Tải bản đầy đủ

ĐÁNH GIÁ TÍNH DỄ BỊ TỔN THƯƠNG DO LŨ LƯU VỰC SÔNG LAM

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
KHOA KHÍ TƯỢNG THỦY VĂN VÀ HẢI DƯƠNG HỌC

Trần Thị Đào

ĐÁNH GIÁ TÍNH DỄ BỊ TỔN THƯƠNG DO LŨ
LƯU VỰC SÔNG LAM

Khóa luận tốt nghiệp đại học hệ chính quy
Ngành Thủy văn
(Chương trình đào tạo chuẩn)

Hà Nội – 2017


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
KHOA KHÍ TƯỢNG THỦY VĂN VÀ HẢI DƯƠNG HỌC

Trần Thị Đào


ĐÁNH GIÁ TÍNH DỄ BỊ TỔN THƯƠNG DO LŨ
LƯU VỰC SÔNG LAM

Khóa luận tốt nghiệp đại học hệ chính quy
Ngành Thủy văn
(Chương trình đào tạo chuẩn)

Cán bộ hướng dẫn: PGS.TS Nguyễn Thanh Sơn

Hà Nội – 2017


LỜI CẢM ƠN
Trong thời gian thực hiện khóa luận, em đã nhận được sự quan tâm giúp đỡ
của nhiều tập thể, cá nhân trong và ngoài nhà trường.
Trước hết, em xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu trường Đại học Khoa
học Tự nhiên, Đại học Quốc gia Hà Nội đã tạo điều kiện cho em theo học tại trường.
Em xin chân thành bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới thầy Nguyễn Thanh Sơn đã
tận tình trực tiếp hướng dẫn, giúp đỡ em phát huy khả năng và hoàn thành khóa
luận. Em cảm ơn các thầy, cô trong bộ môn Thủy văn – Khoa Khí tượng Thủy văn
và Hải dương học và các bạn trong lớp đã giúp đỡ, đưa ra ý kiến đóng góp để em
hoàn thành khóa luận.
Em xin gửi lời cảm ơn tới các cán bộ làm việc tại Đài Khí Tượng Thủy văn
Khu vực Bắc Trung Bộ đã giúp đỡ và trao đổi nhiệt tình trong quá trình thu thập
thông tin, số liệu tại tỉnh Nghệ An.
Khóa luận hoàn thành song không thể không mắc những sai lầm và thiếu sót
do đây là một đề tài tương đối rộng, phức tạp, bản thân em cũng có rất ít kinh
nghiệm và khả năng làm việc còn hạn chế. Em rất mong nhận được những ý kiến
đóng góp, những lời phê bình quý báu từ các thầy cô để giúp em tiếp tục hoàn chỉnh
hơn nữa.
Em xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội – 2017
Sinh viên
Trần Thị Đào


DANH MỤC KÝ HIỆU, TỪ VIẾT TẮT

STT



Ý nghĩa

Ký hiệu

1

ADRC

Asian Disaster Reduction Center (Trung tâm giảm nhẹ
thiên tai Châu Á)

2



Báo động

3

BĐKH

Biến đổi khí hậu

4

IPCC

5

ISDR

6

SAR

Second Assessment Report (Báo cáo đánh giá lần 2)

7

TAR

Third Assessment Report (Báo cáo đánh giá lần 3)

8

TB

Trung bình

9

UNESCO – IHE

Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hiệp
quốc - Viện giáo dục Tài nguyên nước

Intergovernmental Panel on Climate Change (Ủy ban
liên chính phủ về biến đổi khí hậu)
International Strategy for Disaster Reduction (Chiến
lược giảm nhẹ thiên tai quốc tế)


MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN
DANH MỤC KÝ HIỆU, TỪ VIẾT TẮT
MỤC LỤC
DANH MỤC HÌNH
DANH MỤC BẢNG
MỞ ĐẦU .....................................................................................................................1
CHƯƠNG 1. ĐẶC ĐIỂM ĐỊA LÝ TỰ NHIÊN VÀ KINH TẾ XÃ HỘI LƯU VỰC
SÔNG LAM ................................................................................................................2
1.1 ĐẶC ĐIỂM ĐỊA LÝ TỰ NHIÊN .....................................................................2
1.1.1 Vị trí địa lý ..................................................................................................2
1.1.2 Địa hình, địa mạo ........................................................................................3
1.1.3 Địa chất, thổ nhưỡng ...................................................................................4
1.1.4 Thảm phủ thực vật .......................................................................................5
1.1.5 Khí hậu ........................................................................................................7
1.1.6 Đặc điểm thủy văn .....................................................................................10
1.2 ĐẶC ĐIỂM KINH TẾ – XÃ HỘI ...................................................................12
1.2.1 Dân cư .......................................................................................................12
1.2.2 Dân tộc ......................................................................................................12
1.2.3 Cơ cấu kinh tế ............................................................................................13
1.2.4 Y tế, giáo dục .............................................................................................17
CHƯƠNG 2. PHƯƠNG PHÁP ĐÁNH GIÁ TÍNH DỄ BỊ TỔN THƯƠNG .............18
2.1 KHÁI NIỆM VỀ TÍNH DỄ BỊ TỔN THƯƠNG ...............................................18
2.1.1 Khái niệm chung về tính dễ bị tổn thương ...................................................18
2.1.2 Tính dễ bị tổn thương lũ lụt .......................................................................20
2.1.3 Sự cần thiết của đánh giá tổn thương lũ ....................................................20
2.1.4 Tổng quan các công trình nghiên cứu .......................................................21
2.2 CÁC THÀNH PHẦN ĐÁNH GIÁ TÍNH DỄ BỊ TỔN THƯƠNG ...................24
2.2.1 Độ phơi nhiễm ...........................................................................................24
2.2.2 Tính nhạy ...................................................................................................25


2.2.3 Khả năng chống chịu .................................................................................25
2.3 XÁC ĐỊNH BỘ TIÊU CHÍ ĐÁNH GIÁ TÍNH DỄ BỊ TỔN THƯƠNG...........26
2.3.1 Bộ tiêu chí xác định tính dễ bị tổn thương ................................................26
2.3.2 Thiết lập bộ tiêu chí ...................................................................................27
2.4 CÁC PHƯƠNG PHÁP ĐÁNH GIÁ TÍNH DỄ BỊ TỔN THƯƠNG.................28
CHƯƠNG 3. ĐÁNH GIÁ TÍNH DỄ BỊ TỔN THƯƠNG DO LŨ LỤT TRÊN LƯU
VỰC SÔNG LAM ....................................................................................................31
3.1 LŨ LỤT TRÊN LƯU VỰC SÔNG LAM .......................................................31
3.1.1 Tình hình mưa lũ .......................................................................................31
3.1.2 Tình hình ngập lụt .....................................................................................34
3.2 XÂY DỰNG BỘ TIÊU CHÍ ĐÁNH GIÁ TÍNH DỄ BỊ TỔN THƯƠNG DO
LŨ LỤT TRÊN LƯU VỰC SÔNG LAM .............................................................35
3.2.1 Lựa chọn chỉ số .........................................................................................35
3.2.2 Nguồn số liệu, phân tích số liệu ................................................................38
3.3 XÁC ĐỊNH TÍNH DỄ BỊ TỔN THƯƠNG DO LŨ LỤT TRÊN LƯU VỰC
SÔNG LAM ...........................................................................................................41
3.3.1 Chuẩn hóa các tham số đánh giá ...............................................................41
3.3.2 Xác định trọng số tổn thương cho các tham số .........................................42
3.3.3 Tính giá trị chỉ số dễ bị tổn thương ...........................................................43
3.3.4 Phân hạng mức độ tính dễ bị tổn thương do lũ lụt trên lưu vực sông Lam
............................................................................................................................43
3.3.5 Kết quả tính toán trọng số theo phương pháp Iyengar và Sudarhan .........43
3.3.6 Kết quả tính giá trị chỉ số dễ bị tổn thương FVI .......................................45
3.4 XÂY DỰNG BẢN ĐỒ TÍNH DỄ BỊ TỔN THƯƠNG DO LŨ LỤT TRÊN
LƯU VỰC SÔNG LAM .......................................................................................46
3.5 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN ..........................................................................46
KẾT LUẬN ...............................................................................................................50
TÀI LIỆU THAM KHẢO ..........................................................................................51
PHỤ LỤC ..................................................................................................................53


