Tải bản đầy đủ (.doc) (20 trang)

skkn dạy tốt bài thơ dô tả dô tà của mạnh lê theo hướng phát triển năng lực

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (3.26 MB, 20 trang )

1. MỞ ĐẦU
1.1. Lí do chọn đề tài
Tích hợp liên môn là một trong những xu thế dạy học hiện đại đã và đang
là xu hướng mới được quan tâm nghiên cứu và áp dụng trong nhà trường ở
nhiều nước trên thế giới hiện nay. Nó được xem là một trong những giải pháp để
đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục nhằm phát huy tính tích cực, chủ động của
học sinh, đồng thời nâng cao chất lượng giáo dục trong nhà trường. Tích hợp
kiến thức liên môn trong dạy học chương trình địa phương (CTĐP) đáp ứng
được yêu cầu đổi mới giáo dục hiện nay, rèn luyện cho học sinh khả năng gắn
kết kiến thức đã học được trong nhà trường với những hiểu biết về quê hương và
những vấn đề đang đặt ra cho cộng đồng.
Tuy nhiên, ở nước ta hiện nay vấn đề xây dựng môn học tích hợp với
những mức độ khác nhau mới thực sự được tập trung nghiên cứu, thử nghiệm và
áp dụng vào nhà trường phổ thông, chủ yếu là các trường Tiểu học và cấp THCS
nhưng mới chỉ dừng lại ở mức độ thử nghiệm, tìm tòi mà chưa có một chương
trình hướng dẫn cụ thể. Chính vì vậy, bản thân, đồng nghiệp và nhà trường đều
chưa thực sự có kinh nghiệm giảng dạy theo phương pháp này.
Hơn nữa, cách sắp xếp các nội dung dạy hoc trong tài liệu CTĐP hiện
hành chưa thật sự tạo nhiều thuận lợi cho mục tiêu đó. Hiện tại cũng chưa có các
tài liệu nghiên cứu nào bàn sâu vào vấn đề này. Giáo viên (GV) muốn dạy theo
phương pháp tích hợp liên môn phải tự tìm tòi, lựa chọn, sắp xếp lại nội dung
dạy học trong chương trình hiện hành theo định hướng phát triển năng lực học
sinh nên không tránh khỏi làm cho GV có cảm giác ngại thay đổi. Bởi chúng ta
từ lâu đã quen dạy học bám theo sách giáo khoa (SGK), tài liệu CTĐP và phân
phối chương trình cấp trên chỉ đạo. Xuất phát từ những lí do trên, tôi đã mạnh
dạn nghiên cứu đề tài: Tích hợp liên môn nhằm giúp học sinh lớp 9 Trường
THCS Nga Thiện tiếp nhận tác phẩm văn học địa phương một cách có hiệu
quả trong giờ đọc - hiểu văn bản tiết 42: “Dô tả dô tà”của Mạnh Lê.
1.2. Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu đề tài này, tôi muốn đồng nghiệp nhận thấy rõ được tầm quan
trọng của việc tích hợp kiến thức liên môn trong dạy học Ngữ văn lớp 9 nói


riêng và bộ môn Ngữ văn nói chung.
Phương pháp tích hợp kiến thức liên môn trong dạy học văn đặc biệt là
phần giảng văn sẽ mang lại một cách tiếp cận mới đa chiều, đa kênh để các em
đi vào tìm hiểu tác phẩm một cách hiệu quả nhất. Bởi vì, tác phẩm văn học nào
cũng phản ánh dấu ấn của thời đại. Dấu ấn của thời đại bao giờ cũng in đậm nhất
cũng là hệ tư tưởng, giá trị thẩm mỹ, có tầng chiều sâu văn hóa. Bất kể tác phẩm
nào cũng phản ánh một giai đoạn lịch sử, một vùng đất… và tất nhiên đối với tác
phẩm văn học, ngôn ngữ là phương tiện để phản ánh. Bởi thế, trong văn, trong
thơ có cả âm nhạc, hội họa, điêu khắc…
Dạy học văn theo hướng tích hợp kiến thức liên môn còn giúp GV chủ
động hơn trong chuẩn bị thiết kế bài giảng; giúp học sinh (HS) có thói quen tìm
hiểu, biết vận dụng tổng hợp kiến thức để giải quyết một vấn đề. Từ đó, bồi
dưỡng cho các em tinh thần tự học, sáng tạo, bồi dưỡng tư duy, tâm hồn, tư
1


tưởng. Đồng thời, rèn luyện tư duy suy luận nhanh, kỹ năng liên hệ, tổng hợp,
đánh giá, nhận xét, đối chiếu, so sánh… và nhiều kỹ năng khác cho HS.
1.3. Đối tượng nghiên cứu
Với đề tài này tôi hướng tới đối tượng nghiên cứu là giảng dạy tiết 42:
Văn bản “Dô tả dô tà” theo hướng tích hợp liên môn ở bộ môn Ngữ văn lớp 9.
Nhằm tổng kết kinh nghiệm và hiệu quả thực tiễn của việc hướng dẫn học sinh
đạt kết quả tốt khi cảm thụ tác phẩm văn học này một cách sâu sắc, đa chiều.
1.4. Phương pháp nghiên cứu
1.4.1. Phương pháp chủ yếu
Để đạt được mục đích và nhiệm vụ đặt ra, tôi sử dụng các phương pháp cơ
bản sau: Tìm hiểu, nghiên cứu đặc thù của bộ môn Ngữ văn 9, trọng tâm là văn
bản “Dô tả dô tả” thuộc CTĐP của tác giả Mạnh Lê, nghiên cứu xây dựng trên
cơ sở lí thuyết; phương pháp điều tra khảo sát thực tế, thu thập thông tin.
Ngoài tôi còn dùng các phương pháp hỗ trợ khác như: Phương pháp nghiên

cứu tài liệu, phát vấn, giảng giải, bình giảng, so sánh, đối chiếu, thống kê, tổng kết
kinh nghiệm, tích hợp liên môn...
1.4.2. Kế hoạch và phạm vi đề tài
Kế hoạch thực hiện đề tài: Đề tài bắt đầu nghiên cứu từ tháng 9 năm 2017
và được thực nghiệm từ năm học 2017 - 2018. Bổ sung và điều chỉnh vào năm
học 2018 - 2019. Đề tài này đã được tổng kết, rút kinh nghiệm vào cuối tháng 8
năm 2019.
Đề tài được áp dụng với đối tượng học sinh khối 9 và học sinh giỏi, học
sinh thi vào 10 THPT của Trường THCS Nga Thiện - Nga Sơn - Thanh Hóa.
1.5. Những điểm mới của sáng kiến kinh nghiệm
Dựa trên sự phát triển của SKKN cùng chủ đề năm trước SKKN này đã bổ
sung và hoàn thiện thêm phần Các giải pháp đã sử dụng để giải quyết vấn đề và
phần giáo án minh họa soạn theo phương pháp mới- đinh hướng phát triển
năng lực, phẩm chất cho học sinh.
2. NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
2.1. Cơ sở lí luận
Trước hết, dạy học theo hướng tích hợp liên môn là hình thức tìm tòi
những nội dung giao thoa giữa các môn học với nhau, tìm ra những khái niệm,
tư tưởng chung giữa các môn học. Nó thuộc về nội dung dạy học chứ không
phải là phương pháp dạy học. Hơn nữa, do yêu cầu của mục tiêu dạy học phát
triển năng lực học sinh, đòi hỏi phải tăng cường yêu cầu HS vận dụng kiến thức
của nhiều môn học vào giải quyết những vấn đề thực tiễn... Khi giải quyết một
vấn đề trong thực tiễn, bao gồm cả tự nhiên và xã hội, đòi hỏi HS phải vận dụng
kiến thức tổng hợp, liên quan đến nhiều môn học. Vì vậy, dạy học cần phải tăng
cường theo hướng tích hợp liên môn.
Trên cơ sở mục tiêu đổi mới giáo dục nói chung, nâng cao chất lượng môn
Ngữ văn nói riêng và trên hết là dạy học theo hướng tích cực. Học sinh được chủ
động tiếp cận tác phẩm, chọn được phương pháp phù hợp để học tập với hiệu
quả cao nhất mà không bị gò bó căng thẳng.
2



