Tải bản đầy đủ

thảo luận nhóm TMU quy luật lượng – chất – vận dụng quy luật vào lĩnh vực đời sống học tập của sinh viên

TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI
--------------------

BÀI THẢO LUẬN
NHỮNG NGUYÊN LÝ CƠ BẢN CỦA CHỦ NGHĨA MÁC – LÊNIN
1

Đề tài: Quy luật Lượng – Chất – Vận dụng quy luật vào lĩnh vực đời
sống học tập của sinh viên.

Thầy hướng dẫn: PGS.TS Phương Kỳ Sơn
Nhóm thực hiện : 11
Lớp học phần

: H2002MLNP0111


Hà Nội – 2020


BIÊN BẢN ĐÁNH GIÁ NHÓM 11


STT Họ và tên

Chức
danh

Công việc

101

Phạm Diệu Linh

Thành
viên

Quy luật chuyển hóa từ những
sự thay đổi về lượng thành sự
thay đổi về chất và ngược lại.

102

Phạm Thị Diệu Linh

103

Trần Thị Mỹ Linh

104

Võ Hà Linh

105

Nguyễn Thanh Loan

106

Nguyễn Xuân Lộc

107



Phan Vương Lộc

108

Đào Hoàng Long

109

Lương Quốc Long

Nhóm
trưởng

110

Phạm Hải Long

Thành
viên

Nhóm trưởng

Thành
viên
Thành
viên
Thư kí
Thành
viên
Thành
viên
Thành
viên
Thành
viên

Tự
đánh giá

Nhóm
đánh giá

Làm phần kết luận.
Lập bảng đánh giá; viết lời hay
ý đẹp.
Tổng hợp và sửa bài các thành
viên theo dàn bài đã lập.
Viết lời mở đầu.
Làm phần lý thuyết: Khái niệm
chất và lượng.
Ý nghĩa của phương pháp luận.
Quan hệ biện chứng giữa chất
và lượng.
Lập dàn ý phân công nhiệm
vụ, đọc và chỉnh sửa toàn bộ
bản word; in bản word; viết lời
cảm ơn; viết lời cam đoan.
Quan hệ biện chứng giữa chất
và lượng.

Thư kí

Kết
luận


Trên bước đường thành
công không có dấu chân
của kẻ lười biếng!

- Lỗ Tấn -


LỜI CẢM ƠN
Xin chân thành cảm ơn PGS.TS
Phương Kỳ Sơn đã truyền dạy những
kiến thức quý báu trong chương trình
học, đã tận tình hướng dẫn và giúp đỡ
kinh nghiệm cho bài thảo luận được
hoàn thành thuận lợi.


LỜI CAM ĐOAN
Chúng tôi xin cam đoan nội dung của
Bài thảo luận này hoàn toàn được hình
thành và phát triển từ chính các thành
viên trong nhóm, được thực hiện trên cơ
sở nghiên cứu lý thuyết, nghiên cứu khảo
sát tình hình thực tiễn, dưới sự hướng
dẫn khoa học của PGS.TS Phương Kỳ
Sơn.


LỜI MỞ ĐẦU
Trong cuộc sống hằng ngày, đằng sau các hiện tượng muôn màu muôn vẻ, con
người dần dần nhận thức được tính trật tự và mối liên hệ có tính lặp lại của sự vật hiện
tượng, từ đó hình thành nên các quy luật về thế giới quan. Theo phạm trù của lý luận
nhận thức, khái niệm “quy luật” là sản phẩm của tư duy khoa học phản ánh mối liên hệ
của các sự vật, hiện tượng và tinh chỉnh thể của chúng.
Các quy luật của tự nhiên, xã hội cũng như của tư duy con người đều có tính
khách quan. Con người không thể tạo ra hoặc xóa bỏ được quy luật mà chỉ có thể nhận
thức và vận dụng chúng vào thực tế. Quy luật “chuyển hóa từ những sự thay đổi về
lượng thành những sự thay đổi về chất và ngược lại” là một trong ba quy luật của phép
biện chứng duy vật, nó cho biết phương thức của sự vận động và phát triển. Việc nhận
thức quy luật này có ý nghĩa to lớn trong thực tiễn khi chúng ta xem xét các sự vật,
hiện tượng trong tự nhiên, xã hội và con người.
Trong bài thảo luận này, nhóm 11 chúng em mong muốn tiếp cận và làm sáng tỏ
nội dung về quy luật lượng chất của Triết học. Từ đó hiểu và nắm được những ý nghĩa
của quy luật quan trọng này và vận dụng nó trong đời sống học tập của bản thân.
Với kiến thức của bản thân còn hạn chế, chắc chắn bài thảo luận của chúng em
không tránh khỏi thiếu sót, nhóm 11 chúng em rất mong nhận được sự góp ý và chia sẻ
của thầy và các bạn để đề tài nhóm chúng em được hoàn thiện hơn.
Hà Nội, ngày 12 tháng 7 năm 2020


MỤC LỤC
CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ QUY LUẬT LƯỢNG CHẤT.........1
1.1. Quy luật chuyển hóa từ những sự thay đổi về lượng thành những sự thay đổi về
chất và ngược lại............................................................................................................1
1.1.1. Khái niệm về chất................................................................................................1
1.1.2. Khái niệm về lượng..............................................................................................2
1.2. Quan hệ biện chứng giữa lượng và chất..................................................................2
1.3. Ý nghĩa phương pháp luận......................................................................................4
1.3.1. Nhận thức cả mặt lượng và mặt chất để có tri thức đầy đủ về sự vật...................4
1.3.2. Tổ chức hoạt động thực tiễn dựa trên sự hiểu biết đúng đắn vị trí, vai trò và ý
nghĩa của sự thay đổi về lượng cũng như sự thay đổi về chất trong sự phát triển xã hội.
....................................................................................................................................... 4
1.3.3. Kiên trì đổi mới trên từng lĩnh vực để tiến tới đổi mới toàn diện đời sống xã hội.
....................................................................................................................................... 4
CHƯƠNG 2: VẬN DỤNG QUY LUẬT LƯỢNG CHẤT VÀO LĨNH VỰC ĐỜI
SỐNG HỌC TẬP CỦA SINH VIÊN...........................................................................6
STT 101 – Phạm Diệu Linh – MSV 18D170174...........................................................6
STT 102 – Phạm Thị Diệu Linh – MSV 17D160201.....................................................9
STT 103 – Trần Thị Mỹ Linh – MSV 17D100201.......................................................11
STT 104 – Võ Hà Linh – MSV 17D130024................................................................14
STT 105 – Nguyễn Thanh Loan – MSV 17D120021...................................................16
STT 106 – Nguyễn Xuân Lộc – MSV 18D160175......................................................18
STT 107 – Phan Vương Lộc – MSV 18D250029........................................................19
STT 108 – Đào Hoàng Long – MSV 18D210026........................................................21
STT 109 – Lương Quốc Long – MSV 18D140148......................................................23
STT 110 – Phạm Hải Long – MSV 18D210086..........................................................25
CHƯƠNG 3: KẾT LUẬN.........................................................................................27


CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ QUY LUẬT LƯỢNG CHẤT
Quy luật chuyển hóa từ những thay đổi về lượng thành những thay đổi về chất và
ngược lại là qui luật cơ bản, phổ biến về phương thức chung của các quá trình vận
động, phát triển trong tự nhiên, xã hội và tư duy. Theo qui luật này, phương thức chung
của các quá trình vận động, phát triển là: những sự thay đổi về chất của sự vật có cơ sở
tất yếu từ những sự thay đổi về lượng của sự vật và ngược lại, những sự thay đổi về
chất của sự vật lại tạo ra những biến đổi mới về lượng của sự vật trên các phương diện
khác nhau,... Đó là mối liên hệ tất yếu, khách quan, phổ biến, lặp lại lặp đi trong mọi
quá trình vận động, phát triển của sự vật, thuộc mọi lĩnh vực tự nhiên, xã hội và tư
duy.
1.1. Quy luật chuyển hóa từ những sự thay đổi về lượng thành những sự
thay đổi về chất và ngược lại
1.1.1. Khái niệm về chất
Trong phép biện chứng, khái niệm chất dùng để chỉ tính qui định khách quan vốn
có của sự vật, hiện tượng; là sự thống nhất hữu cơ các thuộc tính cấu thành nó, phân
biệt nó với cái khác.
Như vậy, tạo thành chất của sự vật chính là các thuộc tính khách quan vốn có của
sự vật, nhưng khái niệm chất không đồng nhất với khái niệm thuộc tính. Mỗi sự vật,
hiện tượng đều có những thuộc tính cơ bản và không cơ bản. Chỉ những thuộc tính cơ
bản mới hợp thành chất của sự vật, hiện tượng. Khi những thuộc tính cơ bản thay đổi
thì chất của nó thay đổi. Việc phân biệt thuộc tính cơ bản và không cơ bản của sự vật
phải tùy theo quan hệ cụ thể của sự phân tích; cùng một thuộc tính, trong quan hệ này
là cơ bản thì trong quan hệ khác có thể là không cơ bản.
Mặt khác, chất của sự vật, hiện tượng không những được xác định bởi chất của
các yếu tố cấu thành mà còn bởi cấu trúc và phương thức liên kết giữa chúng, thông
qua các mối liên hệ cụ thể. Vì vậy, việc phân biệt thuộc tính cơ bản và không cơ bản,
chất và thuộc tính cũng chỉ có ý nghĩa tương đối. Mỗi sự vật, hiện tượng không chỉ có
một chất, mà có nhiều chất, tùy thuộc vào các mối quan hệ cụ thể của nó với những cái

1


khác. Chất không tồn tại thuần túy tách rời sự vật, biểu hiện tính ổn định tương đối của
nó.
Ví dụ với C,H,O thì ta khi chúng liên kết ắt hẳn ta sẽ có chất khác so với khi các
nguyên tố P,O khi chúng liên kết. Ngoài ra, với 3 chất C, H, O nếu chúng liên kết theo
nhiều kiểu khác nhau ta lại được các chất khác nhau như CH3–CH2–COOH và CH3COO-CH3,…
1.1.2. Khái niệm về lượng
Khác với khái niệm chất, khái niệm lượng dùng để chỉ tính qui định khách quan
vốn có của sự vật về các phương diện: số lượng các yếu tố cấu thành, qui mô của sự
tồn tại, tốc độ, nhịp điệu của các quá trình vận động, phát triển của sự vật. Với khái
niệm này cho thấy: một sự vật có thể tồn tại nhiều loại lượng khác nhau, được xác định
bằng các phương thức khác nhau phù hợp với từng loại lượng của cụ thể của sự vật.
Nói đến lượng là nói đến chiều dài, ngắn; quy mô lớn, nhỏ; trình độ cao thấp,… của sự
vật, hiện tượng. Lượng thường được đo bởi các đơn vị đo cụ thể ( cao 166cm, vận tốc
là 1m/s,…) nhưng cũng có thể được hiểu một cách trừu tượng hóa ( trình độ văn hóa
cao hay thấp,….).
Như vậy, chất và lượng là hai phương diện khác nhau của cùng một sự vật, hiện
tượng hay một quá trình nào đó trong tự nhiên, xã hội hay tư duy. Hai phương diện đó
đều tồn tại khách quan. Tuy nhiên, sự phân biệt giữa chất và lượng trong quá trình
nhận thức về sự vật chỉ có ý nghĩa tương đối; có cái trong mối quan hệ này đóng vai
trò là chất nhưng trong mối quan hệ khác lại là lượng.