DANH MỤC HÌNH
Hình 1: Bản đồ lưu vực sông Lam ..............................................................................2
Hình 2: Bản đồ địa hình lưu vực sông Lam ................................................................4
Hình 3: Bản đồ thổ nhưỡng lưu vực sông Lam ..........................................................5
Hình 4: Bản đồ thảm phủ thực vật lưu vực sông Lam ................................................6
Hình 5: Bản đồ mạng lưới sông chính lưu vực sông Lam ........................................39
Hình 6: Bản đồ ngập lụt hạ lưu sông Lam (trận lũ tháng X/2010) ...........................40
Hình 7: Bản đồ tính dễ bị tổn thương do lũ lụt trên lưu vực sông Lam ...................46


DANH MỤC BẢNG
Bảng 1: Nhiệt độ không khí trung bình tháng, năm tại một số vị trí trên lưu vực......8
Bảng 2: Đặc trưng hình thái lưu vực sông Lam ........................................................11
Bảng 3: Cơ cấu kinh tế của các tỉnh trên lưu vực sông Lam ....................................13
Bảng 4: Diện tích đất rừng của các tỉnh trên lưu vực sông Lam ..............................14
Bảng 5: Khả năng xuất hiện lũ vào các tháng trong năm trên lưu vực sông Lam ....31
Bảng 6: Lượng mưa các trận lũ các năm 2007, 2010 ...............................................34
Bảng 7: Bộ tiêu chí đánh giá dễ bị tổn thương do lũ lụt trên lưu vực sông Lam. ....37
Bảng 8: Phân hạng mức độ tính dễ bị tổn thương do lũ lụt ......................................43
Bảng 9: Trọng số các biến thành phần tính giá trị tính dễ bị tổn thương .................43
Bảng 10: Minh họa giá trị tính dễ bị tổn thương một số xã tính toán .......................45
Phụ lục 1: Bảng kết quả tính chỉ số tính dễ bị tổn thương FVI cho các xã..............53
Phụ lục 2: Bảng chuẩn hóa độ phơi nhiễm ...............................................................55
Phụ lục 3: Bảng chuẩn hóa một số biến tính nhạy....................................................58
Phụ lục 4: Bảng chuẩn hóa khả năng chống chịu .....................................................61


MỞ ĐẦU
Biến đổi khí hậu và nước biển dâng đang là một trong những thách thức lớn
đối với toàn cầu. Việt Nam là một trong năm nước bị ảnh hưởng nghiêm trọng của
vấn đề này. Trong đó, khu vực miền Trung nước ta hàng năm chịu ảnh hưởng của
thiên tai với tần xuất và mức độ ngày càng tăng cao.
Lũ lụt hàng năm gây ra thiệt hại rất lớn về người và của nên phòng chống lũ
lụt là mối quan tâm hàng đầu của xã hội. Lũ lụt không chỉ gây tổn thất thiệt hại về
người và tài sản, cơ sở hạ tầng của xã hội mà còn ảnh hưởng đến đời sống tinh thần
và kinh tế - xã hội như: nguồn cung về lương thực, thực phẩm khan hiếm, đất đai bị
ngập úng không sản xuất được, dịch bệnh phát sinh và những tổn thương về tinh
thần khác. Ứng phó nhanh với lũ bằng các biện pháp cảnh báo lũ tức thời như cảnh
báo, dự báo vùng ngập, di dời và sơ tán dân cư đến vùng an toàn,… đã tỏ ra rất hiệu
quả trong hạn chế những thiệt hại về người và tài sản. Đánh giá được tính dễ tổn
thương do lũ lụt gây ra đối với kinh tế - xã hội góp phần không nhỏ trong công tác
quản lý tổng hợp rủi ro thiên tai, xây dựng các giải pháp nhằm giảm nhẹ tác hại của
lũ gây ra. Khóa luận đã lựa chọn lưu vực sông Lam là đối tượng nghiên cứu để
bước đầu xây dựng bức tranh về thiệt hại có thể có trong tương lai gây ra bởi lũ lụt.
Khóa luận có tên: “Đánh giá tính dễ bị tổn thương do lũ lưu vực sông Lam”.
Với khuôn khổ của một khóa luận, tác giả mới tìm hiểu và áp dụng các
phương pháp nghiên cứu thông qua việc lựa chọn bộ chỉ số thích ứng cho lưu vực
sông Lam. Kết quả mới ở mức thử nghiệm do đó vẫn còn nhiều vấn đề đang bị ngỏ.
Tác giả sẽ tìm hiểu và hoàn thành trong các bài nghiên cứu sau.
Bố cục của khóa luận bao gồm :
Mở đầu
Chương 1: Đặc điểm tự nhiên và kinh tế xã hội lưu vực sông Lam
Chương 2: Khái niệm và phương pháp đánh giá tính dễ bị tổn thương
Chương 3: Tính toán và đánh giá tính dễ bị tổn thương do lũ lụt trên lưu vực
sông Lam
Kết luận.
Tài liệu tham khảo.

1


CHƯƠNG 1. ĐẶC ĐIỂM ĐỊA LÝ TỰ NHIÊN VÀ KINH TẾ XÃ HỘI LƯU
VỰC SÔNG LAM
1.1 ĐẶC ĐIỂM ĐỊA LÝ TỰ NHIÊN
1.1.1 Vị trí địa lý
Lưu vực sông Lam là lưu vực lớn thứ hai thuộc vùng Bắc Trung Bộ, bắt
nguồn từ vùng rừng núi của nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào. Toàn bộ lưu vực
sông Lam nằm trên tọa độ địa lý từ: 18015'05'' đến 20010'30'' vĩ độ Bắc, 103045'20''
đến 105015'20'' kinh độ Đông.

Hình 1: Bản đồ lưu vực sông Lam

Điểm đầu của lưu vực chảy vào Việt Nam qua biên giới Việt - Lào tại xã Kỳ
Sơn trên dòng Nậm Mô có tọa độ 19024’59’’ vĩ độ Bắc, 104004’12’’ kinh độ Đông.
Cửa ra của lưu vực là Cửa Hội nằm ở tọa độ 18045’27’’ vĩ độ Bắc, 105046’40’’ kinh
độ Đông. Phía Bắc giáp lưu vực sông Chu, sông Bạng; phía Tây giáp lưu vực sông
Mê kông; phía Nam giáp lưu vực sông Gianh; phía Đông giáp Biển Đông.