Mặt khác tích hợp chủ đề, vận dụng kiến thức liên môn để giải quyết một
vấn đề cũng đang là trào lưu của mỗi địa phương, trường học, giáo viên, học
sinh cũng đã và đang được tích cực thực hiện. Bởi vậy, đề tài của tôi cũng bám
sát những mục tiêu và sự định hướng đó. Đây sẽ là một cái nhìn mới, một cách
tiếp cận mới trong giảng dạy Ngữ văn nói chung, phần giảng văn nói riêng. Bởi
trong văn có sử, trong văn có địa, trong văn có văn hóa có âm nhạc có hội họa,
có tư tưởng, có giá trị thẩm mỹ và cả những môn khoa học tự nhiên khác. Làm
thế nào để một tác phẩm sống mãi, mãi lung linh tỏa sáng, thấm ngấm vào tâm
hồn mỗi học sinh, để các em không chỉ hiểu mà còn biết sống đẹp, sống có ích là
vấn đề đặt ra với mỗi giáo viên dạy Ngữ văn.
2.2. Thực trạng vấn đề nghiên cứu
2.2.1. Thực trạng
Trong quá trình giảng dạy tôi nhận thấy thực trạng của vấn đề được trình
bày ngắn gọn như sau:
2.2.1.1. Với giáo viên
Việc đưa kiến thức liên môn vào hoạt động dạy học phải có sự khéo léo
tính toán kỹ càng nếu không dễ dẫn tới quá tải trong giờ học, điều đó đi ngược
lại với chủ trương dạy học giảm tải, tinh giản nội dung. Mặt khác, dạy học tích
hợp thường gặp khó khăn chung như việc đổi mới tổ chức dạy học, đổi mới kỹ
thuật dạy học, đổi mới phương pháp dạy học nhưng nhiều học sinh chưa có thói
quen về tư duy phản biện nên khi được chuyển giao nhiệm vụ học tập thường
làm việc hình thức, không phát huy được khả năng hợp tác trong nhóm.
Hơn nữa, vận dụng tích hợp liên môn trong dạy học Ngữ văn nói chung và
dạy Ngữ văn địa phương nói riêng hiện nay chưa được áp dụng một cách phổ
biến ở các trường THCS. Thực trạng dạy học chương trình văn học địa phương
trong những năm qua gặp không ít khó khăn, hiệu quả đem lại còn rất hạn chế
do giáo viên và học sinh thiếu tài liệu tham khảo và tài liệu hướng dẫn giảng
dạy. Thiếu cơ sở vật chất (thiết bị thông tin, truyền thông) phục vụ cho việc dạy

học. Trong quá trình vận dụng kiến thức liên môn để giải quyết nội dung bài học
còn gặp phải một số vấn đề như:
Thực tế việc dạy học vận dụng kiến thức liên môn phải có sự phối kết hợp
làm việc nhóm giữa nhiều giáo viên các bộ môn nên tốn thời gian.
Nhiều giáo viên trong tổ chưa được tập huấn về dạy học theo chủ đề tích
hợp liên môn.
Bản thân mỗi giáo viên để soạn giáo án liên môn nói riêng và giáo án
năng lực theo phương pháp mới nói chung, xây dựng bài giảng điện tử tốn nhiều
thời gian nghiên cứu, đầu tư công sức cho bài dạy.
2.2.1.2. Với học sinh
Dạy tích hợp là cả một quá trình từ tiểu học đến THPT nên giai đoạn đầu
này, đặc biệt là thế hệ HS hiện tại đang quen với lối mòn cũ nên khi đổi mới học
sinh thấy lạ lẫm và khó bắt kịp. Đa số học sinh đều có sức ì lớn và tâm lí ngại
thay đổi tìm tòi, ngại khó khăn, vẫn mang tư duy lối mòn cũ.
Do xu thế chọn ngành nghề theo thực tế xã hội nước ta hiện nay mặc dù là
môn học cơ bản nhưng không ít các học sinh và phụ huynh kém mặn mà đối với
môn Ngữ văn.
3


2.2.2. Kết quả thực trạng
Để có thể áp dụng và đạt được hiệu quả cao tích hợp kiến thức liên môn
trong việc tổ chức hoạt động dạy học bài thơ “Dô tả dô tà” của nhà thơ Mạnh
Lê trong CTĐP Ngữ văn 9, tôi đã thực hiện điều tra, khảo sát về khả năng tích
hợp liên môn của học sinh lớp 9B Trường THCS Nga Thiện trước khi tiến hành
giờ dạy thực nghiệm ở lớp 9A với những nội dung kiến thức: Văn học (tác giả, tác
phẩm...); Lịch sử (lịch sử về văn hóa, truyền thống yêu nước, đấu tranh của nhân
dân Thanh Hóa anh hùng…); Địa lí (vị trí địa lí, địa hình, địa danh, con người…);
Giáo dục công dân (bài học về lòng yêu quê hương, ý thức trách nhiệm của bản
thân đối với quê hương…); Âm Nhạc (các làn điệu dân ca và điệu hò sông Mã,

bài hát ca ngợi xứ Thanh…); Mĩ thuật (vẽ tranh về đề tài quê hương sau khi học
xong nội dung bài học).
Kết quả là qua khảo sát về tỉ lệ học sinh có khả năng tích hợp các đơn vị
kiến thức nói trên như sau:

Lớp
9B

Số lượng khảo sát

Tích hợp môn

29
29
29
29
29

Lịch sử
Địa lí
Giáo dục
Âm nhạc
Mĩ thuật

Khả năng tích hợp môn học
SL
%
2
6,9
4

13,4
6
20,7
2
6,9
0
0,0

2.3. Các giải pháp đã sử dụng để giải quyết vấn đề
2.3.1. Giải pháp
Với kết quả khảo sát trên, để nâng cao chất lượng dạy và học chương trình
Ngữ văn địa phương theo hướng tích hợp kiến thức liên môn trong bài thơ “Dô
tả dô tà” của tác giả Mạnh Lê, tôi đã tiến hành thực nghiệm tiết dạy tại lớp 9A
trường THCS Nga Thiện với các giải pháp sau:
- Khảo sát, đánh giá, xây dựng kế hoạch thực nghiệm.
- Xác định mục tiêu, phương pháp dạy học theo hướng tích hợp liên môn.
- Xây dựng giáo án dạy học phát triển năng lực học sinh theo hướng tích hợp
liên môn.
- Tổ chức, xây dựng lớp học theo không gian mở trong giờ dạy học tích hợp kiến
thức liên môn.
- Tổ chức cho học sinh tìm hiểu tác phẩm thông qua các buổi học tập ngoại
khóa.
- Rút kinh nghiệm – đưa ra giải pháp sau khi đánh giá kết quả cụ thể từ so sánh,
đối chiếu giữa lớp thực nghiệm 9A và lớp dạy theo phương pháp chung 9B
- Trao đổi, thảo luận. góp ý thông qua sinh hoạt chuyên môn của nhóm Văn của
tổ Khoa học Xã Hội.
2.3.2. Tổ chức thực hiện
2.3.2.1. Xác định mục tiêu, phương pháp của kế hoạch dạy học theo hướng
tích hợp liên môn.
4



Dạy học vận dụng kiến thức liên môn nhằm phát huy tính tích cực của học
sinh, góp phần phát triển tư duy liên hệ, liên tưởng tạo cho học sinh thói quen
trong tư duy, lập luận tức là khi xem xét vấn đề phải đặt chúng trong một hệ quy
chiếu, từ đó mới có thể nhận thức vấn đề một cách thấu đáo, làm cho quá trình
học tập có ý nghĩa. Trên cơ sở đó khi đọc – hiểu bài thơ “Dô tả dô tà” yêu cầu
cần đạt đối với học sinh là biết tư duy liên hệ, liên tưởng về các đơn vị kiến thức
của các môn học có liên quan tới nội dung bài học như: Lịch sử, Địa lí, Giáo dục
công dân, Âm nhạc… để có cái nhìn tổng quát về vấn đề đặt ra trong văn bản,
đem đến cho các em những hiểu biết về đặc điểm lời ăn, tiếng nói của quê
hương. Xứ Thanh không chỉ nổi tiếng bởi đất thiêng, người hùng, địa linh nhân
kiệt mà ngay cả trong những cuộc đời lao động cũng làm nên những khúc tráng
ca “Hò sông Mã”, “Múa đèn”. Mỗi đền, chùa, thắng tích, mỗi điệu hò, câu hát,
mỗi con người quê hương đều làm sống dậy truyền thống lịch sử văn hóa xứ
Thanh và bản tính cần cù, thông minh, mạnh mẽ, khoáng đạt, trọng nghĩa của
con người quê hương, từ đó giúp cho việc học của các em có ý nghĩa hơn.
Để nâng cao hiệu quả của bài dạy mang tính tích hợp liên môn, bản thân đã
sử dụng các phương pháp như sau:
- Dạy học theo hợp đồng.
- Phương pháp trực quan.
- Phương pháp dạy học đặt và giải quyết vấn đề...
Trong các phương pháp trên thì phương pháp dạy học đặt và giải quyết vấn
đề được xác định là chủ yếu vì trong nội dung của bài học sẽ có nhiều tình
huống có vấn đề mà học sinh phải vận dụng kiến thức liên môn để giải quyết
như: cách đặt tên bài thơ, cách thể hiện tình cảm của tác giả đối với quê hương,
cách đưa những kiến thức về Lịch sử, Địa lí, Âm nhạc… vào trong sáng tác của
nhà thơ Mạnh Lê. Phương pháp dạy học theo hợp đồng được thể hiện trong việc
giao các hợp đồng cho các tổ nhóm tìm hiểu trước khi đọc – hiểu bài thơ thông
qua việc tham khảo tài liệu liên quan. Bên cạnh đó tôi cũng chú trọng tới việc

xây dựng không gian mở, không gian nghệ thuật trong giờ dạy học chương trình
địa phương theo hướng tích hợp liên môn để học sinh có thể quan sát, cảm nhận
về chân dung nhà thơ, các địa danh, di tích lịch sử, các hình thức sinh hoạt văn
hóa của người dân địa phương…được nhắc đến trong bài thơ thông qua hệ thống
tranh, ảnh, video clip điệu hò sông Mã, ca khúc “Về với xứ Thanh” qua việc
trình chiếu các silide, từ đó giúp các em có hứng thú hơn khi tiếp cận tác phẩm.
2.3.2.2. Thiết kế giáo án vận dụng kiến thức liên môn
Trên cơ sở bảo đảm được mục đích, yêu cầu chung của giờ học Ngữ văn
tích hợp liên môn, việc thiết kế giáo án giờ học vận dụng kiến thức liên môn
phải bảo đảm nội dung và cấu trúc đặc thù nhưng không gò ép vào một khuôn
mẫu cứng nhắc mà cần tạo ra những chân trời mở cho sự tìm tòi, sáng tạo trong
các phương án tiếp nhận của học sinh.
2.3.2.3. Tổ chức giờ dạy vận dụng kiến thức liên môn
Bên cạnh việc thiết kế một giáo án giảng dạy theo hướng tích hợp liên môn,
để dạy tích hợp liên môn đối với bài thơ “Dô tả dô tà” có hiệu quả cần chú ý tới
việc xây dựng không gian lớp học phù hợp với cách học của học sinh, cách dạy
của giáo viên trong quá trình tiếp cận và truyền thụ kiến thức. Trước hết cần xây
5


dựng mô hình lớp học theo không gian mở: mô hình này được xây dựng bằng
việc sắp đặt bàn nghế của lớp học theo hình chữ U hoặc chữ C, vị trí cách bố trí
bàn ghế giáo viên, bảng đen, máy chiếu… với cách bố trí này học sinh sẽ thuận
lợi hơn trong quá trình giải quyết các hợp đồng, thảo luận về các vấn đề tích hợp
liên môn.
2.3.3. Biện pháp tiến hành cụ thể
- Hình thức: Thực nghiệm SKKN trên một lớp 9A, một lớp dạy theo
phương pháp chung 9B để đối chiếu.
- Cách tổ chức:
+ Lớp thực nghiệm tiến hành theo quy trình của SKKN, lớp đối chiếu theo

