Tải bản đầy đủ

thảo luận nhóm TMU phân tích tình hình kinh tế việt nam hiệp định đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên thái bình dương hiệp định thương mại tự do việt nam EU

NHÓM 1
ST
T
1
2
3
5
6
7
8
9

Họ và tên

Công việc

Hà Huy Hồng Hải
Nguyễn Phúc Tuân
Bùi Mai Anh
Phạm Mai Linh
Đặng Lê Minh

Nguyễn Anh Thư
Tạ Thanh Sơn
Chu Hùng Việt

10

Hoàng Linh Chi

11

Nguyễn Thị Vân Anh

12

Nguyễn Thị Tố Uyên

Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản
Chỉ số giá
Tăng trưởng GDP
Tổng quan nên kinh tế Việt Nam
Hiệp đinh thương mại
Xuất nhập khẩu
Giải pháp của Chính phủ
Xây dựng đầu tư
Hoạt
động
doanh
nghiệp
Hoạt động dịch vụ
Hoạt động ngân hàng, bảo hiểm
Thu chi ngân sách Nhà nước
Kinh tế Việt Nam trước 2016

1

Đánh giá

1

Xác nhận




MỤC LỤC

2

2


I.

Tổng quan nền kinh tế Việt Nam
Sự phát triển của Việt Nam trong hơn 30 năm qua rất đáng ghi nhận. Đổi mới kinh tế và
chính trị từ năm 1986 đã thúc đẩy phát triển kinh tế, nhanh chóng đưa Việt Nam từ một trong
những quốc gia nghèo nhất trên thế giới trở thành quốc gia thu nhập trung bình thấp. Từ 2002
đến 2018, GDP đầu người tăng 2,7 lần, đạt trên 2.700 USD năm 2019, với hơn 45 triệu người
thoát nghèo. Tỉ lệ nghèo giảm mạnh từ hơn 70% xuống còn dưới 6% (3,2 USD/ngày theo sức
mua ngang giá). Đại bộ phận người nghèo ở Việt Nam là dân tộc thiểu số, chiếm 86%.
Năm 2019, kinh tế Việt Nam tiếp tục cho thấy nền tảng mạnh mẽ và khả năng chống
chịu cao, nhờ nhu cầu trong nước và sản xuất định hướng xuất khẩu vẫn ở mức cao. Số liệu sơ
bộ cho thấy GDP thực tăng khoảng 7% trong năm 2019, gần với tỉ lệ tăng trưởng năm 2018
và Việt Nam là một trong những quốc gia có tốc độ tăng trưởng cao nhất trong khu vực.
Do hội nhập kinh tế sâu rộng, Việt Nam cũng chịu ảnh hưởng nặng nề bởi đại dịch
COVID-19. Tuy nhiên, tác động y tế của dịch bệnh không nghiêm trọng như nhiều quốc gia
khác, nhờ có các biện pháp đối phó chủ động ở cả các cấp trung ương và địa phương. Trong
khi kinh tế vĩ mô và tài khóa ổn định với mức tăng trưởng GDP ước đạt 3,8% trong quý đầu
năm 2020, tác động của cuộc khủng hoảng COVID-19 đang diễn ra là khó dự đoán, tùy thuộc
vào quy mô và thời gian kéo dài của dịch bệnh. Tăng trưởng kinh tế năm 2020 dự báo sẽ giảm
xuống 3-4% so với tỉ lệ 6,5% được dự báo trước khủng hoảng. Yêu cầu lên tài chính công sẽ
gia tăng do thu ngân sách giảm xuống trong khi chi ngân sách tăng lên do cần khởi động gói
kích cầu để giảm thiểu tác động của đại dịch đối với các hộ gia đình và doanh nghiệp. Nhờ có
nền tảng cơ bản tốt và nếu tình hình dịch bệnh COVID-19 được kiểm soát ở Việt Nam cũng
như trên thế giới, kinh tế Việt Nam sẽ hồi phục vào năm 2021. COVID-19 cũng cho thấy cần
phải cải cách mạnh mẽ hơn để giúp kinh tế phục hồi trong trung hạn, như cải thiện môi trường
kinh doanh, thúc đẩy kinh tế số, nâng cao hiệu quả đầu tư công, đây là các nội dung chính mà
Việt Nam cần cân nhắc để cải cách nhanh và mạnh hơn.
Việt Nam đang chứng kiến thay đổi nhanh về cơ cấu dân số và xã hội. Dân số Việt Nam
đã lên đến khoảng 97 triệu vào năm 2018 (từ khoảng 60 triệu năm 1986) và dự kiến sẽ tăng
lên 120 triệu dân tới năm 2050. Hiện nay, 70% dân số có độ tuổi dưới 35, với tuổi thọ trung
bình gần 76 tuổi, cao hơn những nước có thu nhập tương đương trong khu vực. Nhưng dân số
đang bị già hóa nhanh. Tầng lớp trung lưu đang hình thành – hiện chiếm 13% dân số và dự
kiến sẽ lên đến 26% vào năm 2026.
Chỉ số Vốn con người (HCI) của Việt Nam xếp thứ 48 trên 157 quốc gia và vùng lãnh
thổ và đứng thứ hai ở ASEAN, chỉ sau Sing-ga-po. Một em bé Việt Nam được sinh ra ở thời
điểm hiện nay khi lớn lên sẽ đạt mức năng suất bằng 67% so với cũng đứa trẻ đó được học tập
3

3


và chăm sóc sức khỏe đầy đủ. Việt Nam là quốc gia có Chỉ số Vốn con người cao nhất trong
số các quốc gia có thu nhập trung bình, tuy nhiên vẫn còn tồn tại khoảng cách giữa các địa
phương, đặc biệt là ở nhóm dân tộc thiểu số. Đồng thời Việt Nam cũng cần nâng cao trình độ
lực lượng lao động để tạo ra việc làm có năng suất cao hơn ở quy mô lớn trong tương lai.
Giáo dục phổ thông ở Việt Nam tương đối tốt. Việt Nam đạt kết quả ấn tượng trong
Chương trình Đánh giá Học sinh Quốc tế (PISA) năm 2012 và 2015, theo đó thành tích của
học sinh Việt Nam vượt xa nhiều quốc gia OECD.
Y tế cũng đạt nhiều tiến bộ lớn khi mức sống ngày càng cải thiện. Từ năm 1993 đến
2017, tỷ suất tử vong ở trẻ sơ sinh giảm từ 32,6 xuống còn 16,7 (trên 1.000 trẻ sinh). Tuổi thọ
trung bình tăng từ 70,5 lên 76,3 tuổi trong thời gian từ năm 1990 đến 2016. Chỉ số bao phủ
chăm sóc sức khỏe toàn dân là 73 - cao hơn mức trung bình của khu vực và thế giới - 87%
dân số có bảo hiểm y tế. Tuy nhiên tỉ lệ giới tính khi sinh vẫn ở mức cao và ngày một tăng
(115 trong năm 2018) cho thấy tình trạng phân biệt giới tính vẫn còn tồn tại. Bên cạnh đó,
Việt Nam là một trong những quốc gia có tốc độ già hóa dân số nhanh nhất, dự báo đến năm
2050 nhóm tuổi trên 65 sẽ tăng gấp 2,5 lần.
Trong vòng 30 năm qua, việc cung cấp các dịch vụ cơ bản có nhiều thay đổi tích cực.
Khả năng người dân tiếp cận hạ tầng cơ sở được cải thiện đáng kể. Tính đến năm 2016, 99%
dân số sử dụng điện chiếu sáng, so với tỉ lệ 14% năm 1993. Tỉ lệ tiếp cận nước sạch nông
thôn cũng được cải thiện, từ 17% năm 1993 lên 70% năm 2016, trong khi tỉ lệ ở thành thị là
trên 95%.
Tăng trưởng và công nghiệp hóa nhanh của Việt Nam đã để lại nhiều tác động tiêu cực
đối với môi trường và tài nguyên thiên nhiên. Tổng mức tiêu thụ điện tăng gấp ba lần trong
vòng mười năm qua, nhanh hơn mức tăng sản lượng điện. Với sự phụ thuộc ngày càng tăng
vào nhiên liệu hóa thạch, ngành năng lượng phát thải gần hai phần ba tổng phát thải khí nhà
kính của cả nước. Nhu cầu sử dụng nước ngày một tăng cao, trong khi năng suất nước vẫn
còn ở mức thấp, chỉ đạt 12% so với chuẩn thể giới. Tình trạng khai thác thiếu bền vững tài
nguyên thiên nhiên như cát, thủy sản và gỗ có thể ảnh hưởng tiêu cực đến triển vọng tăng
trưởng dài hạn. Bên cạnh đó, đại đa số người dân và nền kinh tế Việt Nam đều dễ bị tổn
thương trước tác động của biến đổi khí hậu.
Đô thị hóa, tăng trưởng kinh tế và dân số mạnh mẽ đang đặt ra những thách thức ngày
càng lớn về quản lý chất thải và xử lý ô nhiễm. Lượng rác thải của Việt Nam dự báo tăng gấp
đôi trong vòng chưa đầy 15 năm tới. Bên cạnh đó là vấn đề rác thải nhựa đại dương. Theo ước
tính, 90% rác thải nhựa đại dương toàn cầu được thải ra từ 10 con sông, trong đó có sông Mê
Kông. Việt Nam cũng là một trong mười quốc gia trên thế giới bị ảnh hưởng nặng nề nhất bởi
4

4


ô nhiễm không khí. Ô nhiễm nguồn nước đang gây ra những hậu quả nghiêm trọng đối với
năng suất của các ngành quan trọng và với sức khỏe của người dân.
Chính phủ đang nỗ lực giảm thiểu tác động của tăng trưởng lên môi trường và thích ứng
với biến đổi khí hậu một cách hiệu quả. Các chiến lược và kế hoạch thúc đẩy tăng trưởng
xanh và khai thác bền vững tài nguyên thiên nhiên đã được áp dụng. Chính phủ cũng thực
hiện các biện pháp giảm thiểu và thích ứng với biến đổi khí hậu, đối phó với thời tiết khắc
nghiệt và thiên tai thông qua việc triển khai chương trình Đóng góp Quốc gia tự quyết định
(NDCs).
II.