2


Sông Lam có tổng chiều dài 531 km với tổng diện tích lưu vực là 27.200km2.
Phần chảy qua lãnh thổ Việt Nam là 361 km với diện tích lưu vực 17.730km2,
chiếm 65,2% diện tích toàn bộ lưu vực. Sông Lam chảy qua địa phận hai tỉnh Nghệ
An, Hà Tĩnh và một phần huyện Như Xuân tỉnh Thanh Hóa.[7]
1.1.2 Địa hình, địa mạo
Lưu vực sông Lam có thể phân chia thành các dạng địa hình chính sau:
- Địa hình đồng bằng và đồng bằng ven biển nhỏ, hẹp nằm sát với dòng
chính. Toàn bộ đồng bằng được bảo vệ bằng đê hai bờ sông, trừ vùng hữu ngạn
Thanh Chương và vùng hữu ngạn Nam Đàn chỉ bảo vệ bằng đê bối. Tổng diện tích
vùng này vào khoảng 350.000 (ha) chiếm 10% diện tích lưu vực sông Cả và khu
hưởng lợi .
- Vùng đồi trung du thuộc các huyện Nghĩa Đàn, Quỳ Hợp, Tân Kỳ, Anh
Sơn, Thanh Chương (Nghệ An), Vũ Quang, Hương Sơn và Hương Khê (Hà Tĩnh).
Đây là dạng địa hình phức tạp, bị chia cắt mạnh có thế dốc nhiều chiều do các sông
nhỏ tạo nên. Tổng diện tích dạng địa hình này vào khoảng 680.000 (ha).
- Địa hình vùng núi cao chủ yếu tập trung ở phía Tây, Tây Bắc và Tây Nam
lưu vực. Dạng địa hình này có độ cao từ 1200 ÷ 1500 m như một bức tường ngăn
giữa lưu vực sông Mê Kông và lưu vực sông Cả. Dạng địa hình này có độ dốc lớn,
thung lũng hẹp, chiếm tới 60% diện tích lưu vực. Đây được xác định chủ yếu là
vùng lâm nghiệp phòng hộ đầu nguồn.
Tóm lại, địa hình sông Lam tổng hợp nhiều dạng địa hình có thế dốc chung
theo hướng Tây - Đông, Tây Bắc - Đông Nam, Tây Nam - Đông Bắc và rốn trũng
nhất là cửa sông Lam. Độ dốc bình quân lưu vực lớn, phần đồng bằng hẹp. Địa hình
trên lưu vực đa dạng thích hợp cho phát triển kinh tế tổng hợp đồng thời rất thuận
lợi cho nền nông nghiệp đa dạng hoá cây trồng vật nuôi và có khả năng tạo ra các
vùng chuyên canh cây hàng hoá, cây công nghiệp.
Toàn bộ lưu vực sông Lam nằm trong miền uốn nếp Bắc Bộ và miền uốn nếp
Varixêt Đông Dương, ranh giới giữa hai miền uốn nếp là đới khâu sông Mã. Những
nghiên cứu trong chuyên khảo “Thành hệ địa chất và địa động học Việt Nam 1993”
do Nguyễn Xuân Tùng biên tập, xếp lưu vực sông Lam nằm trong “lĩnh vực Bắc Bộ
Dương Tử - KaTaZia” giữa đai vỏ lục địa Bắc Trường Sơn tuổi Paleozoi. Thời kỳ
trước Cambri đến Paleozoi sớm đến Paleozoi muộn vùng sông Cả tồn tại chế độ đại
dương vi lục địa, sườn châu lục địa, cận lục địa. Chế độ rift và prerift tồn tại trong
thời gian Paleozoi muộn đến Merozoi muộn. Từ Merozoi muộn phát sinh các bồn
3


trũng nhỏ mang tính orogen dọc theo đứt gãy sông Lam lấp đầy bởi trầm tích lục
nguyên vụn thô.[9]

Hình 2: Bản đồ địa hình lưu vực sông Lam

1.1.3 Địa chất, thổ nhưỡng
Đất trong lưu vực có các nguồn gốc hình thành khác nhau. Ở vùng đồi núi,
đất được phát triển trên nhiều loại nham thạch. Ở vùng đồng bằng, đất được hình
thành từ phù sa sông. Phần lớn vùng đồi núi nằm dưới độ cao 800 – 1000 m, nên bị
phong hoá mạnh. Quá trình feralít là quá trình chủ yếu. Nhóm đất feralít đồi và núi
thấp, phân bố ở độ cao dưới 800 – 1000 m, chiếm diện tích lớn nhất và là nơi hoạt
động của con người. Các nhóm đất cát phù sa, đất phèn, đất mặn, đất than bùn và
đất đen ở vùng đồng bằng.
Theo Bộ Nông nghiệp và phát triển Nông thôn, các loại đất chính trên lưu
vực sông Lam là: đất phù sa và đất cát ven biển; đất bùn lầy; đất mặn; đất Feralitic
mùn vàng nhạt trên núi; đất Feralitic trên núi; đất Feralitic điển hình nhiệt đới ẩm
vùng đồi; đất Macgalit Feralitic; đất lúa nước vùng đồi.
Vùng đồng bằng sông Lam có các loại đất chủ yếu là đất phù sa và đất cát
ven biển, đất bùn lầy, đất mặn và đất Feralitic điển hình nhiệt đới ẩm vùng đồi. Đất
đai vùng trung du khá đa dạng: các loại đất chua, đất glây hoặc glây mạnh úng nước.

4


Do phải chịu ảnh hưởng tổng hợp của các nhân tố địa lý, địa hình, khí hậu, lớp phủ
bề mặt,… nên đất đai ở vùng đồng bằng và trung du sông Lam được xếp vào loại
kém màu mỡ.[7]

Hình 3: Bản đồ thổ nhưỡng lưu vực sông Lam

1.1.4 Thảm phủ thực vật
Thảm phủ thực vật vùng canh tác nông nghiệp
Diện tích canh tác nông nghiệp trên toàn lưu vực chỉ chiếm khoảng 7% diện
tích toàn lưu vực. Trên diện tích đất này hiện nay canh tác với hệ số quay vòng
ruộng đất từ 1,7 đến 1,8 lần trong năm nghĩa là trong một năm chỉ có khoảng 6
tháng có cây che phủ còn lại 6 tháng đất trống. Trong 6 tháng phần cây có lá che
phủ cho diện tích chỉ chiếm 3,5 – 4 tháng, có thể đánh giá thảm phủ thực vật trên
đất nông nghiệp chỉ đạt 20 – 25%.[10]
Thảm phủ thực vật trên đất lâm nghiệp
Lưu vực sông Lam có rừng tập trung chủ yếu thuộc lãnh thổ bên Lào, sáu
huyện miền núi Nghệ An và hai huyện Hương Sơn, Hương Khê thuộc Hà Tĩnh. Độ
5