cách thức chung của tiết dạy văn bản.
+ Lớp thực nghiệm tiến hành theo các bước:
-> Bước 1: Giáo viên xây dựng kế hoạch, thiết kế bài học theo phân phối
chương trình
-> Bước 2: Giao nhiệm vụ cụ thể cho học sinh: Mục tiêu, phương pháp,
phương tiện, kiến thức liên quan, các bước tiến hành…
-> Bước 3: Thực nghiệm.
+) Theo tiến trình, cấu trúc bài học, đặc trưng bộ môn.
+) Khéo léo lồng ghép, tích hợp kiến thức liên quan đến các môn học.
+) Khuyến khích học sinh tìm tòi, chủ động sáng tạo.
-> Bước 4: Tổng kết – Rút kinh nghiêm: ủng cố nội dung kiến thức, kĩ
năng.
-> Bước 5: Giao nhiệm vụ cho những bài học tiếp theo.
- Phương pháp:
+ Giáo viên: Xây dựng kế hoạch, thiết kế bài học, tư liệu liên quan, thiết
bị tương ứng, dự kiến quy trình, kết quả,…
+ Học sinh: Sưu tầm, vận dụng kiến thức: Văn học, Lịch sử, Địa lí, Âm
nhạc, Mĩ thuật, GDCD, ... kỹ năng tổng hợp, báo cáo kết quả. Có thể sưu tầm cá
nhân, trao đổi, thu thập thông tin theo nhóm.
2.3.4. Mô tả - giải pháp
Ở nội dung này, SKKN của tôi sẽ tập trung vào việc dẫn dắt mô tả từng
khía cạnh vấn đề qua các bước cụ thể của quy trình thiết kế một bài học. Tính
mới, giải pháp thực hiện được chứng minh qua các ví dụ cụ thể theo nội dung
bài học.
Giáo án thực nghiệm tích hợp liên môn: Ngữ văn, CTĐP, tiết 42, lớp
9A, Trường THCS Nga Thiện:
DÔ TẢ DÔ TÀ
(Mạnh Lê)
A. Mục tiêu dạy học: Học sinh cần đạt:
1. Kiến thức:

Qua tiết học GV hướng dẫn HS vận dụng được các kiến thức liên môn
theo hướng tích hợp để hiểu và vận dụng nó vào thực tiễn cuộc sống. Cụ thể:
- Môn Ngữ văn:
+ HS cần nắm khái quát về tác giả Mạnh Lê.
+ Hiểu và cảm nhận được vẻ đẹp bài thơ Dô tả dô tà.
6


- Môn Lịch sử:
+ Hiểu được lịch sử về các đời vua chúa (thời vua Lê, chúa Trịnh), Nền
văn hóa Đông Sơn qua hình ảnh trống đồng
+ Tìm hiểu những mẫu chuyện về trạng Quỳnh.
+ Các di tích lịch sử, văn hóa của Thanh Hóa được nhắc tới trong bài thơ
như: Chiến thắng Hàm Rồng thời chống Mỹ cứu nước với số liệu cụ thể qua
trích đoạn phim tư liệu “Chiến thắng Hàm Rồng” .
- Môn Địa lí:
+ Xác định trên lược đồ Việt Nam vị trí địa lí, địa hình của Thanh Hóa.
+ Đặc điểm địa lí của các địa danh nổi tiếng về đất và người xứ Thanh:
Sông Mã, Hàm Rồng, Đông Sơn, núi Nhồi.
- Môn Giáo dục công dân:
GDCD lớp 6, bài 6, tiết 8: Biết ơn; GDCD 9, tiết 13, bài 10: Kế thừa và
phát huy truyền thống tốt đẹp của dân tộc (Niềm tự hào, biết ơn, sự gắn bó với
quê hương cùng ý thức trách nhiệm giữ gìn và phát huy các giá trị truyền thống
tốt đẹp của quê hương, đất nước, ý thức xây dựng, bảo vệ môi trường và phát
triển quê hương).
- Môn Âm nhạc:
+ Sử dụng vi deo MP4 “Hò sông Mã”.
+ Vi deo MP4 các ca khúc “Về với xứ Thanh” của nhạc sĩ Nguyễn Tiến.
- Môn Mĩ thuật:
Vẽ tranh về đề tài phong cảnh quê hương (Các bức tranh vẽ về đề tài quê

hương của học sinh khi học xong nội dung bài học).
2. Kĩ năng
- Đọc hiểu một bài thơ hiện đại của người Thanh Hóa viết về Thanh Hóa.
- Cảm nhận được giá trị của ngôn ngữ, hình ảnh đặc sắc trong bài thơ.
- Rèn luyện kĩ năng đọc và phân tích tác phẩm.
- Rèn luyện kĩ năng tích hợp liên môn trong bài học.
- Kỹ năng ra quyết định: Hưởng ứng, tuyên truyền mọi người biết giữ gìn,
bảo vệ, tự hào về bản sắc văn hóa của quê hương.
3. Thái độ
- Giáo dục lòng tự hào và tình yêu quê hương.
- Giữ gìn và phát huy truyền thống tốt đẹp của quê hương trong thời đại mới.
4. Định hướng phát triển năng lực
- Học sinh cần có năng lực vận dụng những kiến thức liên môn ở bộ môn:
Ngữ văn, Lịch sử, Địa lý, GDCD, Âm nhạc, Mĩ thuật, để giải quyết vấn đề mà
dự án dạy học đã đặt ra.
- Phát triển năng lực tư duy, năng lực cảm thụ, năng lực hợp tác.
B. Tài liệu, phương tiện
1. Giáo viên
- SGK, SGV chương trình địa phương Ngữ văn 8, 9,
- Tham khảo kiến thức liên môn có liên quan: Lịch sử về các đời vua
chúa, các di tích lịch sử… của Thanh Hóa được nhắc tới trong bài thơ (Lịch sử);
đặc điểm địa lí của các địa danh nổi tiếng với đất và người xứ Thanh (Địa lí);
các làn điệu dân ca Thanh Hóa, đặc biệt là điệu hò sông Mã về nguồn gốc, cách
7


thể hiện (Âm nhạc); bài học về lòng yêu quê hương, ý thức xây dựng, bảo vệ
môi trường và phát triển quê hương (Giáo dục công dân),...
- Thiết bị: Máy chiếu projecter, bút trình chiếu, laptop, loa vi tính.
- Sử dụng ứng dụng phần mềm: Word, poweroint (trình chiếu), (Phần mềm

xem video VLC media, Trích đoạn hát nhạc hò sông Mã, trích đoạn ca nhạc “Về
với xứ Thanh”, trích đoạn phim tài liệu “Chiến thắng Hàm Rồng”,…
- Thông tin, tranh ảnh, tài liệu liên quan đến nội dung bài học.
2. Học sinh
- Vở ghi, vở soạn văn.
- Sách giáo khoa chương trình địa phương Ngữ văn 8, 9.
- Thông tin trên các phương tiện thông tin đại chúng, từ Internet.
C. Phương pháp và kỹ thuật dạy học
+ Phương pháp dạy học
- Dạy học theo hợp đồng (giao các hợp đồng về chủ đề tích hợp liên môn đến
các tổ, nhóm)
- Phương pháp trực quan (Quan sát tranh ảnh, video… về Thanh Hóa qua máy
chiếu và tranh ảnh trên máy chiếu).
- Phương pháp dạy học đặt và giải quyết vấn đề...( Đọc – hiểu văn bản theo nội
dung hướng dẫn dạy học chương trình địa phương của Sở Giáo dục & Đào tạo
Thanh Hóa)
Ngoài ra tôi còn có các phương pháp đàm thoại, thuyết trình, gợi mở, bình
giảng, tổng hợp, so sánh, vận dụng kiến thức liên môn.
+ Kỹ thuật dạy học
- Kỹ thuật giao nhiệm vụ (cho các nhóm HS chuẩn bị bài ở nhà)
- Kỹ thuật (đọc tích cực, tia chớp, động não, phân tích video)
D. Tiến trình dạy học
1.Kiểm tra bài cũ
- GV kiểm tra việc chuẩn bị các hợp đồng ở nhà của các nhóm học sinh theo yêu
cầu.
- GV kiểm tra sự chuẩn bị bài mới của cả lớp liên quan đến nội dung bài học.
2. Bài mới
* Hoạt động 1: Khởi động (3 phút)
- Mục tiêu: Tạo tâm thế, hứng thú học tập cho HS.
- Phương pháp: Trực quan, vấn đáp, thuyết trình, đàm thoại, vận dụng

