởng đến đa dạng sinh học và không mang lại hiệu quả
cao trong việc kiểm soát véc-tơ tại các nƣớc đó.
Theo PGS. TS. Nguyễn Hữu Dực, những năm gần đây ở Việt Nam
cũng đã phát hiện loài Cá ăn muỗi G. affinis. Về đặc điểm hình thái nó khá
giống với hai loài Cá sóc Orysias latipes và Orysias sinensis (loài bản địa ở
Việt Nam) thuộc họ Cá sóc – Adrianichthyidae (bộ Cá Nhói – Beloniformes).
Những loài cá đƣợc tiến hành làm thử nghiệm (Cá bảy màu, Cá kiếm,
Cá chọi, Cá cờ) trong đề tài này đƣợc các nhà khoa học trên thế giới quan tâm
tìm hiểu về các đặc điểm phân loại học và sinh thái học.Chƣa có nhiều tài liệu
về các hoạt động nghiên cứu kiểm soát véc-tơ bằng việc sử dụng các loài cá
này.Những loài cá trong nghiên cứu này chủ yếu đƣợc biết đến qua giá trị cao
về mặt thẩm mỹ, giải trí đƣợc quan tâm nhân giống và lai tại ra nhiều giống
mới có màu sắc đa dạng.
Những nghiên cứu cụ thể về khả năng diệt bọ gậy của các loài cá tiến
hành thử nghiệm chƣa có nhiều mà chủ yếu các nghiên cứu có nhắc đến các
nguồn thức ăn của các loài cá này. Tất cả các loài cá trong nghiên cứu lần này
đều là những loài ăn thịt và ăn tạp. Thức ăn chủ yếu của chúng là các nhóm

động vật thân mềm, phù du, giáp xác (trong đó có cả ấu trùng côn trùng) nên
việc sử dụng các loài cá này là hoàn toàn có cơ sở khoa học.


14

1.3.2. Tình hình nghiên cứu tại Việt Nam
Sốt xuất huyết Dengue là bệnh có tốc độ lây lan nhanh chóng. Theo
thống kê của Bộ Y tế, trung bình hàng năm có đến hơn 10.000 ngƣời mắc
bệnh sốt xuất huyết Dengue ở Việt Nam, với chi phí điều trị khoảng
1.000.000đ – 5.000.000đ/ca, gây tốn kém không nhỏ cho xã hội. Tuy nhiên,
với các biện pháp phòng bệnh hiệu quả, các nhà khoa học Việt Nam đã và
đang ứng dụng vào cộng đồng để giảm thiểu tối đa nguy cơ gây bệnh sốt xuất
huyết Dengue cho ngƣời dân.
Tại Việt Nam, hàng năm có rất nhiều chiến dịch phòng chống sốt xuất
huyết Dengue bằng nhiều biện pháp khác nhau.Trong đó, biện pháp hiệu quả
và ít ảnh hƣởng đến đời sống ngƣời dân và môi trƣờng là sử dụng các thiên
địch để diệt bọ gậy.Các hoạt động thả cá và phát cá cho ngƣời dân ở các địa
phƣơng thƣờng xuyên diễn ra trong các chiến dịch phòng chống sốt xuất
huyết Dengue và vệ sinh môi trƣờng tại các điểm có chỉ số dụng cụ chứa
nƣớc có BG cao.Các loài cá sử dụng là những loài cá đƣợc tri thức ngƣời dân
ghi nhận và sử dụng nhiều.Các nghiên cứu trƣớc đây ở Việt Nam về các loài
cá đƣợc tiến hành trong đề tài chủ yếu tập trung vào việc khai thác nguồn lợi
kinh tế (làm sinh vật cảnh và làm thực phẩm). Những đánh giá về khả năng ăn
bọ gậy của các loài cá đƣợc sử dụng trong nghiên cứu này chủ yếu về mặt
cảm tính (cá to ăn nhiều, cá nhỏ ăn ít).
Năm 2014, các nhà khoa học tại trƣờng Cao đẳng Y tế Cần Thơ đã phối
hợp với ngƣời dân trong địa bản tỉnh Cần Thơ thực hiện thả Cá bảy màu trong
các thùng chứa nƣớc và đậy tấm nilon trên các bể chứa. Kết quả trong năm
2013 có 11 ca sốt xuất huyết Dengue nhƣng năm 2014 chỉ còn 3 ca. Cũng

trong năm 2014, Trung tâm Y tế dự phòng tỉnh Quảng Bình đã tiến hành thực
hiện đề tài nghiên cứu về “Điều tra thực trạng bệnh sốt xuất huyết Dengue tại
Quảng Bình và đề xuất các giải pháp phòng chống”. Đề tài đã đề xuất sử dụng


