Tải bản đầy đủ

ĐA DẠNG THÀNH PHẦN LOÀI VÀ MỐI QUAN HỆ DI TRUYỀN GIỮA CÁC LOÀI RẾT THUỘC GIỐNG OTOSTIGMUS PORAT, 1876 (CHILOPODA: SCOLOPENDROMORPHA: SCOLOPENDRIDAE) Ở VIỆT NAM

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC VÀ
CÔNG NGHỆ VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
-----------------------------

Vũ Thị Hà

ĐA DẠNG THÀNH PHẦN LOÀI VÀ MỐI QUAN HỆ DI TRUYỀN
GIỮA CÁC LOÀI RẾT THUỘC GIỐNG OTOSTIGMUS PORAT,
1876 (CHILOPODA: SCOLOPENDROMORPHA:
SCOLOPENDRIDAE) Ở VIỆT NAM

Chuyên ngành: Động vật học
Mã số: 8 42 01 03

LUẬN VĂN THẠC SĨ SINH HỌC

NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS. Nguyễn Đức Anh


HÀ NỘI - 2019


LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam kết toàn bộ số liệu trong nội dung luận văn đƣợc thực hiện bởi
tôi và TS. Nguyễn Đức Anh phụ trách.
Nội dung luận văn đƣợc hỗ trợ một phần từ đề tài khoa học và công nghệ
thuộc các hƣớng ƣu tiên của Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam
(VAST) tài trợ: “Đánh giá đa dạng sinh học động vật nhiều chân (Myriapoda) ở hệ
sinh thái núi đá vôi khu vực Đông Bắc Việt Nam phục vụ công tác bảo tồn” − mã số
VAST04.10/19-20 do TS. Nguyễn Đức Anh chủ trì.
Học viên

Vũ Thị Hà


LỜI CẢM ƠN
Trước tiên, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến TS. Nguyễn Đức Anh,
những người đã tận tình giúp đỡ và chỉ dẫn tôi trong suốt thời gian học tập, nghiên
cứu khoa học và hoàn thiện luận văn này.
Tôi xin trân trọng cảm ơn các thầy, cô giáo tại Học viện Khoa học và Công
nghệ Việt Nam, Viện Sinh thái và Tài nguyên Sinh vật đã giảng dạy, hướng dẫn tôi
trong quá trình học tập tại đây.
Trong thời gian thu tập mẫu vật và thực hiện nghiên cứu ở trong nước, tôi đã
được sự tạo điều kiện giúp đỡ của các cơ quan và hợp tác của các đồng nghiệp tại
Viện Sinh thái và Tài nguyên Sinh vật, Ban quản lý các Khu bảo tồn Thiên nhiên.
Nhân dịp này, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn đặc biệt với những sự giúp đỡ quý báu ấy.
Tôi xin trân trọng cảm ơn sự hỗ trợ kinh phí của Quỹ Môi trường Thiên
nhiên Nagao đã hỗ trợ tôi kinh phí để thực hiện đề tài này.
Tôi xin trân trọng cảm ơn sự hỗ trợ kinh phí của đề tài khoa học và công
nghệ thuộc các hướng ưu tiên của Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam
(VAST) tài trợ: “Đánh giá đa dạng sinh học động vật nhiều chân (Myriapoda) ở hệ
sinh thái núi đá vôi khu vực Đông Bắc Việt Nam phục vụ công tác bảo tồn” − mã
số VAST04.10/19-20 do TS. Nguyễn Đức Anh chủ trì.
Cuối cùng, tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới toàn thể gia đình, bạn bè, đồng
nghiệp đã ủng hộ và động viên tôi trong suốt quá trình học tập, làm việc và nghiên cứu.
Học viên

Vũ Thị Hà





DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
STT

Kí hiệu

Tiếng Anh

Tiếng Việt

1

VL

Ventro-lateral

Bên bụng.

2

VM

Ventro-medial

Giữa bụng

4

M

Medial

Ở giữa

5

DM

Dorso-media

Giữa lƣng

6

Cs

Corner spine

Gai ở góc

7

T

Tergite

Tấm lƣng


DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1.

Các địa điểm nghiên cứu ............................................................ 13

Bảng 3.1.

Thành phần loài rết thuộc giống Otostigmus ở Việt Nam .......... 17

Bảng 3.2.

Số lƣợng gai ở các đôi chân bò của loài O. aculeatus ................ 20

Bảng 3.3.

Số lƣợng gai ở đôi chân bò của loài O. amballae....................... 22

Bảng 3.4.

So sánh nhóm loài O. amballae lớn và nhỏ ................................ 23

Bảng 3.4.

Số lƣợng gai ở các đôi chân bò của loài O. astenus ................... 25

Bảng 3.5.

So sánh đặc điểm sai khác các mẫu vật O. astenus ở các khu
vực khác nhau ............................................................................. 26

Bảng 3.6.

Số lƣợng gai ở các đôi chân bò của loài O. metallicus............... 28

Bảng 3.7.

So sánh mẫu vật O. metallicus với O. multidens multidens và
O. politus politus ......................................................................... 28

Bảng 3.8.

Số lƣợng gai ở các đôi chân bò của loài O. m. multidens........... 31

Bảng 3.9.