che phủ rừng chung trên toàn lưu vực là 52% (năm 2010). Ở Việt Nam, diện tích
rừng đang bị thu hẹp do tốc độ phát triển dân số cao ở miền núi và tập quán du canh
du cư cửa đồng bào các dân tộc. Năm 1943 có khoảng 1,2 triệu ha rừng, đến nay
diện tích rừng chiếm khoảng 35,5% diện tích tự nhiên, so với diện tích đất của các
huyện miền núi và Hương Khê, Hương Sơn thì diện tích đất có rừng chiếm đến 43%.
Diện tích rừng già và rừng trung bình toàn lưu vực phần Việt Nam chỉ còn chiếm
khoảng 12 ÷ 14%.[7]
Các kiểu rừng chủ yếu trên lưu vực sông Lam là:
- Rừng kín thường xanh mưa ẩm nhiệt đới chiếm phần lớn diện tích.
- Rừng thường xanh mưa ẩm nhiệt đới chiếm diện tích không lớn song lại có
tác dụng phòng hộ, điều tiết dòng chảy để giữ nước và giữ đất chống xói mòn đất.
Diện tích đất trống đồi núi trọc trên lưu vực khá lớn, 20% diện tích đất tự
nhiên. Do vậy, khi có mưa xuống khả năng giữ nước ở các sườn dốc kém làm gia
tăng thời gian tập trung nước trong sông tạo nên các con lũ có cường độ lớn.

Hình 4: Bản đồ thảm phủ thực vật lưu vực sông Lam

6


1.1.5 Khí hậu
Vùng nghiên cứu nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa. Hàng năm,
trong vùng chịu ảnh hưởng của các hoàn lưu khí quyển sau:
+ Khối không khí cực đới lục địa Châu Á biến tính mạnh khi di chuyển từ
Bắc về phía Nam bán cầu. Hoạt động của khối không khí này từ tháng XI tới tháng
III năm sau, gây nên thời tiết lạnh, khô vào các tháng mùa đông và mưa phùn vào
cuối mùa đông.
+ Khối không khí xích đạo Thái Bình Dương hoạt động từ tháng V tới tháng
X và mạnh nhất vào tháng IX, X với đặc điểm là nóng ẩm mưa nhiều gây nên nhiều
nhiễu động thời tiết như bão, áp thấp nhiệt đới. Những nhiễu động thời tiết có thể
đơn thuần là một hình thế thời tiết gây mưa hoặc tổ hợp nhiều hình thế thời tiết như
bão và áp thấp, áp thấp nhiệt đới kết hợp với không khí lạnh gây mưa lớn trên diện
rộng tạo nên lũ lụt nghiêm trọng trên lưu vực sông Lam. Các nhiễu động thời tiết
như hội tụ nhiệt đới, áp thấp nhiệt đới ảnh hưởng tới lưu vực gây nên những đợt
mưa có cường độ lớn kéo dài trên diện rộng gây lũ lụt khá nghiêm trọng như các
năm 1978, 1988, 1996, 2002,…
+ Khối không khí nhiệt đới ẩm Ấn Độ Dương hoạt động mạnh từ tháng V tới
tháng VIII, mạnh nhất vào tháng VII. Khối không khí này nóng và khô, ít mưa
thường gọi là gió Tây Nam hay gió Lào. Ảnh hưởng của gió Tây Nam đã làm nhiệt
độ không khí, nhiệt độ đất tăng rất nhanh.
Nhân tố khí hậu kết hợp với yếu tố địa hình đã tạo nên sự phân hoá khí hậu
giữa các vùng khá sâu sắc. Phần phía Bắc và Đông Bắc của lưu vực mang đặc điểm
của vùng khí hậu chuyển tiếp từ Bắc Bộ và Trung Bộ. Về phía Nam của lưu vực
ảnh hưởng của các hoàn lưu phương Bắc yếu hơn. Những vùng được bao bọc bởi
các dãy núi, ít chịu ảnh hưởng của gió mùa Đông Bắc và gió mùa Tây Nam.
Vị trí, dạng địa hình, địa mạo, thảm phủ thực vật là những nhân tố chính
quyết định chế độ khí hậu lưu vực. Sự phân cách của địa hình và chế độ khí hậu đã
làm cho chế độ thủy văn trên dòng chính và các phụ lưu lớn diễn ra phức tạp.
1.1.5.1 Chế độ nhiệt
Mùa lạnh thường từ tháng XII năm trước đến tháng III năm sau. Nhiệt độ
thấp nhất đã ghi nhận được là -0,50C ở Quỳ Châu; 1,70C ở Cửa Rào và 40C ở Vinh,
đều vào tháng I năm 1974.

7


Mùa nóng từ tháng V đến tháng VIII, nhiệt độ trung bình đạt 27 – 290C,
tháng VII là tháng nóng nhất. Nhiệt độ cao nhất ghi nhận được đạt 42,10C ở Vinh
(VI/1912); 42,70C ở Cửa Rào (V/1966) và 42,10C ở Tây Hiếu (V/1931).
Bảng 1: Nhiệt độ không khí trung bình tháng, năm tại một số vị trí trên lưu vực
Đơn vị : 0C
Tháng

Năm

Trạm
I

II

III

IV

V

VI

VII

VIII

IX

X

XI

XII

Quỳ Châu

16,6 17,9

20,9 24,4 27,0

27,8 27,9 27,1

26,0 23,8 20,6 17,6

23,1

Tây Hiếu

16,2 17,4

20,3 24,0 27,2

28,1 28,4 27,3

26,0 23,6 20,5 17,5

23,0

Cửa Rào

17,5 18,9

21,8 25,2 27,4

28,0 28,1 27,3

26,2 24,1 20,9 18,2

23,6

Con Cuông

17,0 18,1

20,9 24,7 27,5

28,3 28,7 27,0

26,3 24,0 21,0 18,1

23,5

Đô Lương

17,2 18,2

20,6 24,2 27,3

28,7 29,1 27,9

26,4 24,3 21,3 18,6

23,7

Vinh

17,0 17,9

20,3 24,1 27,7

29,2 29,6 28,7

26,8 24,4 21,6 18,9

23,9

Quỳnh Lưu

17,0 17,6

20,1 23,7 27,5

28,9 29,4 28,3

26,8 24,4 21,4 18,5

23,6

Hương Khê

17,0 18,1

20,3 24,6 27,5

28,5 29,0 27,7

25,9 23,7 20,7 18,2

23,5

(Nguồn: Trung tâm dự báo khí tượng thủy văn Trung ương)
1.1.5.2 Chế độ ẩm
Độ ẩm tương đối trung bình năm của lưu vực dao động từ 80% đến 85%. Độ
ẩm trung bình tháng VII đạt trị số thấp nhất vì thường có gió Lào. Độ ẩm trung bình
mùa lạnh ở đồng bằng cao hơn ở vùng núi, nhưng độ ẩm tương đối trung bình tháng
thì ngược lại. Vùng có độ ẩm bình quân năm cao là Con Cuông 86,5%; Đô Lương
85,5%; Tương Dương 81,5%; Quỳ Châu 86,6%. Độ ẩm cũng phù hợp với lượng
bốc hơi năm, vùng trung lưu có độ ẩm lớn - độ bốc thoát hơi nước nhỏ và vùng
miền núi, đồng bằng có lượng bốc thoát hơi lớn - độ ẩm không khí nhỏ. Tháng có
độ ẩm cao nhất là tháng I, II độ ẩm cao đạt tới 94%; tháng có độ ẩm thấp nhất là
tháng VII, có ngày độ ẩm thấp chỉ còn 36 ÷ 38%.[7]
1.1.5.3 Bốc hơi
Lượng bốc hơi năm toàn vùng dao động từ 700 – 1000 mm. Vùng ven biển
do tốc độ gió trung bình lớn hơn nên lượng bốc hơi cao hơn ở vùng núi. Lượng
nước bốc hơi bình quân năm đồng bằng nhỏ hơn miền núi, nhưng phần trung lưu
giữa lưu vực lại có lượng bốc hơi nhỏ hơn cả.

