Tải bản đầy đủ

thảo luận nhóm TMU quản trị rủi ro quản trị rủi ro do môi trường của công ty kinh doanh thực phẩm sạch bác tôm

TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI
KHOA QUẢN TRỊ KINH DOANH

BÀI THẢO LUẬN
MÔN: QUẢN TRỊ RỦI RO
MÃ LỚP HỌC PHẦN

: H2002BMGM0411

Nhóm thực hiện

: Nhóm 5

Giáo viên giảng dạy

: ĐÀO HỒNG HẠNH

HÀ NỘI – 2020
1



BẢNG PHÂN ĐÁNH GIÁ NHÓM 5
Tên

Nhiệm vụ

42. Nguyễn Thị
Hiền

Làm PPT

49. Bùi Thu Hoài

Thuyết trình

45.Vũ Thị Thu
Hiền

Cơ sở lý thuyết

50. Hà Huy Hoàng

Cơ sở lý thuyết

43. Phạm Thị Thu
Hiền

Giới thiệu tổng
quan về doanh
nghệp
Nhận dạng rủi ro

41. Nguyễn Thảo
Hiền
48. Vũ Thị Hòa

Phân tích rủi ro

46. Nguyễn Thanh
Hoa


Kiểm soát rủi ro

47. Bùi Thị Minh
Hòa

Ý nghĩa của kiểm
soát rủi ro, kết luận
cuối bài
Tài trợ rủi ro

44. Trương Thị
Thu Hiền

Đánh giá của
nhóm trưởng
Nhiệt tình, hoàn
thành tốt công
việc
Nhiệt tình, hoàn
thành tốt công
việc
Nhiệt tình, hoàn
thành tốt công
việc
Không hoàn
thành công việc
được giao
Nhiệt tình, hoàn
thành tốt công
việc
Nhiệt tình, hoàn
thành tốt công
việc
Nhiệt tình, hoàn
thành tốt công
việc
Nhiệt tình, hoàn
thành tốt công
việc
Nhiệt tình, hoàn
thành tốt công
việc
Nhiệt tình, hoàn
thành tốt công
việc

Xếp loại
A
A
A
D
A
A
A
A
A
A

Nhóm trưởng
Vũ Thị Hòa

2


MỞ ĐẦU
Hiện nay, người tiêu dùng Việt Nam ngày càng lựa chọn kỹ càng hơn về thực
phẩm mà mình sử dụng. Vấn đề sức khỏe bản thân cũng từ đó được chú trọng nhiều
hơn, xu hướng thích ăn đồ sạch được đề cao hơn hết. Nắm bắt được nhu cầu của người
tiêu dùng, ngoài các quán ăn sạch thì các nhà kinh doanh đã cho ra đời rất nhiều cửa
hàng, các chuỗi siêu thị về thực phẩm sạch để đáp ứng được thị hiếu của người tiêu
dùng. Thương hiệu BÁC TÔM đã ra đời nhằm mang đến tay người tiêu dùng những
thực phẩm tốt và đạt yêu cầu chất lượng tốt nhất .
Tuy nhiên hiện nay, cùng với việc nắm bắt rất nhanh nhu cầu của người tiêu dùng
Việt, ngày càng có nhiều cửa hàng thực phẩm sạch được thành lập. Đi cùng với đó
không thể tránh khỏi sự cạnh tranh giữa các doanh nghiệp và rủi ro tiềm ẩn của doanh
nghieejo kinh doanh thực phẩm sạch nói chung cũng như BÁC TÔM nói riêng. Vì vậy
cần nghiên cứu kỹ và phân tích rõ những rủi ro mà doanh nghiệp sẽ gặp phải, từ đó tìm
ra biện pháp, kiểm soát kịp thời cho các vấn đề gặp phải của doanh nghiệp.
Để tìm ra câu trả lời cho câu hỏi BÁC TÔM đã gặp phải những rủi ro nào trong
kinh doanh thực phẩm sách, nhóm 5 đã thưc hiện thảo luận và nghiên cứu về đề tài
“Quản trị rủi ro do môi trường của công ty kinh doanh thực phẩm sạch BÁC TÔM”.

3


PHẦN I: CƠ SỞ LÍ THUYẾT
1. Tổng quan về quản trị rủi ro
1.1. Khái niệm và bản chất:
Khái niệm: Quản trị rủi ro là quá trình bao gồm các hoạt động nhận dạng, phân
tích, đo lường, đánh giá rủi ro, để từ đó tìm các biện pháp kiểm soát, khắc phục các
hậu quả của rủi ro đối với hoạt động kinh doanh nhằm sử dụng tối ưu các nguồn lực
trong kinh doanh.
Bản chất: xử lý các rủi ro một cách khoa học, toàn diện và có hệ thống. Xử lý
các rủi ro gồm: nhận dạng, kiểm soát, phòng ngừa nhằm giảm thiểu tổn thất mất mát
và những ảnh hưởng bất lợi của rủi ro.
1.2. Vai trò của quản trị rủi ro
- Xây dựng khuôn khổ nhằm giúp doanh nghiệp thực hiện kế hoạch tương lai có
tính nhất quán và có thể kiểm soát.
- Tăng cường năng lực trong việc ra quyết định, lập kế hoạch và sắp xếp thứ tự
ưu tiên công việc trên cơ sở hiểu biết thấu đáo và chặt chẽ về hoạt động kinh doanh,
môi trường kinh doanh, cơ hội và thách thức của doanh nghiệp.
- Góp phần phân bổ và sử dụng hiệu quả những nguồn lực tronh doanh nghiệp.
- Giảm thiểu những sai sót trong mọi khía cạnh của doanh nghiệp.
- Bảo vệ và tăng cường tài sản cũng như hình ảnh của doanh nghiệp.
- Phát triển và hỗ trợ nguồn nhân lực và nền tảng tri thức của doanh nghiệp.
- Tối ưu hóa hiệu quả hoạt động.
1.3. Các nguyên tắc của quản trị rủi ro
Nguyên tắc 1: Không chấp nhận các rủi ro không cần thiết, chấp nhận rủi ro khi
lợi ích lớn hơn chi phí.
Trong rủi ro có thể tiềm ẩn các cơ hội, nếu rủi ro không xảy ra thì cơ hội thu lợi
xuất hiện. Chính vì vậy, nhiều nhà kinh doanh, đặc biệt những người có thái độ chấp
nhận rủi ro có xu hướng chấp nhận một số rủi ro nhất định, đặc biệt là những rủi ro suy
đoán. Xét trên góc độ tác động của rủi ro đến nguồn lực thì việc chấp nhận rủi ro phải
hợp pháp (theo quy định của từng quốc gia) và phù hợp với chuẩn mực đạo đức. Vì
vậy, không phải rủi ro nào cũng nên chấp nhận.
4


Mặt khác khi chấp nhận rủi ro các nhà quản trị phải hiểu được rằng việc chấp
nhận này chỉ thực sự “đáng giá” khi rủi ro đó không xảy ra. Trong khi nó xảy ra thì
phải chịu một tổn thất (chi phí) nhất định. Các nhà quản trị có thái độ chấp nhận rủi ro
thường so sánh lợi ích thu được khi rủi ro không xảy ra với chi phí (tổn thất) khi rủi ro
xảy ra. Rủi ro được chấp nhận khi lợi ích dự tính lớn hơn chi phí (tổn thất) trong
trường hợp rủi ro không xảy ra.
Nguyên tắc 2: Ra các quyết định quản trị rủi ro ở cấp thích hợp
Quản trị rủi ro là công việc của tất cả các cấp quản trị, của tất cả các nhà quản trị.
Tuy nhiên, những quyết định liên quan đến quản trị rủi ro cần được đưa ra bởi những
cấp quản trị thích hợp. Chẳng hạn, đối với cấp quản trị chiến lược (cấp cao) thì quản
trị rủi ro tập trung vào xác định và phân tích các biến cố bất định có thể xảy ra trong
tương lai của doanh nghiệp, đặc biệt là việc phân tích môi trường chiến lược. Trong
khi đó, các hoạt động kiểm soát rủi ro và một số hoạt động liên quan đến tài trợ rủi ro
là nhiệm vụ chủ yếu của các nhà quản trị cấp thấp hơn (cấp trung và cấp cơ sở).
Nguyên tắc 3: Kết hợp quản trị rủi ro vào hoạch định và vận hành ở các cấp
Quản trị rủi ro không phải là một lĩnh vực độc lập với các lĩnh vực quản trị khác
trong doanh nghiệp. Nhiều rủi ro có nguồn gốc từ môi trường bên trong, bao gồm các
rủi ro cơ hội và rủi ro sự cố. Vì vậy, để phòng ngừa và giảm thiểu rủi ro trước hết, các
nhà quản trị phải làm tốt khâu hoạch định.
2. Nhận dạng và phân tích rủi ro
2.1. Nhận dạng rủi ro
Khái niệm: Nhận dạng rủi ro là quá trình xác định một cách liên tục và có hệ
thống các rủi ro có thể xảy ra trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.
Nhận dạng rủi ro nhằm tìm kiếm các thông tin về:
+ Tên và loại rủi ro
+ Các mối hiểm họa: gồm các điều kiện tại ra hoặc làm tăng mức độ tổn thất của
rủi ro
+ Các mối nguy hiểm: là nguyên nhân của tổn thất
Mối nguy: Bất cứ cái gì, điều gì có thể gây thương tích cho con người, làm hư
hỏng tài sản và hủy hoại môi trường đều là mối nguy. Các mối nguy:

5


+ Mối nguy vật chất: là tình trạng vật chất yếu kém làm tăng khả năng xảy ra mất
mát
+ Mối nguy đạo đức: là sự không trung thực của một cá nhân nào đó làm tăng
khả năng xảy ra mất mát
+ Mối nguy tinh thần: là sự bất cẩn hay thờ ơ của một cá nhân dẫn đến mất mát
vì người này chủ quan cho rằng mình đã mua bảo hiểm
2.2. Cơ sở nhận dạng rủi ro
+ Dựa trên các số liệu thống kê
+ Dựa trên các thông tin thu thập được từ môi trường
+ Dựa trên phân tích hoạt động của doanh nghiệp
+ Dựa trên kinh nghiệm, trực giác của nhà quản trị
Nhận dạng rủi ro cần tập trung 2 vấn đề chính:
Nguồn rủi ro
+ Nguồn rủi ro (phát sinh mối hiểm họa và mối nguy hiểm) thường được tiếp cận
từ các yếu tố môi trường hoạt động của doanh nghiệp
+ Môi trường chung: Môi trường chính trị luật pháp; Môi trường kinh tế; Môi
trường KH KTCN; Môi trường VH-XH; Môi trường tự nhiên
+ Môi trường đặc thù: khách hàng, nhà cung cấp, đối thủ cạnh tranh, các cơ quan
hữu quản
+ Môi trường bên trong: Nhận thức của con người nói chung và của nhà quản trị
nói riêng
Nhóm đối tượng rủi ro
+ Nhóm đối tượng rủi ro: có thể là tài sản, là nguồn nhân lực
+ Nguy cơ rủi ro về tài sản: là khả năng được hay mất đối với tài sản hữu hình
hay đối với tài sản vô hình
+ Nguy cơ rủi ro về trách nhiệm pháp lý: là nguy cơ có thể xảy ra các tổn thất về
trách nhiệm pháp lý đó được quy định
+ Nguy cơ rủi ro về nguồn nhân lực: là nguy cơ rủi ro có liên quan đến tài sản
con người của tổ chức (rủi ro xảy ra liên quan tới nguồn nhân lực)

6


2.3. Phương pháp nhận dạng rủi ro
+ Phương pháp chung: Xây dựng bảng liệt kê
Xây dựng bảng liệt kê là việc đi tìm câu trả lời cho các câu hỏi đặt ra trong các
tình huống nhất định, để từ đó nhà quản trị có những thông tin nhận dạng và xử lý các
đối tượng rủi ro. Thực chất là phương pháp phân tích SWOT.
+ Phương pháp nhận dạng cụ thể: Phương pháp phân tích báo cáo tài chính,
Phương pháp lưu đồ, Phương pháp thanh tra hiện trường, Phương pháp làm việc với
các bộ phận khác của DN, Phương pháp làm việc với các bộ phận khác bên ngoài,
Phương pháp phân tích hợp đồng, Phương pháp nghiên cứu số lượng tổn thất trong
quá khứ.
2.4. Phân tích rủi ro
Khái niệm: Phân tích rủi ro là quá trình nghiên cứu những hiểm họa, xác định
nguyên nhân gây ra rủi ro và các tổn thất.
Nội dung phân tích rủi ro:
- Phân tích hiểm họa: Nhà quản trị tiến hành phân tích những điều kiện tạo ra rủi
ro hoặc những điều kiện làm tăng mức độ tổn thất khi rủi ro xảy ra. Nhà quản trị có thể
thông qua quá trình kiểm soát trước, kiểm soát trong và kiểm soát sau để phát hiện ra
mối hiểm họa.
- Phân tích nguyên nhân rủi ro dựa trên quan điểm: Phần lớn các rủi ro xảy ra đều
liên quan đến con người; Phần lớn các rủi ro xảy ra là do các yếu tố kỹ thuật, do tính
chất lý hóa hay cơ học của đối tượng rủi ro.
Kết hợp 2 nguyên nhân kể trên: Nguyên nhân rủi ro một phần phụ thuộc vào yếu
tố kỹ thuật, một phần phụ thuộc vào yếu tố con người.
Các nguyên nhân:
Nguyên nhân khách quan: Nguyên nhân từ điều kiện tự nhiên và nguyên nhân từ
môi trường kinh doanh.
Nguyên nhân chủ quan:
+ Sai lầm của tổ chức, doanh nghiệp về chiến lược kinh doanh
+ Sai lầm trong việc lựa chọn chính sách, cơ chế quản lý của tổ chức
+ Thiếu thông tin quản trị
+ Thiếu kiến thức, kinh nghiệm trong kinh doanh
7


+ Do sơ xuất, bất cẩn, chủ quan hay mất tập trung trong hoạt động
+ Do thiếu tính thần trách nhiệm, đạo đức, phẩm chất, sức khỏe, tinh thần… của
các nhân viên
+ Do buôn lậu, hàng giả, hàng nhái, cạnh tranh không lành mạnh…
+ Mâu thuẫn, xung đột, hiểu lầm trong quan hệ đối tác hay khách hàng…
- Phân tích tổn thất: Có thể phân tích tổn thất thông qua hai cách thức:
+ Phân tích những tổn thất đã xảy ra: nghiên cứu, đánh giá những tổn thất đã xảy
ra để dự đoán những tổn thất sẽ xảy ra.
+ Căn cứ vào hiểm họa, nguyên nhân rủi ro, người ta dự đoán những tổn thất có
thể xảy ra.
Các phương pháp phân tích rủi ro:
- Phương pháp thống kê kinh nghiệm
- Phương pháp xác suất thống kê
- Phương pháp phân tích cảm quan
- Phương pháp chuyên gia
- Phương pháp xếp hạng các nhân tố tác động
3. Kiểm soát và tài trợ rủi ro
3.1. Kiểm soát rủi ro
3.1.1 Khái niệm: Kiểm soát rủi ro là việc sử dụng các biện pháp (kỹ thuật, công
cụ, chiến lược, chính sách,...) khác nhau nhằm né tránh, ngăn ngừa, giảm thiểu những
tổn thất có thể đến với tổ chức khi rủi ro xảy ra. Thực chất của kiểm soát rủi ro là
phòng chống hạn chế rủi ro, tổn thất xảy ra trong quá trình hoạt động kinh doanh của
doanh nghiệp.
3.1.2 Các nguyên tắc kiểm soát rủi ro:
- Nguyên tắc 1: Sử dụng biện pháp kiểm soát rủi ro phải dựa trên tương quan lợi
ích và chi phí.
Trước khi tính đến việc sử dụng một công cụ kiểm soát rủi ro nào thì phải tính
toán sự tương quan giữa chi phí phải chịu và lợi ích thu được khi sử dụng công cụ đó,
để từ đó quyết định sử dụng công cụ kiểm soát rủi ro hay chuyển sang việc thực hiện
các biện pháp tài trợ rủi ro.