Phân tích tình hình kinh tế Việt Nam
1. Kinh tế Việt Nam trước 2016
Trước năm 2016, kinh tế - xã hội diễn ra trong bối cảnh thị trường toàn cầu có những
bất ổn, kinh tế thế giới vẫn đối mặt với nhiều rủi ro lớn với các nhân tố khó lường. Thương
mại toàn cầu sụt giảm do tổng cầu yếu. Ở trong nước, giá cả trên thị trường thế giới biến
động, nhất là giá dầu giảm gây áp lực đến cân đối ngân sách Nhà nước, nhưng đồng thời là
yếu tố thuận lợi cho việc giảm chi phí đầu vào, phát triển sản xuất và kích thích tiêu dùng.
Trong bối cảnh như vậy, Đảng, Quốc hội, Chính phủ đã kịp thời ban hành nhiều Nghị quyết,
chính sách cùng các giải pháp và nhiện vụ cụ thể. Dưới đây là một số chỉ tiêu chủ yếu 5 năm
2011 – 2015.
Một số chỉ tiêu chủ yếu 5 năm 2011 – 2015
Đơn vị tính: %
Kế hoạch 2011 - 2015
Tốc độ tăng tổng sản phẩm Bình quân
trong nước
7,0%/năm

6,5%

-

Tỷ trọng vốn đầu tư phát triển
33,5% - 35% GDP
so với GPD
Đóng góp của TFP vào tăng
trưởng kinh tế
Hiệu quả sử dụng vốn đầu tư
(ICOR)
Nhập siêu
Dưới 10% vào năm 2015
Năng suất lao động xã hội
Năm 2015/2010
theo giá hiện hành (Triệu
29% - 32%(*)
đồng)

tăng

2015

Bình quân mỗi
năm thời kỳ
2011-2015

6,68

5,91

32,60

31,68

52,50

33,39

6,88

6,91

1,95
79,3

Chỉ số giá tiêu dùng bình Tăng 5% - 7% vào năm
0,63
quân
2015
5

5

7,65


Tỷ lệ thất nghiệp của lao
động trong độ tuổi khu vực Đến năm 2015 dưới 4%
3,29
thành thị
Đến năm 2015 khoảng
Tốc độ phát triển dân số
1,07
1%
(*)
Năm 2015 so với 2010 theo giá so sánh 2010 tăng: 23,6%

3,41
1,07

2. Kinh tế Việt Nam giai đoạn 2016-2020
2.1. Tăng trưởng GDP
2.1.1. Tổng sản phẩm trong nước (GDP) năm 2016 ước tính tăng 6,21% so với năm 2015:

Quý I
Quý II
Quý III
Quý IV
Tăng 5,48%
Tăng 5,78%
Tăng 6,56%
Tăng 6,68%
 Mức tăng trưởng năm nay tuy thấp hơn mức tăng 6,68% của năm 2015 và không đạt
mục tiêu tăng trưởng 6,7% đề ra, nhưng trong bối cảnh kinh tế thế giới không thuận, giá cả và
thương mại toàn cầu giảm, trong nước gặp nhiều khó khăn do thời tiết, môi trường biển diễn
biến phức tạp thì đạt được mức tăng trưởng trên là một thành công, khẳng định tính đúng đắn,
kịp thời, hiệu quả của các biện pháp, giải pháp được Chính phủ ban hành, chỉ đạo quyết liệt
các cấp, các ngành, các địa phương cùng thực hiện.
-

Tiêu dùng cuối cùng tăng 7,32% so với năm 2015  Đóng góp 5,29 điểm phần trăm vào mức

-

tăng chung (trong đó tiêu dùng cuối cùng của hộ dân cư đóng góp 4,81 điểm phần trăm).
Tích lũy tài sản tăng 9,71%  Đóng góp 3,08 %
Chênh lệch xuất, nhập khẩu hàng hóa và dịch vụ ở tình trạng nhập siêu  Làm giảm 2,16 %

của mức tăng trưởng chung.
2.1.2. Tổng sản phẩm trong nước (GDP) năm 2017 ước tính tăng 6,81% so với năm 2016.
Quý I
Quý II
Quý III
Quý IV
Tăng 5,15%
Tăng 6,28%
Tăng 7,46%
Tăng 7,65%
 Mức tăng trưởng năm nay vượt mục tiêu đề ra 6,7% và cao hơn mức tăng của các năm
từ 2011-2016. khẳng định tính kịp thời và hiệu quả của các giải pháp được Chính phủ ban
hành, chỉ đạo quyết liệt các cấp, các ngành, các địa phương cùng nỗ lực thực hiện.
-

Tiêu dùng cuối cùng tăng 7,35% so với năm 2016  Đóng góp 5,52 % (trong đó tiêu dùng

-

cuối cùng của hộ dân cư đóng góp 5,04 %)
Tích lũy tài sản tăng 9,8%  Đóng góp 3,30 %
Chênh lệch xuất, nhập khẩu hàng hóa và dịch vụ ở tình trạng nhập siêu  Làm giảm 2,01 %
của mức tăng trưởng chung.

2.1.3. Tổng sản phẩm trong nước (GDP) quý IV năm 2018 ước tính tăng 7,31% so với cùng kỳ năm
-

trước.
Khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 3,90%
Khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 8,65%
Khu vực dịch vụ tăng 7,61%.
GDP cả năm 2018 tăng 7,08%, là mức tăng cao nhất kể từ năm 2008 trở về đây.

6

6


2.1.4. Tổng sản phẩm trong nước (GDP) năm 2019 đạt kết quả ấn tượng với tốc độ tăng 7,02% vượt

mục tiêu của Quốc hội đề ra từ 6,6%-6,8%. Đây là năm thứ hai liên tiếp tăng trưởng kinh tế
Việt Nam đạt trên 7% kể từ năm 2011.
Quý I
Quý II
Quý III
Quý IV
Tăng 6,82%
Tăng 6,73%
Tăng 7,48%
6,97%
- Tiêu dùng cuối cùng tăng 7,23% so với năm 2018
- Tích lũy tài sản tăng 7,91%
- Xuất khẩu hàng hóa và dịch vụ tăng 6,71%
- Nhập khẩu hàng hóa và dịch vụ tăng 8,35%
2.1.5. Đại dịch COVID-19 làm ngưng trệ, gián đoạn rất nhiều hoạt động sản xuất, kinh tế và hoạt
động xã hội tại nhiều nền kinh tế trên thế giới, các chỉ số cơ bản của kinh tế thế giới đều diễn
biến rất xấu: thất nghiệp tăng cao, giá hàng nguyên liệu lao dốc, nhiều tổ chức quốc tế tiếp tục
-

hạ thấp dự báo tăng trưởng GDP toàn cầu năm 2020.
6 tháng đầu năm 2020 tăng 1,81%, là mức tăng thấp nhất của 6 tháng các năm trong giai đoạn

-

2011-2020.
Động lực chính cho tăng trưởng kinh tế 6 tháng đầu năm là công nghiệp chế biến, chế tạo
(tăng 4,96%) và các ngành dịch vụ thị trường (bán buôn bán lẻ tăng 4,3%, hoạt động tài
chính, ngân hàng và bảo hiểm tăng 6,78%).

- Tiêu dùng cuối cùng tăng 0,69% so với cùng kỳ năm 2019
- Tích lũy tài sản tăng 1,93%
- Xuất khẩu hàng hóa và dịch vụ giảm 0,31%
- Nhập khẩu hàng hóa và dịch vụ giảm 2,54%.
2.2. Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản

Nông nghiệp có 5/6 chỉ tiêu vượt, 1/6 chỉ tiêu đạt. Tốc độ tăng trưởng GDP toàn ngành
nông lâm thủy sản năm 2019 đạt 2,01%; năm 2020 ước đạt 2,8%; giai đoạn 5 năm 2016 2020 trung bình ước đạt 2,71%/năm, vượt mục tiêu đề ra của Kế hoạch 5 năm (2,6 - 3%/năm)
và cao hơn so với mức tăng trưởng 2,41% của năm 2015.
-

Tổng kim ngạch xuất khẩu nông lâm thủy sản: Giai đoạn 5 năm 2016 - 2020 đạt khoảng
190,32 tỷ USD, trung bình đạt 37,06 tỷ USD/năm; năm 2020 ước đạt 41 tỷ USD, vượt mục
tiêu đề ra đến năm 2020 của Kế hoạch 5 năm (39 - 40 tỷ USD), cao hơn nhiều so với mức

-

30,45 tỷ USD của năm 2015.
Tỷ lệ giá trị sản phẩm nông lâm thủy sản được sản xuất theo các quy trình sản xuất tốt (GAP)
hoặc tương đương: Năm 2019 đạt 8,8%; năm 2020 ước đạt trên 10%, cao hơn so với mức đạt

-

5,3% của năm 2015.
Tỷ lệ diện tích đất sản xuất nông nghiệp được tưới tiết kiệm nước: Năm 2019 đạt 15%; năm

-

2020 ước đạt 19%, cao hơn so với mức 9% của năm 2015.
Diện tích rừng được cấp chứng chỉ quản lý rừng bền vững năm 2020 ước đạt 100 ngàn ha,
gấp 2,45 lần so với năm 2015.

7

7


-

Tỷ lệ che phủ rừng: Năm 2019 đạt 41,85%; năm 2020 ước đạt 42%, cao hơn so với mức
40,7% của năm 2015, đạt mục tiêu của Kế hoạch 5 năm (42%).
Trong lĩnh vực nông thôn có 5/5 chỉ tiêu vượt: Tỷ lệ số xã đạt tiêu chí nông thôn mới:
Đến hết năm 2019, cả nước có 4.806 xã (đạt 54%), bình quân đạt 15,7 tiêu chí/xã, hoàn thành
mục tiêu của chương trình trước 1,5 năm; hết năm 2020 ước có trên 60% xã đạt chuẩn nông
thôn mới, cao hơn so với mức 17,5% của năm 2015 (tăng 42,5 điểm %).

-

Tỷ lệ dân cư nông thôn được sử dụng nước hợp vệ sinh: Năm 2019 đạt 89%; năm 2020 ước
đạt 90,5%, vượt mục tiêu đề ra của Kế hoạch 5 năm (90%), cao hơn so với mức 86,2% của

-

năm 2015 (tăng 4,3 điểm %).
Tổng số hợp tác xã nông nghiệp, liên hiệp hợp tác xã nông nghiệp (NN) hoạt động hiệu quả:
Năm 2019 có 15.363 hợp tác xã (tăng 1,36 lần năm 2015) và 45 liên hiệp hợp tác xã NN;
năm 2020 ước có trên 17.000 hợp tác xã NN (tăng 1,5 lần năm 2015) và 57 liên hiệp hợp tác
xã NN, trong đó có trên 15.000 hợp tác xã NN hoạt động hiệu quả (chiếm 88,23%) cao hơn
mức 18,58% của năm 2015, vượt mục tiêu của Kế hoạch 5 năm (có 15.000 hợp tác xã NN,

-

Liên hiệp hợp tác xã NN hoạt động hiệu quả).
Số lượng doanh nghiệp nông nghiệp: Năm 2019 có 12.581 doanh nghiệp nông nghiệp; năm

-

2020 ước có 13.000 doanh nghiệp, tăng trên 3 lần năm 2015.
Tỷ lệ giá trị sản phẩm nông lâm thủy sản được sản xuất dưới các hình thức hợp tác, liên kết:
Năm 2019 đạt 12,3%; năm 2020 ước đạt 13,5%, cao hơn so với mức 5,7% của năm 2015.
Về đời sống người nông dân có 4/4 chỉ tiêu vượt như: Thu nhập của cư dân nông thôn
năm 2019 đạt 39,3 triệu đồng/người; năm 2020 ước đạt 43 triệu đồng/người, tăng khoảng 1,92
lần năm 2015.

-

Năng suất lao động nông nghiệp: Năm 2019 đạt 41,4 triệu đồng/lao động; năm 2020 ước đạt
trên 44,5 triệu đồng/lao động, cao gấp 1,46 lần năm 2015. Tốc độ tăng năng suất lao động
nông lâm thủy sản bình quân 5 năm 2016 - 2020 đạt 6,8%/năm, gấp gần 1,9 lần mục tiêu đề

-

ra của kế hoạch 5 năm (3,5%/năm) và cao hơn mức tăng 6,6% của năm 2015.
Tỷ lệ lao động nông nghiệp qua đào tạo: Năm 2019 đạt 20,1%; năm 2020 ước đạt 23%, vượt

-

mục tiêu đề ra của kế hoạch 5 năm (22%), cao hơn mức 14% của năm 2015.
Tỷ lệ lao động nông lâm thủy sản trong tổng lao động xã hội: Năm 2019 đạt 36,3%; năm 2020
ước còn dưới 35%, vượt mục tiêu đề ra của kế hoạch 5 năm (40%), thấp hơn nhiều so với
mức đạt 44% của năm 2015./.