Số lƣợng gai ở các đôi chân bò của loài Otostigmus politus politus ... 33

Bảng 3.10. Số lƣợng gai ở các đôi chân bò của loài O. scaber .................... 36
Bảng 3.11. Số lƣợng gai ở các đôi chân bò của O. spinosus ........................ 37
Bảng 3.12. Số lƣợng gai ở các đôi chân bò của loài O. voprosus ................. 39
Bảng 3.13. Số lƣợng gai các đôi chân bò ở loài Otostigmus sp.1 ................. 40
Bảng 3.14. Số lƣợng gai ở các đôi chân bò của Otostigmus sp.3 ................. 43
Bảng 3.15. Mã số mẫu tách chiết DNA ........................................................ 46


DANH MỤC HÌNH
Hình 1.1. Hệ thống phân loại học của rết ....................................................... 4
Hình 1.2. Bộ Rết lớn Scolopendromorpha ..................................................... 7
Hình 2.1. Bản đồ các khu vực có mẫu vật .................................................... 12
Hình 3.1. Quan hệ phát sinh giữa các loài Otostigmus theo phân tích
Maximum Likelihood. .................................................................. 49
Hình 3.2. Quan hệ phát sinh giữa các loài Otostigmus theo phân tích
Bayesian Inference ........................................................................ 51



1

MỤC LỤC
MỞ ĐẦU .......................................................................................................... 1
1. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI ................................................................ 1
2. MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU.......................................................................... 2
3. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU ......................................................................... 3
4. NHỮNG ĐÓNG GÓP CỦA ĐỀ TÀI ........................................................... 3
5. Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI ........................... 3
CHƢƠNG 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU ........................................................ 4
1.1. TỔNG QUAN VỀ RẾT ............................................................................. 4
1.2. ĐẶC ĐIỂM KHU HỆ RẾT VIỆT NAM ................................................... 8
1.3. LƢỢC SỬ NGHİÊN CỨU VỀ CÁC LOÀİ THUỘC GİỐNG
OTOSTİGMUS Ở VİỆT NAM....................................................................... 10
CHƢƠNG 2. ĐỐI TƢỢNG, ĐỊA ĐIỂM, THỜI GIAN VÀ PHƢƠNG
PHÁP NGHIÊN CỨU ................................................................................... 12
2.1. ĐỐI TƢỢNG, THỜI GIAN, ĐỊA ĐIỂM NGHIÊN CỨU. ..................... 12
2.2. PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU............................................................ 13
2.2.1. Phƣơng pháp kế thừa tài liệu. ........................................................... 13
2.2.2. Phƣơng pháp thu mẫu ....................................................................... 13
2.2.3. Phƣơng pháp phòng thí nghiệm ........................................................ 14
CHƢƠNG 3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU .................................................... 17
3.1. ĐA DẠNG THÀNH PHẦN LOÀI CỦA GIỐNG OTOSTIGMUS Ở
VIỆT NAM ..................................................................................................... 17
3.2. ĐẶC ĐIỂM HÌNH THÁI CỦA CÁC LOÀI TRONG GIỐNG
OTOSTIGMUS Ở VIỆT NAM ........................................................................ 18
3.2.1. Otostigmus aculeatus Haasen, 1887 ................................................. 18
3.2.2. Otostigmus amballae Chamberlin, 1913........................................... 20
3.2.3. Otostigmus astenus (Kohlrausch, 1878) ........................................... 24
3.2.4. Otostigmus metallicus (Haase, 1887) ............................................... 27


2

3.2.5. Otostigmus multidens Haase, 1887 ................................................... 29
3.2.6. Otostigmus politus politus Karsch, 1881. ......................................... 31
3.2.7. Otostigmus resevatus Schileyko, 1995 ............................................. 33
3.2.8. Otostigmus scaber Porat, 1876 ......................................................... 34
3.2.9. Otostigmus spinosus Porat, 1876 ...................................................... 37
3.2.10. Otostigmus voprosus Schileyko, 1992 ............................................ 38
3.2.11. Otostigmus sp.1 ............................................................................... 39
3.2.12. Otostigmus sp.2 ............................................................................... 41
3.2.13. Otostigmus sp.3 ............................................................................... 42
3.3. KHÓA ĐỊNH LOẠI CÁC LOÀI TRONG GIỐNG OTOSTIGMUS Ở
VIỆT NAM ..................................................................................................... 43
3.4. MỐI QUAN HỆ DI TRUYỀN VÀ SỰ PHÁT SINH CHỦNG LOẠI
GIỮA CÁC LOÀI TRONG GIỐNG OTOSTIGMUS Ở VIỆT NAM........... 45
3.4.1. Khoảng cách di truyền. ..................................................................... 45
3.4.2. Quan hệ phát sinh theo phân tích Maximum Likelihood. ................ 48
3.4.3. Quan hệ phát sinh theo phân tích Bayesian Inference. ..................... 50
CHƢƠNG 4. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ ............................................... 52
4.1. KẾT LUẬN .............................................................................................. 52
4.2. KIẾN NGHỊ .............................................................................................. 52
TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................ Error! Bookmark not defined.
PHỤ LỤC