8


- Nguyên tắc 2: Chỉ được sử dụng những biện pháp và công cụ kiểm soát theo
quy định của pháp luật. Không thể thực hiện các biện pháp kiểm soát rủi ro mà không
tính đến những tác động của các biện pháp này đến các chủ thể khác ( tính mạng của
các thành viên trong tổ chức cũng như những người bên ngoài tổ chức), trật tự, an ninh
và an toàn xã hội.
- Nguyên tắc 3: Việc sử dụng các biện pháp kiểm soát rủi ro phải phù hợp với
những chuẩn mực của những đạo đức và trách nhiệm xã hội .
3.1.3 Các biện pháp kiểm soát rủi ro:
- Né tránh rủi ro: là việc tìm cách làm mất đi những tác nhân làm cho rủi ro xuất
hiện và gây ra tổn thất. Né tránh rủi ro có thể là chủ động né tránh trước khi rủi ro xảy
ra hoặc chủ động loại bỏ nguyên nhân gây ra rủi ro.
Né tránh rủi ro là một trong những phương pháp kiểm soát rủi ro có hiệu quả,
giúp cho doanh nghiệp tránh được những tổn thất rủi ro tiềm ẩn hoặc bất định mà rủi
ro có thể xảy ra. Tuy nhiên, né tránh rủi ro có thể làm cho doanh nghiệp mất đi những
lợi ích nhất định. Đồng thời, cũng có thể mang đến khả năng xảy ra các rủi ro khác.
- Chuyển giao rủi ro: là việc doanh nghiệp chuyển giao rủi ro cho bên khác và
chấp nhận một thiệt hại nhất định. Có thể thực hiện bằng hai cách: chuyển những tác
nhân gây rủi ro cho chủ thể khác và chuyển giao rủi ro bằng hợp đồng giao ước. Đây
là biện pháp kiểm soát rủi ro khá phổ biến trong hoạt động thương mại.
- Giảm thiểu rủi ro: có nghĩa là làm giảm ảnh hưởng ( tác động- impact) cũng
như giảm khả năng xảy ra của rủi ro. Có hai phương án: xác suất xuất hiển rủi ro có
thể giảm nhẹ và ảnh hưởng của rủi ro đã xuất hiện có thể tối thiểu hóa. Rủi ro có thể
được giảm thiểu thông qua việc thực hiện các biện pháp kiểm soát đúng đắn như xây
dựng các chính sách, thủ tục hay quy tắc dùng trong nội bộ doanh nghiệp, thực hiện
chu trình quản trị chất lượng, đào tạo nâng cao năng lực của nhân viên phù hợp với
yêu cầu kinh doanh, và thực hiện kiểm toán nội bộ và kiểm toán độc lập.
- Chấp nhận rủi ro: Ở giai đoạn nhận dạng và phân tích rủi ro, các nhà quản trị
xác định được rủi ro cũng như mức độ nghiêm trọng của nó nhưng chấp nhận rủi ro
đó. Chấp nhận rủi ro là việc làm cần thiết của các nhà quản trị, nhưng không phải chấp
nhận rủi ro một cách liều lĩnh mà cần phải phân tích, cân nhắc và tính toán kĩ theo
nguyên tắc “được gì, mất gì”.
9


- Phân tán và chia sẻ rủi ro: trong các rủi ro mà một doanh nghiệp có thể gặp
phải, có những rủi ro có thể phân tán được, là những rủi ro có thể giảm thiểu thông qua
việc đóng góp các nguồn lực và các bên cùng nhau chia sẻ rủi ro. Mục đích phân tán
và chia sẻ rủi ro là làm giảm tổn thất do một loại rủi ro nào đó gây ra bằng cách làm
giảm sự giống nhau hay đồng thời mà một biến cố rủi ro đơn lẻ tác động lên toàn bộ
nguồn lực của doanh nghiệp.Tuy nhiên, phân tán và chia sẻ rủi ro chỉ có thể làm giảm
tổn thất (nếu rủi ro xảy ra) chứ không làm giảm nguy cơ bị tổn thất. hiệu quả của biện
pháp này tùy thuộc vào nguyên nhân gây ra rủi ro và đối tượng (nguồn lực) chịu tác
động của rủi ro.
3.2. Tài trợ rủi ro
3.2.1 Khái niệm: Tài trợ rủi ro được định nghĩa như là tập hợp các hoạt động
nhằm tạo ra và cung cấp những phương tiện (hay nguồn lực) để khắc phục hậu quả hay
bù đắp tổn thất khi rủi ro xảy ra, gây quỹ dự phòng cho những chương trình để giảm
bớt bất trắc và rủi ro hay để gia tăng những kết quả tích cực.
3.2.2 Các biện pháp tài trợ rủi ro:
- Tự tài trợ:
+ Tự tài trợ có kế hoạch (chủ động) khi nhà quản trị rủi ro xem xét các phương
pháp xử lí rủi ro khác nhau và quyết định không chuyển giao tổn thất tiềm năng.
+ Tự tài trợ không có kế hoạch (thụ động) khi nhà quản trị rủi ro không nhận ra
rủi ro và không cố gắng xử lí rủi ro đó, cho nên mặc nhiên doanh nghiệp đã chọn biện
pháp lưu giữ tổn thất (tự tài trợ).
- Chuyển giao tài trợ rủi ro:
+ Chuyển giao tài trợ rủi ro bằng bảo hiểm
+ Chuyển giao tài trợ phi bảo hiểm
+ Trung hòa rủi ro
3.3.3 Mối quan hệ giữa tài trợ rủi ro và kiểm soát rủi ro
Mục đích của kiểm soát rủi ro là phòng ngừa, né tránh và giảm thiểu rủi ro và tổn
thất do rủi ro gây ra. Nhưng không bao giờ các nhà quản trị doanh nghiệp và quản trị
rủi ro cũng đạt được mục đích đó một cách hoàn hảo. Vì vậy, trong lí luận cũng như
trong thực tiễn, quá trình quản trị rủi ro luôn hàm chứa nội dung tài trợ rủi ro. Tài trợ
rủi ro được hiểu là việc chuẩn bị trước các nguồn lực (chủ yếu là nguồn lực tài chính)
10


để khắc phục hậu quả, tức là bù đắp những tổn thất do rủi ro gây ra. Hiệu quả của kiểm
soát rủi ro ảnh hưởng đến chi phí tài trợ rủi ro của doanh nghiệp, bất kể công cụ tài trợ
rủi ro nào mà doanh nghiệp sử dụng.
4. Quản trị rủi ro nhân lực.
4.1 Khái niệm: Quản trị rủi ro nhân lực là quá trình nhận dạng, phân tích (bao
gồm cả đo lường và đánh giá) những rủi ro nhân lực và thiết lập các biện pháp kiểm
soát và tài trợ khắc phục các hậu quả của rủi ro nhân lực nhằm sử dụng tối ưu nguồn
nhân lực của tổ chức.
- Tầm quan trọng của quản trị rủi ro nhân lực: Con người là yếu tố cấu thành nên
tổ chức, vận hành tổ chức và quyết định mọi sự thành bại của tổ chức nên các rủi ro
liên quan đến con người đều có ảnh hưởng trực tiếo hay gián tiếp đến hoạt động cũng
như lợi ích của tổ chức. chính vì thế, hoạt động quản trị tốt các yếu tố rủi ro nhân lực
sẽ mang lại sự ổn định cao, nhằm đảm bảo hiệu quả quá trình quản trị, duy trì sự phát
triển ổn định và bền vững của tổ chức.
4.2 Phân loại rủi ro nhân lực
- Theo tính chất đặc thù công việc:
+ Rủi ro liên quan đến hạn chế về thể chất và tư thế làm việc: các công việc
mang vác nặng, làm việc trong tư thế gò bó, trong không gian chật hẹp,...
+ Rủi ro liên quan đến khoa học lao động: các nguy hiểm do không chấp hành
quy định và nội quy cấm hút thuốc, thanh tra và dự phòng các thiết bị phòng cháy chữa
cháy, đóng cửa ngăn chặn hỏa hoạn sau giờ làm việc,...
+ Rủi ro liên quan đến môi trường vật lí (tiếng ồn, nhiệt độ, thông gió, ánh sáng,
độ rung)
+ Rủi ro từ công cụ, dụng cụ và nguyên liệu vật lí
+ Rủi ro cháy nổ, rủi ro tâm lí xã hội và rủi ro liên quan đến tác nhân hóa học,
sinh học,..
- Theo quá trình quản trị nhân lực: rủi ro trong công tác hoạch định nhân lực,
tuyển dụng, công tác bố trí và sắp xếp nhân lực, rủi ro trong công tác đào tạo và phát
triển nhân lực, trong công tác đánh giá và đãi ngộ nhân lực, trong công tác quản lý
nhân lực,...
- Theo chủ thể gây rủi ro: rủi ro do người lao động,do người quản lí
11