2.3. Sản xuất công nghiệp
2.3.1. Cả năm 2016, chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp tăng 7,5% so với năm 2015

-

Quý I
Quý II
Quý III
Quý IV
Tăng 7,4%
Tăng 7,1%
Tăng 7,1%
Tăng 8,2%)
Thấp hơn nhiều mức tăng 9,8% của năm 2015 và 7,6% của năm 2014 do ngành khai khoáng
giảm sút mạnh.
8

8


-

Ngành công nghiệp, ngành chế biến, chế tạo tăng 11,2%  Đóng góp 7,9 % vào mức tăng

-

chung;
Ngành sản xuất và phân phối điện tăng 11,5%  Đóng góp 0,8 %
Ngành cung cấp nước và xử lý rác thải, nước thải tăng 7,2%  Đóng góp 0,1 %
Ngành khai khoáng giảm sâu ở mức 5,9%  Làm giảm 1,3 %
Tăng trưởng ngành công nghiệp năm 2016 chủ yếu dựa vào ngành chế biến, chế tạo với
mức tăng khá cao; tình hình tiêu thụ sản phẩm thuận lợi, tồn kho ở mức thấp nhất trong nhiều
năm vừa qua . Tuy nhiên, tăng trưởng công nghiệp nước ta vẫn chủ yếu về bề rộng (tăng số
doanh nghiệp, tăng vốn đầu tư và thu hút lao động), trong khi năng suất, chất lượng, hiệu quả
và sức cạnh tranh còn hạn chế.

2.3.2. Cả năm 2017, chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp tăng 9,4% so với năm 2016

-

Quý I
Quý II
Quý III
Quý IV
Tăng 4%
Tăng 8,2%
Tăng 9,7%
Tăng 14,4%
Cao hơn nhiều so với mức tăng 7,4% của năm 2016.
Ngành công nghiệp, ngành chế biến, chế tạo tăng 14,5% (mức tăng trưởng cao nhất trong 6

-

năm trở lại đây)  Đóng góp lớn nhất với 10,2 %
Ngành sản xuất và phân phối điện tăng 9,4%  Đóng góp 0,6 %
Ngành cung cấp nước và xử lý rác thải, nước thải tăng 8,7%  Đóng góp 0,1 %
Ngành khai khoáng giảm sâu 7,1%  Làm giảm 1,5 %
Trong năm 2017 mặc dù ngành khai khoáng giảm sâu so với năm trước nhưng sản xuất
công nghiệp vẫn tăng trưởng tích cực nhờ đóng góp của ngành công nghiệp chế biến, chế tạo
với mức tăng trưởng cao trong nhiều năm trở lại đây; tình hình tiêu thụ sản phẩm thuận lợi,
tồn kho ở mức hợp lý và an toàn. Tuy nhiên, tăng trưởng công nghiệp nước ta vẫn chủ yếu
dựa vào tăng trưởng về số lượng doanh nghiệp, vốn đầu tư và lao động, trong khi năng suất,
chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh còn hạn chế.

2.3.3. Cả năm 2018, IIP ước tính tăng 10,2% so với năm trước

-

Quý I
Quý II
Quý III
Quý IV
Tăng 12,7%
Tăng 8,2%
Tăng 10,7%
Tăng 9,4%
Tuy thấp hơn mức tăng 11,3% của năm 2017 nhưng cao hơn mức tăng các năm 2012-2016
Ngành công nghiệp, ngành chế biến, chế tạo tiếp tục đóng vai trò chủ chốt, thúc đẩy tăng
trưởng chung của toàn ngành với mức tăng 12,3% , thấp hơn mức tăng 14,7% của năm 2017

-

nhưng cao hơn mức tăng của các năm 2012-2016  Đóng góp 9,5 %
Ngành sản xuất và phân phối điện đảm bảo cung cấp đủ điện cho sản xuất và tiêu dùng của

dân cư với mức tăng 10%  Đóng góp 0,9 %
- Ngành cung cấp nước và xử lý rác thải, nước thải tăng 6,3%  Đóng góp 0,1 %
- Ngành khai khoáng giảm 2% (chủ yếu do khai thác dầu thô giảm 11,3%)  Làm giảm 0,3 %
2.3.4. Giá trị tăng thêm toàn ngành công nghiệp năm 2019 ước tính tăng 8,86% so với năm trước
Quý I
Tăng 9%
9

Quý II
Tăng 9,24%

Quý III
Tăng 10,42%
9

Quý IV
Tăng 7,29%


-

Ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tiếp tục là điểm sáng của toàn ngành với mức tăng

-

11,29%  Đóng góp 2,33 %
Ngành sản xuất và phân phối điện tăng 9,14%  Đóng góp 0,44 %
Ngành cung cấp nước và xử lý rác thải, nước thải tăng 7,72%  Đóng góp 0,05%
Ngành khai khoáng tăng 1,29% sau 3 năm giảm liên tục do khai thác dầu thô có mức giảm
7,7% so với năm trước và khai thác than, quặng kim loại đều tăng cao  Đóng góp 0,09 %

2.3.5. Sản xuất công nghiệp trong quý II/2020 chịu ảnh hưởng nặng nề từ dịch Covid-19 nên tốc độ

tăng giá trị tăng thêm chỉ đạt 0,74% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 6 tháng đầu năm
2020, giá trị tăng thêm ngành công nghiệp tăng 2,71%. Tuy nhiên do dịch bệnh sớm được
kiểm soát, các lĩnh vực của nền kinh tế đang bước vào trạng thái hoạt động bình thường trở
lại, sản xuất công nghiệp có sự khởi sắc và dần lấy lại đà tăng trưởng cao từ tháng 5/2020. Giá
trị tăng thêm toàn ngành công nghiệp 6 tháng đầu năm 2020 ước tính tăng 2,71% so với cùng
kỳ năm trước.

-

Quý I
Quý II
Tăng 5,1%
Tăng 0,74%
Ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 4,96%  Đóng góp 1,1 %
Ngành sản xuất và phân phối điện tăng 3,04%  Đóng góp 0,15 %
Ngành cung cấp nước và xử lý rác thải, nước thải tăng 3,76%  Đóng góp 0,03 %
Ngành khai khoáng giảm 5,4% (do sản lượng khai thác dầu thô giảm mạnh 13,9% và khí đốt

tự nhiên giảm 9,1%)  Làm giảm 0,35 %
2.4. Hoạt động của doanh nghiệp
2.4.1. Tình hình đăng ký doanh nghiệp
Tính chung cả năm 2016, số doanh nghiệp đăng ký thành lập mới đạt mức kỷ lục với
110,1 nghìn doanh nghiệp, tăng 16,2% so với năm 2015; tổng vốn đăng ký là 891,1 nghìn tỷ
đồng, tăng 48,1% (nếu tính cả 1.629,8 nghìn tỷ đồng vốn đăng ký tăng thêm của các doanh
nghiệp đang hoạt động thì tổng số vốn đăng ký và bổ sung thêm vào nền kinh tế trong năm
2016 là 2.520,9 nghìn tỷ đồng); số vốn đăng ký bình quân một doanh nghiệp thành lập mới
năm 2016 đạt 8,1 tỷ đồng, tăng 27,5% so với năm 2015. Tổng số lao động đăng ký của các
doanh nghiệp thành lập mới trong năm 2016 là 1.268 nghìn người, bằng 86,1% năm 2015.
Trong năm nay còn có 26.689 doanh nghiệp quay trở lại hoạt động, tăng 24,1% so với năm
trước, nâng tổng số doanh nghiệp đăng ký thành lập mới và doanh nghiệp quay trở lại hoạt
động năm 2016 lên gần 136,8 nghìn doanh nghiệp. Điều này cho thấy khung khổ pháp lý mới
cùng với các giải pháp của Chính phủ trong việc hỗ trợ, khuyến khích doanh nghiệp phát triển
đã phát huy hiệu quả, môi trường kinh doanh được cải thiện rõ rệt, doanh nghiệp đã tìm thấy
cơ hội kinh doanh và niềm tin vào thị trường.
Tính chung cả năm 2017, cả nước có 126.859 doanh nghiệp đăng ký thành lập mới với
tổng vốn đăng ký là 1.295,9 nghìn tỷ đồng, tăng 15,2% về số doanh nghiệp và tăng 45,4% về
10

10


số vốn đăng ký so với năm 2016; vốn đăng ký bình quân một doanh nghiệp thành lập mới đạt
10,2 tỷ đồng, tăng 26,2%. Tổng số lao động đăng ký của các doanh nghiệp thành lập mới
trong năm 2017 là 1.161,3 nghìn người, giảm 8,4% so với năm 2016.
Năm 2018, cả nước có 131.275 doanh nghiệp đăng ký thành lập mới với tổng vốn đăng
ký là 1.478,1 nghìn tỷ đồng, tăng 3,5% về số doanh nghiệp và tăng 14,1% về số vốn đăng ký
so với năm 2017[21]; vốn đăng ký bình quân một doanh nghiệp thành lập mới đạt 11,3 tỷ
đồng, tăng 10,2%. Nếu tính cả 2.408,8 nghìn tỷ đồng vốn đăng ký tăng thêm của các doanh
nghiệp thay đổi tăng vốn thì tổng số vốn đăng ký bổ sung thêm vào nền kinh tế trong năm
2018 là 3.886,9 nghìn tỷ đồng. Bên cạnh đó, còn có 34.010 doanh nghiệp quay trở lại hoạt
động, tăng 28,6% so với năm trước, nâng tổng số doanh nghiệp đăng ký thành lập mới và
doanh nghiệp quay trở lại hoạt động trong năm nay lên gần 165,3 nghìn doanh nghiệp. Tổng
số lao động đăng ký của các doanh nghiệp thành lập mới năm 2018 là 1.107,1 nghìn người,
giảm 4,7% so với năm trước.
Tính chung năm 2019, cả nước có 138,1 nghìn doanh nghiệp đăng ký thành lập mới với
tổng số vốn đăng ký là 1.730,2 nghìn tỷ đồng và tổng số lao động đăng ký là 1.254,4 nghìn
lao động, tăng 5,2% về số doanh nghiệp, tăng 17,1% về vốn đăng ký và tăng 13,3% về số lao
động so với năm trước. Vốn đăng ký bình quân một doanh nghiệp thành lập mới trong năm
2019 đạt 12,5 tỷ đồng, tăng 11,2% so với năm trước. Nếu tính cả 2.273 nghìn tỷ đồng vốn
đăng ký tăng thêm của 40,1 nghìn doanh nghiệp thay đổi tăng vốn thì tổng số vốn đăng ký bổ
sung vào nền kinh tế trong năm 2019 là 4.003,2 nghìn tỷ đồng. Bên cạnh đó, còn có 39,4
nghìn doanh nghiệp quay trở lại hoạt động, tăng 15,9% so với năm 2018, nâng tổng số doanh
nghiệp thành lập mới và doanh nghiệp quay trở lại hoạt động trong năm 2019 lên 177,5 nghìn
doanh nghiệp, trung bình mỗi tháng có gần 14,8 nghìn doanh nghiệp thành lập mới và quay
trở lại hoạt động.
Tính chung 6 tháng đầu năm, cả nước có hơn 62 nghìn doanh nghiệp đăng ký thành lập
mới với tổng số vốn đăng ký là 697,1 nghìn tỷ đồng và tổng số lao động đăng ký là 507,2
nghìn lao động, giảm 7,3% về số doanh nghiệp, giảm 19% về vốn đăng ký và giảm 21,8% về
số lao động so với cùng kỳ năm trước. Vốn đăng ký bình quân một doanh nghiệp thành lập
mới trong 6 tháng đạt 11,2 tỷ đồng, giảm 12,5% so với cùng kỳ năm trước. Nếu tính cả 984,4
nghìn tỷ đồng vốn đăng ký tăng thêm của 18 nghìn doanh nghiệp thay đổi tăng vốn thì tổng số
vốn đăng ký bổ sung vào nền kinh tế trong 6 tháng đầu năm là 1.681,5 nghìn tỷ đồng, giảm
22,5% so với cùng kỳ năm trước. Bên cạnh đó, còn có 25,2 nghìn doanh nghiệp quay trở lại
hoạt động, tăng 16,4% so với 6 tháng đầu năm 2019, nâng tổng số doanh nghiệp thành lập
mới và doanh nghiệp quay trở lại hoạt động trong 6 tháng lên 87,2 nghìn doanh nghiệp, giảm
11