2


1.2. Quan hệ biện chứng giữa lượng và chất
Quy luật chuyển hóa từ những sự thay đổi về lượng thành những sự thay đổi về
chất và ngược lại là quy luật cơ bản, phổ biến về phương thức chung của các quá trình
vận động, phát triển trong tự nhiên, xã hội và tư duy. Theo quy luật này. phương thức
chung của các quá trình vận động, phát triển là: những sự thay đổi về chất của sự vật,
hiện tượng có cơ sở tất yếu từ những sự thay đôi về lượng của sự vật, hiện tượng và
ngược lại, những sự thay đổi về chất của sự vật, hiện tượng lại tạo ra những biến đổi
mới về lượng của sự vật, hiện tượng trên các phương diện khác nhau. Đó là mối liên
hệ tất yếu, khách quan, phổ biến, lặp đi lặp lại trong mọi quá trình vận động, phát triển
của sự vật, hiện tượng thuộc mọi lĩnh vực tự nhiên, xã hội và tư duy.
Quy luật chuyển hóa từ những sự thay đổi về lượng thành những sự thay đổi về
chất và ngược lại là một trong ba quy luật của phép biện chứng duy vật, nó cho biết
phương thức của sự vận động và phát triển. Việc nhận thức quy luật này có ý nghĩa to
lớn trong thực tiễn khi chúng ta xem xét các sự vật, hiện tượng.
Bất kỳ sự vật, hiện tượng nào cũng là một thể thống nhất giữa hai mặt chất và
lượng. Hai mặt đó không thể tách rời mà tác động lẫn nhau một cách biện chứng. Phép
biện chứng duy vật đã đưa ra và sử dụng các khái niệm: chất, lượng, thuộc tính, độ,
điểm nút, bước nhảy để diễn đạt mối quan hệ giữa chất và lượng trong sự vận động và
phát triển của sự vật hiện tượng- cách thức vận động phát triển.
Sự thay đổi về lượng tất yếu sẽ dẫn tới sự chuyển hóa về chất của sự vật, hiện
tượng. Tuy nhiên, không phải sự thay đổi về lượng bất kỳ nào cũng dẫn đến sự thay
đổi về chất. Ở một giới hạn nhất định, sự thay đổi về lượng chưa dẫn tới sự thay đổi về
chất. Giới hạn mà sự thay đổi về lượng chưa làm chất thay đổi được gọi là độ.
Khái niệm độ chỉ tính quy định, mối liên hệ thống nhất giữa chất và lượng, là
khoảng giới hạn mà trong đó sự thay đổi về lượng chưa làm thay đổi căn bản chất của
sự vật, hiện tượng. Vì vậy, trong giới hạn của độ, sự vật, hiện tượng vẫn còn là nó,
chưa chuyển hóa thành sự vật và hiện tượng khác.
Sự vận động, biến đổi của sự vật, hiện tượng thường bắt đầu từ sự thay đổi về
lượng. Khi lượng thay đổi đến một giới hạn nhất định sẽ tất yếu dẫn đến những sự thay
đổi về chất. Giới hạn đó chính là điểm nút. Sự thay đổi về lượng khi dật tới điểm nút,

3


với những điều kiện nhất định tất yếu sẽ dẫn đến sự ra đời của chất mới. Đây chính là
bước nhảy trong quá trình vận động, phát triển của sự vật, hiện tượng.
Bước nhảy là sự chuyển hóa tất yếu trong quá trình phát triển của sự vật, hiện
tượng. Sự thay đổi về chất diễn ra với nhiều hình thức bước nhảy khác nhau, được
quyết định bởi mâu thuẫn, tính chất và điều kiện của mỗi sự vật. Đó là các bước nhảy:
nhanh và chậm, lớn và nhỏ, cục bộ và toàn bộ, tự phát và tự giác…
Bước nhảy là sự kết thúc một giai đoạn vận động, phát triển; đông thời, dó cũng
là điểm khởi đầu cho một giai đoạn mới, là sự gián đoạn trong quá trình vận động,
phát triển liên tục của sự vật, hiện tượng. Trong thế giới luôn luôn diễn ra quá trình
biến đổi tuần tự về lượng dẫn đến bước nhảy vè chất, tạo ra một đường nút vô tận, thể
hiện cách thức vận động và phát triển của sự vật từ thấp đến cao. Ăngghen đã khái
quát tính tất yếu này: “Những thay đổi đơn thuần về lượng, đến một mức độ nào nhất
định, sẽ chuyển hóa thành những sự khác nhau về chất”.
Khi chất mới ra đời lại có sự tác động ngược trở lại lượng của sự vật. Chất mới
tác động tới lượng của sự vật, hiện tượng trên nhiều phương diện như: làm thay đổi kết
cấu, quy mô, trình độ, nhịp điệu của sự vận động và phát triển của sự vật, hiện tượng.
Tóm lại, bất kỳ sự vật, hiện tượng nào cũng có sự thống nhất biện chứng giữa hai
mặt lượng và chất. Sự thay đổi dần dần về lượng tới điểm nút tất yếu sẽ dẫn đến sự
thay đổi về chất thông qua bước nhảy; đồng thời, chất mới sẽ tác động trở lại lượng,
tạo ra những biến đổi mới về lượng của sự vật, hiện tượng. Quá trình đó liên tục diễn
ra, tạo thành phương thức cơ bản, phổ biến của sự vật, hiện tượng trong tự nhiên, xã
hội và tư duy.
1.3. Ý nghĩa phương pháp luận
Quy luật chuyển hóa từ những sự thay đổi về lượng thành những sự thay đổi về
chất và ngược lại giúp chúng ta nhận thức được phương thức vận động và phát triển
của sự vật. Điều này có ý nghĩa quan trọng trong nhận thức và hoạt động thực tiễn.
1.3.1. Nhận thức cả mặt lượng và mặt chất để có tri thức đầy đủ về sự vật.
Những nhận thức ban đầu về chất của các sự vật chỉ trở nên đúng đắn và sâu sắc
hơn khi đạt tới tri thức về sự thống nhất giữa chất và lượng của sự vật đó.

4


Để nhận thức được sự vật, ta phải nhận thức trong mối quan hệ tác động qua lại
giữa sự vật đó với những sự vật khác, cũng như giữa các mặt, thuộc tính của sự vật đó.
Vì chỉ khi đó, mặt lượng và mặt chất của sự vật mới bộc lộ ra.
1.3.2. Tổ chức hoạt động thực tiễn dựa trên sự hiểu biết đúng đắn vị trí, vai
trò và ý nghĩa của sự thay đổi về lượng cũng như sự thay đổi về chất trong sự
phát triển xã hội.
Ta phải biết kịp thời chuyển từ sự thay đổi về lượng thành những sự thay đổi về
chất, từ những thay đổi mang tính tiến hóa sang thay đổi mang tính cách mạng.
Để xây dựng chiến lược và sách lược cách mạng, ta phải xem xét tiến hóa và
cách mạng trong mối quan hệ biện chứng của chúng. Hiểu đúng đắn mối quan hệ này
sẽ giúp chúng ta có cái nhìn nghiêm khắc với chủ nghĩa cải lương, chủ nghĩa xét lại và
chủ nghĩa tả khuynh.
1.3.3. Kiên trì đổi mới trên từng lĩnh vực để tiến tới đổi mới toàn diện đời
sống xã hội.
Nắm được quy luật lượng – chất sẽ giúp chúng ta có cái nhìn tổng quan, toàn
diện và xác định đúng phương pháp, lộ trình thực hiện công cuộc đổi mới theo định
hướng xã hội chủ nghĩa tại Việt Nam hiện nay.
Theo tính chất, ý nghĩa và phạm vi bao quát của nó, đổi mới là một quá trình
mang tính cách mạng. Ta cần phải thực hiện đổi mới thành công trên từng lĩnh vực của
đời sống xã hội để tạo ra bước nhảy về chất ở đó. Với sự thành công trên nhiều lĩnh
vực, ta có cơ sở thực tế để đổi mới thành công toàn diện đất nước Việt Nam. Đó là khi
ta tạo được bước nhảy về chất của toàn bộ xã hội nói chung.
Những bước nhảy trong quá trình đổi mới hiện nay chỉ có thể là kết quả của qúa
trình thay đổi về lượng thích hợp. Do đó, bất kỳ sự nôn nóng, chủ quan, ảo tưởng nào
đều có thể gây ra những tổn thất lớn cho đất nước.