- Theo đối tượng chịu ảnh hưởng: người lao động và cả doanh nghiệp
- Theo phạm vi ảnh hưởng: rủi ro nội bộ, bên ngoài
- Theo môi trường quản trị: môi trường kinh tế, chính trị, văn hóa- xã hội, khoa
học kĩ thuật, môi trường tự nhiên,...
4.3 Nhận dạng rủi ro nhân lực
- Mối nguy:
+ Mối nguy vật chất: Tình trạng vật chất yếu kém làm tăng khả năng xảy ra mất
mát
+ Mối nguy đạo đức: Sự không trung thực của một cá nhân nào đó làm tăng khả
năng xảy ra mất mát.
+ Mối nguy tinh thần: sự bất cẩn hay thờ ơ của một cá nhân dẫn đến mất mát.
- Nguồn rủi ro:
+ Theo góc độ khoa học an toàn lao động: thời gian, thiết bị, môi trường, cá
nhân, công việc, tổ chức,..
+ Theo góc độ tâm lí xã hội: bầu không khí làm việc, sức ép công việc, điều kiện
làm việc, thành tựu các nhân,...
+ Theo góc độ tác nghiệp của quản trị nhân lực: công tác tuyển dụng nhân lực, bố
trí và sử dụng nhân lực, đào tạo và phát triển nhân lực,...
+ Theo góc độ môi trường quản trị: yếu tố kinh tế, yếu tố chính trị luật pháp, văn
hóa- xã hội, khoa học kỹ thuật công nghệ, đối thủ cạnh tranh, khách hàng,..
4.4 Phân tích rủi ro nhân lực
- Tần suất rủi ro: tần số xuất hiện các nguy cơ hoặc số vụ tai nạn có tính đến số
lượng người bị ảnh hưởng hoặc liên quan.
- Biên độ rủi ro: Mức độ nghiêm trọng/ mức độ thiệt hại phản ánh tầm quan trọng
của các hậu quả của rủi ro nhân lực nếu nó xảy ra
- Hậu quả khi rủi ro xảy ra có thể tác động trực tiếp tới bản thân người lao động
và tổ chức, gián tiếp với những người thân của người lao động, hoặc chỉ bản thân tổ
chức chịu ảnh hưởng trong một số trường hợp.
+ Tổn thất đối với tổ chức: tổn thất do mất đi người chủ chốt, tổn thất do mất đi
các khoản tín dụng, tổn thất do gián đoạn hoạt động sản xuất- kinh doanh

12


+ Tổn thất đối với người lao động: hậu quả tổn thất trực tiếp người lao động là
vết đau về thể xác, bệnh tật và tinh thần, tổn thất về thu nhập hoặc phải gánh chịu các
khoản chi phí y tế và khả năng mất đi cơ hội nghề nghiệp cao. Đối với người phụ
thuộc vào họ là mất đi nguồn thu nhập và phải gánh chịu những chi phí tăng thêm như
các chi phí y tế.
4.5 Kiểm soát rủi ro nhân lực
Né tránh rủi ro: các nhà quản trị có thể dừng cung cấp dịch vụ hoặc ngừng tiến
hành các hoạt động vì nó là quá mạo hiểm.
Phòng ngừa, giảm thiểu rủi ro
- Các biện pháp phòng ngừa rủi ro nghề nghiệp: biện pháp kỹ thuật công nghệ,
biện pháp kỹ thuật vệ sinh, biện pháp phòng hộ cá nhân, biện pháp tổ chức lao động
khoa học, biện pháp y tế bảo vệ sức khỏe.
- Các biện pháp hoàn thiện công tác quản trị nhân lực: trước tiên cần nhìn nhận
đúng đắn về thực trạng hoạt động của nhân viên, khách quan và cụ thể, tiến hành
hoạch định nhu cầu về nguồn nhân lực sau đó hoàn thiện công tác tuyển dụng nhân
lực, hoàn thiện chế độ lương bổng và đãi ngộ.
Chuyển giao rủi ro: chuyển giao rủi ro cho tổ chức khác thông qua việc kí kết
một thỏa thuận hợp đồng với các tổ chức khác để chia sẻ rủi ro.
Tài trợ rủi ro nhân lực
- Thiết lập quỹ dự phòng tài trợ rủi ro nhân lực: căn cứ vào mức độ nghiêm trọng
của rủi ro để trích lập dự phỏng rủi ro, doanh nghiệp cần chủ động về mặt tài chính để
phòng tránh tác động xấu ảnh hưởng đến hoạt động của doanh nghiệp.
- Bảo hiểm: doanh nghiệp bảo đảm lao động tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc,
có những chính sách hôc trợ cho người lao động thông qua hoạt động mua bảo hiểm
sức khỏe bao gồm bảo hiểm tai nạn con người, bảo hiểm y tế, bảo hiểm chăm sóc sức
khỏe.
5. Quản trị rủi ro tài sản
5.1 Khái niệm: Quản trị rủi ro tài sản là hoạt động mang tính hệ thống bao gồm
việc nhận dạng rủi ro, phân tích rủi ro, kiểm soát rủi ro, tài trợ rủi ro các loại tài sản
của doanh nghiệp.

13


- Tài sản của doanh nghiệp bao gồm: tài sản cố định, tài sản lưu động và tài sản
đầu tư tài chính và một số tài sản khác.
- Tầm quan trọng của quản trị rủi ro tài sản:
+ Nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản
+ Là cơ sở để doanh nghiệp có kế hoạch sửa chữa, đổi mới tài sản, đảm bảo cho
tài sản được sử dụng một cách liên tục trong quá trình hoạt động của doanh nghiệp làm
hạn chế việc ngừng trệ hoạt động kinh doanh do xảy ra rủi ro tài sản.
+ Là cơ sở tính toán khấu hao giá thành, xác định chi phí.
5.2 Nhận dạng rủi ro tài sản
- Nguồn rủi ro: xuất phát từ các yếu tố môi trường hoạt động kinh doanh của
doanh nghiệp. Nguồn rủi ro môi trường bên trong: năng lực tài chính, tình hình nhân
lực, năng lực quản trị. Nguồn rủi ro bên ngoài bao gồm các yếu tố mô trường vĩ mô và
các yếu tố môi trờng vi mô của doanh nghiệp.
- Nguyên nhân rủi ro tài sản đều có thể do con người hoặc do đặc điểm của tài
sản gây nên hoạc do đồng thời cả hai yếu tố con người và chính đặc thù của tài sản đó
- Nguy cơ rủi ro tài sản bao gồm những trạng thái xảy ra đối với tài sản gây nên
tình trạng bất lợi cho hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
- Đối tượng chịu rủi ro tài sản:
+ Đối với tài sản lưu động: tiền và hàng tồn kho
+ Đối với tài sản cố định hữu hình: trái phiếu, cổ phiếu dài hạn, thương hiệu, uy
tín, các yếu tố thuộc sở hữu trí tuệ của doanh nghiệp.
- Các phương pháp nhận dạng rủi ro tài sản: phương pháp phân tích báo cáo tài
chính, phương pháp lưu đồ, phương pháp thanh kiểm tra tài sản theo định kì hoặc đột
xuất, phương pháp dự báo thị trường.
5.3 Phân tích rủi ro tài sản
- Nội dung: cần xác định cụ thể các nguyên nhân rủi ro, tổn thất trực tiếp và gián
tiếp, ngay lập tức và lâu dài.
- Phương pháp:
+ Phân tích rủi ro tài sản dựa trên tần suất và biên độ: được phân nhóm theo tần
suất rủi ro cao/thấp hay biên độ rủi ro lớn/nhỏ.