11


1,5% so với cùng kỳ năm trước, trung bình mỗi tháng có 14,5 nghìn doanh nghiệp thành lập
mới và quay trở lại hoạt động.
2.4.2. Xu hướng kinh doanh

Kết quả điều tra về xu hướng kinh doanh của các doanh nghiệp ngành công nghiệp chế
biến, chế tạo trong quý IV/2016 cho thấy: Có 80,6% số doanh nghiệp đánh giá tình hình sản
xuất kinh doanh quý IV ổn định và tốt hơn quý trước (có 41,2% số doanh nghiệp đánh giá tốt
lên; 39,4% số doanh nghiệp đánh giá ổn định), trong khi 19,4% số doanh nghiệp đánh giá còn
gặp khó khăn. Dự báo trong quý I/2017, có 81,1% số doanh nghiệp đánh giá tình hình sản
xuất kinh doanh sẽ ổn định và tốt lên, trong đó có 42,6% số doanh nghiệp đánh giá xu hướng
sẽ tốt lên; 38,5% số doanh nghiệp cho rằng tình hình sản xuất kinh doanh sẽ ổn định và 18,9%
số doanh nghiệp dự báo khó khăn hơn.
Kết quả điều tra về xu hướng kinh doanh của các doanh nghiệp ngành công nghiệp chế
biến, chế tạo trong quý IV/2017 cho thấy: Có 44,8% số doanh nghiệp đánh giá tình hình sản
xuất kinh doanh quý IV năm nay tốt hơn quý III; 18,7% số doanh nghiệp đánh giá gặp khó
khăn và 36,5% số doanh nghiệp cho rằng tình hình sản xuất kinh doanh ổn định. Dự kiến quý
I/2018 so với quý IV năm nay, có 48,2% số doanh nghiệp đánh giá xu hướng sẽ tốt lên; 16,1%
số doanh nghiệp dự báo khó khăn hơn và 35,7% số doanh nghiệp cho rằng tình hình sản xuất
kinh doanh sẽ ổn định.
Kết quả điều tra xu hướng kinh doanh của các doanh nghiệp ngành công nghiệp chế
biến, chế tạo trong quý IV/2018 cho thấy: Có 44,7% số doanh nghiệp đánh giá tình hình sản
xuất kinh doanh quý IV năm nay tốt hơn quý trước; 16,9% số doanh nghiệp đánh giá gặp khó
khăn và 38,4% số doanh nghiệp cho rằng tình hình sản xuất kinh doanh ổn định[23]. Dự kiến
quý I/2019 so với quý IV/2018, có 47,3% số doanh nghiệp đánh giá xu hướng sẽ tốt lên;
14,9% số doanh nghiệp dự báo khó khăn hơn và 37,8% số doanh nghiệp cho rằng tình hình
sản xuất kinh doanh sẽ ổn định. Trong đó, khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước
ngoài lạc quan nhất khi có tới 88,3% số doanh nghiệp dự báo tình hình sản xuất kinh doanh
quý I/2019 tốt hơn và giữ ổn định so với quý IV/2018; tỷ lệ này ở khu vực doanh nghiệp Nhà
nước và ngoài Nhà nước lần lượt là 83,2 % và 84%.
Kết quả điều tra xu hướng kinh doanh của các doanh nghiệp ngành công nghiệp chế
biến, chế tạo trong quý IV/2019 cho thấy: Có 46,7% số doanh nghiệp đánh giá tình hình sản
xuất kinh doanh quý IV năm nay tốt hơn quý trước; 17% số doanh nghiệp đánh giá gặp khó
khăn và 36,3% số doanh nghiệp cho rằng tình hình sản xuất kinh doanh ổn định[17]. Dự kiến
quý I/2020 so với quý IV/2019, có 48,1% số doanh nghiệp đánh giá xu hướng sẽ tốt lên;
15,1% số doanh nghiệp dự báo khó khăn hơn và 36,8% số doanh nghiệp cho rằng tình hình
12

12


sản xuất kinh doanh sẽ ổn định. Trong đó, khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước
ngoài lạc quan nhất khi có tới 88,6% số doanh nghiệp dự báo tình hình sản xuất kinh doanh
quý I/2020 tốt hơn và giữ ổn định so với quý IV/2019; tỷ lệ này ở khu vực doanh nghiệp Nhà
nước và ngoài Nhà nước lần lượt là 81,1% và 83,7%.
Tính chung 6 tháng đầu năm, cả nước có hơn 62 nghìn doanh nghiệp đăng ký thành lập
mới với tổng số vốn đăng ký là 697,1 nghìn tỷ đồng và tổng số lao động đăng ký là 507,2
nghìn lao động, giảm 7,3% về số doanh nghiệp, giảm 19% về vốn đăng ký và giảm 21,8% về
số lao động so với cùng kỳ năm trước. Vốn đăng ký bình quân một doanh nghiệp thành lập
mới trong 6 tháng đạt 11,2 tỷ đồng, giảm 12,5% so với cùng kỳ năm trước. Nếu tính cả 984,4
nghìn tỷ đồng vốn đăng ký tăng thêm của 18 nghìn doanh nghiệp thay đổi tăng vốn thì tổng số
vốn đăng ký bổ sung vào nền kinh tế trong 6 tháng đầu năm là 1.681,5 nghìn tỷ đồng, giảm
22,5% so với cùng kỳ năm trước. Bên cạnh đó, còn có 25,2 nghìn doanh nghiệp quay trở lại
hoạt động, tăng 16,4% so với 6 tháng đầu năm 2019, nâng tổng số doanh nghiệp thành lập
mới và doanh nghiệp quay trở lại hoạt động trong 6 tháng lên 87,2 nghìn doanh nghiệp, giảm
1,5% so với cùng kỳ năm trước, trung bình mỗi tháng có 14,5 nghìn doanh nghiệp thành lập
mới và quay trở lại hoạt động.
2.5. Hoạt động dịch vụ
2.5.1. Bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng

Tính chung cả năm 2016, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng ước
tính đạt 3.527,4 nghìn tỷ đồng, tăng 10,2% so với năm trước (Năm 2015 tăng 9,8%), nếu loại
trừ yếu tố giá thì còn tăng 7,8%, thấp hơn mức tăng 8,5% của năm trước do sức mua không
biến động lớn, trong khi giá tiêu dùng năm nay tăng cao hơn so với năm 2015.
Tính chung cả năm 2017, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng ước
tính đạt 3.934,2 nghìn tỷ đồng, tăng 10,9% so với năm trước (Năm 2016 tăng 10,1%), nếu loại
trừ yếu tố giá tăng 9,46%, cao hơn mức tăng 8,33% của năm trước.
Hoạt động thương mại dịch vụ năm 2018 có mức tăng trưởng khá, sức mua tiêu dùng
tăng cao. Trong quý IV năm 2018, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng
ước tính đạt 1.161,5 nghìn tỷ đồng, tăng 4,4% so với quý trước và tăng 12,9% so với cùng kỳ
năm trước. Tính chung cả năm 2018, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu
dùng ước tính đạt 4.395,7 nghìn tỷ đồng, tăng 11,7% so với năm trước (năm 2017 tăng 11%),
nếu loại trừ yếu tố giá tăng 9,4% (năm 2017 tăng 9,3%).
Hoạt động thương mại, dịch vụ của cả nước năm 2019 tiếp tục phát triển ổn định và
tăng trưởng khá. Lượng cung hàng hóa trên thị trường dồi dào, đáp ứng đầy đủ, kịp thời cho
nhu cầu sản xuất và tiêu dùng. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng năm
13

13


2019 tăng cao 11,8% so với năm trước, mức tăng cao nhất giai đoạn 2016-2019. Năm 2019,
tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng đạt 4.940,4 nghìn tỷ đồng, tăng
11,8% so với năm trước, nếu loại trừ yếu tố giá tăng 9,2% (năm 2018 tăng 8,4%).
Tính chung 6 tháng đầu năm 2020, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu
dùng đạt 2.380,8 nghìn tỷ đồng, giảm 0,8% so với cùng kỳ năm trước, nếu loại trừ yếu tố giá
giảm 5,3% (cùng kỳ năm 2019 tăng 8,5%).
2.5.2. Vận tải viễn thông

Tính chung cả năm 2016, vận tải hành khách đạt 3.620,5 triệu lượt khách, tăng 9,6% so
với năm trước và 171,3 tỷ lượt khách.km, tăng 11%, trong đó vận tải hành khách đường bộ
đạt 3.397,6 triệu lượt khách, tăng 9,6% và 114 tỷ lượt khách.km, tăng 8,6%; đường biển đạt 6
triệu lượt khách, tăng 4,3% và 302,5 triệu lượt khách.km, tăng 0,9%. Vận tải bằng đường
hàng không tăng mạnh, đạt 40,5 triệu lượt khách, tăng 30,3% và 50,7 tỷ lượt khách.km, tăng
20,4% do các hãng hàng không trong nước đã đẩy mạnh khai thác thị trường nội địa đồng thời
mở thêm một số đường bay quốc tế. Vận tải đường sắt đạt 9,7 triệu lượt khách, giảm 12,6%
và 3,4 tỷ lượt khách.km, giảm 17,9% so với năm 2015 do thời gian đi lại và giá vé chưa cạnh
tranh được với hàng không giá rẻ và vận tải đường bộ. Trong năm 2016, doanh thu lĩnh vực
viễn thông ước tính đạt 381,7 nghìn tỷ đồng, tăng 6,6% so với năm 2015.
Tính chung cả năm 2017, vận tải hành khách đạt 4.081,6 triệu lượt khách, tăng 11,1%
so với năm trước và 182,8 tỷ lượt khách.km, tăng 9,1%, trong đó vận tải hành khách đường
bộ đạt 3.846,1 triệu lượt khách, tăng 11,5% và 124,6 tỷ lượt khách.km, tăng 8,1%; đường thủy
nội địa đạt 172,9 triệu lượt khách, tăng 3,8% và 3,2 tỷ lượt khách.km, tăng 8,4%; đường biển
đạt 6,8 triệu lượt khách, tăng 12,4% và 366,2 triệu lượt khách.km, tăng 11,8%. Vận tải bằng
đường hàng không tăng khá, đạt 46,4triệu lượt khách, tăng 14,1% và 50,9 tỷ lượt khách.km,
tăng 11,9% do các hãng hàng không trong nước đẩy mạnh khai thác thị trường nội địa. Vận
tải đường sắt mặc dù đã cải tiến đảm bảo thời gian chạy tàu nhưng do giá vé chưa cạnh tranh
được với hàng không giá rẻ và vận tải ô tô đường bộ nên cả năm 2017 chỉđạt 9,4 triệu lượt
khách, giảm 3,5% so với năm trước và 3,6 tỷ lượt khách.km, tăng 7,2%. Doanh thu lĩnh vực
viễn thông năm 2017 ước tính đạt 380 nghìn tỷ đồng, tăng 7,3% so với năm 2016. Tính đến
cuối năm 2017, tổng số thuê bao điện thoại ước tính đạt 127,4 triệu thuê bao, giảm 2,1% so
với năm trước, trong đó số thuê bao di động đạt 119,7 triệu thuê bao, giảm 1,3% do Bộ Thông
tin và Truyền thông tiếp tục thực hiện thanh tra đối với các nhà mạng trong việc quản lý sim
rác; số thuê bao Internet băng rộng cố định ước tính đạt 10,8 triệu thuê bao, tăng 18,7% so với
năm 2016.