kiến thức liên môn.
- Kỹ thuật: Động não.
GV sử dụng phương pháp trực quan, HS lắng nghe và quan sát điệu hò
sông Mã qua video trình chiếu và tổ chức cho HS triển khai và thanh lí hợp
đồng 1: Những làn điệu dân ca và điệu hò sông Mã, bài hát “Về với xứ Thanh”
(Tích hợp môn Âm nhạc)
GV dẫn dắt vào bài mới:
Ai về Thanh Hóa.
Thanh Hóa anh hùng.
Dô tá, dô tà…
8


Đó là âm hưởng hào hùng, lạc quan - khúc hát anh hùng của người lao
động sông nước xứ Thanh qua điệu hò sông Mã. Trên nền nhịp điệu câu hò ấy một làn điệu dân ca quen thuộc, tác giả Mạnh Lê đã sáng tác nên bài thơ “Dô tả
dô tà”. Đó cũng là nội dung của bài học hôm nay cô cùng các em sẽ tìm hiểu cụ
thể qua tiết 1 tiết học CTĐP tiết 42: Văn bản: Dô tả dô tà.
GV chiếu lược đồ Việt Nam và bản đồ hành chính Thanh Hóa.
(Triển khai thanh lý hợp đồng 2: Đất và người xứ Thanh)

Bản đồ hành chính tỉnh Thanh Hóa.
? Bằng kiến thức địa lí nhìn lên lược đồ Việt Nam em hãy xác định vị trí
địa lí của tỉnh Thanh Hóa.
HS đứng tại chỗ xác định vị trí địa lí của tỉnh Thanh Hóa.
GV giới thiệu thêm: Đặc điểm về vị trí địa lý khiến Thanh Hóa không chỉ
tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển kinh tế, văn hóa - xã hội mà còn là nơi
in dấu chiến công hiển hách của một Thanh Hóa anh hùng. (Tích hợp môn Địa
lý)
GV dẫn dắt vào nội dung cụ thể của bài học.
* Hoạt động 2: Hình thành kiến thức (40 phút)

- Mục tiêu: HS hiểu biết thêm về tác giả, tác phẩm, bố cục, những đặc sắc
về nội dung và nghệ thuật của văn bản.
- Phương pháp: Trực quan, vấn đáp, thuyết trình, đàm thoại, bình giảng,
vận dụng kiến thức liên môn.
- Kỹ thuật: Động não, đọc tích cực, đặt câu hỏi, kỹ thuật trình bày một
phút, kỹ thuật phân tích video.
- Phương thức hoạt động: Hoạt động cá nhân, nhóm.
Hoạt động dạy và học
Yêu cầu cần đạt
GV yêu cầu HS dựa vào chú thích SGK chương I. Tìm hiểu chung
trình địa phương, quan sát chân dung nhà thơ và
9


trả lời câu hỏi.
?Giới thiệu đôi nét về nhà thơ Mạnh Lê?
1. Tác giả: (SGK)
HS độc lập trả lời, lớp nhận xét GV bổ sung,
chốt ý.
- Mạnh Lê (1953 - 2008) tên thật là Lê Văn
Mạnh, quê xã Thiệu Trung, huyện Thiệu Hóa,
tỉnh Thanh Hóa.
- Ông là một trong những gương mặt sáng giá
của văn học Thanh Hóa sau năm 1975.
- Với hồn thơ mộc mạc, giản dị, giàu tính triết lí,
đậm chất truyền thống và hiện đại.
- Ông sáng tác nhiều tập thơ và Trường ca
Mạnh Lê (1953 - 2008)
(SGK).
2. Tác phẩm

? Bài thơ ra đời trong hoàn cảnh nào?
a. Hoàn cảnh ra đời:
? Em có hiểu biết gì về điệu hò sông Mã?
sáng tác năm 1995 bên bờ
HS trình bày, lớp nhận xét, GV bổ sung kết luận.
sông Mã.
- Là điệu hò trên dòng sông Mã, là bài hát dân
gian được sáng tác bởi loại hình nghệ thuật ngôn
từ, âm nhạc, diễn xướng. Có tính tập thể cao,
biểu hiện rõ nét tính chất lao động bằng âm nhạc
trên đò giang sông nước.
GV hướng dẫn HS đọc văn bản: chậm rãi, nhấn
giọng theo trường độ, nhịp độ, giọng vui tươi
khỏe khoắn, lúc khoan, lúc nhặt giống như nhịp
chèo thuyền trên sông (hò sông Mã).
Gọi 1,2 HS đọc, lớp nhận xét, GV bổ sung.

b. Đọc văn bản.

c. Bố cục: 2 phần
? Bài thơ có thể chia bố cục làm mấy phần? Cho
- Từ đầu đến “nhân gian”:
biết nội dung của từng phần?
truyền thống lịch sử, văn
HS phát biểu GV chiếu kết quả trên máy chiếu.
hóa của Thanh Hóa.
- Phần còn lại: Phẩm chất
con người xứ Thanh.
II. Phân tích
1. Truyền thống lịch sử

Sử dụng phương pháp dạy học đặt và giải quyết
văn hóa.
vấn đề để tìm hiểu về nội dung của bài thơ:
- Nét đặc trưng: Ngày nắng,
GV tổ chức cho HS triển khai và thanh lí hợp
ngày mưa xanh bờ rau má,
đồng 2,3
múa đội đèn, hát như trống
- Đất và người xứ Thanh (kiến thức Lịch sử, Địa
vỗ, chiều nhai rau má, tối
lí, Giáo dục công dân)
học chữ nôm…
- Vẻ đẹp xứ Thanh – tình cảm, trách nhiệm (Qua
cảm nhận văn học để rèn luyện kĩ năng sống )
10


GV và HS nhận xét, đánh giá hợp đồng 2,3.
? Qua làn điệu dân ca Dô tả dô tà tác giả đã giới
thiệu với chúng ta những đặc trưng gì của miền
quê Thanh Hóa?
? Tìm những từ ngữ, hình ảnh nói về những nét
đặc trưng của Thanh Hóa ở khổ 1, khổ 2.
? Em hiểu gì về nét đẹp văn hóa của con người
xứ Thanh qua hình ảnh “múa đội đèn, hát như
trống vỗ”.
GV Chiếu hình ảnh điệu múa đèn trên máy chiếu
HS quan sát, độc lập trình bày, lớp nhận xét, GV
bổ sung kết luận.
(Tích hợp môn GDCD)