1

MỞ ĐẦU
1. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Rết là nhóm động vật đất quen thuộc với con ngƣời. Chúng thƣờng
đƣợc tìm thấy ở môi trƣờng ẩm và tối nhƣ dƣới lớp mùn, dƣới lá khô, thân
cây chết, dƣới đá và ngay cả dƣới đất [1]. Rết còn có thể đƣợc tìm thấy trong
tầng hầm, nhà kho, nhà tắm hoặc bất cứ nơi nào có côn trùng. Đa số rết là
động vật ăn thịt đóng vai trò quan trọng trong hệ sinh thái, một số ít ăn thực
vật [2]. Rết có vai trò quan trọng trong việc phân giải các chất hữu cơ, đảm
bảo cho việc cân bằng hệ sinh thái. Chúng là một mắt xích quan trọng trong
chuỗi và lƣới thức ăn của tự nhiên, và đóng góp vào sự đa dạng sinh học của
tự nhiên. Rết có tập tính hoại sinh ăn những loài côn trùng, vì vậy, chúng có
vai trò tiêu diệt những côn trùng trong nhà nhƣ ruồi, gián.... Ngoài vai trò tự
nhiên, rết còn đƣợc sử dụng làm dƣợc liệu trong đông y. Trƣớc đây, các thầy
thuốc đông y đã biết dùng rết để chữa một số bệnh cho trẻ em nhƣ ho, co giật,
tiêu chảy [3]. Tuy nhiên, công dụng làm thuốc của rết vẫn chƣa đƣợc nghiên
cứu nhiều.
Năm 2013, Việt Nam ghi nhận đƣợc 71 loài rết, 26 giống, 13 họ, 4 bộ.
Trong số 26 giống ghi nhận đƣợc, có 17 giống chỉ có một loài; ba giống
Ethmostigmus, Scolopocryptops, Tygarrup gặp 2 loài ở mỗi giống; giống
Lithobius và Otostigmus ghi nhận đƣợc số loài nhiều nhất với 12 và 11 loài
tƣơng ứng [4]. Trong 4 bộ rết gặp ở Việt Nam, bộ Scolopendromorpha gặp 34
loài, chiếm gần 50% số loài đã gặp [4]. Năm 2004, Lewis đã xem lại mẫu vật
mô tả Otostigmus armatus trong bài báo của Attem năm 1953 ở Indo-China
và nhận thấy rằng 2/3 mẫu vật là Otostigmus multidens, 1/3 mẫu vật là
Otostigmus scaber[5]. Năm 2014, Lewis xem lại mẫu vật Otostigmus loriae
loriae và ghi nhận đây là con non của Otostigmus multidens [6]. Nhƣ vậy,
tính đến 2014, Việt nam ghi nhận đƣợc 69 loài rết, thuộc 26 giống,13 họ, 4
bộ.
Năm 2018, Lê Xuân Sơn, Vũ Thị Hà đã ghi nhận thêm 1 loài mới cho
Việt Nam là Otostigmus striloatus [7]. Năm 2019 Trần Thị Thanh Bình và cs.


2

ghi nhận cho khoa học 1 loài mới thuộc giống mới đó là Vinaphilus unicus
[8]. Tổng kết lại, tính đến 2019, Việt Nam ghi nhận 71 loài rết, thuộc 27
giống, 13 họ, 4 bộ.
Các nghiên cứu khu hệ rết ở Việt Nam trƣớc đây chủ yếu từ các tác giả
nƣớc ngoài [9, 10, 11, 12, 13, 14]. Các công trình nghiên cứu về rết của các
tác giả Việt Nam tuy có nhƣng còn tản mạn, chƣa tập trung. Lê Xuân Huệ
(1999) có bài báo về rết rừng ở Việt Nam, và chủ yếu nói về công dụng của
loài rết trong các bài thuốc dân gian [3].
Việt Nam có tổng diện tích đất liền là 329.241 km2, trong đó 75% diện
tích là đồi núi. Về khí hậu, Việt Nam có cả khí hậu nhiệt đới gió mùa và khí
hậu á nhiệt đới và ôn đới núi cao. Sự đa dạng về địa hình, kiểu đất, cảnh quan
và khí hậu đã tạo nên tính đa dạng sinh học vô cùng phong phú và đặc sắc của
Việt Nam, thể hiện ở đa dạng các hệ sinh thái, loài và nguồn gen. Đa dạng
loài bao gồm: thực vật với 13.766 loài, động vật trên cạn với 10.300 loài, vi
sinh vật với 7.500 loài, sinh vật nƣớc ngọt với 1.438 loài vi tảo; 800 loài động
vật không xƣơng sống; 1.028 loài cá nƣớc ngọt, sinh vật biển với 11.000 loài.
Đa dạng nguồn gen cây trồng, vật nuôi với 14.000 nguồn gen đƣợc bảo tồn và
lƣu giữ [15]. Với nhóm rết, các số liệu nghiên cứu còn rất hạn chế, đặc biệt
giống Otostigmus còn chƣa đƣợc quan tâm điều tra nhiều. Các loài
Otostigmus hầu nhƣ ghi nhận phân bố rải rác tại một số khu vực ở Việt Nam.
Thêm vào đó, mối quan hệ di truyền giữa các loài thuộc giống Otostigmus ở
Việt Nam cũng chƣa đƣợc làm rõ. Trong giới hạn luận văn thạc sĩ, đề tài “Đa
dạng thành phần loài và mối quan hệ di truyền giữa các loài thuộc giống
Otostigmus Porat, 1876 (Chilopoda: Scolopendromorpha: Scolopendridae) ở
Việt Nam” đề xuất đƣợc thực hiện.
2. MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
Mục tiêu chung của đề tài là tìm hiểu sự đa dạng và mối quan hệ di
truyền của các loài rết thuộc giống Otostigmus Porat, 1876 ở Việt Nam.
Các mục tiêu cụ thể:


3

- Xác định đƣợc sự đa dạng thành phần loài rết thuộc giống
Otostigmus ở Việt Nam.
- Xác định đƣợc mối quan hệ phát sinh giữa các loài rết thuộc giống
Otostigmus ở Việt Nam bằng dẫn liệu phân tử.
3. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
- Xây dựng danh sách thành phần loài của các loài Otostigmus ở Việt Nam.
- Mô tả chi tiết đặc điểm hình thái và ghi nhận phân bố của từng loài
Otostigmus ở Việt Nam.
- Tìm hiểu mối quan hệ di truyền giữa các loài Otostigmus ở Việt Nam.
4. NHỮNG ĐÓNG GÓP CỦA ĐỀ TÀI
- Cung cấp danh sách thành phần loài rết thuộc giống Otostigmus Việt Nam.
- Cung cấp đặc điểm mô tả chi tiết và phân bố của các loài thuộc giống
Otostigmus Việt Nam.
- Làm rõ đƣợc mối quan hệ di truyền giữa các loài thuộc giống
Otostigmus ở Việt Nam.
5. Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
- Kết quả nghiên cứu của đề tài này sẽ là cơ sở khoa học và dẫn liệu cho
các nghiên cứu tiếp theo về các loài rết ở Việt Nam.
- Kết quả nghiên cứu đóng góp vào việc làm rõ tính đa dạng sinh học
của rết ở Việt Nam.


4

CHƢƠNG 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1. TỔNG QUAN VỀ RẾT
Rết là động vật không xƣơng sống thuộc lớp chân môi (Chilopoda),
phân ngành nhiều chân (Myriapoda), ngành chân khớp (Athropoda). Rết đƣợc
chia ra 6 bộ, bao gồm:
- Geophilomorpha (Rết Đất)
- Scolopendromorpha (Rết Lớn)
- Lithobiomorpha (Rết Đá)
- Scutigeromorpha(Rết Nhà)
- Craterostigmomorpha
- Devonobiomorpha
Trong đó, chỉ có 5 bộ đầu tiên còn sống trên Trái đất (Hình 1.1), bộ
Devonobiomorpha đã tuyệt chủng, bộ Craterostigmomorpha chƣa phát hiện thấy
ở Việt Nam [16].

H nh 1.1. Hệ thống ph n o i học c

ết

(Nguồn: http://www.bocekler.org/2014/06/cyanlar-ev-cyanlar-ve-mucadele.html).


5

Haase (1880) chia Chilopoda thành 2 nhóm chính Anamorpha
(Scutigeridae và Lithobiidae) và Epimorpha (Geophilidae và Scolopendridae).
Việc phân chia của ông dựa vào quá trình phát triển của từng nhóm, có hoặc
không có sự biến đổi về đốt thân từ lúc bé đến lúc trƣởng thành (nhóm
Anamorpha là không có đủ số lƣợng đốt thân từ lúc sinh ra, phải qua quá trình
phát triển đến khi trƣởng thành mới đầy đủ; ngƣợc lại, nhóm Epimorpha từ
lúc sinh ra đến lúc trƣởng thành số lƣợng đốt thân không thay đổi). Nhiều tác
giả đồng ý với việc phân chia của Haase, nhƣ Attems [17]. Pocock (1895) lại
đề xuất một hệ thống khác. Nhóm Scutigeridae đƣợc đặt riêng và 3 bộ còn lại
đƣợc đặt vào một nhóm khác. Ông đặt tên cho từng nhóm lần lƣợt là
Anartiostigma và Artiostugma. Sau đó, ông đổi thành Notostigma và
Pleurostigma theo các đặc điểm nổi bật, thƣờng là vị trí của các lỗ thở.
Scutigeromorpha thực sự rất khác biệt với bộ khác. Một vài tác giả khác
không đồng ý với cách chia của Pocock, chỉ có Verhoeff chấp nhận cách phân
chia của Pocock. Attems (1928) đồng ý với cách phân chia của Haase, bởi vì
ông tin rằng việc phân chia thành Anamorpha và Epimorpha theo sự phát
triển của các đốt thân là sự phát sinh loài cổ hơn là việc phân chia Notostigma
và Pleurostigma theo các đặc điểm giải phẫu. Một hệ thống phân chia hoàn
hảo khi nó phản ánh đƣợc mối quan hệ gần gũi giữa các loài đƣợc chia vào
cùng một nhóm. Nhƣ vậy, hệ thống Chilopoda cho đến năm 1928 đƣợc chia
thành 2 lớp phụ theo quan điểm của Haasen là Anamorpha và Epiomorpha.
Theo Mineli (2011), có hơn 3.000 loài rết thuộc 5 bộ, 38 họ đã đƣợc ghi nhận
và mô tả trong tự nhiên [18].
 Một số đặc điểm hình thái của rết
Đặc điểm chung
Rết có cấu tạo cơ thể gồm nhiều đốt, bao gồm hai phần chính là phần
đầu và phần thân. Phần đầu mang râu và các bộ phận miệng, phần thân gồm
nhiều đốt, mỗi đốt mang 1 đôi chân.
* Phần đầu:


6

- Râu: Râu gồm một hàng các đốt, số lƣợng đốt râu của Geophilomorpha
cố định (14), còn các nhóm và một số loài khác không cố định. Số lƣợng đốt nhỏ
nhất (13) có thể ở một số loài thuộc bộ Lithobiomorpha, số lƣợng trung bình từ
18-100, một số Scutigeromorpha có thể lớn hơn 400. Râu là vật chuyển của bộ
phận cảm giác giúp Chilopoda nhận biết những thay đổi của môi trƣờng cũng
nhƣ giúp chúng phát hiện bạn tình, con mồi... Râu gồm lông cảm giác hay những
mảnh nhỏ. Lông cảm giác có ở tất cả các phần của râu. Nhóm Lithobiomorpha
có mảnh nhỏ ở tất cả, nhóm Geophilomorpha ở đốt cuối hay 2 đốt cuối, nhóm
Scolopendromorpha ở đốt đầu.
- Các bộ phận miệng: bao gồm một đôi hàm trên và hai đôi hàm dƣới.
Hàm trên: gồm 3 phần: đốt gốc hàm, mảnh gốc hàm và bản mỏng. Hàm
trên gắn chặt với đốt gốc hàm, có thể là 1 cấu tạo đơn giản hay có rãnh dài
chạy ngang chia thành 4 đoạn rõ nhiều hoặc ít. Phần trong có một hoặc nhiều
lá lƣợc. Thƣờng bản mỏng khía răng kết hợp với lá lƣợc. Hàm trên thƣờng
nằm ẩn sau hàm dƣới 1.
Hàm dƣới 1: là điểm nhô ra nhỏ nhất và đƣợc dấu kín của đầu, có một
mảnh gốc nhỏ. Thƣờng có hai phần: coxit, syncoxit mà mỗi bên có gắn một
đốt cũng thƣờng 2 phần: đốt chân chính. Tất cả các phần của hàm dƣới 1 có
thể có điểm nhô ra phía trên.
Hàm dƣới 2: Che phủ một phần hàm dƣới 1. Hàm dƣới hai có hình
dạng nhƣ một chân chạy hoàn chỉnh. Thƣờng chúng chia làm 3 phần.
Mắt: Tất cả các loài thuộc bộ Geophilomorpha và họ Cryptopidae trong
bộ Scolopendromorpha không có mắt. Họ Scolopendridae trong bộ
Scolopendromorpha có 4 mắt ở mỗi bên đầu. Số lƣợng mắt của bộ
Lithobiomorpha dao động từ 1 đến 40 [19]. Một số của bộ Scutigeromorpha cấu
tạo đặc biệt, mắt đơn giả có tới 200 với ống kính 6 cạnh và hoàn toàn có thể phát
hiện con mồi hay kẻ thù [20].
* Phần thân:
Rết có cấu tạo cơ thể bao gồm nhiều đốt với số lƣợng dao động từ 15


7

đến hơn 177 đốt. Trên tất cả các đốt cơ thể, mỗi đốt đều mang một đôi chân
chạy ngoại trừ 2 đốt cuối cùng là đốt sinh dục và đốt hậu môn. Đôi chân đầu
tiên bị biến đổi thành vuốt độc-còn gọi là chân hàm. Chân hàm mang nọc độc.
Các chân tiếp theo gọi là chân chạy gồm 6 đốt chân: Đốt háng, đốt chuyển, đốt
trƣớc đùi, đốt đùi, đốt ống và đốt bàn chân. Phần cuối của đốt bàn chân là gai
đốt bàn. Trong một số trƣờng hợp, đốt bàn chân thƣờng bị chia nhỏ ra làm
nhiều đốt, điển hình nhƣ ở bộ Scutigeromorpha có đốt bàn chân bị chia nhỏ
thành rất nhiều đốt. Các chân chạy mọc ra ở mặt bên của cơ thể. Đôi chân cuối
cùng có thể bị biến đổi thành cơ quan cảm giác hoặc cơ quan bắt mồi và mất đi
vai trò của một chân chạy bình thƣờng. Ở phần cuối của đốt cuối cùng có các
bộ phận bao gồm bộ phận sinh dục và hậu môn. Phần đầu của đốt cuối cùng
mang vây giao cấu còn phần cuối mang cơ quan sinh dục đực (đối với con đực)
hoặc cơ quan sinh dục cái (đối với con cái) [21].
* Bộ Rết ớn Scolopendromorpha

H nh 1.2. Bộ Rết ớn Scolopendromorpha
Bộ rết Scolopendromorpha: Đây là một bộ lớn trong lớp nhiều chân.
Cơ thể có 21 hoặc 23 đôi chân, râu có từ 17-30 đốt. Bộ này có loài S.
gigantea thuộc giống Scolopendra có chiều dài cơ thể có thể lên đến hơn
30cm, loài S. galapagoensis có chiều dài lên đến 40cm. Đây đƣợc coi là
những loài rết dài nhất thế giới. Có rất nhiều loài rết kích cỡ lớn nhiều màu
sắc và có chứa nọc độc nguy hiểm. S. heros, loài Rết lớn nhất nƣớc Mỹ có
cơ thể vƣợt quá 20cm, tuy nhiên loài này vẫn chƣa đƣợc nghiên cứu nhiều
[22, 23]. Bộ này ở Việt Nam đã gặp 34 loài [4].