14


+ Phân tích rủi ro tài sản theo nguyên nhân: cần xác định rõ rõ nguyên nhân về
phía tài sản (mối hiểm họa, mối nguy hiểm xuất phát từ chính tài sản, đặc trưng gắn
với tài sản và quá trình doanh nghiệp sử dụng tài sản ấy) hay về phía con người
(chuyên môn, ý thức trách nhiệm, đạo đức) hay đồng thời là sự tương tác của cả con
người và tài sản ( tài sản cũ, dễ cháy, dễ hư hỏng,...).
+ Phân tích tổn thất rủi ro tài sản:



xác định theo tổn thất trực tiếo và tổn thất gián tiếp.
Phương pháp phân tích tổn thất rủi ro tài sản: phương pháp định giá theo thị trường,
phương pháp định giá theo chi phí thay mới, phương pháp định giá theo chi phí thay

mới và có giảm bớt hao mòn hữu hình và lỗi thời.
• Các tổn thất bao gồm: tổn thất thu nhập cho thuê tài sản, tổn thất do gián đoạn hoạt
động kinh doanh, tổn thất không được hưởng lãi.
5.4 Kiểm soát rủi ro tài sản
- Các biện pháp chính kiểm soát rủi ro: né tránh rủi ro, ngăn ngừa rủi ro và giảm
thiểu tổn thất.
- Các biện pháp kiểm soát rủi ro tài sản cụ thể cần được doanh nghiệp áp dụng
chủ động, thường xuyên: xây dựng hệ thống kiểm soát nội bộ, phân loại tài sản chính
xác phù hợp, tiến hành trích lập dự phòng giảm giá đầu tư ngắn hạn. Đồng thời thiết
lập các quỹ dự phòng cho các khoản thu khó đòi, dự phòng giảm giá hàng tồn kho.
5.5 Tài trợ rủi ro tài sản
- Các biện pháp tài trợ rủi ro tài sản gồm 2 loại chính:
+ Tự tài trợ: nguồn bù đắp tổn thất là nguồn tự chủ động của doanh nghiệp
+ Chuyển giao tài trợ rủi ro tài sản: doanh nghiệp thực hiện việc sắp xếp, thương
lượng, yêu cầu các thành phần khác (cơ quan bảo hiểm, hỗ trợ từ chính phủ và các bên
liên quan khác) trong việc giải quyết và bù đắp các tổn thất, các vấn đề phát sinh khi
có rủi ro tài sản.
- Hoạt động tài trợ rủi ro tài sản: xác định theo các loại Tài trợ tức thời/tương lai,
tài trợ tự khắc phục/chuyển giao theo tỉ lệ nhất định, tối ưu nhất.

15


PHẦN HAI:
PHÂN TÍCH RỦI RO TRONG KINH DOANH CỦA THƯƠNG HIỆU
KINH DOANH THỰC PHẨM SẠCH BÁC TÔM
I.

GIỚI THIỆU TỔNG QUAN VỀ DOANH NGHIỆP
Công ty TNHH Vinagab (Bác Tôm) là thương hiệu tiên phong đưa mô hình trồng
rau hữu cơ sạch từ đồng ruộng đến bàn ăn mang lại nguồn thực phẩm sạch cho người
dân Việt Nam. Chuỗi cửa hàng thực phẩm sạch Bác Tôm - chuyên cung cấp thực
phẩm, rau, củ, quả sạch. Đây cũng là mô hình đầu tiên kết nối người tiêu dùng trải
nghiệm du lịch nông sản. Chuỗi cửa hàng nông sản sạch đầu tiên mang tên Bác Tôm
được thành lập năm 2007, sau 13 năm, Bác Tôm đã nhân lên thành 20 cửa hàng và
từng bước kết hợp với nhiều dự án khác của các tổ chức phi chính phủ để phục vụ
thêm thực phẩm sạch và trái cây đặc sản. Sau nhiều năm trong vai trò tư vấn cùng
niềm đam mê với nền nông nghiệp thuận tự nhiên thương hiệu Bác Tôm không ngừng
được mở rộng, cả về quy mô và sự đa dạng về sản phẩm. Đến với cửa hàng Bác Tôm,
khách hàng có thể lựa chọn đầy đủ các sản phẩm an toàn, đảm bảo dinh dưỡng cho
những bữa ăn của gia đình.
Tất cả những mặt hàng Bác Tôm cung cấp đều được bảo đảm là sản phẩm an
toàn, chất lượng, sản xuất theo đúng quy trình có sự giám sát chặt chẽ và có nguồn gốc
xuất xứ rõ ràng.
Rau hữu cơ được nhập từ các khu vực sản xuất được chứng nhận PGS ở Sóc Sơn
(Hà Nội), Trác Văn (Hà Nam), Lương Sơn (Hòa Bình). Còn rau an toàn được nhập từ
HTX RAT Rì Thàng, huyện Bắc Hà, Lào Cai và HTX RAT của huyện Mộc Châu, tỉnh
Sơn La. Còn những mặt hàng hải sản được Bác Tôm nhập từ vùng biển Lý Sơn, Phú
Quốc, Quảng Ninh, Hải Phòng. Sản phẩm được thu sau khi đánh bắt vào sáng sớm và
được cấp đông bằng đá lạnh, không có hóa chất. Thịt lợn sạch được nhập từ Hòa Bình,
được người dân nuôi bằng bỗng rượu và các loại thức ăn tự sản xuất ở địa phương.
Trái cây thì nhập ở các tỉnh phía nam như Tây Ninh, Tiền Giang, Bến Tre. Những sản
phẩm trái cây Nam bộ được truy xuất tận vườn, đảm bảo các yêu cầu về sản xuất trái
cây an toàn.

16


 Uy tín doanh nghiệp:
o Cửa hàng thực phẩm sạch đầu tiên ở Hà Nội từ 2009 ở 6 Nguyễn Công Trứ với hàng

ngàn khách hàng trung thành từ hơn 11 năm qua.
o Cam kết bảo hành sản phẩm đến tận bàn ăn
o Đội ngũ kỹ sư nông nghiệp dày dạn kinh nghiệm giám sát quy trình sản xuất từ farm
o Nhiều trường đại học và tổ chức trong và ngoài nước tín nhiệm chọn farm Bác Tôm
làm nơi gửi sinh viên tham quan học tập và hợp tác như Học viện Nông nghiệp, Đại
o
o

o

học Kinh tế quốc dân, Đại học Larenstein (Hà Lan)…
Thành viên INOFO (Mạng lưới Nông dân Hữu cơ Liên lục địa)
Thành viên Mạng lưới Hữu cơ PGS, Hiệp hội Nông nghiệp Hữu cơ
Sản phẩm- Dịch vụ chính:
Cung cấp thực phẩm sạch thuận tự nhiên tại các điểm bán (www.bactom.com) và giao

tận nhà theo nhu cầu của khách hàng.
o Thực phẩm được nuôi trồng đảm bảo quy trình sản xuất thuận tự nhiên. Tuyệt đối
không cung cấp thực phẩm nuôi trồng công nghiệp.
 Tầm nhìn
o Trở thành đơn vị nông nghiệp thuận tự nhiến uy tín cho cả nông dân và người tiêu
dùng
 Mục tiêu
o Cung cấp sản phẩm chất lượng cao nhất, lành mạnh cho sức khỏe
o Thúc đẩy hệ thông trang trại nông nghiệp thuận tự nhiên

Thúc đẩy lối sống lành mạnh
 Triết lý
o Sức khỏe người tiêu dùng: Lấy niềm tin của người tiêu dùng làm giá trị cốt lõi, Bác
Tôm lươn hướng tới những giá trị tốt đẹp nhất và chân thật nhất cho sức khỏe
o Cải thiện cuộc sống của người nông dân chân chính: Sản xuất nông nghiệp luôn được
coi là ngành nghề vất vả với nhiều rủi ro thiên nhiên. Thấu hiểu điều đó, Bác Tôm luôn
sát cánh hỗ trợ bà con nông dân về kiến thức sản xuất, giúp tiêu thụ sản phẩm với giá
cả xứng đáng với giá trị sản phẩm. Do đó, nâng cao thu nhập và cải thiện đời sống
o

kinh tế cho bà con yêu nghề nông của mình
Môi trường lành mạnh: Hệ thống canh tác hữu cơ cũng như an toàn thuận tự nhiên
không chỉ đem lại sản phẩm có chất lượng cao và tốt cho sức khỏe của người tiêu dùng
và người sản xuất mà còn tạo ra một môi trường sản xuất thuận tự nhiên, thân thiện và
bền vững
Gia nhập vào thị trường nhiều năm, đến nay Bác Tôm đã có được vị trí nhất định
của mình trên thị trường. Với người tiêu dùng, thương hiệu Bác Tôm trở thành nguồn
cung cấp nông sản uy tín, đảm bảo nguồn thực phẩm sạch, an toàn cho sức khỏe cộng
17


đồng. Với các hộ sản xuất và các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp,
Bác Tôm trở thành cầu nối thị trường và đơn vị tiên phong nông sản sạch, góp phần
thúc đẩy sự phát triển của toàn ngành nông nghiệp.
II.