8


Lượng nước bốc hơi bình quân tháng lớn nhất vào tháng VII khi gió Lào và
nắng hoạt động lớn trên lưu vực. Tháng có lượng bốc hơi nhỏ nhất vào tháng II chỉ
đạt 29,7 mm/tháng. Bốc hơi bốn tháng lớn nhất là V, VI, VII, VIII có tổng lượng
bốc hơi đạt tới 541 mm, chiếm gần 60% tổng lượng bốc hơi năm.[7]
1.1.5.4 Bức xạ
Số giờ nắng trung bình năm trên lưu vực đạt từ 1500 ÷ 1800 giờ, bức xạ tổng
cộng đạt 120 ÷ 130 kcal/cm2/năm. Từ tháng IX đến tháng XI hàng năm bức xạ tổng
cộng nhỏ hơn 400 kcal/cm2/ngày, thời gian còn lại trong năm đều đạt lớn hơn trị số
này.[7]
1.1.5.5 Chế độ mưa
Mưa trên lưu vực sông Lam thuộc địa phận Việt Nam phân bố không đều
theo không gian:
- Vùng ít mưa nằm dọc theo thung lũng dòng chính sông Lam từ biên giới về
Con Cuông có lượng mưa bình quân năm từ 1200 đến 1300 mm.
- Vùng mưa trung bình nằm ở đồng bằng hạ du và lưu vực sông Hiếu có
lượng mưa bình quân năm từ 1600 đến 2000 mm/năm.
- Vùng mưa lớn nằm ở thượng nguồn sông Hiếu, sông Giăng và sông La có
lượng mưa lớn hơn 2000 mm/năm.
Sự phân bố theo thời gian: Ở thượng nguồn sông Lam, sông Hiếu mùa mưa
bắt đầu từ tháng V, kết thúc vào tháng X. Vùng đồng bằng hạ du sông Lam, sông La
mùa mưa bắt đầu từ tháng VI, kết thúc tháng XI.
Nguyên nhân gây ra lũ đặc biệt lớn, lũ quét trên lưu vực thường là tổ hợp của
các hình thế thời tiết gây mưa lớn:
+ Bão và áp thấp nhiệt đới.
+ Bão (áp thấp nhiệt đới) kết hợp cùng tác động của không khí lạnh.
+ Dải hội tụ nhiệt đới và không khí lạnh.
+ Không khí lạnh kết hợp cùng các hình thế gây mưa khác.
1.1.5.6 Gió, bão
Gió: Các tháng mùa đông có hướng gió thịnh hành là Đông và Đông Bắc,
vận tốc trung bình từ 1,5 ÷ 2 m/s. Về mùa hè hướng gió thịnh hành là gió Tây và
Tây Nam, với vận tốc gió bình quân đạt từ 2 ÷ 3 m/s. Tốc độ gió lớn nhất có thể đạt
tới 40 m/s. Hàng năm từ tháng V đến tháng VIII có 30 – 35 ngày có gió Lào và
được chia thành 5 – 7 đợt.

9


Bão: Bão thường đổ bộ vào lưu vực trong tháng IX và tháng X gây ra mưa
lớn trên diện rộng. Những đợt mưa lớn kéo dài từ 5 – 7 ngày gây lũ lụt nghiêm
trọng. Cường độ mưa lớn nhất khi có bão đạt 700 ÷ 899 mm/ngày và xảy ra trên
diện rộng tạo nên lũ lớn trên lưu vực như lũ năm 1978, 1996.
Trong những thập kỷ gần đây, số cơn bão đổ bộ và ảnh hưởng tới lưu vực
sông Lam ngày càng gia tăng. Vùng Nghệ An, Hà Tĩnh trong năm bão bắt đầu ảnh
hưởng từ tháng VI mặc dù chỉ với tần suất 5%, sang tháng VII là 20%, cao điểm
nhất là tháng IX đạt 65%, tháng X là 37%, tháng XI là 2%. Mùa bão ở Nghệ An, Hà
Tĩnh từ tháng VII đến tháng XI.[7]
1.1.6 Đặc điểm thủy văn
1.1.6.1 Đặc điểm sông ngòi
Hệ thống sông Lam có mật độ lưới sông là 0,6 km/km2, dòng chính sông
Lam dài 531 km bắt nguồn từ các dãy núi cao thuộc tỉnh Xiêng Khoảng (Lào) có độ
cao trên 2000 m và chạy theo hướng Tây Bắc – Đông Nam cho tới vị trí cách biển
40 km thì chuyển theo hướng Tây – Đông rồi đổ ra biển tại Cửa Hội. Lòng chính
sông Lam ổn định, ít bãi bồi, hệ số uốn khúc sông Lam là 1,74. Phần thượng nguồn
trên đất Lào có độ dốc lòng sông lớn, khi đến Việt Nam thì độ dốc giảm nhiều.
Sông Lam có 44 phụ lưu cấp I (diện tích lưu vực từ 90 km2 trở lên). Trong đó đáng
chú ý là sông Nậm Mô, sông Hiếu, sông Giăng, sông La. Các nhánh sông thường
ngắn, bắt nguồn từ các tâm mưa lớn nên nước lũ tập trung nhanh. Sông Lam có hai
nhánh sông lớn nhất là sông Hiếu và sông La (gồm hai sông Ngàn Phố và Ngàn
Sâu).
+ Sông Nậm Mô: Một phần nằm trên đất Lào với diện tích lưu vực 3970 km2.
Chiều dài dòng chính là 160 km, độ dốc lòng sông là 0,35%, độ rộng bình quân từ
30 ÷ 35 m và đổ vào sông Lam tại Cửa Rào.
+ Sông Hiếu: Bắt nguồn từ dãy núi Phu Hoạt, dòng chính thượng nguồn chảy
qua vùng có lượng mưa năm trên 2000 mm, càng về hạ lưu sông chảy qua các vùng
có lượng mưa năm nhỏ hơn (1500 ÷ 1800 mm) và đổ vào sông Lam ở ngã ba Cây
Chanh. Thượng nguồn sông Hiếu về đến Quỳ Châu lòng hẹp, có nhiều ghềnh thác.
Sông Chàng, sông Dinh là hai chi lưu lớn của sông Hiếu.
+ Sông La: Có diện tích lưu vực 3.210 km2 đổ vào sông Lam ở ngã ba Chợ
Tràng. Sông La được tạo bởi hai nhánh lớn: sông Ngàn Phố có diện tích 1.070 km2