5


6


CHƯƠNG 2: VẬN DỤNG QUY LUẬT LƯỢNG CHẤT VÀO LĨNH VỰC
ĐỜI SỐNG HỌC TẬP CỦA SINH VIÊN

STT 101 – Phạm Diệu Linh – MSV 18D170174
Em sinh ra và lớn lên ở một vùng quê Hải Hậu Nam Định với truyền thống hiếu
học nên em nhận thấy việc học tập là vô cùng quan trọng. Để trở thành sinh viên đại
học Thương Mại, em đã phải trải qua quá trình học tập bậc học phổ thông kéo dài suốt
12 năm. Trong suốt những năm ngồi ghế nhà trường, thông qua sự chỉ dạy tận tình của
các thầy cô, em đã trang bị được cho mình kiến thức các môn học thuộc hai lĩnh vực tự
nhiên và xã hội. Bên cạnh đó, em cũng tự trang bị cho mình các kĩ năng, hiểu biết
riêng về tự nhiên, đời sống và xã hội. Quá trình tích lũy tri thức (lượng) là quá trình
dài, cần nhiều nỗ lực và phấn đấu của chính bản thân mỗi người. Quy luật lượng chất
trong quá trình học tập thể hiện ở chỗ, em dần tích lũy khối lượng kiến thức nhất định
qua việc học trên lớp, việc làm bài ôn bài và chuẩn bị bài học ở nhà. Việc tích lũy kiến
thức được đánh giá trước hết là qua các bài kiểm tra, kỳ thi học kỳ sau đó là kỳ thi tốt
nghiệp. Việc tích lũy đủ lượng kiến thức cần thiết giúp em vượt qua kỳ thi, chuyển
sang giai đoạn học cao hơn. Em nhận thấy rằng quá trình học tập tích lũy kiến thức là
độ, kỳ thi là điểm nút, việc vượt qua kỳ thi là bước nhảy làm cho việc tiếp thu kiến
thức bước sang giai đoạn mới, tức là có sự thay đổi về chất.
Trong suốt 12 năm học phổ thông, em phải tích lũy đủ khối lượng kiến thức để
vượt qua điểm nút khác nhau, điểm nút quan trọng nhất, đánh dấu bước nhảy vọt về
chất và lượng là vượt qua kỳ thi đại học và trở thành sinh viên Thương Mại. Các kiến
thức mà em tích lũy được trong thời gian dài đòi hỏi em cần có nỗ lực quyết tâm cao.
Việc vượt qua điểm nút chứng tỏ em có tích lũy đầy đủ về lượng, tạo nên bước nhảy
vọt, mở ra thời kỳ phát triển lượng và chất mới, từ học sinh chuyển thành sinh viên.
Cũng giống như ở phổ thông, để có tấm bằng đại học, em phải tích lũy đủ học phần
theo quy định. Ở bậc đại học, việc học tập có khác biệt hẳn về chất so với phổ thông.
Các kiến thức lúc này không còn đơn giản mà chuyên sâu hơn không chỉ đòi hỏi em
chú ý lắng nghe giảng viên mà còn phải tự nghiên cứu dựa trên những kiến thức thầy
cô cung cấp. Trở thành sinh viên đồng nghĩa với việc em được tiếp cận nguồn tri thức

7


mới cao hơn, phong phú hơn. Là một sinh viên Thương Mại, trên nền tảng chất mới,
tri thức mới, nhận thức của bản thân em thay đổi làm cho em có tri thức cao hơn, có sự
chín chắn trưởng thành hơn so với một cô học sinh trung học. Giống bậc học phổ
thông, quá trình tích lũy học phần của sinh viên là độ, kỳ thi là điểm nút, và việc vượt
qua kỳ thi là bước nhảy, trong đó bước nhảy quan trọng chính là kỳ thi tốt nghiệp để
nhận được tấm bằng cử nhân và tìm được một công việc phù hợp với năng lực phẩm
chất mà bản thân đã không ngừng tích lũy. Vượt qua kỳ thi tốt nghiệp sẽ lại đưa bản
thân em chuyển sang giai đoạn mới, khác biệt về chất so với giai đoạn trước. Cứ như
vậy, quá trình nhận thức (tích lũy về lượng) không ngừng diễn ra, tạo nên sự vận động
liên tục trong quá trình tồn tại và phát triển của mỗi người, bao gồm cả bản thân em.
Từ việc học tập và tìm hiểu về quy luật lượng chất dưới sự hướng dẫn của thầy
Phương Kỳ Sơn, em đã tự rút ra cho mình các bài học như sau:
Thứ nhất, em cần từng bước tích lũy kiến thức một cách đầy đủ và chính xác. Bởi
vì sự vận động và phát triển của sự vật hiện tượng luôn diễn ra bằng cách tích lũy dần
dần về lượng đến giới hạn nhất định, thực hiện bước nhảy để chuyển về chất. Việc học
tập của bản thân em cũng phát triển như thế. Bằng sự tích lũy từ từ các kiến thức mà
em dần trang bị cho mình đầy đủ các kiến thức một cách khoa học và chính xác để
phục vụ bản thân, sau đó có thể giúp ích cho gia đình và đóng góp cho xã hội. Do đó,
trong hoạt động nhận thức, học tập em luôn nhắc nhở bản thân phải biết từng bước tích
lũy về lượng (tri thức) làm biến đổi chất (kết học tập) theo quy luật.
Thứ hai, trong học tập cần đi từ dễ đến khó, từ đơn giản đến phức tạp, tránh nóng
vội đốt cháy giai đoạn. Trong quá trình học tập, rèn luyện em cần phải tránh tư tưởng
tả khuynh, tức là khi lượng chưa biến đổi đến điểm nút đã thực hiện bước nhảy. Sinh
viên học đủ kiến thức cơ bản mới có thể tiếp thu kiến thức sâu hơn, khó hơn. Cần phải
học tập nghiên cứu từ dễ đến khó bởi vì đây là phương pháp học tập mang tính khoa
học và rất có hiệu quả. Em luôn nhắc nhở bản thân trong quá trình học tập không được
mất tập trung, mải mê vui chơi, dẫn đến chậm chễ học tập. Đặc biệt, giai đoạn ôn thi là
lúc củng cố lại kiến thức đã học nên trước đó em cần nắm bắt các kiến thức đã học để
đảm bảo đủ kiến thức vượt qua kì thi. Thêm nữa, khi em có ý thức học từ đầu thì bản
thân không được nóng vội, không vì muốn học nhanh, học nhiều để hơn người khác,