THỰC TRẠNG RỦI RO TRONG KINH DOANH CỦA DOANH NGHIỆP BÁC
TÔM
1. Nhận dạng và phân tích rủi ro

1.1.

Nhận dạng rủi ro
Hiểm họa
Nguy hiểm
1.Thói quen khó thay đổi của khách hàng: 1.Bản thân Khách hàng với thói quen khó
xu hướng lớn khách hàng chọn mua thực thay đổi, khách hàng chưa thực sự tin
phẩm ngoài chợ dân sinh, chưa xây dựng tưởng vào nguồn gốc sạch của sản phẩm
được thói quen vào cửa hàng để mua( giá
rau ngoài chợ rẻ hơn trong cửa hàng; đối
với KH ra chợ tiện hơn và đa dạng sản
phẩm hơn)
1.KH hoài nghi về sản phẩm của cửa hàng
thực phẩm sạch: tem nhãn trên sản phẩm
sạch không cung cấp đủ thông tin hữu ích

2.Cửa hàng nằm xa khu dân cư, chung cư 2. Địa điểm kinh doanh chưa phù hợp, chọn
gây sự bất tiện cho khách hàng khi mua sai phân khúc khách hàng
thực phẩm
2.Chưa xác định được tập khách hàng mục
tiêu (người có thu nhập ổn, nhân viên văn
phòng…)
3.Nhu cầu về thực phẩm sạch của người 3.Nhà cung cấp cung ứng hàng hóa chưa
tiêu dùng là rất lớn nhưng cửa hàng chưa đảm bảo được chất lượng và số lượng; số
lựa chọn được nhà cung cấp đáp ứng những lượng sản phẩm bán nghèo nàn
yêu cầu của khách hàng
3.Cửa hàng chưa khai thác triệt để các
ngành hàng khác nhau trong nước: chưa có
sự liên kết với các nhà cung cấp như thủy
hải sản; hoa quả tươi (dẫn đến lượng khách
hàng tiêu thụ hạn chế)
4.Cửa hàng mở rộng quy mô khi chưa nắm 4.Cửa hàng vội vàng mở rộng quy mô
rõ mục tiêu hướng đến, chưa nghiên cứu rõ
về địa điểm bán; chưa đảm bảo được truy
18


suất thông tin hàng bán cho khách hàng
5.Cửa hàng không biết cách giữ chân khách
hàng cũ và thu hút khách hàng mới
6.Hệ thống quản lí của cửa hàng chưa hiệu
6.Cửa hàng chưa có hệ thống quản lí các quả dẫn đến thất thoát, hỏng sản phẩm
hoạt động nhập hàng, bán hàng, chăm sóc
khách hàng, quản lí hàng tồn hiệu quả do
vậy dẫn đến thất thoát hàng hóa, doanh thu
và mất nhiều thời gian kiểm tra giám sát
làm ảnh hưởng đến các hoạt động tiếp theo
7.Nhân sự trong cửa hàng chưa có kinh
7.Nhân viên bán hàng thiếu chuyên môn nghiệm
nghiệp vụ trong việc cung cấp thông tin
hữu ích cho khách hàng
7.Nhân viên quản lí thiếu chuyên môn quản
lí hàng bán: quản lí tồn kho, quản lí doanh
số bán,…
8. Giá thành thực phẩm sạch là khá cao
8.Giá thành thực phẩm sạch kèm nhiều chi Không dự phòng chi phí rủi ro
phí trung gian
8.Chi phí thuê mặt bằng đắt đỏ, chi phí
quảng cáo cao đội giá thành thực của sản
phẩm lên cao
Nguy cơ rủi ro của cửa hàng kinh doanh thực phẩm Bác Tôm

°

Nguy cơ rủi ro về tài sản của doanh nghiệp
Tài sản hữu hình:
Kinh doanh không có lợi nhuận một vài tháng đầu dẫn đến việc hết nguồn vốn để duy
trì vì vậy doanh nghiệp phải thế chấp tài sản, bất động sản để tiếp tục kinh doanh, tình

°
°


trạng kéo dài dẫn đến cửa hàng phải chuyển nhượng dừng kinh doanh
Chi phí về ứng dụng truy xuất chính xác nguồn gốc sản phẩm
Chi phí về tồn kho, bảo quản sản phẩm khi sản phẩm bán không hết
Tài sản vô hình: thương hiệu Bác Tôm bị mờ nhạt trong tâm trí người tiêu dùng, lâu

dần khách hàng sẽ bị lãng quên
- Nguy cơ rủi ro về nhân lực
• Không mở rộng được tập khách hàng mục tiêu
• Nhân viên không có động lực làm việc, tinh thần làm việc không hăng say

19




Tình trạng cửa hàng liên tục không có lợi nhuận trong nhiều tháng dẫn đến không đủ
chi phí thanh toán lương cho nhân viên, nợ lương ké dài khiến nhân viên nghỉ việc, bỏ


1.2.

việc
Trách nhiệm pháp lí
Không truy suất được thông tin chính xác chứng minh sản phẩm sạch dẫn đến chất
lượng sản phẩm không tốt gây kiện tụng
Phân tích rủi ro
Thói quen tiêu dùng của người Việt Nam từ trước đến nay luôn là lựa chọn
những khu chợ dễ dàng có thể ghé qua để mua sắm, tiện lợi về cả việc mua bán mà giá
cả lại phải chăng, phù hợp với giá tiền. Mặc dù tình trạng thực phẩm bẩn đang là nỗi
ám ảnh về an toàn sức khỏe cho toàn xã hội, nhìn bề ngoài của thực phẩm ngoài chợ, ít
người tiêu dùng nào biết được rằng những mớ rau xanh đấy có phải là rau quả phun
kích thích, không an toàn hay không? Nỗi lo của người tiêu dùng khiến họ ngần ngại
trước bất cứ lựa chọn nào liên quan đến thực phẩm. Gần như, quyết định mua thực
phẩm của họ giờ đây tuỳ thuộc vào niềm tin với người bán, chứ không có một quy
chuẩn nào cụ thể cả. Đó là cái khó đối với những người muốn kinh doanh cửa hàng
thực phẩm sạch như Bác Tôm. Khó ở chỗ cửa hàng thực phẩm sạch cần mất khoảng
thời gian từ 6 tháng – 1 năm có khi là nhiều hơn để xây dựng niềm tin ở khách hàng.
Điều đó đồng nghĩa với việc sẽ phải cung cấp một dịch vụ kinh doanh với dịch vụ
chăm sóc khách hàng tốt nhất để chiến thắng các đối thủ cạnh tranh khác và chiếm
được lòng tin ở khách hàng. Việc lấy được sự tin tưởng của người tiêu dùng thì không
đơn giản.
Cửa hàng thường tập chung chủ yếu ở các địa điểm xa khu dân cư hay ở các
trung tâm siêu thị lớn, có nhiều người tiêu dùng có thu nhập cao mà ít tập chung ở
những địa điểm có khu dân cư đông với người lao động có mức thu nhập khá hoặc
thấp là chủ yếu. Cửa hàng chưa xác định được tập khách hàng mục tiêu do đó chọn sai
vị trí đặt địa điểm kinh doanh, do vậy khách hàng muốn mua sản phẩm phải đi xa để
đến cửa hàng để mua. Điều này sẽ dẫn đến lượng người tiếp cận đến sản phầm của
Bác Tôm chỉ tập chung ở phân khúc thu nhập thì cao hơn nhưng ít hơn về số lượng
người mua mà lại không chú trọng đến các đối tượng khách hàng có lượng thu nhập
khá hay ít nhưng số lượng người mua lại cao hơn.
20