10


chảy trong địa phận của huyện Hương Sơn; sông Ngàn Sâu chảy qua vùng mưa lớn
của huyện Hương Khê (2200 ÷ 2400 mm/năm).
Bảng 2: Đặc trưng hình thái lưu vực sông Lam

Lưu vực
sông

F (km2)

Lsông
(km)

Độ
cao
bình
quân
(m)

1

Cả

27200

531

294

1,83

89

0,60

-0,14

0,29

2

Nậm Mô

3970

173

960

2,57

38,2

-

0,22

0,27

3

Giăng

1050

77

492

1,72

15,8

-

-0,09

0,24

4

Hiếu

5340

228

303

1,30

32,5

0,71

0,02

0,20

5

La

3210

135

362

2,82

46,6

0,87

0,53

0,68

TT

Độ dốc
bình
quân
lưu vực
(%o)

Độ
rộng
bình
quân
(m)

Mật độ
lưới
sông
km/m2

Hệ số
không
đối
xứng

Hệ số
hình
dạng
lưu
vực

(Nguồn: Viện khí tượng thủy văn)
1.1.6.2 Đặc điểm dòng chảy
Dòng chảy trên sông là kết quả của mưa và điều kiện mặt đệm của lưu vực.
Tổng lượng dòng chảy năm của sông Lam là 23,5 tỷ m3 trong đó có 20,5 tỷ m3 hay
87% tổng lượng dòng chảy năm được hình thành trên lãnh thổ Việt nam. Số còn lại
3,0 tỷ m3 (13%) từ nước bạn Lào chảy vào.
Dòng chảy kiệt: Mùa kiệt trên lưu vực từ tháng I – VIII, nhưng do có lũ tiểu
mãn nên ở đây có hai thời kỳ kiệt là tháng III, tháng IV và tháng VII, tháng VIII.
Tháng III, IV là tháng kiệt nhất trong năm.
Dòng chảy lũ: Trên lưu vực có 2 thời kỳ lũ tiểu mãn vào tháng V, VI và lũ
chính vụ tháng IX – XI. Thời kỳ xuất hiện lũ chính vụ trên các nhánh sông khác
nhau. Phía dòng chính lũ bắt đầu từ tháng VI kết thúc vào tháng X, XI. Phía sông
La lũ từ tháng VIII và kết thúc vào tháng XII. Lũ trên sông Lam từ tháng VI – XII.
Lũ trên các nhánh sông Lam không bao giờ xuất hiện đồng thời, nhất là các con lũ
lớn. Lũ nhánh sông Hiếu, sông Lam thường xuất hiện lũ kép; sông Giăng, sông La
lại xuất hiện lũ đơn. Lượng nước mùa lũ chiếm 61% – 75% lượng dòng chảy cả
năm, lũ lớn nhất thường xuất hiện vào tháng IX. Nước lũ trên lưu vực sông Lam
ảnh hưởng mạnh đến khu vực đồng bằng Nghệ An – Hà Tĩnh và thường gây lũ lụt

11


khi có mưa bão. Thời gian lũ lên nhanh 3 – 5 ngày ở lưu vực sông lớn, vài giờ ở lưu
vực sông nhỏ. Khi các hình thế gây mưa tác động mạnh thì thời gian duy trì đỉnh lũ
từ 3 – 5 giờ, thời gian kéo dài trận lũ 15 – 20 ngày như các trận lũ lịch sử năm 1978,
năm 1988, năm 2002, năm 2005.
Hiện nay trên lưu vực sông Lam đã và đang xây dựng nhiều hồ chứa nước
lớn, đó là bậc thang hồ chứa Bản Vẽ và Khe Bố trên dòng chính sông Lam, Hồ Bản
Mồng trên sông Hiếu là một nhánh chính đổ vào sông Lam, hồ Thác Muối trên sông
Giăng, một nhánh chính đổ vào sông Lam, và hồ sông Sào trên sông Sào, một
nhánh của sông Hiếu. Ngoài những hồ chứa này, trên hệ thống sông Lam còn rất
nhiều các hồ chứa khác trên các sông suối nhỏ với dung tích nhỏ chủ yếu phục vụ
nông nghiệp.
1.2 ĐẶC ĐIỂM KINH TẾ – XÃ HỘI
1.2.1 Dân cư
Vùng lưu vực sông Lam là vùng có tốc độ tăng dân số khá cao. Tổng số dân
tại thời điểm năm 2015 trên hai tỉnh Nghệ An (3.063.944 người) và Hà Tĩnh
(1.261.290 người) là 4.325.234 người. Mật độ dân số trung bình 194 người/km2.
Tốc độ tăng trưởng dân số bình quân lưu vực là 0,68%, cơ cấu dân số là 15,5% dân
đô thị và 84,5% dân sống ở vùng nông thôn. Tỷ lệ nam giới là 49,5%; tỷ lệ nữ giới
là 50,5%. Tỷ lệ lao động từ 15 tuổi trở lên đang làm việc so với dân số chiếm 60,2%.
Tỷ lệ lao động đã qua đào tạo là 18%.[12] Nguồn nhân lực dồi dào với giá nhân
công thấp là một lợi thế để thu hút đầu tư và tham gia vào lực lượng lao động xuất
khẩu của cả nước.
1.2.2 Dân tộc
Lưu vực sông Lam là một khu vực đa dân tộc, trong đó dân tộc chính là
người Kinh, chiếm trên 90%. Bên cạnh đó, còn có nhiều dân tộc khác cùng sinh
sống như người Thái, người Mường, người Thổ, người Khơ Mú, Lào,… Các dân
tộc cư trú đan cài nhau trên lưu vực, mỗi dân tộc mang một bản sắc riêng tạo nên sự
đa dạng và độc đáo trong văn hóa khu vực.
Về tôn giáo, dân cư trên lưu vực sông Lam chủ yếu theo Phật giáo, Công
giáo và các tôn giáo khác như đạo Mẫu, đạo Nho và tín ngưỡng thờ Thành Hoàng.
Có hàng trăm đền, chùa, miếu mạo như đền Ông Hoàng Mười, đền Cờn, đền Bạch
Mã, tháp Cửa Diêu, chùa Hương Tích, đền Tam Lang,... Riêng đạo Công giáo, Hà
Tĩnh là một trong 15 tỉnh có số lượng tín đồ Công giáo đông nhất toàn quốc.