8


chưa học cơ bản đã học đến nâng cao. Điều này sẽ rất dễ làm bản thân bị hổng kiến
thức, nắm bắt một cách sơ sài thiếu chính xác các kiến thức cần thiết.
Thứ ba, trong học tập em cần chủ động linh hoạt tiếp thu kiến thức, tránh tư
tưởng hữu khuynh bảo thủ trì trệ. Em xác định cho mình các phương pháp học tập phù
hợp để tiếp thu kiến thức tốt hơn, từ đó có thể vận dụng đúng đắn và sáng tạo những
kiến thức vào trong thực tiễn đời sống. Em nhận thấy rằng, chủ động tự giác trong học
tập sẽ giúp em vui vẻ, nhiệt tình say mê để tiếp thu kiến thức hơn. Đồng thời nó cũng
giúp em phát hiện, khám phá ra nhiều cách giải quyết vấn đề một cách dễ hơn, tạo cho
bản thân em niềm hăng hái đam mê hơn trong học tập và cuộc sống.
Như vậy, quy luật lượng chất là quy luật vô cùng cần thiết để mỗi người và cả
bản thân em nắm bắt. Việc vận dụng nội dung quy luật về mối quan hệ biện chứng
giữa lượng và chất cùng ý nghĩa phương pháp luận của nó có vai trò to lớn việc học
tập rèn luyện. Hiểu được quy luật này và vận dụng vào đời sống học tập để đạt được
nhiều mục tiêu hơn. Em luôn tự nhắc nhở bản thân rằng muốn tiếp thu tri thức ngày
càng nhiều và đạt kết quả cao thì cần phải học tập hàng ngày, học từ thấp đến cao, từ
dễ đến khó để có sự biến đổi về chất. Phải tích lũy dần về lượng đồng thời phải biết
thực hiện kịp thời bước nhảy khi có điều kiện chín muồi để biến đổi về chất. Bản thân
mỗi người phải tích cực học tập, chủ động trong công việc học tập rèn đức luyện tài,
để trở thành người phát triển toàn diện, tránh tư tưởng chủ quan nóng vội, bảo thủ trì
trệ khi tích lũy kiến thức. Làm được điều đó thì mỗi người và cả bản thân em sẽ trở
thành những con người có ích hơn, phục vụ tốt bản thân, gia đình mình và góp phần
nào đó cho sự phát triển của xã hội.

9


STT 102 – Phạm Thị Diệu Linh – MSV 17D160201
Thông qua việc nghiên cứu nội dung quy luật chuyển hóa từ những sự thay đổi
về lượng thành những sự thay đổi về chất và ngược lại em có thể vận dụng quy luật
này trong quá trình học tập và rèn luyện của em như sau:
Thế giới ngày một phát triển, để không thụt lùi so với thế giới Việt Nam đã
không ngừng hội nhập tham gia vào quá trình toàn cầu hóa. Thế giới đang có sự biến
đổi không ngừng, hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng. Để thích ứng với xu hướng đó
đòi hỏi chúng ta phải có một “nội lực” đủ mạnh, một “tâm thế” vững vàng mới hội
nhập tốt, nhằm đưa đất nước sánh vai với bạn bè quốc tế. Để đạt được điều đó thì tầng
lớp tri thức chính là điểm mấu chốt, cho nên việc áp dụng tối đa quy luật lượng chất
với sinh viên nói chung và bản thân em nói riêng là vô cùng cần thiết.
Theo nội dụng quy luật thì sự vận động và phát triển của sự vật bao giờ cũng
diễn ra bằng cách tích lũy dần dần về lượng đến một giới hạn nhất định thực hiện bước
nhảy để chuyển về chất mới với quá trình học tập của em cũng vậy. Với hầu hết tất cả
mọi người nói chung và em nói riêng đều trải qua 12 năm là học sinh phổ thông 12 cần
mẫn miệt mài đèn sách, ngày ngày đến trường học tập và rèn luyện tiếp thu tích lũy
kiến thức, vượt qua vô số bài kiểm tra để đánh giá năng lực trước khi tham gia một kỳ
thi có thể nói đó là một kỳ thi quan trọng nhất của học sinh đó là kỳ thi đại học, vượt
qua kỳ thi này em đã bước sang một trang hoàn toàn mới hay nói đúng theo ngôn từ
của quy luật lượng chất là em đã có sự biến đổi về chất từ một học sinh chuyển thành
môt sinh viên đại học với điểm nút ở đây chính là việc vượt qua kỳ thi đại học và được
nhận giấy báo trúng tuyển nhập học, quá trình học tập suốt 12 năm chính là độ. Trong
khoảng giới hạn độ tuy em cũng có sự biến đổi về lượng như vượt qua các kỳ thi cũng
như tăng dần cấp học nhưng em vẫn là một học sinh phổ thông cho đến khi đến điểm
nút là đỗ đại học thì em mới hoàn toàn có sự biến đổi về chất chở thành một sinh viên
đại học. Sau khi đỗ đại học em lại tiếp tục trên con đường học tập của mình trải qua 4
năm học tập rèn luyện tại môi trường hoàn toàn mới mẻ đó là đại học Thương Mại,
khác với học ở phổ thông ngoài việc học tập để tích lũy kiến thức chuyên ngành thông
qua các môn học, thì em còn được rèn luyện nhiều kỹ năng khác nhau như: kỹ năng
giao tiếp, kỹ năng làm việc nhóm, kỹ năng thuyết trình trước đám đông, kỹ năng tin
học,… quá trình học tập rèn luyện tích lũy kiến thức của em diễn ra trong vòng 4 năm
10