Múa “Đi cấy” dân ca Thanh Hóa
- NT: So sánh, liệt kê: Nét
? Tác giả sử dụng biện pháp nghệ thuật nào, hãy
đẹp truyền thống văn hóa là
chỉ ra biện pháp nghệ thuật đó trong câu thơ.
điệu hò sông Mã, là điệu
? Biện pháp nghệ thuật trên có tác dụng gì?
múa đội đèn, (dân ca Đông
Anh).
? Câu thơ “Chiều nhai rau má, tối học chữ
nôm” giúp em hiểu điều gì về cuộc sống con
người nơi đây?
HS suy nghĩ trả lời.
GV giảng giải và liên hệ: Cây rau má lại là thước
đo những thăng trầm và trải nghiệm về một vùng
đất gian khổ, giàu tiềm năng và bản lĩnh. Là biểu
tượng trong gian khó vươn lên khổ học thành tài,
trở thành quê hương giầu truyền thống hiếu học.
Vĩ nhân và các đời vua
Cũng từ rau má, ốc cua nên người
(Trịnh Anh Đạt)
? Ngoài truyền thống hiếu học người Thanh Hóa
11


còn có truyền thống, tài năng nào khác?
HS Suy nghĩ độc lập trả lời, lớp nhận xét.
GV bổ sung, kết luận.
- Truyền thống siêng năng, cần cù trong lao

động, sống trong lành, vui tươi “ăn cơm bằng
đèn, đi cấy sáng trăng”.
- Nhiều tài năng, khéo tay, thông minh có nhiều
làng nghề truyền thống nổi tiếng: nghề đục đá ở
núi Nhồi, Nghề đúc đồng ở Trà Đồng.
? Em hãy nêu hiểu biết của bản thân về nền văn
hóa Đông Sơn qua hình ảnh trống đồng.
HS thảo luận trả lời.
GV chiếu hình ảnh trống đồng Đông Sơn, kết
hợp giảng giải.

Trống đồng Đông Sơn
Trống đồng Đông Sơn tiêu biểu cho nền văn hóa
Đông Sơn và nền văn minh sông Hồng của người
Việt cổ thời kỳ Hùng Vương dựng nước Văn
Lang (700 TCN - 100). biểu tượng thiêng liêng
của nền văn hóa dân tộc Việt Nam.
(Tích hợp môn Lịch sử, GDCD)
->Một cuộc sống yên bình,
? Qua những biểu hiện này giúp em hiểu gì về có những nét sinh hoạt văn
cuộc sống con người nơi đây?
hóa, truyền thống hiếu học,
cần cù, thông minh sáng tạo
nhiều tài năng, làng nghề
nổi tiếng.
? Truyền thống lịch sử của Thanh Hóa được nhắc - Rạng thời vua Lê, tối đời
đến trong đoạn thơ là gì? Tìm những từ ngữ hình chúa Trịnh, trạng Quỳnh
ảnh ở khổ 2.
ngạo nghễ đi vào nhân gian.
? Tác giả sử dụng nghệ thuật gì? Tác dụng”?

NT: Liệt kê, đối chiếu, nêu bật những đặc trưng
lịch sử của Thanh Hóa.
?Em hiểu gì về câu “Rạng thời vua Lê”
HS liên hệ kiến thức bộ môn Lịch sử trả lời.
12


- Thời Lê (Tiền Lê, Hậu Lê) đất nước thái bình
thịnh trị lưu danh muôn thuở.
Thời vua Thái tổ, Thái tông
Lúa tốt đầy đồng trâu chẳng buồn ăn.
-> Mảnh đất sản sinh những vị vua anh minh,
kiệt xuất nổi tiếng rạng rỡ đất nước, non sông
như Lê Hoàn, Lê Lợi.
(Tích hợp môn Lịch sử)
? Nhân vật trạng Quỳnh ngạo nghễ đi vào nhân
gian là biểu tượng cho điều gì?
Đất của những người thông minh tài trí không
khuất phục cường quyền tiêu biểu Trạng Quỳnh ->Người Thanh Hóa tự hào
? Như vậy người Thanh Hóa tự hào về điều gì về lịch sử của quê hương
trong lịch sử của quê hương?
với những trang sử hào
hùng và những con người
kiệt xuất.
=>Vùng đất địa linh nhân
? Qua đó em cảm nhận Thanh Hóa là một vùng kiệt, giàu truyền thống văn
đất như thế nào?
hóa, lịch sử.
HS làm việc độc lập trình bày, lớp nhận xét, bổ
sung, GV chốt ý ghi bảng.

2. Phẩm chất của con
GV chuyển ý sang phẩm chất con người xứ người xứ Thanh
Thanh
GV cho HS quan sát đoạn 2 (Một chiếc cầu… hết)
? Hình ảnh “Một chiếc cầu sắt gánh ngàn tấn
bom” Gợi cho em ấn tượng về tên một cây cầu
nào ở Thanh Hóa? Ở địa danh nào?
? Em có hiểu biết gì về cầu Hàm Rồng?
? Biện pháp nghệ thuật nào được sử dụng ở đây.
HS cả lớp cùng suy nghĩ độc lập trả lời, lớp nhận
xét, GV bổ sung, kết luận.
- NT: Nhân hóa, đối lập, tương phản, ẩn dụ.
- Cầu Hàm Rồng ở Nam Ngạn, Hàm Rồng,
Thanh Hóa, gắn liền với chiến tích lịch sử trong
kháng chiến chống Mỹ như một huyền thoại bản
hùng ca vang mãi, trong hai ngày 3 và 4 tháng 4
năm 1965 nhân dân Thanh Hóa bắn rơi 47 máy
bay, bắt sống nhiều giặc lái.
(Tích hợp môn Lịch sử, Địa lí)
GV chiếu vi deo đoạn phim tư liệu về chiến
thắng Hàm Rồng (1 phút) kết hợp giảng bình.
Chiến thắng Hàm Rồng là sự đối đầu lịch sử giữa
hai chế độ đế quốc và CNXH, một chiến thắng
13


mang tầm vóc thế giới, biểu tượng của sức mạnh
và trí tuệ của con người Việt Nam nói chung,
Thanh Hóa nói riêng.
? Chiến thắng Hàm Rồng nêu bật lên phẩm chất