12


1.2.3 Cơ cấu kinh tế
Tốc độ tăng trưởng bình quân khá đồng đều giữa các vùng trên lưu vực sông.
Đang có sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế trên lưu vực sông, từ nông – lâm – ngư
nghiệp sang công nghiệp và dịch vụ. Dịch vụ đang ngày càng chiếm ưu thế trong cơ
cấu kinh tế. Việc tăng trưởng mạnh mẽ về công nghiệp và dịch vụ là những nhân tố
tác động đến diễn biến lũ trên lưu vực sông.
Bảng 3: Cơ cấu kinh tế của các tỉnh trên lưu vực sông Lam
Đơn vị: %
Năm 2010
Tỉnh

Tốc độ

Nghệ An
Hà Tĩnh

Năm 2020

Công
nghiệp

Dịch
vụ

Nông
nghiệp

8,5÷9,5

30÷31

44÷45

24÷26

8-9

25

42

33

Tăng
trưởng

Tốc độ

Công
nghiệp

Dịch
vụ

Nông
nghiệp

10,5

45÷46

36÷38

17÷18

11

23÷25

43÷41

24

Tăng
trưởng

(Nguồn: Viện Khí tượng Thủy văn)
1.2.3.1 Nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp
Nông nghiệp
Ngành nông nghiệp vùng nghiên cứu rất đa dạng, phát triển tương đối toàn
diện và ổn định.
Trồng trọt là ngành sản xuất chính trong nông nghiệp. Diện tích đất nông
nghiệp đang được sử dụng để sản xuất lương thực chiếm tới 80% tổng diện tích
đang gieo trồng, trong đó có tới 70% là sản xuất lúa còn lại là các cây trồng khác
như: ngô, khoai, cây công nghiệp ngắn ngày (lạc, đậu...), đối với cây dài ngày chủ
yếu tập trung ở vùng đồi núi (cao su, cà phê, chè, dứa..).[7] Năm 2015, toàn lưu vực
có khoảng 353.100 (ha) diện tích canh tác cây lương thực, 146.800 (ha) lúa đông
xuân; 102.100 (ha) lúa hè thu, 40.100 (ha) lúa mùa; 64.000 (ha) ngô và 35.400 (ha)
lạc.[3,4]
Chăn nuôi phát triển nhanh, hình thức chăn nuôi hiện đại theo hộ gia đình.
Một vài nơi đã hình thành trang trại nhỏ với quy mô đàn gia súc dưới 100 con, đàn
gia cầm dưới 10 nghìn con và đàn lợn dưới 200 con. Những điểm nuôi tập trung
như vậy vẫn là hộ gia đình và có sự hợp tác của nhiều hộ. Vật nuôi chủ yếu đại gia
súc là trâu, bò; gia cầm là gà vịt, chim cút và lợn.[7] Năm 2015, toàn lưu vực có
13


khoảng 20.700 nghìn gia cầm; 368.700 con trâu; 556.500 con bò và 1.331.100 con
lợn.[3,4]
Lâm nghiệp
Diện tích đất lâm nghiệp trên lưu vực sông Lam chiếm tới 65% diện tích nằm
trên lãnh thổ Việt Nam. Do chế độ khai thác rừng không có bảo dưỡng, do đốt
nương làm rẫy và do cháy rừng nên trong giai đoạn từ 1945 ÷ 1990 rừng càng ngày
càng cạn kiệt, diện tích đất trống đồi trọc tăng lên. Từ năm 1990 ÷ 2004 với chương
trình 327, chương trình 5 triệu ha và chương trình giao đất giao rừng nên dần dần
rừng được phục hồi; độ che phủ trên lưu vực ngày càng được nâng cao. Đây là một
tiềm năng kinh tế lớn trên lưu vực và là khu vực có khả năng tạo công ăn việc làm
cho nhiều lao động của hai tỉnh Nghệ An, Hà Tĩnh.[7]
Bảng 4: Diện tích đất rừng của các tỉnh trên lưu vực sông Lam
Đơn vị: Nghìn ha
Năm 2014

Tổng diện
tích rừng

Rừng tự
nhiên

Rừng trồng

Mới trồng

Tỷ lệ che
phủ rừng
(%)

Nghệ An

902,2

735,4

166,8

2,5

54,6

Hà Tĩnh

328,0

220,6

107,3

13,2

42,5

(Nguồn: Tổng cục thống kê)
Tính đến năm 2014, tổng diện tích rừng trên lưu vực vào khoảng 1230,2
nghìn ha. Trong đó, diện tích rừng tự nhiên là 956 nghìn ha; diện tích rừng trồng là
274,1 nghìn ha; diện tích rừng mới trồng là 15,7 nghìn ha. Tỷ lệ che phủ rừng đạt
53,6%. Sản lượng khai thác gỗ đạt loại khá, gỗ thu hoạch sử dụng để làm ván ép,
dăm gỗ, nguyên liệu giấy và phục vụ nhu cầu xây dựng.
So với các giai đoạn trước, tỷ lệ che phủ rừng trên lưu vực đã có sự giảm sút.
Việc diện tích đất lâm nghiệp giảm sẽ làm giảm đi một lớp bảo vệ tự nhiên, kéo
theo nhiều hệ quả xấu, nguy cơ lưu vực chịu ảnh hưởng của lũ lụt sẽ tăng cả về tần
xuất và mức độ.
Ngư nghiệp
Thủy sản đang là ngành được quan tâm đầu tư trên cả hai lĩnh vực, phương
tiện đánh bắt, cảng cá, nuôi trồng thủy sản ven bờ phục vụ cho xuất khẩu. Việc nuôi
trồng này đòi hỏi sử dụng một khối lượng nước lớn, chất lượng đảm bảo nhưng

14


thường ở xa nguồn nước và nằm cuối hệ thống cấp nước. Tương lai của ngành thủy
sản sẽ phát triển mạnh mẽ hơn nhất là khu vực nuôi trồng, đây cũng là ngành hướng
tới xuất khẩu nhiều nhất.[7] Năm 2015, diện tích nuôi trồng thủy sản tính trên toàn
lưu vực gần 27,3 nghìn ha, sản lượng thủy sản ước tính đạt 204.000 tấn.[3,4]
1.2.3.2 Công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp
Công nghiệp trên lưu vực sông Lam trong những năm qua đã có bước phát
triển nhất định, công nghiệp đã hình thành cơ cấu đa ngành: cơ khí luyện kim, hóa
chất, dệt may, thuộc da, khai thác khoáng sản, chế biến nông sản, vật liệu xây
dựng,... Trong đó công nghiệp chế biến, sản xuất phân phối điện, khí đốt chiếm tỷ
trọng lớn và tăng dần; tỷ trọng công nghiệp khai khoáng giảm. Việc ứng dụng công
nghệ cao trong sản xuất công nghiệp đang ngày càng mang lại hiệu quả kinh tế. Tuy
nhiên, công nghiệp trong khu vực vẫn chưa phát triển tương xứng với tiềm năng và
lợi thế của lưu vực. Vùng đã bước đầu hình thành các cụm công nghiệp tập trung
thuộc sở hữu tư nhân, thu hút mạnh vốn đầu tư nước ngoài.
Năm 2015, giá trị sản xuất công nghiệp theo giá hiện hành trên lưu vực sông
Lam đạt 60793,8 tỷ đồng, tăng 21,2% so với năm 2014. Trong đó, công nghiệp khai
khoáng tăng 8,58%; công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 14,14%; công nghiệp sản
xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí tăng
7,52%; cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng
10,41%.[3,4]
Các khu công nghiệp trên lưu vực góp phần lớn vào giá trị sản xuất công nghiệp
của khu vực và cả nước như: Formosa, Vũng Áng, nhà máy Bia Sài Gòn – Hà Tĩnh,
nhà máy sản xuất cọc sợi Vinatex, nhà máy Tôn Hoa Sen, nhà máy chế biến cá hộp
Royal Foods, nhà máy chế biến thực phẩm Masan, nhà máy xi măng Sông Lam 2,
nhà máy gỗ MDF,...
Các ngành nghề tiểu thủ công nghiệp đã phát triển theo hình thức làng nghề
đã thu hút hàng vạn lao động dư thừa ở vùng nông thôn và thu hút lực lượng lao
động nông nhàn. Các nghề tiểu thủ công nghiệp phát triển mạnh tại đây là chế biến
nước mắm, đóng mới và sửa chữa tàu thuyền, đan vá lưới,...
Cùng với việc thu hút đầu tư, triển khai các dự án lớn trên địa bàn, chính
quyền đã quan tâm ưu tiên phát triển công nghiệp nông thôn theo hướng tập trung
gắn với xây dựng nông thôn mới; tiếp tục huy động nguồn vốn đầu tư các khu công
nghiệp, cụm công nghiệp, đồng thời rà soát, lập hồ sơ thành lập mới các cụm công