học cho đến khi em nhận bằng tốt nghiệp lúc này bản thân em cũng có sự biến đổi về
chất đó là từ một sinh viên đại học trở thành cử nhân kinh tế. Thông qua đây, em cũng
rút ra được những bài học kinh nghiệp cho bản thân trong việc học tập tích lũy kiến
thức đó là cần phải biếc từng bước tích lũy về lượng (kiến thức) để làm biến đổi về
chất. Như ông cha ta đã từng nói “năng nhặt chặt bị” hay “tay làm hàm nhai”, quá
trình tiếp thu kiến thức của học sinh, sinh viên đóng vai trò vô cùng quan trọng trong
sự phát triển của đất nước. Bởi chính quá trình này tạo ra những con người có đủ năng
lực để tiếp quản đất nước. Vì vậy với bản thân em nói riêng và học sinh, sinh viên nói
chung cần phải có nhận thức rõ ràng, đúng đắn về vấn đề này phải tích lũy đủ lượng
tới giới hạn điểm nút thì mới thực hiện bước nhảy, không được nôn nóng đốt cháy giai
đoạn. Việc học ở đại học khác hoàn toàn với việc học ở phổ thông, việc đào tạo theo
hệ thống tín chỉ ở đại học Thương Mại đòi hỏi ở bản thân em năng lực tự học tự tìm
hiểu tự tích lũy cao thông qua những giờ giảng bài của thầy Phương Kỳ Sơn- giảng
viên cao cấp của đại học Thương Mại về quy luật lượng chất giúp em áp dụng một
cách đúng đắn quy luật này trong học tập: em phải tích lũy đủ lượng ( tri thức) thì mới
có thể thực hiện bước nhảy, em luôn nhắc nhở bản thân tri thức là vô hạn ta không thể
tiếp thu hết được tuy nhiên bản thân em sẽ phải chắt lọc và tiếp thu những chi thức
phục vụ cho việc học tập cũng như xa hơn là cho công việc của em sau này để ngày
càng hoàn thiện bản thân trở thành một người có ích cho xã hội, trở thành một niềm tự
hào cho cha mẹ, khiến bố mẹ đỡ vất vả hơn vì bao năm gồng gánh nuôi em ăn học.
Giống như một câu nói của thầy SƠN trong một giờ giảng bài trên lớp khiến em nhớ
mãi đó là: hãy cố gắng trở nên có ích để lưng cha mẹ bớt còng hơn.

11


STT 103 – Trần Thị Mỹ Linh – MSV 17D100201
Quá trình học tập của mỗi sinh viên là một quá trình dài, khó khăn và cần sự cố
gắng không biết mệt mỏi, không ngừng nghỉ của bản thân mỗi sinh viên. Quy luật
chuyển hóa từ sự thay đổi về lượng dẫn đến sự thay đổi về chất thể hiện ở chỗ: mỗi
sinh viên tích lũy lượng kiến thức cho mình bằng việc nghe các thầy cô giảng trên lớp,
làm bài tập ở nhà, đọc thêm sách tham khảo,… thành quả của quá trình tích lũy đó
được đánh giá qua những bài kiểm tra, những bài thi học kỳ và kỳ thi tốt nghiệp. Khi
đã tích lũy đủ lượng tri thức cần thiết, sinh viên sẽ được chuyển sang một cấp học mới
cao hơn. Như vậy, quá trình học tập, tích lũy kiến thức là độ, các bài kiểm tra, các kì
thi là điểm nút và việc sinh viên được sang một cấp học cao hơn là bước nhảy. Sau khi
thực hiện dược bước nhảy trên, chất mới trong mỗi người được hình thành và tác động
trở lại lượng. Sự tác động đó thể hiện trong lối suy nghĩ cũng như cách hành động của
mỗi sinh viên, đó là sự chín chắn, trưởng thành hơn so với một học sinh trung học hay
một học sinh phổ thông. Và tại đây, một quá trình tích lũy về lượng (tích lũy kiến thức)
mới lại bắt đầu, quá trình này khác hẳn so với quá trình tích lũy lượng ở bậc trung học
hay phổ thông. Bởi đó không đơn thuần là việc lên giảng đường để tiếp thu bài giảng
của thầy cô mả phần lớn là sự tự nghiên cứu, tìm tòi, tích lũy kiến thức, bên cạnh
những kiến thức trong sách vở là những kiến thức xã hội từ các công việc làm thêm
hoặc từ các hoạt động trong những câu lạc bộ. Sau khi đã tích lũy được một lượng đầy
đủ, các sinh viên sẽ thực hiện một bước nhảy mới, bước nhảy quan trọng nhất trong
cuộc đời, đó là vượt qua kì thi tốt nghiệp để nhận được tấm bằng cử nhân và tìm được
một công việc. Cứ như vậy, quá trình nhận thức (tích lũy về lượng) liên tục diễn ra, tạo
nên sự vận động không ngừng trong quá trình tồn tại và phát triển của mỗi con người,
giúp con người ngày càng đạt đến trình độ cao hơn, tạo động lực cho xã hội phát triển.
Về phương pháp thảo luận: Áp dụng vào việc học tập nghiên cứu nhất là trong
các giờ thảo luận tại trường Đại học Thương mại, em học được tinh thần đoàn kết giúp
đỡ nhau cùng tiến bộ, coi những kinh nghiệm của bạn bè đã được phân tích chọn lọc là
những bài học quý báu, không phải cứ chờ đến bài giảng của thầy mới cả là học. Trong
cuộc sống hàng ngày, em phấn đấu không để cho tính cá nhân, tích ích kỉ của bản thân
phát triển. Trong học tập cần có sự đoàn kết nhưng điều đó không có nghĩa là chúng ta
bao che, giấu điểm cho nhau những khuyết điểm sai sót mà ngược lại chúng ta phải
12