8

Hiện nay, phƣơng pháp phân tử đƣợc sử dụng nhiều để hỗ trợ trong
việc định loại các loài động vật. Đoạn gen COI (cytochrom C oxidase I)
đƣợc sử dụng trong định loại các nhóm nhƣ cá, chim, côn trùng và rết. Ví
dụ, chi rết Eupolybothrusof Bắc Phi đã đƣợc nghiên cứu một cách có hệ
thống phƣơng pháp này và một loài mới, E. kahfStoev & Akkari, đã đƣợc
phát hiện. Gần đây, các phƣơng pháp tích hợp hình thái kết hợp với dữ liệu
DNA hoặc phân tích khác đã đƣợc sử dụng trong phân loại của rết. Joshi và
cộng sự. đã sử dụng dữ liệu phân tử để xác định các loài giả định, và sau đó
họ áp dụng hình thái và phân tích thích hợp sinh thái tiết lộ sự đa dạng ở
Tây Ghats của Nam Ấn Độ. Một phƣơng pháp tích hợp bao gồm phát sinh
học phân tử, hình thái học hình học và hình thái học bên ngoài đã đƣợc sử
dụng để phân định bảy loài Scolopendra trong Đông Nam Á lục địa, các
phân loài cũ của S. dawydof, S. japonica và S. dehaani đƣợc xác nhận là
đầy đủ loài [24].
1.2. TỔNG QUAN VỀ RẾT VIỆT NAM.
Tính đến nay đã có một số nghiên cứu về rết và chủ yếu là các nghiên
cứu của các tác giả nƣớc ngoài. Ngƣời có công đầu trong việc nghiên cứu và
phân loại rết tại Việt Nam phải kể đến là Attems. Sau hai đợt nghiên cứu tại
Việt Nam (1938, 1953), ông đã công bố danh sách phân loại học của bộ
Scolopendromorpha ở Việt Nam gồm 27 loài và phụ loài thuộc 9 giống (trong
đó có 5 loài mới cho khoa học) [9, 10].
Năm 1992 và 1995, Schileyko sau khi tiến hành thu 150 mẫu vật ở 17
điểm ở khắp 3 miền của Việt Nam đã công bố danh sách phân loại học của bộ
Scolopendromorpha ở Việt Nam gồm 20 loài thuộc 7 giống (trong đó có 1
giống đơn mẫu và 3 loài mới cho khoa học, ngoài ra 11 loài và 1 giống lần
đầu tiên đƣợc ghi nhận ở Việt Nam) [23, 25]. Đến năm 2007, Schileyko cũng
đã mô tả đƣợc 27 loài của 9 giống ở Việt Nam. Kết hợp với các nghiên cứu
trƣớc đó, ông công bố danh lục Scolopendromorpha của Việt Nam có 39 loài,
11 giống, 3 họ [14].
Các công trình nghiên cứu về rết của các tác giả Việt Nam tuy có


9

nhƣng còn tản mạn, chƣa tập trung. Lê Xuân Huệ (1999) có bài báo về rết
rừng ở Việt Nam, trong bài này tác giả chủ yếu nói về công dụng của một số
loài rết trong các bài thuốc[3].
Trần Thị Thanh Bình và cs. đã công bố danh lục rết ở Việt Nam trên
tạp chí Zootaxa với tổng số 71 loài thuộc 26 giống, 13 họ của 4 bộ. Trong đó
đã

ghi

nhận

4

bộ



Rết

lớn

(Scolopendromorpha),

Rết

đá

(Lithobiomorrpha), Rết đất (Geophilomorpha) và Rết nhà (Scutigeomorpha).
Trong bộ Rết lớn đã đƣợc ghi nhận các họ Cryptopidae Kohlrausch, 1881 (3
giống, 5 loài); họ Scolopendridae Pocock, 1895 (6 giống, 25 loài); họ
Scolopocryptopidae Pocock, 1896 (2 giống, 5 loài). Bộ Rết nhà chia thành 2
họ Henicopidae Pocock, 1901 (1 giống, 1 loài) và Lithobiidae Pocock, 1895
(3 giống, 15 loài). Bộ Rết đất bao gồm 7 họ: Ballophilidae Cook, 1896 (1
giống, 7 loài); họ Mecistocephalidae Bollman, 1893 (2 giống, 3 loài);
Oryidae Cook, 1896 (1 giống, 1 loài); Schendylidae Cook, 1896 (3 giống, 3
loài); Geophilidae Leach, 1815 (1 giống, 1 loài); Onibregmatidae Cook,
1896 (1 giống, 1 loài); Linotaeniidae (1 giống, 1 loài). Bộ Rết nhà duy nhất
chỉ có 1 giống và 1 loài [4].
Năm 2014, Nguyễn Đức Anh và Lê Xuân Sơn ghi nhận 25 loài, 9 họ,
11 giống, 4 bộ tại VQG Cát Bà, Hải Phòng [26]. Năm 2017, Lê Xuân Sơn và
cs. đã ghi nhận 14 loài thuộc 4 giống, 3 họ của bộ Rết lớn tại rừng phòng hộ
Thạch Nham [5]. Năm 2017, Lê Xuân Sơn và cs. đã ghi nhận 14 loài rết
thuộc 4 bộ, 3 họ cho rừng phòng hộ Thạch Nham, Kon Tum. Trong đó, ghi
nhận 7 loài thuộc bộ Rết lớn (Scolopendromorpha) [27].
Năm 2018, Trần Thị Thanh Bình và cs. ghi nhận bƣớc đầu cho khu
bảo tồn thiên nhiên Tà Xùa, Sơn La 17 loài và phân loài thuộc 2 bộ Rết lớn
(Scolopendromorpha) và Rết Chân Dài (Scutigeromorpha) [28].
Năm 2018, Lê Xuân Sơn và Vũ Thị Hà đã ghi nhận 12 loài Rết lớn
(Scolopendromorpha cho Vƣờn Quốc Gia Kon Ka Kinh và Khu bảo tồn
thiên nhiên Kon Chƣ Răng, tỉnh Gia Lai [7].