Đi cùng với đó là những nguồn cung của cửa hàng còn gặp nhiều khó khăn. So
với việc tự sản xuất chưa đủ để cung ứng thì bắt buộc của hàng phải tìm nhà cung cấp
khác. Ví dụ như các sản phẩm liên quan đến rau củ quả hay các sản phẩm thịt, hải sản
đều phải tìm nhà cung ứng khác nhau. Với việc cam kết sản phẩm có nguồn gốc rõ
ràng, theo dõi giám sát tại vườn nhưng các nhà cung cấp vẫn chưa thể đảm bảo đạt yêu
cầu mà phía Bác Tôm đưa ra. Sản phẩm của các đối tác có đạt yêu cầu thì chi phí kiểm
định giám sát rất cao, ngoài ra Sản phẩm sạch trải qua nhiều khâu trung gian do đó vô
hình chung đội giá thành của sản phẩm lên cao hơn giá thành thực. Điều này dẫn đến
sản phẩm của cửa hàng cũng cao hơn nhiều so với túi tiền của những người nội chợ
Việt Nam.
Bên cạnh đó, cùng với sự phát triển của xã hội, các cửa hàng thực phẩm sạch liên
tục mọc lên đồng nghĩa với việc cạnh tranh giữa các đối thủ là rất cao, vì thế mà Bác
Tôm cũng không ngoại lệ với việc nôn nóng mở rộng nhiều cửa hàng để tiếp cận với
người tiêu dùng nhiều hơn. Tuy nhiên chính điều này lại làm cho chất lượng của từng
cửa hàng không đồng đều, thiếu sự quản lý giám sát của các nhân viên một cách
chuyên nghiệp, nhà quản trị thiếu kinh nghiệm trong quảng bá và xúc tiến bán. Không
chỉ Bác Tôm và các doanh nghiệp kinh doanh sản phẩm sạch khác vẫn đang loay hoay
trong cách quảng bá và giữ chân khách hàng mới – cũ. Chưa tạo được lòng tin, khách
hàng ngày một ít, khách hàng cũ không thường xuyên ghé qua dẫn đến doanh thu sụt
giảm.
Việc nôn nóng mở rộng thị trường gây nên khó khăn không chỉ về mặt quản lý
các cửa hàng mà còn tốn chi phí thuê cửa hàng, trang thiết bị bảo quản thực phẩm đảm
bảo tươi sạch, giấy tờ đăng ký kinh doanh và pháp lý liên quan. Điều này gây thiếu hụt
về tiền mặt, có thể dẫn đến đóng cửa hàng, làm mất nhân viên của cơ sở và càng làm
niềm tin đối với sản phẩm của khách hàng tại cơ sở mới mờ nhạt….
Đo lường rủi ro

21


Biên độ

Cao

Thấp

Tần suất

Cao

Mất khách hàng, cửa hàng
phải chuyển nhượng, dừng
kinh doanh

Nhân viên làm việc không
hăng say, có thể nghỉ việc
mất nguồn nhân lực

Thấp

Giảm uy tín của doanh
nghiệp, thuong hiệu bị mờ
nhạt

Tốn kém chi phí do bảo
quản, sửa chữa, nâng cấp,
kiện tụng

2. Kiểm soát rủi ro
2.1.
-

Né tránh rủi ro:
Khi mới thành lập, để tránh những tổn thất về mặt tài chính khi mở nhiều cửa hàng mà
doanh thu không đạt chỉ tiêu, Bác Tôm chủ động củng cố chiều sâu trước khi mở rộng
quy mô. Do vậy, xuất hiện đầu tiên tại Hà Nội vào năm 2010, mở ra cửa hàng đầu tiên
tại số 06 Nguyễn Công Trứ, tạm thời chưa mở thêm cửa hàng vội vàng, mà phải củng
cố và đảm bảo được nguồn cung trước. Sau hơn 10 năm nỗ lực, hiện nay hệ thống Bác
Tôm mới chỉ mở rộng hơn 16 cửa hàng tại 8 quận trên thành phố Hà Nội.
- Để đảm bảo quyền lợi của khách hàng và cửa hàng, để tránh những tổn thất về

doanh thu tiếp tục diễn biến cho hoạt động kinh doanh của Bác Tôm, loại bỏ những
cửa hàng yếu kém. Từ ngày 06/05/2019, Bác Tôm ngừng hoạt động kinh doanh tại địa
điểm Park 8 SH08, Times city, Minh Khai, Hai Bà Trưng. Từ ngày 05/8/2019, chuỗi
cửa hàng thực phẩm sạch Bác Tôm thông báo chính thức ngừng hợp tác với cơ sở tại
địa chỉ C56 TT9 KĐT Văn Quán, quận Hà Đông, Hà Nội. Tất cả hoạt động kinh doanh
tại cơ sở nói trên sẽ không còn bất cứ liên quan hay dưới sự chịu trách nhiệm của
chuỗi cửa hàng thực phẩm sạch Bác Tôm. Nguyên tắc sống còn của toàn bộ hệ thống
Bác Tôm phải luôn được duy trì không thay đổi trong suốt 10 năm qua, đó là trung
thực và trung thành với thực phẩm sạch và với khách hàng.
-

Tránh cho người tiêu dùng bị ngộ độc thực phẩm do quy trình sản xuất và cách bảo
quản thiếu vệ sinh, Bác Tôm ngay từ đầu đã kiểm soát chất lượng toàn diện, đảm bảo
sản phẩm sạch nhất, đưa thực phẩm sạch thuần túy nhất tới tay người tiêu dùng. Bác
Tôm chỉ kinh doanh ở quy mô vừa và nhỏ, lấy nguồn cung trên nhiều trang trại khác
nhau và có đội kiểm soát thường xuyên để đảm bảo đa dạng sinh học, bền vững môi
trường, cùng quy trình quản trị thật tốt song song với đội ngũ con người vận hành hệ
22


thống đó. Việc giám sát thường xuyên luôn được ưu tiên hàng đầu, đặc biệt với sản
xuất rau. Hằng tuần, nguồn lực kỹ sư thực địa của Bác Tôm kết hợp với các dự án của
tổ chức phi chính phủ thường xuyên đi lại giữa các trang trại để đảm bảo các tiêu
chuẩn được tuân thủ, nhiều lúc phải ăn ngủ luôn ở đấy. Đồng thời tham gia thay đổi
thói quen của bà con nông dân, chuyển từ sản xuất theo thói quen thông thường (có
đầu vào hóa học) sang sản xuất theo tiêu chuẩn hữu cơ. Cửa hàng Bác Tôm cũng trang
bị nhiều máy móc cùng công nghệ làm mát tiên tiến bảo quản sản phẩm tươi ngon và
-

an toàn vệ sinh đến hết ngày.
Để đảm bảo sản phẩm luôn được bán hết, tránh tình trạng hết hạn sử dụng phải vứt bỏ
quá nhiều gây tổn thất doanh thu, nên Bác Tôm ngay từ đầu đã tìm cách nhập hàng với
số lượng vừa đủ, tính toán sản lượng sản phẩm phù hợp với số lượng khách hàng tiềm

2.2.
-

năng là tất cả những hộ dân quanh và gần ở mỗi cửa hàng.
Giảm thiểu rủi ro:
Bắt đầu từ 12/3/2019, hiểu được tầm quan trọng của sức khỏe, Bác Tôm đã tiến hành
tập thể dục giữa giờ cho nhân viên, vì phải ngồi làm việc cả ngày trước máy tính nên
sẽ có tình trạng uể oải, chán nản, nhưng khi tập xong sẽ cảm thấy vui vẻ, khỏe mạnh,
tinh thần cũng tốt hơn thì năng suất làm việc nâng cao sẽ giúp doanh thu của Bác Tôm