đấu tranh thẳng thắn với những sai lầm thiếu sót đó. Ngoài ra chúng ta mỗi người cần
làm tốt công tác phê bình và tự phê bình và phải luôn có tinh thần vươn lên. Sinh viên
phải sẵn sàng tạo ra những điều kiện thuận lợi cho bạn trong học tập cũng như nghiên
cứu, đảm nhận phần khó về mình. Những tình bạn như vậy chắc chắn sẽ tạo nên một
sự cổ vũ, một sức mạnh cho mỗi người. Ngoài ra trong quá trình học tập và rèn luyện
của sinh viên cần tránh tư tưởng tả khuynh, tức là, khi lượng chưa biến đổi đến điểm
nút đã thực hiện bước nhảy. Sinh viên khi học đủ những kiến thức cơ bản có sự biến
đổi về chất mới có thể học tiếp những kiến thức sâu hơn, khó hơn.
Quá trình học tập ở đại học không phải chỉ bắt đầu ở giảng đường khi sinh viên
nghe thầy giáo giảng bài hoặc trao đổi tranh luận. Quá trình này chỉ thật sự bắt đầu khi
mình chuẩn bị một cách tích cực các điều kiện cần thiết để tiếp cận môn học như: đọc
trước giáo trình, tim tài liệu có liên quan. Sự chuẩn bị này càng trở nên hiệu quả hơn
khi gắn liền với nó là một sự chuẩn bị về mặt tâm thể để có thể tiếp cận kiến thức một
cách chủ động sáng tạo. Với sự chuẩn bị tâm thế này, em có thể chủ động tự đặt trước
cho mình một số câu hỏi có liên quan đến nội dung được đặt trên lớp, thậm chí có thể
tự tạo cho mình một cái “khung tri thức” để trên cơ sở đó có thể tiếp nhận bài học một
cách hệ thống. Với cách chuẩn bị tri thức mà em có được không phải là một tri thức
được truyền đạt một chiều từ phía người dạy mà còn do chính mình tự tạo ra bằng cách
chuẩn bị các điều kiện thực tế và tâm thể thuận lợi cho sự tiếp nhận tri thức. Bởi vậy
có thể nói rằng học là quá trình hợp tác” giữa người dạy và người học
Về phương pháp giảng dạy: Thầy Phương Kỳ Sơn trang bị tri thức đầy đủ về
phương pháp luận biện chứng duy vật cho chúng em. Tập trung cho sinh viên nắm
vững phương pháp luận được rút ra từ lý luận phép biện chứng duy vật: quan điểm
toàn diện, quan điểm lịch sử - cụ thể, quan điểm phát triển, quan điểm thực tiễn;
phương pháp luận được rút ra từ các cặp phạm trù, các quy luật cơ bản của phép biện
chứng duy vật… Trong quá trình giảng dạy thầy đã so sánh, phân tích lý luận, nêu vấn
đề cho sinh viên giải quyết, sau đó kết luận. Thầy luôn đổi mới phòng cách giảng dạy
phù hợp với từng môi trường để người học tiếp thu một cách hiệu quả nhất
Tóm lại, việc vận dụng nội dung quy luật về mối quan hệ biện chứng giữa lượng
và chất cũng như ý nghĩa phương pháp luận của nó có vai trò to lớn trong việc học tập
và rèn luyện của sinh viên trường Đại học Thương mại nói chung và bản thân em nói

13


riêng. Lượng và chất là hai mặt thống nhất biện chứng của sự vật, chỉ khi nào lượng
được tích lũy tới một độ nhất đinh mới làm thay đổi về chất, do đó trong hoạt động
nhận thức, hoạt động học tập của sinh viên phải tích lũy dần về lượng và đồng thời
phải biết thực hiện và thực hiện kịp thời những bước nhảy khi có điều kiện chín muồi
để biến đổi về chất. Những việc làm vĩ đại của con người bao giờ cũng tổng hợp
những việc làm bình thường. Vì vậy mỗi sinh viên phải luôn tích cực học tập, chủ
động trong công việc học tập và rèn luyện của mình cả đức và tài, để trở thành một
con người phát triển toàn diện, tránh tư tưởng chủ quan, nóng vội mà không chịu tích
lũy về kiến thức (lượng).

14


STT 104 – Võ Hà Linh – MSV 17D130024
Bản thân em tích lũy lượng (kiến thức) cho mình bằng việc lên giảng đường để
tiếp thu bài giảng của thầy cô, sự tự nghiên cứu, tìm tòi; bên cạnh những kiến thức
trong sách vở là những kiến thức xã hội từ các công việc làm thêm hoặc từ hoạt động
trong đội tình nguyện khoa. Với lượng kiến thức vô cùng lớn ở đại học thì ta phải học
từ từ từng bài một. Học từ dễ đến khó để có thể hiểu thấu được bài học. Do kiến thức
khó nên ta sẽ lâu thấy sự tiến bộ. Đơn giản vì bản thân chưa cung cấp đủ lượng kiến
thức cần thiết để có thể thấu hiểu được tri thức ấy. Có nghĩa là ta đang trong khoảng
giới hạn (độ) của tri thức ấy. Vậy nên ta cần kiên trì học hỏi, không được chán nản để
có thể cung cấp đủ lượng làm chuyển hóa chất.
Thành quả của quá trình tích lũy đó được đánh giá qua những bài kiểm tra, các
kỳ thi. Khi đã tích lũy đủ lượng tri thức cần thiết sẽ được chuyển sang một cấp học
mới cao hơn.
Bản thân em đã trải qua việc chưa tích lũy đủ về lượng đến giới hạn điểm nút mà
đã thực hiện bước nhảy, nôn nóng, đốt cháy giai đoạn. Dẫn đến hậu quả đăng kí học
vượt nhưng không đủ khả năng để theo và phải học lại chính những môn đã đăng kí
học vượt. Có thể thấy hậu quả tất yếu của việc đi ngược lại với quy luật lượng – chất là
sự thất bại.
Với bộn bề công việc hằng ngày cùng với bài tập về nhà thì em đã có một kế
hoạch học tập cụ thể cho mình để giải quyết vấn đề dễ dàng và toàn diện hơn. Lập kế
hoạch cụ thể cho từng công việc trong một ngày một cách rõ ràng. Xây dựng kế hoạch
học tập dựa trên thời gian mình có và khả năng thực hiện được.
Những việc làm vĩ đại đều xuất phát từ những việc làm nhỏ bé. Bởi vậy xây dựng
mô hình học tập thật tốt và cố gắng thực hiện để biến đổi “chất” trong mỗi con người
chúng ta là việc làm cần thiết, cấp bách của thời sinh viên.
Gia đình em sống ở Hà Nội và gồm có 4 người; bố, mẹ, em trai và em. Bố mẹ em
đều có việc làm với mức lương đủ để trang trải cuộc sống sinh hoạt của gia đình và
chu cấp đầy đủ cho việc học tập của hai chị em. Bản thân em nhận thấy ảnh hưởng của
gia đình đến việc học tập là rất lớn. Ngay từ nhỏ bố mẹ đã cho em học tập ở những
môi trường tốt, kèm theo những lớp học thêm ngoại ngữ, kỹ năng sống. Cho đến bây
giờ là một sinh viên đại học em cũng không cần phải tự trang trải cho việc học tập.
15