10

Cho đến thời điểm hiện tại, việc nghiên cứu về các loài rết ở Việt
Nam còn nhiều hạn chế, mới chủ yếu tập trung nghiên cứu bộ Rết lớn của
một số tác giả Việt Nam nhƣ Trần Thị Thanh Bình, Nguyễn Đức Anh, Lê
Xuân Sơn. Còn lại 3 bộ Rết Đất

(Geophilomorpha), Rết Đá

(Lithobiomorpha), Rết Chân Dài (Scutigeromorpha) vẫn chủ yếu thu thập tài
liệu của tác giả nƣớc ngoài và chƣa có bộ mẫu chuẩn.
1.3. LƢỢC SỬ NGHİÊN CỨU VỀ CÁC LOÀİ THUỘC GİỐNG
OTOSTİGMUS Ở VİỆT NAM.
Giống Otostigmus Porat, 1876 thuộc bộ Scolopendromorpha, họ
Scolopendridae. Các nghiên cứu trƣớc đây của Attems (1953), Schileyko
(1992, 1995, 2007) đã ghi nhận sự có mặt của các loài thuộc giống
Otostigmus trên hầu hết các khu vực nghiên cứu ở Việt Nam. Schileyko
(2007) cũng phát hiện thêm sự có mặt giống Otostigmus tại một số khu vực
trên thế giới nhƣ Châu Phi, Ấn Độ, Phía Nam châu Á (bao gồm phía Đông
Nam của Nga), Ôt-xtray-li-a và Newzeland. Tran et al. (2013) cho thấy sự có
mặt của giống Otostigmus tại các địa điểm Trung Quốc, Đài Loan, Hồng
Kông, Java, Lào, Thái Lan, Nepan và một số khu vực khác [4].
Giống Otostigmus có khu vực phân bố rộng trải dài từ phía Bắc đến
phía Nam Việt Nam. Tran et al. (2013) đã tổng kết giống Otostigmus đƣợc
ghi nhận gần hết các tỉnh thành của Việt Nam với một số các địa điểm hay bắt
gặp nhƣ Quảng Ninh, Hải Phòng, Hà Nội, Hòa Bình, Vĩnh Phúc, Tam Đảo,
Ninh Bình, Quảng Nam, Kon Tum, Gia Lai, Hà Tĩnh, Nghệ An [4].
Năm 2014, Lê Xuân Sơn và Nguyễn Đức Anh đã ghi nhận 10 loài thuộc
giống Otostigmus tại Vƣờn Quốc gia Cát Bà, Hải Phòng, bắt gặp với tần số lớn
tại tất cả các sinh cảnh rừng [26]. Năm 2017, Lê Xuân Sơn và cộng sự đã ghi
nhận 5 loài thuộc giống Otostigmus tại rừng phòng hộ Thạch Nham, Kon Tum
[27]. Trần Thị Thanh Bình và cs. (2018) ghi 6 loài thuộc giống Otostigmus cho
khu bảo tồn thiên nhiên Tà Xùa, Sơn La [28]. Lê Xuân Sơn và Vũ Thị Hà ghi
nhận 5 loài thuộc giống Otostigmus cho Vƣờn Quốc Gia Kon Ka Kinh và Khu
bảo tồn thiên nhiên Kon Chƣ Răng, tỉnh Gia Lai năm 2018 [7].


11

Danh sách các loài thuộc giống Otostigmus đã đƣợc ghi nhận ở Việt Nam.
1. Otostigmus aculeatus Haase, 1887 [4]
2. Otostigmus amballae Chamberlin, 1913 [4]
3. Otostigmus astenus (Kohlrausch, 1878) [4]
4. Otostigmus multidens nordicus Schileyko, 1995 [6]
5. Otostigmus multidens multidens Haase, 1887 [4]
6. Otostigmus politus politus Karsch, 1881[4]
7. Otostigmus reservatus Schileyko, 1995 [4]
8. Otostigmus scaber Porat, 1876 [4]
9. Otostigmus spinosus Porat, 1876 [4]
10. Otostigmus voprosus Schileyko, 1992 [4]
11. Otostigmus striolatus Verhoeff, 1937 [7]


12

CHƢƠNG 2. ĐỐI TƢỢNG, ĐỊA ĐIỂM, THỜI GIAN
VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. ĐỐI TƢỢNG, THỜI GIAN, ĐỊA ĐIỂM NGHIÊN CỨU
Đối tƣợng nghiên cứu là các loài thuộc giống Otostigmus ở Việt Nam.
Từ tháng 11/2017 đến tháng 5/2019.
Mẫu vật rết đƣợc thu tại các địa điểm trên phạm vi toàn Việt Nam.


13

Hình 2.1. Bản đồ các khu vực có mẫu vật.
Bảng 2.1. Các đị điểm nghiên cứu
Miền Bắc

Miền Trung và Tây
Nguyên

Miền Nam và đảo

Cao Bằng

Điện Biên

Quảng Bình

Đồng Nai

Quảng Ninh

Sơn La

Quảng Ngãi

Côn Đảo

Hải Phòng

Hòa Bình

Kon Tum

Đảo Lí Sơn

Bắc Giang

Hà Nội

Gia Lai

Vĩnh Phúc

Ninh Bình

2.2. PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU.
2.2.1. Phƣơng pháp kế thừa tài liệu.
Thu thập, kế thừa tài liệu trong và nƣớc ngoài về điều tra, phân loại rết,
bao gồm:
- Tài liệu chuyên ngành, sách chuyên khảo.
- Tài liệu lƣu trữ ở các cơ quan nghiên cứu.
- Các bài báo, luận văn, luận án, tạp chí khoa học, tập san, báo cáo
chuyên đề khoa học.
- Kế thừa bộ sƣu tập mẫu vật rết lƣu giữ tại Viện Sinh thái và Tài
nguyên Sinh vật.
2.2.2. Phƣơng pháp thu mẫu
a. Khảo sát và điều tra thực địa:
Mẫu vật đƣợc thu bổ sung tại một số Vƣờn Quốc gia, Khu Bảo tồn
thiên nhiên ở Việt Nam.


