Tải bản đầy đủ

thảo luận nhóm TMU ảnh hưởng của quá trình toàn cầu hóa đến hoạt động xuất khẩu nông sản việt nam

MỤC LỤC
MỞ ĐẦU............................................................................................................................ 2
NỘI DUNG........................................................................................................................3
Phần 1: Lý thuyết về toàn cầu hóa và hoạt động xuất khẩu.............................................3
1. Toàn cầu hóa............................................................................................................3
1.1 Khái niệm...........................................................................................................3
1.2 Nội dung của toàn cầu hóa..................................................................................3
1.3 Vai trò của toàn cầu hóa......................................................................................5
2. Hoạt động xuất khẩu................................................................................................6
2.1 Khái niệm...........................................................................................................6
2.2. Vai trò của xuất khẩu..........................................................................................7
2.3. Các hình thức xuất khẩu chính tại Việt Nam......................................................7
Phần 2: Ảnh hưởng của quá trình toàn cầu hóa đến hoạt động xuất khẩu nông sản
Việt Nam......................................................................................................................... 8
1. Thực trạng xuất khẩu một số nông sản chính của Việt Nam.....................................8
2. Khó khăn của hoạt động xuất khẩu nông sản Việt Nam.........................................13
3. Cơ hội toàn cầu hóa đối với hoạt động xuất khẩu nông sản Việt Nam...................15
4. Thách thức của toàn cầu hóa đối với hoạt động xuất khẩu nông sản Việt Nam......17
Phần 3. Giải pháp thúc đẩy hoạt động xuất khẩu nông sản Việt Nam............................19
3.1. Tổ chức lại sản xuất nhằm nâng cao chất lượng, đảm bảo các yêu cầu an
toàn vệ sinh thực phẩm...........................................................................................19

3.2. Chính sách hỗ trợ của Nhà nước......................................................................20
KẾT LUẬN......................................................................................................................21


MỞ ĐẦU
Chúng ta đang chứng kiến sự phát triển như vũ bão của cách mạng khoa học và công
nghệ, nhất là công nghệ thông tin và công nghệ sinh học, làm gia tăng lực lượng sản
xuất và tạo ra sự thay đổi sâu sắc cơ cấu sản xuất, phân phối, tiêu dùng, thúc đẩy quá
trình quốc tế hóa, xã hội hóa nền kinh tế, cũng như quá trình tham gia của mỗi quốc
gia vào phân công lao động và hợp tác quốc tế. Ðây chính là đặc điểm cơ bản của kinh
tế thế giới hiện nay. Chính đặc điểm này tạo ra sự liên kết và phụ thuộc lẫn nhau ngày
càng cao giữa các quốc gia và khu vực trên thế giới. Các định chế và tổ chức kinh tế thương mại khu vực và quốc tế đã được hình thành để phục vụ cho quá trình hội nhập
kinh tế quốc tế, tạo lập hành lang pháp lý chung để các nước cùng tham gia vào quá
trình giải quyết các vấn đề lớn của kinh tế thế giới mà không một quốc gia nào có thể
thực hiện một cách đơn lẻ.
Vấn đề nông nghiệp, nông dân, nông thôn là vấn đề to lớn, quan trọng có quan hệ mật
thiết với quá trình cải cách, mở cửa, công nghiệp hoá, hiện đại hoá và hội nhập quốc
tế. Về cơ bản, nước ta vẫn là một nước nông nghiệp, chính vì vậy không có sự ổn định
của nông thôn sẽ không có sự ổn định chung của cả nước, không có hiện đại hoá nông
nghiệp thì cũng không thể có hiện đại hoá toàn bộ nền kinh tế quốc dân.
Nông nghiệp, nông dân, nông thôn luôn được sự quan tâm của các nhà hoạch định
chính sách. Toàn cầu hoá kinh tế đang là một xu thế vận động tất yếu trong thời đại
hiện nay. Việt Nam đã khẳng định sự chủ động, tích cực và quyết tâm tham gia vào
quá trình toàn cầu hoá kinh tế một cách ngày càng sâu rộng, mạnh mẽ. Tuy nhiên tham
gia vào quá trình toàn cầu hoá kinh tế, nghĩa là chúng ta chấp nhận những thời cơ và
thách thức mới. Những cơ hội và thách thức đối với chúng ta là rất đặc biệt và khắc
nghiệt bởi vì hiện nay, Việt Nam vẫn là một nước nông nghiệp với trên 70% dân số là
nông dân, với khoảng 15 triệu hộ, trong đó có gần 10 triệu hộ sản xuất nông, lâm
nghiệp và thuỷ sản.
____________________________