gì của con người xứ Thanh.
-> Sáng ngời phẩm chất Anh hùng, kiên cường
trong đấu tranh chống ngoại xâm.
HS khái quát trả lời, GV chốt ý
? Làm nên chiến thắng Hàm Rồng ngoài sức
mạnh chiến đấu của quân dân còn có sức mạnh
nào góp sức nữa không? Em hiểu gì về hình ảnh
“Mặt trời đỏ au như mặt trống đồng” Nghệ thuật
gì được sử dụng ở đây? (So sánh)
HS tự bộc lộ suy nghĩ.
GV kết hợp giảng bình: Sức mạnh từ trống đồng
- từ truyền thống lịch sử lâu đời của Thanh Hóa.
Đó chính là sức mạnh của truyền thống và hiện
đại.
? Nhân dân Thanh Hóa kiên cường anh hùng
trong chiến đấu vậy trong cuộc sống đời thường
họ như thế nào? Câu thơ nào chứng tỏ điều đó?
HS làm việc độc lập trả lời.
GV giảng và chốt ý: Chân chất, mộc mạc trong
đời thường, tiếng nói cũng rất riêng không lẫn
vào đâu Răng, rứa, mô, tê, người Thanh Hóa có
tình đoàn kết ngược xuôi, tình cảm thủy chung
gắn bó Yêu nhau cửa biển, cưới nhau trên ngàn.
GV chiếu 2 câu thơ cuối lên màn hình
? Em hãy đọc, nêu suy nghĩ của mình và thử
bình câu thơ này.
“Một cuộc đời sông bao đời thuyền nát/
mãi còn câu hát vỗ vào ánh trăng”
HS tự bộc lộ, GV bổ sung, bình sâu và chốt ý
- Biết vượt lên trên nhọc nhằn, gian khó bằng

tinh thần lạc quan, yêu đời và không kém phần
lãng mạn.
- Sức nặng của bài thơ được dồn nén và kết tinh,
ở hai câu thơ cuối bài “Một…ánh trăng”. Trải
qua bao thăng trầm, đổi thay của lịch sử biết bao
con thuyền xuôi ngược, bao thế hệ đã qua đi
dòng sông vẫn chảy muôn đời hòa quyện cùng
tình cảm, trí tuệ, sự đoàn kết, anh dũng của con
người xứ Thanh vẫn trở thành một bài ca đẹp
sống mãi với thời gian, trường tồn cùng năm
14


tháng, còn mãi cùng ánh trăng.
“Một cuộc đời sông bao đời thuyền nát
Mãi còn câu hát vỗ vào ánh trăng”
GV chia lớp làm 2 nhóm thảo luận ( 2 phút)
Nhóm 1 : Qua tìm hiểu em khái quát những
phẩm chất tiêu biểu của con người xứ Thanh.
Nhóm 2 : Bài thơ cho em hiểu gì về tình cảm
của tác giả dành cho quê hương? Qua bài thơ
em rút ra bài học gì cho bản thân?
(Tích hợp môn GDCD và kỹ năng sống)
HS làm việc theo nhóm, dán kết quả lên bảng và
trình bày
GV cho lớp nhận xét, góp ý.
GV nhận xét, bổ sung và chốt ý và cho điểm
khuyến khích
GV cho HS liên hệ
GV tổ chức cho HS cả lớp khái quát về nội dung

và nghệ thuật của bài thơ.
? Bài thơ có những đặc sắc nghệ thuật gì?
? Điệp ngữ: dô tả dô tà lặp lại 4 lần, tác dụng?
- Mang âm điệu mênh mang, hào sảng, tự hào
của điệu hò sông Mã.

-> Quê hương Thanh Hóa
kiên cường, anh hùng trong
đấu tranh; lạc quan, chân
chất trong cuộc sống đời
thường và chan chứa yêu
thương dù trải qua bao
trường kỳ khó khăn.
- Niềm tự hào, yêu mến và
tình yêu sâu nặng của tác
giả đối với quê hương.

III. Tổng kết
1. Nghệ thuật
- Thể thơ tám chữ âm điệu
khỏe khoắn, âm vang, hào
sảng lấy nhịp điệu hò sông
Mã làm điểm nhấn để phát
triển bài thơ. Bài thơ đậm
chất hò sông Mã.
- Lời thơ giản dị, mộc mạc.
- Sử dụng điệp ngữ, liệt kê,
so sánh, nhân hóa.

GV chốt ý: Nếu Huế tự hào về hò Sông Hương,

Nghệ Tĩnh tự hào về câu hò ví dặm thì người
Thanh Hóa tự hào về hò sông Mã. Có lẽ trong
thời hiện đại ít có dòng sông nào mang chiến
công vĩ đại hiển hách, đi vào dấu ấn của thế kỷ
XX như dòng sông Mã?
2. Nội dung
Bài thơ là lời tâm sự, niềm
? Em hãy khái quát về nội dung bài thơ.
tự hào, tình yêu sâu nặng
GV chốt ý khái quát nội dung, nghệ thuật trên đối với quê hương Thanh
máy chiếu.
Hóa mến yêu. Nơi đây có
HS quan sát tự ghi ý chính vào vở.
truyền thống văn hóa lịch sử
lâu đời, có những con người
cần cù lao động, hiếu học,
anh hùng, lạc quan, chân
chất, giàu tình cảm dù trải
qua trường kì gian khổ.
GV cho HS nghe giai điệu bài hát “Về với xứ
15


Thanh” của Nguyễn Tiến thanh lí hợp đồng 1:
Những làn điệu dân ca và điệu hò sông Mã, bài
hát “Về với xứ Thanh”(Tích hợp môn Âm IV. Luyện tập
nhạc)
Qua bài thơ hãy viết một
GV hướng dẫn HS luyện tập.
bài văn cảm nhận của em về

HS làm việc độc lập cả lớp viết bài
hình ảnh quê hương Thanh
Hoá.
* Hoạt động 3: Vận dụng và mở rộng (2 phút)
- Mục tiêu: Giúp HS vận dụng những kiến thức đã học để làm bài thu hoạch
1. Những điều em cảm nhận được sau tiết học “Dô tả dô tà” theo chủ đề
dạy học tích hợp liên môn.
2. HS về nhà viết tiếp bài tập phần luyện tập: Qua bài thơ hãy viết một bài
văn cảm nhận của em về hình ảnh quê hương Thanh Hoá.
3. Vẽ tranh về đề tài quê hương theo cảm nhận của em qua nội dung bài
học. (Tích hợp môn Mĩ thuật)
- Phương thức: chuyển giao nhiệm vụ: HS làm việc ở nhà hoạt động cá nhân
- Kỹ thuật: Động não.
GV hướng dẫn cho HS về nhà làm.
HS báo cáo kết quả sau 2 ngày
2.4. Hiệu quả của sáng kiến
Sau một thời gian nghiên cứu và tiến hành phương pháp soạn giảng tích
hợp liên môn trong dạy tiết CTĐP với bài thơ “Dô tả dô tà” của nhà thơ Mạnh
Lê, tôi thấy việc dạy học đã phát huy tính tích cực, chủ động phát triển được
năng lực của học sinh. Học sinh nâng cao được khả năng tìm tòi sáng tạo của
mình. Kết quả thực nghiệm và dạy học đối chứng cho thấy hệ thống giải pháp do
đề tài nghiên cứu được áp dụng vào các công đoạn trong quy trình dạy học là
hoàn toàn có tính khả thi, có ý nghĩa thời sự và có ý nghĩa thực tiễn. Dưới đây là
kết quả đạt được sau khi thực nghiệm dạy học tích hợp liên môn ở lớp 9A
trường THCS Nga Thiện.
Khả năng tích hợp môn học
SL
%
33
Lịch sử