14

14


Tính chung cả năm 2018, vận tải hành khách đạt 4.641,5 triệu lượt khách, tăng 10,7%
so với năm trước và 207,1tỷ lượt khách.km, tăng 10,9%, trong đó vận tải trong nước đạt
4624,7 triệu lượt khách, tăng 10,7% và 159,8 tỷ lượt khách.km, tăng 11%; vận tải ngoài nước
đạt 16,8 triệu lượt khách, tăng 11,2% và 47,3 tỷ lượt khách.km, tăng 10,7%. Tính đến cuối
năm 2018, tổng số thuê bao điện thoại ước tính đạt 129,9 triệu thuê bao, tăng 2,3% so với năm
trước, trong đó số thuê bao di động đạt 125,6 triệu thuê bao, tăng 3,8%; số thuê bao internet
băng rộng cố định ước tính đạt gần 13 triệu thuê bao, tăng 19,2%.
Hoạt động vận tải năm 2019 đạt mức tăng khá so với năm trước, trong đó vận tải đường
bộ và hàng không đều tăng trên 10% do được chú trọng đầu tư về cơ sở hạ tầng, đảm bảo kết
nối thuận tiện giữa các địa phương và chất lượng dịch vụ ngày càng được nâng cao. Hoạt
động viễn thông năm 2019 đạt mức tăng khá về doanh thu nhờ thị trường những tháng cuối
năm sôi động trở lại sau thời gian dài ở trạng thái bão hòa. Tính chung cả năm 2019, vận tải
hành khách đạt 5.143,1 triệu lượt khách, tăng 11,2% so với năm trước và 248,5 tỷ lượt
khách.km, tăng 10,9%, trong đó vận tải trong nước đạt 5.125,6 triệu lượt khách, tăng 11,2%
và 195,6 tỷ lượt khách.km, tăng 11,4%; vận tải ngoài nước đạt 17,5 triệu lượt khách, tăng
8,1% và 52,9 tỷ lượt khách.km, tăng 9,2%. Tính chung năm 2019, vận tải hàng hóa đạt
1.684,1 triệu tấn, tăng 9,7% so với năm trước và 322,2 tỷ tấn.km, tăng 7,8%, trong đó vận tải
trong nước đạt 1.650 triệu tấn, tăng 9,8% và 179,4 tỷ tấn.km, tăng 10,4%; vận tải ngoài nước
đạt 34,1 triệu tấn, tăng 4,3% và 142,8 tỷ tấn.km, tăng 4,7%.
Hoạt động vận tải trong nước tháng 6/2020 tiếp tục xu hướng khôi phục trở lại với mức
tăng 13,4% lượng hành khách vận chuyển và tăng 7,3% lượng hàng hóa vận chuyển so với
tháng trước. Tuy nhiên, vận tải ngoài nước của các hãng hàng không vẫn gặp nhiều khó khăn
do diễn biến phức tạp của dịch Covid-19 ở các quốc gia trong khu vực và trên thế giới. Tính
chung 6 tháng đầu năm, vận chuyển hành khách giảm 27,3% và vận chuyển hàng hóa giảm
8,1% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 6 tháng, vận tải hành khách đạt 1.812,6 triệu lượt
khách vận chuyển, giảm 27,3% so với cùng kỳ năm trước (cùng kỳ năm 2019 tăng 10,7%) và
luân chuyển 82,4 tỷ lượt khách.km, giảm 32,7% (cùng kỳ năm trước tăng 9,5%), trong đó vận
tải trong nước đạt 1.809,9 triệu lượt khách, giảm 27,2% và 73 tỷ lượt khách.km, giảm 24,6%;
vận tải ngoài nước đạt 2,7 triệu lượt khách, giảm 68,6% và 9,4 tỷ lượt khách.km, giảm 63,2%.
2.5.3. Khách quốc tế đến Việt Nam

Tính chung cả năm 2016, khách quốc tế đến nước ta ước tính đạt 10,01 triệu lượt người,
tăng 26% so với năm trước (tăng hơn 2 triệu lượt khách), trong đó khách đến bằng đường
hàng không đạt 8,26 triệu lượt người, tăng 31,7%; đến bằng đường bộ đạt 1,47 triệu lượt
người, giảm 2,3%; đến bằng đường biển đạt 284,8 nghìn lượt người, tăng 67,7%. Trong năm
15

15


2016, với các chính sách, nỗ lực thu hút khách du lịch được triển khai như miễn thị thực cho
công dân 5 nước Tây Âu, tăng cường công tác quảng bá, xúc tiến du lịch, ứng dụng công nghệ
mạng e-marketing, triển khai chương trình quảng bá du lịch trên truyền hình, phương tiện
truyền thông, đại chúng, lần đầu tiên Việt Nam đón trên 10 triệu lượt khách quốc tế, gấp 2 lần
lượng khách quốc tế đến nước ta năm 2010.
Tính chung cả năm 2017, khách quốc tế đến nước ta ước tính đạt 12,9 triệu lượt người,
tăng 29,1% so với năm trước (tăng 2,9 triệu lượt khách), trong đó khách đến bằng đường hàng
không đạt 10,9 triệu lượt người, tăng 32,1%; đến bằng đường bộ đạt 1,8 triệu lượt người, tăng
19,5%; đến bằng đường biển đạt 258,8 nghìn lượt người, giảm 9,1%. Nhìn chung, hoạt động
du lịch trong năm 2017 đạt được kết quả ấn tượng với số khách du lịch quốc tế đến nước ta
đạt mức kỷ lục gần 13 triệu lượt người. Ngành du lịch đã có nhiều chính sách, biện pháp
nhằm thu hút khách du lịch, tăng cường xúc tiến quảng bá, giới thiệu du lịch Việt Nam tại
những thị trường trọng điểm như Australia, Nhật Bản, các nước châu Âu, ASEAN (Thái Lan,
Malaysia, Indonesia). Tiếp tục miễn thị thực cho công dân 5 nước Tây Âu; tham gia các hội
chợ du lịch quốc tế, tổ chức đón các đoàn đến khảo sát du lịch Việt Nam.
Cả năm 2018, khách quốc tế đến nước ta đạt mức kỷ lục 15,5 triệu lượt người, tăng
19,9% so với năm trước (tăng hơn 2,6 triệu lượt khách); trong đó khách đến bằng đường hàng
không đạt 12,5 triệu lượt người, tăng 14,4%; đến bằng đường bộ đạt 2,8 triệu lượt người, tăng
59,6%; đến bằng đường biển đạt 215,3 nghìn lượt người, giảm 16,8%. Hoạt động du lịch
trong năm 2018 đạt được kết quả ấn tượng với số khách du lịch quốc tế đến nước ta đạt mức
kỷ lục 15,5 triệu lượt người. Ngành du lịch đã có nhiều chính sách, biện pháp nhằm thu hút
khách du lịch, tăng cường xúc tiến quảng bá, giới thiệu du lịch Việt Nam tại những thị trường
trọng điểm như Australia, Nhật Bản, các nước châu Âu, ASEAN (Thái Lan, Malaysia,
Indonesia); miễn thị thực cho công dân các nước Tây Âu từ năm 2018 đến năm 2021(thay vì
miễn từng năm một như trước); thí điểm cấp visa điện tử cho 40 nước và vùng lãnh thổ; tham
gia các hội chợ du lịch quốc tế, tổ chức đón các đoàn đến khảo sát du lịch Việt Nam.
Năm 2019 đánh dấu thành công của du lịch Việt Nam với lượng khách quốc tế đạt trên
18 triệu lượt người, cao nhất từ trước đến nay. Bên cạnh việc đẩy mạnh công tác xúc tiến,
quảng bá, chất lượng du lịch đang có những cải thiện tích cực nhằm tạo sức hút đối với khách
quốc tế, Việt Nam tiếp tục giữ vững danh hiệu "Điểm đến hàng đầu châu Á" năm thứ hai liên
tiếp do Giải thưởng Du lịch Thế giới (WTA) 2019 bình chọn. Tính chung năm 2019, khách
quốc tế đến nước ta ước tính đạt 18.008,6 nghìn lượt người, tăng 16,2% so với năm trước,
trong đó khách đến bằng đường hàng không đạt 14.377,5 nghìn lượt người, chiếm 79,8%
lượng khách quốc tế đến Việt Nam, tăng 15,2%; bằng đường bộ đạt 3.367 nghìn lượt người,
16

16


chiếm 18,7% và tăng 20,4%; bằng đường biển đạt 264,1 nghìn lượt người, chiếm 1,5% và
tăng 22,7%.
Khách quốc tế đến nước ta trong tháng Sáu chỉ đạt 8,8 nghìn lượt người, mức thấp nhất
trong nhiều năm qua, giảm 61,3% so với tháng trước và giảm 99,3% so với cùng kỳ năm
trước do Việt Nam tiếp tục thực hiện các biện pháp phòng, chống dịch Covid-19, chưa mở cửa
du lịch quốc tế nên lượng khách đến trong tháng chủ yếu là chuyên gia, lao động kỹ thuật
nước ngoài làm việc tại các dự án ở Việt Nam. Tính chung 6 tháng đầu năm, khách quốc tế
đến nước ta đạt 3,7 triệu lượt người, giảm 55,8% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 6
tháng đầu năm 2020, khách quốc tế đến nước ta ước tính đạt 3.744,5 nghìn lượt người, giảm
55,8% so với cùng kỳ năm trước, trong đó khách đến bằng đường hàng không đạt 3.040,5
nghìn lượt người, chiếm 81,2% lượng khách quốc tế đến Việt Nam, giảm 54,3%; bằng đường
bộ đạt 559,6 nghìn lượt người, chiếm 14,9% và giảm 66,8%; bằng đường biển đạt 144,3 nghìn
lượt người, chiếm 3,9% và tăng 3,7%.
2.6. Hoạt động ngân hàng, bảo hiểm
2.6.1. Hoạt động ngân hàng
- Lãi suất huy động năm 2016 tương đối ổn định.Lãi suất huy động bằng đồng Việt Nam phổ