1


NỘI DUNG
Phần 1: Lý thuyết về toàn cầu hóa và hoạt động xuất khẩu
1. Toàn cầu hóa
1.1 Khái niệm
Hiên có nhiều định nghĩa khác nhau về toàn cầu hoá, trong đó có một định
nghĩa mà chúng tôi cho rằng phản ánh khá chính xác bản chất của toàn cầu hóa, đó


là “Toàn cầu hóa là một quá trình biến các vùng miền, các cộng đồng người khác nhau
từ trạng thái biệt lập, tách rời nhau thành một trạng thái khác về chất, bằng sự liên kết
gắn bó thành một thể thống nhất hữu cơ trên quy mô toàn cầu. Khi đó, một sự kiện,
một hiện tượng,một vấn đề xảy ra ở vùng miền này, ở cộng đồng người này sẽ có ảnh
hưởng, tác động tới các vùng miền, các cộng đồng người khác trên quy mô toàn thế
giới”
1.2 Nội dung của toàn cầu hóa
Toàn cầu hóa là sự kết hợp và cọ xát trên tất cả các lĩnh vực của đời sống con
người. Sự đan xen và sự phức tạp, khúc khuỷu của tiến trình đôi khi che lấp các nội
dung quan trọng. Đơn vị quan trọng cho sự hợp tác chính là các quốc gia. Tuy nhiên vì
toàn cầu hóa bao hàm các lĩnh vực của đời sống con người nên vẫn có những lĩnh vực
hợp tác và cọ xát bên ngoài biên giới các quốc gia, ví dụ vấn đề chủng tộc, hoặc tín
ngưỡng, tôn giáo. Nhưng tựu trung lại, từ góc độ mang tính khái quát, toàn cầu hóa
được thể hiện qua 3 dấu hiệu sau:
- Thứ nhất, toàn cầu hóa thể hiện qua sự gia tăng ngày càng mạnh mẽ của các luồng
giao lưu quốc tế về hàng hóa, dịch vụ và các yếu tố sản xuất như vốn, công nghệ,
nhân công,..Có thể nói thương mại quốc tế là thước đo đầu tiên của mức độ toàn cầu
hóa và sự phụ thuộc lẫn nhau của các nước. Sự phát triển của thương mại thế giới và
khoảng cách ngày càng tăng giữa tốc độ tăng trưởng kinh tế và tốc độ phát triển
thương mại quốc tế thể hiện mức độ toàn cầu hóa ngày càng cao. Sự phát triển trao đổi
dịch vụ giữa các nước ngày càng có vị trí quan trọng trong thương mại quốc tế và
đóng góp tích cực vào xu hướng toàn cầu hóa.
- Thứ hai, toàn cầu hóa thể hiện qua sự hình thành và phát triển các thị trường thống
nhất trên phạm vi khu vực toàn cầu. Có rất nhiều thỏa thuận liên kết kinh tế khu vực
dưới dạng các thỏa thuận thương mại ưu đãi, khu vực mậu dịch tự do liên minh thuế
quan, liên minh kinh tế được ký kết. Cùng với các thỏa thuận, nhiều tổ chức hợp tác
2