Điều này khiến cho quỹ thời gian của bản thân em có nhiều hơn, từ đó có thể tập trung
hơn cho việc học và trang bị cho bản thân các kỹ năng cần thiết cho việc ra trường như
ngoại ngữ, vi tính. Bên cạnh đó, em vẫn có thể dành thời gian tham gia đội tình
nguyện và làm những công việc part-time linh động về thời gian giúp tích lũy thêm
kinh nghiệm cho bản thân. Đời sống gia đình đầy đủ giúp bản thân em trang bị kiến
thức và kỹ năng một cách đồng thời, rút ngắn thời gian tích lũy về lượng; nếu trong
trường hợp ngược lại, có lẽ sau khi hoàn thành việc học ở trường em sẽ phải dành
thêm thời gian để trang bị đủ kỹ năng cho bản thân. Từ đó em nhận thấy khi được chu
cấp đầy đủ cho việc học tập giúp bản thân tiến nhanh hơn đến các mục tiêu trong cuộc
sống.
Lần này em được tham gia học phần Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa
Mác-Lenin I với sự giảng dạy của thầy Phương Kỳ Sơn. Thầy rất thông cảm cho sinh
viên khi đây là một môn học mang nhiều tính trừu tượng, do đó thầy đã giải thích và
tóm gọn các kiến thức triết học gắn với cuộc sống hàng ngày giúp chúng em cách xa
những kiến thức khô khan trong giáo trình. Mặc dù thầy có nhiều quy định khắt khe
nhưng các tiết học của thầy đều được xen kẽ bằng những câu chuyện hài hước, tạo
cảm hứng cho sinh viên. Phương pháp thảo luận của thầy khác biệt so với các thầy cô
khác, việc có thêm phần bài cá nhân và quá trình thảo luận các thành viên đều có
nhiệm vụ đứng lên phát biểu bài làm của mình khiến cho không bạn nào phải đảm
nhận công việc giúp bạn khác và điểm số được đánh giá đúng theo khả năng hoàn
thành bài của bản thân. Đây là một cách làm việc tạo sự công bằng giữa các sinh viên,
giúp cho chúng em không còn sợ và đùn đẩy nhau công việc mỗi khi đến kì thảo luận.
Em cảm ơn thầy đã cho em học tập và trải nghiệm một học phần tưởng như khô
khan nhưng lại đầy triết lý sống và bổ ích.

16


STT 105 – Nguyễn Thanh Loan – MSV 17D120021
Em may mắn là một sinh viên đại học, được sinh ra và lớn lên tại vùng quê “chị
Hai năm tấn” - Thái Bình. Thật tự hào là người dân nơi đây, em hiểu rõ người dân quê
mình đã kiên cường, vất vả như thế nào trong các cuộc đấu tranh dân tộc sau đó là xây
dựng phát triển quê hương đất nước. Để góp phần cho xây dựng quê hương mình, em
biết rằng mình cần phải cố gắng thật nhiều để trau dồi các kiến thức, tích cực học tập
tích lũy nhiều tri thức, kĩ năng để phát triển bản thân.
Quy luật lượng chất vẫn bất biến trong mọi sự vật, hiện tượng. Cả trong suốt
hành trình học tập - quá trình trau dồi biển tri thức vô tận của nhân loại, bởi vì dù
nhanh hay chậm thì sớm muộn sự tích lũy về tri thức cũng làm con người có được
những thay đổi nhất định, đó chính là sự biến đổi về chất khi tích lũy đủ lượng kiến
thức đến điểm nút để thực hiện bước nhảy.
Vận dụng quy luật lượng chất trong quá trình học tập trong quá trình học tập và
rèn luyện của bản thân mình, trong suốt 12 năm ngồi trên ghế nhà trường, mỗi học
sinh đều được trang bị những kiến thức cơ bản của các môn học thuộc hai lĩnh vực cơ
bản là khoa học tự nhiên và khoa học xã hội; cùng với đó bản thân em cũng tự trang bị
cho mình những kĩ năng, những hiểu biết riêng về cuộc sống, về tự nhiên - xã hội để
tích lũy nhiều kĩ năng hơn cho những hành trình tiếp theo. Mỗi năm học, em sẽ cần
tích luỹ đủ lượng kiến thức nhất định qua từng bài học, từng môn học và vượt qua các
kì thi để chuyển qua giai đoạn chất mới chính là lên lớp cao hơn. Quá trình tích lũy về
lượng (tri thức) của mỗi học sinh là một quá trình dài, đòi hỏi nỗ lực và khả năng của
bản thân trong suốt quá trình. Trong quá trình học tập đó, thì quá trình tích lũy kiến
thức chính là độ, các kì thi chính là điểm nút, việc vượt qua các kì thi chính là bước
nhảy làm cho việc tiếp thu tri thức của bản thân em được bước sang giai đoạn mới, lên
một khối học mới cao hơn, tức là ở đây bản thân em đã có sự thay đổi về chất. Từ đây,
em có một khối lượng kiến thức để thực hiện bước nhảy quan trọng hơn, đó là kì thi
vào đại học.
Vượt qua kì thi tốt nghiệp cấp 3 đã là một điểm nút quan trọng, nhưng vượt qua
được kì thi đại học lại còn là điểm nút quan trọng hơn, chứng tỏ em đã có đủ lượng để
thay đổi bản thân từ học sinh trở thành sinh viên. Ở đại học cũng giống như ở phổ
thông, để có được tấm bằng cử nhân đại học thì em cũng phải tích lũy đủ các học phần
17


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×