biến ở mức 0,8%-1%/năm đối với tiền gửi không kỳ hạn và kỳ hạn dưới 1 tháng; 4,5%5,4%/năm đối với tiền gửi có kỳ hạn từ 1 tháng đến dưới 6 tháng; 5,4%-6,5%/năm đối với tiền
gửi có kỳ hạn từ 6 tháng đến dưới 12 tháng; kỳ hạn trên 12 tháng ở mức 6,4%-7,2%/năm. Mặt
bằng lãi suất cho vay phổ biến của các lĩnh vực ưu tiên ở mức 6%-7%/năm đối với ngắn hạn,
9%-10%/năm đối với trung và dài hạn. Lãi suất cho vay các lĩnh vực sản xuất kinh doanh
thông thường ở mức 6,8%-9%/năm đối với ngắn hạn; 9,3%-11%/năm đối với trung và dài
hạn. Nhìn chung, cơ cấu tín dụng đang tiếp tục theo hướng tập trung vào các lĩnh vực ưu tiên
như nông nghiệp, xuất khẩu, công nghiệp hỗ trợ, doanh nghiệp vừa và nhỏ nhằm hỗ trợ có
-

hiệu quả cho tăng trưởng kinh tế.
Lãi suất huy động trong năm 2017 tương đối ổn định. Lãi suất huy động bằng đồng Việt Nam
phổ biến ở mức 0,8%-1%/năm đối với tiền gửi không kỳ hạn và kỳ hạn dưới 1 tháng; 4,3%5,4%/năm đối với tiền gửi có kỳ hạn từ 1 tháng đến dưới 6 tháng; 5,3%-6,5%/năm đối với tiền
gửi có kỳ hạn từ 6 tháng đến dưới 12 tháng; kỳ hạn trên 12 tháng ở mức 6,5%-7,3%/năm. Mặt
bằng lãi suất cho vay phổ biến của các lĩnh vực ưu tiên ở mức 6%-6,5%/năm đối với ngắn
hạn, 9%-10%/năm đối với trung và dài hạn. Lãi suất cho vay các lĩnh vực sản xuất kinh doanh
thông thường ở mức 6,8%-9%/năm đối với ngắn hạn; 9,3%-11%/năm đối với trung và dài
hạn. Nhìn chung, cơ cấu tín dụng tiếp tục theo hướng tập trung vào các lĩnh vực sản xuất kinh
doanh được ưu tiên, các dự án lớn trọng tâm, trọng điểm theo chủ trương của Chính phủ nhằm
hỗ trợ có hiệu quả cho tăng trưởng kinh tế.
17

17


-

Mặc dù gần đây một số ngân hàng thương mại đã có động thái tăng lãi suất huy động để cân
đối nguồn vốn, đáp ứng nhu cầu thanh toán và dự phòng chi trả trong mùa vụ kinh doanh cao
điểm nhất của năm nhưng với mức độ tăng nhỏ và không thể hiện xu hướng tăng của thị
trường. Hiện mặt bằng lãi suất huy động đồng Việt Nam phổ biến ở mức 4,3%-5,5%/năm đối
với tiền gửi có kỳ hạn dưới 6 tháng; mức 5,3%-6,5%/năm đối với tiền gửi có kỳ hạn từ 6
tháng đến dưới 12 tháng; kỳ hạn trên 12 tháng ở mức 6,5%-7,3%/năm. Lãi suất cho vay đồng
Việt Nam phổ biến khoảng 6%-9%/năm đối với ngắn hạn và 9%-11%/năm đối với trung và
dài hạn. Nhìn chung, cơ cấu tín dụng tiếp tục theo hướng tập trung vào các lĩnh vực sản xuất
kinh doanh được ưu tiên, các dự án lớn trọng tâm, trọng điểm theo chủ trương của Chính phủ

-

nhằm hỗ trợ có hiệu quả cho tăng trưởng kinh tế.
Năm 2019, Ngân hàng Nhà nước đã ban hành các văn bản điều chỉnh giảm lãi suất có hiệu lực
từ ngày 19/11/2019. Theo đó, lãi suất cho vay ngắn hạn tối đa bằng đồng Việt Nam đối với
nhu cầu vốn phục vụ nông nghiệp, nông thôn, xuất khẩu, công nghiệp hỗ trợ, doanh nghiệp
nhỏ và vừa, doanh nghiệp ứng dụng công nghệ cao giảm từ 6,5%/năm xuống 6%/năm. Nhiều
ngân hàng thương mại đã đồng loạt công bố giảm lãi suất cho vay góp phần hỗ trợ doanh
nghiệp tiếp cận vốn để đẩy mạnh sản xuất kinh doanh. Hiện mặt bằng lãi suất huy động bằng
đồng Việt Nam phổ biến ở mức 0,2%-0,8%/năm đối với tiền gửi không kỳ hạn và có kỳ hạn
dưới 1 tháng; 4,3%-5%/năm đối với tiền gửi có kỳ hạn từ 1 tháng đến dưới 6 tháng; 5,3%7%/năm đối với tiền gửi có kỳ hạn từ 6 tháng đến dưới 12 tháng; kỳ hạn từ 12 tháng trở lên ở
mức 6,6%-7,5%/năm. Lãi suất cho vay đồng Việt Nam phổ biến khoảng 6%-9%/năm đối với
ngắn hạn và 9%-11%/năm đối với trung và dài hạn. Cơ cấu tín dụng tiếp tục hướng vào các
lĩnh vực sản xuất kinh doanh, đặc biệt là các lĩnh vực ưu tiên; tín dụng đối với các lĩnh vực

-

tiềm ẩn rủi ro được kiểm soát chặt chẽ, bảo đảm an toàn hoạt động ngân hàng.
Từ đầu năm 2020 đến nay, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam điều chỉnh giảm 2 lần các mức lãi
suất điều hành với tổng mức giảm 1%-1,5%/năm để hỗ trợ thanh khoản và tạo điều kiện cho
tổ chức tín dụng tiếp cận nguồn vốn chi phí thấp; trong đó giảm 0,6%-0,75%/năm mức lãi
suất trần tiền gửi các kỳ hạn dưới 6 tháng và giảm 1%/năm mức lãi suất trần cho vay ngắn
hạn đối với các lĩnh vực ưu tiên. Hiện nay, lãi suất huy động bằng đồng Việt Nam phổ biến ở
mức 0,1%-0,2%/năm đối với tiền gửi không kỳ hạn và có kỳ hạn dưới 1 tháng; 4%4,25%/năm đối với tiền gửi có kỳ hạn từ 1 tháng đến dưới 6 tháng; 4,9%-6,6%/năm đối với
tiền gửi có kỳ hạn từ 6 tháng đến dưới 12 tháng; kỳ hạn từ 12 tháng trở lên ở mức 6,5%7,4%/năm. Mặt bằng lãi suất cho vay đồng Việt Nam phổ biến ở mức 6%-9%/năm đối với cho

vay ngắn hạn; 9%-11%/năm đối với cho vay trung và dài hạn.
2.6.2. Hoạt động bảo hiểm

18

18


-

Thị trường bảo hiểm năm 2016 duy trì tăng trưởng tích cực. Doanh thu phí bảo hiểm toàn thị
trường ước tính tăng 22,1% so với năm trước, trong đó doanh thu phí bảo hiểm nhân thọ tăng
30,5%; doanh thu phí bảo hiểm phi nhân thọ tăng 12,5%. Tỷ lệ thực bồi thường bảo hiểm gốc

-

trong bảo hiểm phi nhân thọ ước tính 32,98% (cùng kỳ năm 2015 là 41,47%).
Thị trường bảo hiểm năm 2017 duy trì tăng trưởng tích cực. Doanh thu phí bảo hiểm toàn thị
trường ước tính đạt 105,6 nghìn tỷ đồng, tăng 21,2% so với năm trước, trong đó doanh thu phí
bảo hiểm nhân thọ đạt 65 nghìn tỷ đồng, tăng 28,9%; doanh thu phí bảo hiểm phi nhân thọ đạt
40,6 nghìn tỷ đồng, tăng 10,6%. Năng lực kinh doanh của các doanh nghiệp bảo hiểm tiếp tục
được nâng cao, đóng góp vào nền kinh tế ngày càng tốt hơn. Tổng tài sản của các doanh
nghiệp bảo hiểm ước tính đạt 302,9 nghìn tỷ đồng, tăng 23,4% so với năm 2016; các doanh
nghiệp bảo hiểm đầu tư trở lại nền kinh tế khoảng 247,8 nghìn tỷ đồng, tăng 26,74%. Tổng số
tiền các doanh nghiệp bảo hiểm chi trả quyền lợi bảo hiểm năm 2017 đạt 29,4 nghìn tỷ đồng,

-

tăng 14,9% so với năm 2016.
Thị trường bảo hiểm năm 2018 tiếp tục đạt mức tăng trưởng cao. Ước tính doanh thu bảo
hiểm quý IV tăng 22% so với cùng kỳ năm trước, trong đó doanh thu phí bảo hiểm nhân thọ
tăng 26%; bảo hiểm phi nhân thọ tăng 13%. Tính chung cả năm 2018, doanh thu phí bảo hiểm
toàn thị trường ước tính đạt 133,7 nghìn tỷ đồng, tăng 24% so với năm trước, trong đó bảo
hiểm nhân thọ đạt 88 nghìn tỷ đồng, tăng 32,8% và bảo hiểm phi nhân thọ đạt 45,7 nghìn tỷ
đồng, tăng 9,9%. Năng lực tài chính của các doanh nghiệp bảo hiểm tiếp tục tăng trưởng ổn
định. Tổng tài sản của các doanh nghiệp bảo hiểm ước tính đạt 384,2 nghìn tỷ đồng, tăng
21,1% so với năm trước; vốn đầu tư trở lại nền kinh tế của các doanh nghiệp bảo hiểm đạt

-

319,6 nghìn tỷ đồng, tăng 29,5%.
Hoạt động kinh doanh bảo hiểm quý IV/2019 tiếp tục đạt mức tăng trưởng cao, ước tính tăng
20% so với cùng kỳ năm trước, trong đó doanh thu phí bảo hiểm lĩnh vực nhân thọ tăng 25%,
lĩnh vực bảo hiểm phi nhân thọ tăng 10%. Ước tính doanh thu phí bảo hiểm toàn thị trường
năm 2019 đạt 160,2 nghìn tỷ đồng, tăng 20,3% so với năm 2018, trong đó doanh thu phí bảo
hiểm lĩnh vực nhân thọ đạt 107,8 nghìn tỷ đồng, tăng 25,1%; lĩnh vực bảo hiểm phi nhân thọ

-

đạt 52,4 nghìn tỷ đồng, tăng 11,6%
Doanh thu phí bảo hiểm toàn thị trường 6 tháng đầu năm 2020 tăng 11% so với cùng kỳ năm
trước (quý II/2020 ước tính tăng 6%), trong đó doanh thu phí bảo hiểm lĩnh vực nhân thọ tăng
13%; lĩnh vực bảo hiểm phi nhân thọ tăng 8%. Dịch Covid-19 đã tác động tiêu cực đến hoạt
động kinh doanh bảo hiểm, đặc biệt là lĩnh vực bảo hiểm nhân thọ với đặc thù cần có sự gặp
mặt trực tiếp để tư vấn cho khách hàng. Do lĩnh vực bảo hiểm không thuộc nhóm hàng hóa
thiết yếu nên các điểm kinh doanh, giao dịch bảo hiểm với khách hàng phải đóng cửa và tạm
dừng hoạt động trong thời gian giãn cách xã hội. Trước tình hình đó, các doanh nghiệp Bảo
19