kinh tế đa phương thế giới và khu vực đã ra đời, ngày càng gia tăng về số tượng và cơ
chế tổ chức: trên cơ sở Hiệp định chung về thương mại và thuế quan (GATT), Tổ chức
thương mại Thế giới (WTO) đã được hình thành. Tại Châu Âu, Liên minh Châu Âu
EU liên kết chặt chẽ toàn diện ở hầu hết mọi lĩnh vực. Ở Châu Á-Thái Bình Dương,
Hiệp hội các nước Đông Nam Á (ASEAN), Hiệp hội hợp tác khu vực Nam Á
(SAARC), Diễn đàn hợp tác kinh tế Châu Á-Thái Bình Dương(APEC)… đã ra đời và
ngày càng tích cực đóng góp vào quá trình tăng cường liên kết quốc tế và thương mại
trong khu vực. Tại Châu Mỹ, hình thành liên kết Khu vực mậu dịch tự do Bắc Hoa Kỳ
(NAFTA), Hiệp hội liên kết Hoa Kỳ La Tinh (LAIA),… Tại Châu Phi, Cộng đồng
kinh tế các nước Tây Phi (ECOWAS), Liên minh kinh tế và thuế quan Trung Phi
(UDEAC),…là những nỗ lực để hình thành khối thị trường chung và thống nhất trong
khu vực.
- Thứ ba, toàn cầu hóa thể hiện qua sự gia tăng số lượng, quy mô và vai trò ảnh
hưởng các công ty xuyên quốc gia tới nền kinh tế thế giới. Hiện nay hệ thống dày đặc
các công ty xuyên quốc gia không những đã tạo ra một bộ phận quan trọng của lực
lượng sản xuất thế giới mà còn liên kết các quốc gia lại với nhau ngày càng chặt chẽ
hơn, góp phần làm cho quá trình toàn cầu hóa trở nên sâu sắc hơn bao giờ hết.
Nếu tiếp cận toàn cầu hóa dưới góc nhìn doanh nghiệp kinh doanh quốc tế, toàn
cầu hóa có thể nhìn nhận dưới góc độ toàn cầu hóa thị trường và toàn cầu hóa quá trình
sản xuất:
- Toàn cầu hóa các thị trường: đề cập tới việc gắn kết các thị trường quốc gia vốn
riêng rẽ và tách biệt thành một thị trường rộng lớn mang tính toàn cầu. Việc hạ thấp
các hàng rào đối với hoạt động thương mại giữa các nước giúp cho việc bán hàng hóa
trên phạm vi quốc tế ngày càng dễ dàng hơn. Đôi khi có những ý kiến cho rằng sở
thích và thị hiếu của người tiêu dùng ở các quốc gia khác nhau đang dần có sự đồng
nhất, điều này giúp cho tạo nên thị trường toàn cầu (VD: CocaCola, McDonald’s,
Starbucks,…) Bằng việc cung cáp sản phẩm cơ bản ra thị trường nước ngoài, họ đang
góp phần tạo nên một thị trường toàn cầu.
Toàn cầu hóa thị trường hiện nay chủ yếu dành cho các hàng hóa vật liệu công nghiệp
đáp ứng cho nhu cầu trên phạm vi toàn cầu. Điều này bao gồm thị trường cho các hàng
hóa như nhôm, dầu mỏ, lúa mì; thị trường đối với các sản phẩm công nghiệp như vi
3