-

tăng lên.
Chuỗi cửa hàng Bác Tôm có được sự thành công và lớn mạnh như hiện tại cũng nhờ
những chính sách và cách thức lôi kéo và giữ chân khách hàng, tạo ra doanh nghiệp
kinh doanh có quy mô và uy tín. Nút thắt trong ngành chính là lòng tin khách hàng.
Ranh giới giữa sạch, không sạch rất mong manh. Thay vì dựa vào chứng nhận của tổ
chức nước ngoài, cơ quan nông nghiệp địa phương, người tiêu dùng đặt niềm tin vào

nơi quen nhiều hơn.
Bác Tôm có các chính sách và hoạt động sau:
 Trong 6 tháng đầu tiên, cửa hàng lỗ triền miên, Bác Tôm mất rất nhiều công sức để nói
chuyện trực tiếp với khách hàng, truyền thông cho khách hàng về công việc đang làm
trang trải để có thực phẩm sạch cho họ. Giai đoạn đầu, người tiêu dùng hầu hết chưa
biết thực phẩm sạch là gì nên mất rất nhiều công sức để giải thích. Rất nhiều người
đến cửa hàng hỏi thực phẩm hữu cơ là gì, có phải thực phẩm biến đổi gen hay không
và họ nghĩ sang một ngạch hoàn toàn khác.
 Sản phẩm được định kỳ và bất thường lấy mẫu kiểm tra; mời khách tham quan farm
(tổ chức theo yêu cầu khách). Liên tục cập nhật tình hình và quy trình sản xuất nông
23


sản hữu cơ của nguồn cung trên trang web và mạng xã hội để tạo niềm tin cho người
tiêu dùng. Tổ chức các chuyến tham quan để cung cấp thống tin cho người tiêu dùng
để họ xác thực được quy trình sản xuất của cửa hàng.
 Về truyền thông, đặc biệt là mạng xã hội, luôn luôn cập nhật, tìm kiếm và tiếp nhận
những bài phản hồi tiêu cực của khách hàng, tìm ra nguyên nhân của hiện tượng tiêu
cực và giải quyết vấn đề. Thông tin sản phẩm và giám sát sản xuất trên web
www.bactom.com và trên facebook “Rau Bác Tôm”.
 Hiện tại, để duy trì lượng khách hàng tiền năng, Bác Tôm lưu hành 2 loại thẻ "Thẻ
Member và Thẻ VIP", được quy định như sau:
� THẺ MEMBER: Được tích điểm 2% trên mỗi hóa đơn mua hàng, sử dụng
điểm để thanh toán trực tiếp tại cửa hàng, áp dụng tiêu điểm trên các cửa hàng có biển
hiệu Bác Tôm member, được hưởng các chương trình ưu đãi khác theo chính sách của
công ty
� THẺ VIP: Được tích điểm 5% trên mỗi hóa đơn mua hàng, hưởng mọi quyền
lợi như thẻ member
 Cam kết liên lạc với khách trong vòng 48h sau khi được giới thiệu; Nếu khách không

hài lòng thì Bác Tôm sẵn sàng hoàn lại tiền và nhận đổi trả theo yêu cầu.
 Để khách hàng yên tâm về dịch vụ của Bác Tôm và yên tâm mua hàng, Bác Tôm có

“Chính sách đổi, trả hàng cho người tiêu dùng”: Căn cứ vào đặc thù sản phẩm tươi
sống và nâng cao chất lượng dịch vụ sau bán hàng, hệ thống có những Quy định đổi
trả sản phẩm tại Bác Tôm:
Bác Tôm đổi trả sản phẩm hoặc hoàn lại tiền mua cho khách hàng đối với sản
phẩm lỗi hỏng, khi đáp ứng đồng thời các điều kiện như sau:
Khách hàng khiếu nại trong thời gian quy định đối với từng sản phẩm, cụ thể:
Sản phẩm
Các loại củ
Rau tươi
Hoa quả ăn ngay
Hoa quả để chín

Thời hạn đổi trả
Trong vòng 48h
Trong vòng 24h
Trong vòng 24h
Trong vòng 72h

Giá trị đổi trả
100% giá trị đơn hàng
100% giá trị đơn hàng
Bằng giá trị hàng hỏng, lỗi
Bằng giá trị hàng hỏng, lỗi

Khách hàng cung cấp hóa đơn mua hàng, mang theo sản phẩm lỗi, hỏng hoặc
chụp lại hình ảnh làm căn cứ xác định nguyên nhân và giá trị phần sản phẩm bị hỏng,
lỗi. Bác Tôm sẽ KHÔNG xử lý khiếu nại với các trường hợp sản phẩm bị hỏng do lỗi
24


của khách hàng trong quá trình vận chuyển, hoặc bảo quản và sử dụng không đúng
hướng dẫn. Sản phẩm đã mua xin miễn đổi trả nếu không bị lỗi, hỏng hay có vấn đề về
chất lượng.
-

Là một trong những thương hiệu thực phẩm sạch uy tín được ưa chuộng, chuỗi cửa
hàng Bác Tôm những ngày qua luôn trong tình trạng căng mình để đáp ứng thật tốt

nhu cầu thực phẩm tăng cao của khách hàng trong mùa dịch Covid 19:
 Thường xuyên làm việc với nhà cung cấp, chuẩn bị chu đáo hàng hóa cả về chủng loại
và số lượng, không để xảy ra tình trạng khan hàng, không tăng giá sản phẩm.
 Thay đổi phương thức bán hàng từ trực tiếp sang online, xây dựng các chương trình
bán hàng độc đáo, tiện ích để thu hút khách hàng như các set combo rau củ thực phẩm
theo ngày, theo tuần, các sản phẩm tăng sức đề kháng, việc bán hàng online được
khách hàng rất ủng hộ, minh chứng là doanh số thông qua phương thức bán hàng này
đã tăng gấp 2 -3 lần so với trước đây. Có những chương trình khích lệ khách hàng mua
sắm online, hạn chế đến cửa hàng bằng các gói sản phẩm, ví dụ như bán hàng theo
combo tức là các sản phẩm đẩy đủ cho một bữa ăn của khách hàng. Ngoài ra, còn có
các sản phẩm về sức khỏe giúp tăng sức đề kháng như mật ong rừng, gừng, tỏi.
 Trong thời điểm dịch Covid 19 vẫn diễn biến phức tạp, để đảm bảo an toàn cho khách
hàng và nhân viên trong quá trình giao dịch, toàn bộ chuỗi cửa hàng của thương hiệu
Bác Tôm đều quán triệt chủ trương “giãn cách xã hội”, yêu cầu khách hàng vào mua
hàng phải đeo khẩu trang, theo thứ tự, không tập trung quá đông trong cửa hàng.
Ngoài ra, bên ngoài mỗi cửa hàng đều được trang bị bình xịt sát khuẩn để khách hàng
rửa tay trước và sau khi vào cửa hàng. Nhân viên tiếp xúc trực tiếp với khách hàng
ngoài việc đeo khẩu trang còn trang bị thêm mặt nạ chống tia bắn nhằm giảm thiểu rủi
2.3.
-

ro lây nhiễm, đảm bảo sức khỏe cho cả người bán hàng và khách hàng.
Chấp nhận rủi ro:
Giai đoạn mới bán, ông Trần Mạnh Chiến chưa biết gì về kinh doanh, ra bán ở đấy còn
dùng Excel để bán hàng, chấp nhận sản lượng bán ra ít để tiếp tục bán và xây dựng của

-

hàng.
Cửa hàng đầu tiên mang cái tên tiếng Anh viết tắt mà "khách hàng không ai nhớ nổi":
VinaGap - là tên viết tắt của công ty tư vấn nông nghiệp hồi ấy. Lúc mới mở thậm chí
"VinaGap" chưa có logo, mãi đến năm 2012, chấp nhận việc bỏ đi thương hiệu
VinaGap đã xây dựng từ năm 2010 khi mới vào thị trường, đổi tên thành Bác Tôm và
có logo cho cửa hàng như hiện nay.
25


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×