15

một số biện pháp sinh học sinh thái vào trong kiểm soát véc-tơ nhờ thiên địch
nhƣ: Sử dụng cá để thả vào dụng cụ chứa nƣớc tại cộng đồng, bên cạnh đó đề
tài còn nghiên cứu về đặc điểm sinh học sinh thái của một loài động vật giáp
xác Mesocyclops sp. để tiêu diệt bọ gậy trong các dụng cụ chứa nƣớc và đã
đạt đƣợc những hiệu quả nhất định.
Tại Hà Nội, Trung tâm Y tế dự phòng (nay là Trung tâm Kiểm soát
bệnh tật thành phố Hà Nội) những năm trƣớc đây cũng đã có những thử
nghiệm bƣớc đầu về khả năng ăn của một số loại cá cảnh (Cá vàng, Cá chọi).
Nhƣng chƣa đầy đủ thông tin và cần bổ sung thêm số liệu và dẫn liệu cụ thể
để áp dụng rộng rãi vào các chiến dịch diệt bọ gậy ở khu vực Hà Nội. Với
tính đặc thù riêng và là khu vực đa dạng về sinh cảnh nên việc thực hiện đề tài
này là hoàn toàn hợp lý và có ý nghĩa thực tiễn trong việc kiểm soát dịch bệnh
do muỗi lây truyền tại Hà Nội.
1.3.3. Một số đặc điểm sinh học sinh thái của các loài cá tiến hành thử
nghiệm
Cá bảy màu - Poecilia reticulateW. Peters, 1859
Cá bảy màu - Poecilia reticulata là một trong những loại cá cảnh nƣớc
ngọt phổ biến nhất thế giới [13].Cá bảy màu thuộc họ Cá khổng tƣớc –
Poeciliidae (bộ Cá chép răng – Cyprinodontiformes). Cá cái dài 4 – 6 cm, cá
đực dài 2,5 – 3,5 cm. Cá bảy màu có nguồn gốc từ Châu Mĩ và là dạng cá đẻ
trứng thai [14]. Cá bảy màu đã đƣợc đƣa vào nhiều quốc gia khác nhau tại
mọi châu lục, ngoại trừ châu Nam Cực do các ý kiến trái chiều với việc kiểm
soát BG thì Cá bảy màu sẽ trở thành loài xâm hại có ảnh hƣởng tiêu cực tới

quần xã cá bản địa [28].
Cá bảy màu đã đƣợc đƣa vào Việt Nam từ những năm 1970 để thả vào
các ao, hồ, bể nƣớc, chum, vại,... nhằm tiêu diệt bọ gậy trong chƣơng trình
diệt trừ sốt rét và các bệnh truyền nhiễm khác. Tại Việt Nam, Cá bảy màu còn
có nhiều tên gọi khác nhau nhƣ: cá mây chiều, cá công,...


16

A

B

Hình 1.2. Cá bảy màu Poecilia reticulate
A. Cá cái B. Cá đực
Cá bảy màu (Poecilia reticulata) là giống cá dễ nuôi, sinh sản nhiều và
nhanh [15], đa dạng và phong phú nhất về màu sắc trong số các loài cá cảnh
tại Việt Nam. Thời gian mang thai của loài này trong khoảng 22 – 30 ngày.
Nhiệt độ thích hợp để Cá bảy màu sinh sản khoảng 280C. Cá bảy màu cái có
thể đẻ đến 200 cá con trong 1 lần mang thai, thông thƣờng trong khoảng 5 30 con. Cá con vừa sinh đã có đầy đủ khả năng bơi, ăn, và tránh nguy hiểm.
Chỉ vài giờ sau khi sinh đẻ xong, cá cái lại sẵn sàng cho việc thụ thai. Cá bảy
màu có khả năng lƣu trữ tinh trùng, nên sau chỉ một lần cặp đôi với cá đực, cá
cái có thể sinh nhiều lần. Nếu không nuôi riêng hoặc không có lƣới ngăn, cá
trƣởng thành sẽ ăn cá con. Cá con cần khoảng một hoặc hai tháng để trƣởng
thành [23].
Ngoài việc nhân nuôi làm cảnh thì Cá bảy màu đƣợc biết là loài cá ăn
thịt [3]. Thức ăn của chúng bao gồm các loài động vật thân mềm và giáp xác,
trong đó có cả bọ gậy. Chính vì vậy chúng còn đƣợc áp dụng rộng rãi trong tri
thức ngƣời dân với việc kiểm soát bọ gậy tại các dụng cụ chứa nƣớc trong hộ
gia đình.

Cá đuôi kiếm - Xiphophorus helleriHeckel, 1848
Cá đuôi kiếm Xiphophorus helleri thuộc họ Cá khổng tƣớc –
Poeciliidae (bộ Cá chép răng – Cyprinodontiformes). Cá đuôi kiếm hay còn
đƣợc gọi là Cá kiếm, đuôi kiếm, hồng kiếm.


Xem Thêm

×