14

b. Các phương pháp thu mẫu
Phương pháp bẫy cốc:
Bẫy đƣợc làm bằng cốc nhựa 500ml. Trên mỗi điểm đại diện đƣợc lựa
chọn nghiên cứu đặt 15 bẫy, đƣợc đặt trong 7 ngày. Sử dụng chất cố định là
Formanlin 4%. Thu mẫu 7 ngày/1 lần. Bẫy đƣợc đặt trong vòng 1 tháng. Mẫu
sau thu đƣợc phân loại và bảo quản trong cồn 96%.
Phương pháp dùng rây đất:
Dùng rây đất có vòng vợt 30cm, mắt lƣới 01cm để loại bỏ các phần vật
chất bên trên (lá cây, cành cây...). Thu gom toàn bộ đất và lớp thảm mục sau
khi đào hố, cho vào rây đất. Toàn bộ động vật đất và những viên đất nhỏ hơn
1cm sẽ lọt xuống dƣới túi vải đã đƣợc buộc trƣớc. Phần lá cây mục, viên đất
to hơn 1cm sẽ nằm bên trên. Phần này sẽ loại bỏ. Phần đất trong túi vải sẽ
đƣợc đổ ra trên lớp nền trắng và thu nhặt toàn bộ động vật đất.
Thu mẫu bằng tay: Trên các tuyến đi, tìm mẫu dƣới lớp thảm mục, gốc
cây, thân cây mục và thu mẫu.
2.2.3. Phƣơng pháp phòng thí nghiệm
- Thu mẫu vật đang có trong phòng thí nghiệm, phân loại các mẫu vật riêng.
- Xử lý mẫu trong phòng thí nghiệm.
- Sử dụng kính hiển vi soi nổi phân tích các đặc điểm hình thái.
Phân loại/xác định các nhóm rết theo phƣơng pháp so sánh hình thái, nhƣ
các đặc điểm râu, tấm ngực, tấm hàm, chân cuối, lỗ thở, cơ quan sinh sản…với
sự hỗ trợ của các thiết bị quan sát, vẽ mô tả và chụp hình. Đối với nhóm rết nhỏ
tiến hành giải phẫu các phần phụ dƣới kính lúp soi nổi ở độ phóng đại 40-60 lần.
Mẫu vật đƣợc chụp ảnh bằng Dino lite và phần mềm Dino Capture ver. 2.0.
Định loại rết theo các tài liệu của Attems [18, 19, 9, 10], Schileyko [11, 12, 13,
14, 29].
Phương pháp phân tích ADN.


15

DNA đƣợc sử dụng trong nghiên cứu này là đoạn gen ty thể
Cytochrome c oxidase subunit I (COI). Đây là gen đƣơc sử dụng để hỗ trợ
việc xác định loài và xây dựng mối quan hệ phát sinh chủng loại giữa các loài
và các giống. Nhiều nghiên cứu cho thấy việc sử dụng tổ hợp trình tự các gen
ty thể và dẫn liệu hình thái sẽ đem lại kết quả chính xác cao về vị trí phân loại
của các loài, đặc biệt những loài còn nghi ngờ.
Tách chiết DNA: DNA tổng số sẽ đƣợc tách chiết từ chân hoặc các mô
cơ của các mẫu vật loài chân môi bằng việc sử dụng DNeasy Blood & Tissue
Kits (Qiagen, Valencia, CA, USA).
Khuyếch đại trình tự DNA: Việc khuếch đại gen ty thể sẽ đƣợc thực
hiện bằng phản ứng PCR (trên máy Amp Systems 9700, Eppendoft). Khối
lƣợng phản ứng sẽ bao gồm 50-μl chứa 10 mM Tris-HCL, 50 mM KCL, 1.5
mM MgCl2, 2.5 mM dNTP, 100 μM cho mỗi mồi, 1.0 đơn vị của Taq
polymerase (TaKaRa), và 1μL dung dịch DNA tổng số. Các cặp mồi đƣợc
dùng để khuếch đại đoạn gen COI đƣợc xác định nhƣ sau: LCO1490 (5’GGTCAACAAATCATAAAGATATTGG-3’)



HCO2198

(5′-

GTAAATATATGRTGDGCTC-3′) của [30].
Chu trình nhiệt đối với đoạn gen COI là 2 phút ở nhiệt độ 94°C cho sự
biến tính ban đầu, tiếp theo là 36 chu kỳ (30 giây ở 94°C, 30 giây ở 50°C, và
2 phút ở 72°C). Chu trình nhiệt có thể thay đổi theo điều kiện thí nghiệm để
có thể thu đƣợc kết quả tốt nhất.
Chạy và chụp ảnh điện di: Sau khi kết thúc chu trình nhiệt, khoảng 5 μl
chứa sản phẩm PCR sẽ đƣợc chạy điện di (electronphorensis) trong 1% gel
agarose-TBE. Sản phẩm đƣợc quan sát dƣới ánh sáng UV. Các sản phẩm
PCR thành công nhân bản đoạn gen COI sẽ đƣợc làm sạch với QIAquick PCR
Purification Kit (Qiagen Inc.).
Giải và so sánh trình tự: Các sản phẩm PCR đã đƣợc tinh sạch sẽ đƣợc
giải trình tự gen. Phƣơng pháp đọc trình tự (dideoxy chain-termination) sẽ
đƣợc sử dụng để phân tích trình tự gen với máy Big Dye Terminator v3.0


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×