28
84,8
Lớp
33
Địa lí
27
81,8
9A
33
Giáo dục
30
90,9
33
Âm nhạc
19
57,6
33
Mĩ thuật
20
60,6
Đối chứng với kết quả khảo sát ở lớp 9B khi chưa thực hiện đề tài thì kết
quả đạt được sau khi tiến hành thực nghiệm ở lớp 9A cao hơn về khả năng tích
hợp kiến thức liên môn Lịch sử, Địa lí, Giáo dục công dân, Âm nhạc, Mỹ
thuật… của các em học sinh. Điều đó cho thấy, đề tài thực hiện đã có tính hiệu
quả cao.
Số lượng khảo sát

Tích hợp môn

16



Khả năng tích hợp liên môn còn được phản ánh cụ thể trong bài làm của
học sinh trong kết quả làm bài tập thu hoạch và quả bài làm của các tổ nhóm khi
tham gia hợp đồng:
Kết quả 33 bài viết cảm nhận về tiết học “Dô tả dô tà” theo chủ đề dạy học
tích hợp liên môn và bài văn cảm nhận về hình ảnh quê hương Thanh Hoá.
Giỏi
Lớp

9A

Khá

TB

Yếu-kém

Sĩ số

33

SL

%

SL

%


SL

%

SL

%

12

36,4

14

42,4

7

21,2

0

0

Sản phẩm bài viết tiêu biểu

Các bức tranh về đề tài quê hương của học sinh

17



“Mùa gặt” của
Nguyễn Văn Tiệp 9A

“Bình minh trên quê hương tôi” của
Nguyễn Đình Nam 9A

Sau thời gian áp dụng đề tài và qua kết quả kiểm tra, đánh giá ở các lớp
tôi trực tiếp giảng dạy và áp dụng đề tài ở trường THCS Nga Thiện năm học
2018 - 2019 đã cho kết quả khả quan, chất lượng cụ thể thông qua kết quả bài
làm và các sản phẩm của học sinh đã được trình bày ở trên. Hiệu quả của sáng
kiến được trình bày ngắn gọn như sau:
Một là tạo ra được phong trào thi đua vận dụng kiến thức liên môn để giải
quyết một vấn đề, tích hợp được nội dung kiến thức.
Hai là tạo ra không khí sôi nổi trong sinh hoạt tổ nhóm chuyên môn, góp
phần tự bồi dưỡng cho mỗi giáo viên bộ môn.
Ba là học sinh tích cực, chủ động bước đầu sáng tạo và có thói quen học
tập chủ động.
Bốn là SKKN tạo cái nhìn mới, cách nghĩ mới trong việc làm thế nào để
nâng cao chất lượng giáo dục nói chung, giúp học sinh yêu thích và hứng thú với
môn học Ngữ văn nói riêng. Đơn giản hóa được khâu thiết kế bài giảng, chủ
động trong chọn phương pháp, phương tiện dạy học. Và quan trọng nhất là làm
cho các tác phẩm thơ tự sự vốn khô khan nên gần gũi, hấp dẫn hơn với cả người
dạy và người học.
Qua thời gian áp dụng sáng kiến tại lớp 9A với kết quả đã đạt được ở trên,
sáng kiến đã được các đồng chí trong ban giám hiệu nhà trường, các đồng chí tổ
trưởng, tổ phó chuyên môn đánh giá cao và cho rằng có thể áp dụng vào các
khối lớp ở năm học tiếp theo.
3. KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ
3.1. Kết luận

Sau khi thực hiện đề tài bản thân nhận thấy: các chủ đề liên môn, tích hợp
có tính thực tiễn nên sinh động, hấp dẫn đối với học sinh, có ưu thế trong việc
tạo ra động cơ, hứng thú học tập cho học sinh. Vận dụng kiến thức liên môn
cũng có khả năng rèn luyện tư duy tổng hợp, phân tích trước mọi vấn đề. Từ
việc viết một bài luận, về một bài thơ thuộc chương trình Ngữ văn địa phương
Thanh Hóa, HS có thêm nhiều kinh nghiệm thu thập thông tin, xử lí tình huống,

18


cảm thụ văn chương, liên tưởng và suy ngẫm để giải quyết những vấn đề từ thực
tiễn cuộc sống.
Với tính thực tế và hiệu quả mà việc lồng ghép linh hoạt các kiến thức
liên môn trong nội dung bài học đem lại, tôi cho rằng, sáng kiến có khả năng
ứng dụng rộng rãi cho các khối lớp 9 của trường và các trường trong huyện, bởi
tính khả thi cao góp phần đổi mới nội dung dạy học theo xu thế mới của nền
giáo dục hiện đại. Tuy nhiên, việc vận dụng kiến thức liên môn cũng cần linh
hoạt cho từng đối tượng và nội dung lồng ghép vào các môn học cũng cần căn
cứ vào khả năng nhận thức và thời gian, mục tiêu bài học để có mức độ tích hợp
cụ thể, đạt hiệu quả.
Như vậy, dạy học theo các chủ đề liên môn không những giảm tải cho
giáo viên trong việc dạy các kiến thức liên môn trong môn học của mình mà còn
có tác dụng bồi dưỡng, nâng cao kiến thức và kĩ năng sư phạm cho bản thân
nhằm đáp ứng yêu cầu đổi mới hiện nay và nhất là trong thời gian tới. Tích hợp
liên môn trong dạy học chương trình địa phương lại là vấn đề mới mà hiện nay
nhiều tài liệu hướng dẫn giảng dạy chương trình địa phương chưa đề cập tới. Vì
vậy, giáo viên cần phải tự bồi dưỡng để giờ dạy chương trình địa phương thật có
ý nghĩa.
3.2. Kiến nghị
Đối với sở và phòng giáo dục nên tổ chức các buổi tập huấn, chuyên đề

dạy học kiến thức liên môn cho giáo viên được làm quen, học hỏi kinh nghiệm
dạy học theo nội dung này.
Đối với nhà trường cần tăng cường đưa chủ đề dạy học tích hợp liên môn
vào các dịp thao giảng. Đưa hoạt động tích hợp liên môn vào hoạt động bắt buộc
với các tổ bộ môn và giáo viên hằng năm. Tăng cường thêm tài liệu, phương tiện
dạy học có liên quan đến việc giảng dạy chương trình địa phương. Tạo điều kiện
thuận lợi để giáo viên được giao lưu với các đơn vị trên địa bàn thông qua các
cuộc hội thảo chuyên đề.
Đối với bản thân mỗi giáo viên cần chủ động trong việc tiếp cận chủ đề
dạy học tích hợp liên môn. Tích cực cho học sinh tham gia các cuộc thi liên
quan đến chủ đề tích hợp, liên môn mà Bộ Giáo dục & Đào tạo đã phát động.
Thời gian nghiên cứu không nhiều nên tôi rất mong sự nhận xét, đóng góp
của các đồng nghiệp để đề tài của tôi có chất lượng hơn.
Nga Thiện, ngày 15 tháng 5 năm 2020
Tôi xin cam đoan đây là SKKN của tôi viết,
không sao chép nội dung của người khác
XÁC NHẬN
CỦA THỦ TRƯỞN ĐƠN VỊ

Người viết

Đặng Thị Nga
19


20




Xem Thêm

×