15


nghiệp. Từng bước triển khai kế hoạch di dời các cơ sở vào sản xuất tập trung trong
các cụm công nghiệp. Thực hiện đầu tư, nâng cấp hệ thống điện, di dời cột điện ảnh
hưởng đến quy hoạch xây dựng nông thôn mới.
1.2.3.3 Thương mại, dịch vụ và du lịch
Ngành thương mại và dịch vụ đang trên đà phát triển mạnh, lưu vực sông
Lam nằm ở vị trí cầu nối Bắc - Nam và có hướng mở mạnh ra hướng Đông và sang
phía Tây. Các xã đều đã có nhà văn hóa, bưu điện trung tâm xã, bưu chính viễn
thông trên toàn lưu vực phát triển mạnh đã phủ sóng điện thoại di động toàn bộ
vùng đồng bằng hạ lưu. Việc thông tin liên lạc trong khu vực rất thuận lợi để hỗ trợ
cho việc phát triển kinh tế xã hội trên khu vực.[7]
Chất lượng cung cấp các dịch vụ du lịch và thương mại ngày càng cao. Công
tác quản lý nhà nước đối với lĩnh vực kinh doanh thương mại; quản lý thị trường được
tăng cường, tập trung chỉ đạo thực hiện các chính sách phát triển thương mại nông thôn.
Các địa phương tập trung tuyên truyền, kiểm tra và xử lý kinh doanh hàng hóa không
rõ nguồn gốc xuất xứ và an toàn vệ sinh thực phẩm, kiểm tra hoạt động của các ban
quản lý chợ, hệ thống nhà hàng, khách sạn, hộ kinh doanh, thực hiện niêm yết giá công
khai và bán theo giá niêm yết. Đẩy mạnh thực hiện Cuộc vận động Người Việt Nam ưu
tiên dùng hàng Việt Nam, đặc biệt là tiêu thụ hàng hóa sản xuất trong vùng.
Tổng mức bán lẻ hàng hóa chia theo nhóm hàng bán lẻ thì nhóm lương thực,
thực phẩm chiếm tỷ trọng lớn nhất; nhóm đồ dùng, dụng cụ, trang thiết bị gia đình;
nhóm gỗ và vật liệu xây dựng; phương tiện đi lại; xăng dầu.
Năm 2015, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng theo
giá thực tế ước tính đạt 75.335,1 tỷ đồng. Kim ngạch xuất nhập khẩu hàng hóa ước
đạt 4,482 tỷ USD (Nghệ An 682 triệu USD, Hà Tĩnh 3,8 tỷ USD). Dịch vụ vận tải đạt
mức tăng trưởng khá, số lượt hành khách vận chuyển bằng đường bộ đạt 62 triệu
lượt khách; khối lượng hàng hóa vận chuyển 73.784 nghìn tấn.[3,4]
Lĩnh vực thương mại, du lịch, thông tin truyền thông, vận tải, tài chính ngân hàng
phát triển ổn định: Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ ước đạt 86.066 tỷ
đồng, tăng 12,86% so với năm 2014. Kim ngạch xuất nhập khẩu qua địa bàn năm
2015 ước đạt 3.729,3 triệu USD, trong đó kim ngạch xuất khẩu hàng hóa ước đạt
585,35 triệu USD; kim ngạch nhập khẩu hàng hóa ước đạt 3.144 triệu USD. Chỉ số giá
tiêu dùng bình quân tăng 1,33% so với năm 2014.[3,4]

16


Lưu vực sông Lam là vùng có nhiều địa danh du lịch nổi tiếng. Hàng năm
thu hút một lượng lớn du khách trong và ngoài nước. Việc khai thác hiệu qua các
nguồn tài nguyên du lịch đã góp phần làm tăng doanh thu cho vùng. Doanh thu dịch
vụ lưu trú, ăn uống và du lịch lữ hành năm 2015 ước đạt 5.564,76 tỷ đồng.
1.2.4 Y tế, giáo dục
Theo thống kê về y tế năm 2015, trên lưu vực sông Lam có 816 cơ sở khám
chữa bệnh trực thuộc Sở Y tế. Trong đó có 45 bệnh viện, 27 phòng khám đa khoa
khu vực và 742 trạm y tế phường xã, 2 bệnh viện điều dưỡng và phục hồi chức năng,
với 12.696 giường bệnh và 2.290 bác sĩ, 2.282 y sĩ, 4.010 y tá và khoảng 1.227 nữ
hộ sinh.[12] Mạng lưới cơ sở khám chữa bệnh được củng cố, tăng cường ở các tuyến.
Tập trung phát triển chuyên môn kỹ thuật chẩn đoán, điều trị. Không ngừng nâng cao
chất lượng khám chữa bệnh và nâng cao y đức trong các cơ sở khám chữa bệnh,
đảm bảo công tác khám chữa bệnh. Chủ động trong công tác phòng chống dịch bệnh,
khống chế không để dịch lớn xảy ra; tăng cường quản lý bảo đảm an toàn vệ sinh thực
phẩm. Công tác dân số - kế hoạch hóa gia đình được đẩy mạnh; tập trung giảm sinh,
giảm số người sinh con thứ 3 trở lên.
Tính đến thời điểm ngày 30 tháng 9 năm 2014, trên địa bàn Nghệ An và Hà
Tĩnh có 1.498 trường học ở cấp phổ phông, trong đó: trung học phổ thông có 131
trường, trung học cơ sở có 536 trường, tiểu học có 804 trường, có 25 trường phổ
thông cơ sở. Tổng số học sinh phổ thông khoảng 723.909 học sinh. Tỷ lệ tốt nghiệp
trung học phổ thông đạt 99,5%. Hệ thống thư viện gồm 33 thư viện với khảng 571
nghìn đầu sách phục vụ độc giả.[12] Với hệ thống trường học như thế, nền giáo
dục trong vùng cũng tương đối hoàn chỉnh, góp phần giảm thiểu nạn mù chữ trong
vùng.
Ngoài ra, các hoạt động văn hóa - xã hội - thể thao được chính quyền và người
dân địa phương tích cực thực hiện. Tuyên truyền trong nhân dân nhiệm vụ bảo vệ tổ
quốc, giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội. Công tác bảo tồn, phát huy
các giá trị di sản văn hóa được quan tâm và đầu tư đúng mức. Phong trào xây dựng
Nông thôn mới ngày càng đạt được những kết quả tốt đẹp.

17


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×