19


hiểm nhân thọ đã tăng cường hoạt động giao dịch, tư vấn bằng hình thức trực tuyến, chủ động
gia hạn thời gian đóng phí bảo hiểm từ 60 ngày đến 90 ngày nhằm đảm bảo quyền lợi cho
khách hàng.
2.6.3. Chứng khoán và trái phiếu
- Thị trường chứng khoán năm 2019 có nhiều đóng góp trong việc huy động vốn cho nền kinh
tế với tổng mức huy động vốn đạt 313,9 nghìn tỷ đồng, tăng 12,6% so với năm trước. Trên thị
trường cổ phiếu, tính đến ngày 24/12/2019, chỉ số VNIndex đạt 958,88 điểm, tăng 7,4% so
với cuối năm 2018; mức vốn hóa thị trường (tính đến 17/12/2019) đạt 4,4 triệu tỷ đồng, tăng
10,3%; giá trị giao dịch bình quân từ đầu năm 2019 đến nay đạt 4.651 tỷ đồng/phiên, giảm
29% so với bình quân năm 2018. Hiện nay, thị trường cổ phiếu có 748 cổ phiếu và chứng chỉ
quỹ niêm yết; 862 cổ phiếu đăng ký giao dịch trên sàn UPCoM với tổng giá trị niêm yết và
-

đăng ký giao dịch đạt gần 1.384 nghìn tỷ đồng, tăng 14,4% so với cuối năm 2018.
Trên thị trường trái phiếu, hiện có 509 mã trái phiếu niêm yết với giá trị niêm yết đạt 1.162
nghìn tỷ đồng, tăng 3,7% so với cuối năm 2018. Trên thị trường chứng khoán phái sinh, khối
lượng giao dịch bình quân từ đầu năm đến nay đạt 89.266 hợp đồng/phiên, tăng 13% so với
bình quân giao dịch năm 2018. Tại thời điểm cuối tháng 11 năm 2019, số lượng tài khoản
giao dịch phái sinh đạt 89.795 tài khoản, tăng 3,3% so với tháng trước và tăng 55,7% so với

-

cuối năm 2018.
Trên thị trường cổ phiếu, tính đến 11h ngày 26/6/2020, chỉ số VNIndex đạt 857,38 điểm, giảm
0,8% so với cuối tháng trước và giảm 10,8% so với cuối năm 2019; mức vốn hóa thị trường
tính đến ngày 18/6/2020 đạt 4.030 nghìn tỷ đồng, giảm 8,1% so với cuối năm 2019. Giá trị
giao dịch bình quân trong tháng Sáu đạt 8.524 tỷ đồng/phiên, tăng 29% so với tháng trước.
Tính chung 6 tháng đầu năm 2020, giá trị giao dịch bình quân trên thị trường đạt 5.633 tỷ
đồng/phiên, tăng 20,9% so với bình quân năm 2019. Hiện nay, thị trường có 748 cổ phiếu và
chứng chỉ quỹ niêm yết; 894 cổ phiếu đăng ký giao dịch trên sàn UPCoM với tổng giá trị

-

niêm yết và đăng ký giao dịch đạt gần 1.422,8 nghìn tỷ đồng, tăng 1% so với cuối năm 2019.
Trên thị trường trái phiếu, hiện có 492 mã trái phiếu niêm yết với giá trị niêm yết đạt 1.172
nghìn tỷ đồng, giảm 1,5% so với cuối năm 2019. Giá trị giao dịch bình quân trên thị trường
trong tháng Sáu đạt 7.120 tỷ đồng/phiên, tăng 23,7% so với tháng trước. Tính chung 6 tháng,

-

giá trị giao dịch bình quân đạt 9.862 tỷ đồng/phiên, tăng 7,1% so với bình quân năm 2019.
Trên thị trường chứng khoán phái sinh, khối lượng giao dịch bình quân trong tháng Sáu đạt
166.184 hợp đồng/phiên, giảm 19% so với tháng trước. Tính chung 6 tháng đầu năm 2020,
khối lượng giao dịch bình quân đạt 163.984 hợp đồng/phiên, tăng 85% so với bình quân năm
trước. Tại thời điểm cuối tháng 5/2020, số lượng tài khoản giao dịch phái sinh đạt 118.126 tài
khoản, tăng 7% so với cuối tháng trước.

2.7. Xây dựng, đầu tư
20

20


Tổng mức đầu tư toàn xã hội trong giai đoạn 2016-2020 liên tục tăng và duy trì ở mức
cao, tỷ lệ vốn đầu tư/GDP trung bình đạt 33,5%. Trong cơ cấu đầu tư toàn xã hội, đầu tư của
khu vực công có vị trí quan trọng đối với nền kinh tế Việt Nam. Đầu tư của khu vực này bao
gồm các nguồn chủ đạo như: Nguồn ngân sách nhà nước, vốn đầu tư tín dụng nhà nước và từ
các doanh nghiệp nhà nước, trong đó đầu tư của ngân sách nhà nước và các doanh nghiệp nhà
nước chiếm trên 70% đầu tư của khu vực công.
Qua nghiên cứu, đánh giá thực tiễn đầu tư công trong giai đoạn này có thể rút ra nhận
định sau:
-

Đầu tư nhà nước đã phát huy vai trò trong những giai đoạn kinh tế khó khăn và là động lực
quan trọng, góp phần thúc đẩy tăng trưởng và chuyển đổi cơ cấu nền kinh tế, có tác động lan

-

tỏa lớn, nhất là đối với các dự án phát triển kết cấu hạ tầng giao thông, năng lượng...
Cơ cấu đầu tư công đã có những chuyển biến tích cực. Khu vực này đã tăng cường đầu tư cho
cơ sở hạ tầng, góp phần cải thiện môi trường đầu tư, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, xử lý bất
hợp lý vùng miền; chú trọng đầu tư cho các ngành nghề có lợi thế cạnh tranh trong nền kinh
tế. Ngân sách nhà nước đã tập trung nhiều hơn cho đầu tư phát triển con người, nâng cao trình
độ của người lao động. Cụ thể, trong tổng mức đầu tư phát triển từ ngân sách nhà nước, đầu
tư cho phát triển cơ sở hạ tầng chiếm một tỷ lệ khá lớn. Bình quân chiếm trên 90% tổng chi

-

đầu tư phát triển từ ngân sách nhà nước.
Đã hình thành được bộ khung pháp luật tương đối đồng bộ để điều chỉnh các hoạt động đầu tư
nói chung và đầu tư nhà nước nói riêng. Trong đó, phải kể đến Luật Đầu tư công năm 2014 và
Luật Đầu tư công sửa đổi, bổ sung năm 2019.
Tốc độ phát triển và cơ cấu vốn đầu tư toàn xã hội thực hiện 6 tháng đầu năm giai
đoạn 2016-2020 (Theo giá hiện hành)
%
Tổ
ng số

2016
2017
2018
2019
2020
21

Tốc độ phát triển
Năm
11
0,3
Năm
111
,2
Năm
11
0
Năm
11
0,2
Năm
10
3,4

vực
nước

Khu
Khu vực
Khu vực có
Nhà ngoài
Nhà vốn đầu tư trực
nước
tiếp nước ngoài
105,4

112,9

114,3

106,5

115,6

111,6

102,4

117,5

109

102,8

116,5

109,7

107,4

107,4

96,2

21


Cơ cấu
Năm
2016

37,2

37,2

25,6

10

35,6

38,7

25,7

10

33,2

41,3

25,5

10

30,9

43,7

25,4

10

32,2

44,2

23,6

0
Năm

2017

0
Năm

2018

0
Năm

2019

0
Năm

2020

10

0

Sau hơn 30 năm đổi mới và mở cửa, cùng với nỗ lực sửa đổi, bổ sung chính sách thu hút
nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) vào phát triển kinh tế - xã hội, đến nay Việt Nam
đã trở thành một trong những quốc gia thu hút FDI thành công nhất trong khu vực. Báo cáo
năm 2017 của Tổ chức Thương mại và Phát triển Liên Hợp Quốc (UNTAD) khẳng định, Việt
Nam là quốc gia nằm trong nhóm 12 nước thành công nhất về thu hút FDI. Những quy định,
chính sách thu hút đầu tư FDI của Việt Nam đã mở rộng quyền tự chủ trong hoạt động đầu tư
kinh doanh của các nhà đầu tư bằng việc xóa bỏ hàng loạt các rào cản không còn phù hợp với
thông lệ kinh tế thị trường và cam kết hội nhập, tạo cơ sở pháp lý cho việc cải thiện mạnh mẽ
môi trường đầu tư, kinh doanh theo hướng ngày càng thuận lợi, minh bạch và bình đẳng giữa
các nhà đầu tư. Thực tế cho thấy, khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài ngày càng khẳng
định vai trò quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội Việt Nam và là khu vực có
tốc độ phát triển năng động nhất. Tỷ trọng vốn FDI trong tổng vốn đầu tư phát triển toàn xã
hội duy trì ở mức khoảng 18 - 25% trong giai đoạn 1991 - 2018. FDI góp phần quan trọng
hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, hệ thống chính sách, pháp
luật về đầu tư kinh doanh, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế, duy trì đà tăng trưởng xuất
khẩu, tăng nguồn thu ngân sách, tạo việc làm, chuyển dịch cơ cấu lao động, thúc đẩy chuyển
dịch cơ cấu kinh tế và nâng cao năng lực sản xuất công nghiệp; thúc đẩy chuyển giao công
nghệ…; tác động tích cực với sự phát triển của khu vực tư nhân trong nước… nâng cao thế và
lực của của Việt Nam trên thế giới.
Các nghiên cứu cho thấy, vốn đầu tư FDI là nguồn vốn quan trọng trong tổng vốn đầu tư
phát triển toàn xã hội và là động lực tăng trưởng kinh tế quan trọng của Việt Nam trong thời
gian qua. Số liệu tính đến năm 2018, các ngành nghề thu hút FDI cao là công nghiệp (69,4%)
tổng vốn đầu tư đăng ký, dịch vụ là 29,6% và nông - lâm - ngư nghiệp là 1%. Đặc biệt, khu
vực doanh nghiệp (DN) FDI đang giữ vai trò chủ đạo trong xuất khẩu của Việt Nam trong

22

22


suốt thời gian qua liên tục đạt tăng trưởng và kim ngạch cao gấp 2 - 3 lần khu vực DN trong
nước, hiện nắm giữ tỷ trọng đến 72% trong kim ngạch xuất khẩu.
Một trong những điểm nhấn tích cực không thể phủ nhận đó là vốn FDI đã làm thay đổi
cơ cấu kinh tế và thúc đẩy nhanh quá trình công nghiệp hóa hiện đại hóa ở các địa phương.
Điển hình như tại Bình Dương, sau hơn 20 năm tái lập, tăng trưởng kinh tế của Tỉnh là 14,5%,
trong đó nguồn vốn FDI đóng góp vị trí quan trọng. Hiện nay, Bình Dương có 3.523 dự án
FDI với vốn đăng ký 32,5 tỷ USD, đưa Tỉnh này trở thành địa phương đứng thứ 3 thu hút vốn
FDI nhiều nhất của cả nước. Năm 2018, DN FDI đóng góp 49,6% tổng vốn đầu tư kinh tế - xã
hội của Tỉnh, 20% thu ngân sách của địa phương.
Đối với các tỉnh/thành phố lớn của Việt Nam như: TP. Hồ Chí Minh, FDI cũng luôn
phát triển song hành với sự phát triển kinh tế - xã hội của địa phương trong suốt 30 năm qua.
Lũy kế từ năm 1988 đến 31/12/2017, TP. Hồ Chí Minh có 7.373 dự án FDI còn hiệu lực, với
tổng vốn đầu tư cấp mới và tăng thêm là 44,24 tỷ USD. Trong đó, kinh doanh bất động sản
thu hút nhà đầu tư nhiều nhất, với 304 dự án, vốn đầu tư đạt 15,15 tỷ USD (chiếm tỷ trọng
34,22%). Tiếp đến là lĩnh vực công nghiệp chế biến, chế tạo với 1.596 dự án, vốn đầu tư đạt
14,82 tỷ USD (chiếm tỷ trọng 33,48%). Lĩnh vực giáo dục và đào tạo đứng thứ 3 với 163 dự
án, vốn đầu tư đạt 3,76 tỷ USD (chiếm tỷ trọng 8,5%)…
2.8. Thu, chi ngân sách Nhà nước
2.8.1. Tổng thu
- Tổng thu ngân sách Nhà nước từ đầu năm đến thời điểm 15/12/2016 ước tính đạt 943,3 nghìn

tỷ đồng, bằng 93% dự toán năm, trong đó thu nội địa đạt 744,9 nghìn tỷ đồng, bằng 94,9%;
thu từ dầu thô đạt 37,7 nghìn tỷ đồng, bằng 69,2%; thu cân đối ngân sách từ hoạt động xuất,
-

nhập khẩu đạt 156,2 nghìn tỷ đồng, bằng 90,8%.
Tổng thu ngân sách Nhà nước từ đầu năm đến thời điểm 15/12/2017 ước tính đạt 1.104 nghìn
tỷ đồng, bằng 91,1% dự toán năm, trong đó thu nội địa đạt 871,1 nghìn tỷ đồng, bằng 88%;
thu từ dầu thô đạt 43,5 nghìn tỷ đồng, bằng 113,7%; thu cân đối ngân sách từ hoạt động xuất,

-

nhập khẩu đạt 183,8 nghìn tỷ đồng, bằng 102,1%.
Tổng thu ngân sách Nhà nước từ đầu năm đến thời điểm 15/12/2018 ước tính đạt 1.272,5
nghìn tỷ đồng, bằng 96,5% dự toán năm, trong đó thu nội địa 1.012,3 nghìn tỷ đồng, bằng
92,1%; thu từ dầu thô 59,4 nghìn tỷ đồng, bằng 165,5%; thu cân đối ngân sách từ hoạt động

-

xuất, nhập khẩu 195,9 nghìn tỷ đồng, bằng 109,4%.
Tổng thu ngân sách Nhà nước từ đầu năm đến thời điểm 15/12/2019 ước tính đạt 1.414,3
nghìn tỷ đồng, bằng 100,2% dự toán năm, trong đó thu nội địa 1.146,2 nghìn tỷ đồng, bằng
97,7%; thu từ dầu thô 53,3 nghìn tỷ đồng, bằng 119,5%; thu cân đối ngân sách từ hoạt động
xuất, nhập khẩu 210,2 nghìn tỷ đồng, bằng 111,1%.
23

23


-

Công tác kiểm soát dịch Covid-19 được thực hiện tốt và có hiệu quả, các hoạt động sản xuất,
kinh doanh của nền kinh tế trong tháng 6/2020 từng bước trở lại trạng thái hoạt động bình
thường như trước khi xảy ra dịch bệnh; đồng thời giá xăng, dầu trong nước tăng theo sự khởi
sắc của thị trường dầu thô thế giới đã tác động tích cực đến kết quả thu, chi ngân sách nhà
nước trong 15 ngày đầu tháng Sáu. Tổng thu ngân sách Nhà nước từ đầu năm đến thời điểm
15/6/2020 ước tính đạt 607,1 nghìn tỷ đồng, bằng 40,1% dự toán năm, trong đó thu nội địa đạt
503,8 nghìn tỷ đồng, bằng 39,9%; thu từ dầu thô 20,2 nghìn tỷ đồng, bằng 57,5%; thu cân đối

ngân sách từ hoạt động xuất, nhập khẩu 82,8 nghìn tỷ đồng, bằng 39,8%.
2.8.2. Tổng chi
- Tổng chi ngân sách Nhà nước từ đầu năm đến thời điểm 15/12/2016 ước tính đạt 1.135,5
nghìn tỷ đồng, bằng 89,2% dự toán năm, trong đó chi đầu tư phát triển đạt 190,5 nghìn tỷ
đồng, bằng 74,7%; chi phát triển sự nghiệp kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh, quản lý
hành chính đạt 786 nghìn tỷ đồng, bằng 95,4%; chi trả nợ và viện trợ đạt 150,3 nghìn tỷ đồng,
-

bằng 96,9%.
Tổng chi ngân sách Nhà nước từ đầu năm đến thời điểm 15/12/2017 ước tính đạt 1.219,5
nghìn tỷ đồng, bằng 87,7% dự toán năm, trong đó chi thường xuyên đạt 862,6 nghìn tỷ đồng,
bằng 96,2%; chi trả nợ lãi 91 nghìn tỷ đồng, bằng 92%; riêng chi đầu tư phát triển đạt 259,5
nghìn tỷ đồng, bằng 72,6% dự toán năm (trong đó chi đầu tư xây dựng cơ bản đạt 254,5 nghìn
tỷ đồng, bằng 72,3%). Chi trả nợ gốc từ đầu năm đến thời điểm 15/12/2017 ước tính đạt 147,6

-

nghìn tỷ đồng, bằng 90,1% dự toán năm.
Tổng chi ngân sách Nhà nước từ đầu năm đến thời điểm 15/12/2018 ước tính đạt 1.272,1
nghìn tỷ đồng, bằng 83,5% dự toán năm, trong đó chi thường xuyên đạt 874,5 nghìn tỷ đồng,
bằng 93%; chi đầu tư phát triển 260,2 nghìn tỷ đồng, bằng 65,1%; chi trả nợ lãi 102,2 nghìn

-

tỷ đồng, bằng 90,8%.
Tổng chi ngân sách Nhà nước từ đầu năm đến thời điểm 15/12/2019 ước tính đạt 1.316,4
nghìn tỷ đồng, bằng 80,6% dự toán năm, trong đó chi thường xuyên đạt 927,9 nghìn tỷ đồng,
bằng 92,8%; chi đầu tư phát triển 246,7 nghìn tỷ đồng, bằng 57,5%; chi trả nợ lãi 99,3 nghìn

-

tỷ đồng, bằng 79,5%.
Tổng chi ngân sách Nhà nước từ đầu năm đến thời điểm 15/6/2020 ước tính đạt 676,2 nghìn
tỷ đồng, bằng 38,7% dự toán năm, trong đó chi thường xuyên đạt 475,1 nghìn tỷ đồng, bằng
45%; chi đầu tư phát triển 140,3 nghìn tỷ đồng, bằng 29,8%; chi trả nợ lãi 56,4 nghìn tỷ đồng,

bằng 47,8%.
2.9. Xuất nhập khẩu
Trong thời kỳ 2011-2020, Việt Nam đặt mục tiêu tốc độ tăng trưởng xuất khẩu hàng hóa
bình quân đạt khoảng 11-12%/năm, trong đó, giai đoạn 2016-2020 phấn đấu tăng trưởng bình
quân đạt 11%/năm và duy trì tốc độ tăng trưởng khoảng 10% thời kỳ 2021-2030.
24

24


Riêng năm 2019, mục tiêu kim ngạch xuất khẩu đặt ra đạt khoảng 258 tỷ USD, tăng
8% so với năm 2017. Tuy nhiên, trong bối cảnh mới, bên cạnh những cơ hội, xuất khẩu hàng
hóa của Việt Nam cũng phải đối diện với không ít thách thức, tác động đến việc hoàn thành
các mục tiêu đề ra trong Chiến lược Xuất nhập khẩu hàng hóa thời kỳ 2011-2020, định hướng
đến năm 2030.
Theo Bộ Công Thương, 2011-2018 là giai đoạn tăng trưởng vượt bậc về kim ngạch xuất
khẩu và nhập khẩu của Việt Nam; trong đó, tăng trưởng xuất khẩu vượt mục tiêu đề ra, góp
phần quan trọng vào thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Xuất khẩu trong 8 năm tăng gấp 2,51 lần
(từ 96,91 tỷ USD năm 2011 lên 243,48 tỷ USD vào năm 2018). Việt Nam đã nhanh chóng cải
thiện vị thế trên bản đồ xuất nhập khẩu thế giới.
Đặc biệt, 2018 là năm đạt nhiều kỷ lục về xuất khẩu hàng hóa. Số liệu của Tổng cục Hải
quan cho thấy tổng trị giá hàng hóa xuất nhập khẩu của cả nước, đạt 480,17 tỷ USD, tăng hơn
52 tỷ USD so với kết quả thực hiện của năm 2017. Trong đó, xuất khẩu thiết lập những kỷ lục
mới với kim ngạch đạt gần 243,5 tỷ USD, tăng 13,2% so với năm 2017, vượt xa chỉ tiêu kế
hoạch được Quốc hội và Chính phủ giao (chỉ tiêu Quốc hội giao tăng 7-8%; chỉ tiêu Chính
phủ giao tăng 8-10%). Nếu tính theo giá trị tuyệt đối, xuất khẩu năm 2018 tăng thêm 28,36 tỷ
USD so với năm trước. Nhóm mặt hàng xuất khẩu lớn nhất của nước ta trong năm 2018 là
điện thoại và linh kiện các loại với trị giá ghi nhận lên đến 49,1 tỷ USD, chiếm 1/5 tổng trị giá
hàng xuất khẩu.
2018 cũng là năm thứ 3 liên tiếp xuất siêu của Việt Nam, khi mức thặng dư kỷ lục lên
gần 6,8 tỷ USD (cao hơn rất nhiều so với năm 2016 là 1,78 tỷ USD và năm 2017 là 2,11 tỷ
USD). Trong năm 2018, Việt Nam có thặng dư cán cân thương mại với 150 nước, vùng lãnh
thổ và có thâm hụt với 85 nước, vùng lãnh thổ. Về việc duy trì xuất siêu, Việt Nam đã đạt xuất
siêu trong 6 năm kể từ năm 2012 đến nay, chỉ duy nhất năm 2015 có cán cân thương mại thâm
hụt. Kết quả này đã góp phần cân bằng cán cân thanh toán và ổn định các chỉ số kinh tế vĩ mô
của nền kinh tế.
Không chỉ chủ động tham gia các hoạt động ngoại thương, các DN cũng tận dụng tốt
hơn cơ hội từ hội nhập. Tăng trưởng xuất khẩu trên nhiều thị trường, đạt mức hai con số như:
Xuất khẩu sang Trung Quốc đạt 41,2 tỷ USD, tăng 16,6% so với năm 2017; Xuất khẩu sang
thị trường ASEAN đạt 24,74 tỷ USD, tăng 13,9%; Xuất khẩu sang Nhật Bản đạt 18,85 tỷ
USD, tăng 11,8%, xuất khẩu sang Hàn Quốc đạt 18,2 tỷ USD, tăng 22,8%.
Bước vào năm 2019, trước diễn biến tình hình chiến tranh thương mại Mỹ - Trung ngày
càng căng thẳng, song hoạt động xuất khẩu của Việt Nam tương đối khả quan. Báo cáo kinh tế
- xã hội do Tổng cục Thống kê công bố, tính chung 5 tháng đầu năm 2019, kim ngạch hàng
25

25


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×