mạch, DRAMs, máy bay thương mại; thị trường cho phần mềm máy tính; các thị
trường đối với các loại tài sản tài chính như tài sản của Mỹ, trái phiếu Châu Âu.
- Toàn cầu hóa hoạt động sản xuất: đề cập đến việc sửu dụng các nguồn lực về hàng
hóa và dịch vụ từ các địa điểm khác nhau ở khắp nơi trên thế giới nhằm khai thác nững
lượi ích do sự khác biệt giữa các quốc gia về chi phí và chất lượng của các yếu tố phục
vụ sản xuất, qua đó, các công ty hy vọng có thể hạ thấp cấu trúc chi phí chung hoặc cải
thiện chất lượng hoặc tăng khả năng chuyên môn hóa các chức năng trong hoạt động
sản xuất, điều này cho phép các doanh nghiệp cạnh tranh hiệu quả hơn. Tuy nhiên có
nhiều trở ngại gây khó khăn cho các doanh nghiệp khi họ tìm cách phân tán hoạt động
sản xuất ra nhiều nơi trên phạm vi toàn cầu một cách tối ưu. Những trở ngại này bao
gồm các rào cản chính thức hoặc không chính thức cản trở hoạt động thương mại giữa
các nước, các rào cản đối với đầu tư nước ngoài, chi phí vận chuyển và các vấn đề liên
quan đến rủi ro kinh tế chính trị.
1.3 Vai trò của toàn cầu hóa
- Toàn cầu hóa thực chất là mở rộng và phát triển thị trường toàn cầu. Sự giao lưu hàng
hóa thông thoáng hơn, hàng rào quan thuế và phi quan thuế bị dỡ bỏ, nhờ đó trao đổi
hàng hóa tăng mạnh, có lợi cho sự phát triển của các nước. Nửa đầu thế kỷ XX, kim
ngạch buôn bán của thế giới tăng 2 lần, đến nửa sau thế kỷ XX, do cắt giảm hàng rào
quan thuế và phi quan thuế nên kim ngạch buôn bán của thế giới đã tăng 50 lần. Sự
phát triển mạnh mẽ thị trường toàn cầu dưới tác động của toàn cầu hóa đã cho phép
các nước đang và chậm phát triển có thể tận dụng các nguồn lực của mình, nhất là
nguồn lực lao động dồi dào để tạo ra lợi thế cạnh tranh trong một số ngành công
nghiệp chế tạo và dịch vụ.
- Toàn cầu hóa thúc đẩy sự phát triển mạnh mẽ của lao động sản xuất, đưa lại sự tăng
trưởng cao cho nền kinh tế thế giới. Trong đó, cơ cấu kinh tế thế giới có bước chuyển
dịch mạnh về chất: tỷ trọng các ngành công nghiệp chế tạo và dịch vụ dựa vào công
nghệ cao và tri thức tăng mạnh. Đây là cơ hội và tiền đề hết sức quan trọng cho sự
phát triển và hiện đại hóa xã hội loài người. Các nước có nền kinh tế chậm phát triển
nhờ tham gia toàn cầu hóa họ có điều kiện tiếp nhận các nguồn lực phát triển từ bên
ngoài như vốn đầu tư nước ngoài, công nghệ chuyển giao, kinh nghiệm tổ chức quản
lý… khai thác và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực trong nước như lao động, đất đai,
tài nguyên… thúc đẩy nhanh sự tăng trưởng kinh tế trong nước.
4


- Dưới tác động của quá trình toàn cầu hóa, những thành tựu của khoa học – công nghệ
được chuyển giao nhanh chóng và ứng dụng rộng rãi tạo điều kiện cho các nước đi sau
trong sự phát triển kinh tế có điều kiện tiếp cận với những thành tựu mới của khoa học
– công nghệ để phát triển.
- Cùng với quá trình toàn cầu hóa, nguồn vốn đầu tư quốc tế tăng mạnh góp phần điều
hòa dòng vốn theo lợi thế so sánh tạo điều kiện cho các nước tiếp cận được nguồn vốn
và công nghệ từ bên ngoài, hình thành hệ thống phân công lao động quốc tế có lợi cho
cả bên đầu tư và bên nhận đầu tư. (Tổng số vốn đầu tư ra nước ngoài năm 1997 gấp
800 lần năm 1914)
- Toàn cầu hóa thúc đẩy sự cải cách sâu rộng các nền kinh tế quốc gia và sự hợp tác
khu vực để các chủ thể này có thể nâng cao vị thế cạnh tranh và phát triển được trong
nền kinh tế thị trường thế giới.
- Toàn cầu hóa làm cho mạng lưới thông tin và giao thông vận tải bao phủ toàn cầu
góp phần làm giảm chi phí sản xuất, hạ giá thành sản phẩm, nâng cao hiệu quả kinh
doanh, sự giao lưu thuận tiện nhanh chóng…
- Toàn cầu hóa kinh tế mang lại lợi ích nhiều mặt cho các tầng lớp dân cư. Mọi người
có điều kiện tận hưởng các sản phẩm và dịch vụ mới, rẻ từ khắp nơi trên thế giới. Đặc
biệt những người lao động ở các nước nghèo có cơ hội tiếp cận với thị trường lao động
quốc tế, tham gia vào hệ thống phân công lao động quốc tế.
- Về mặt chính trị, quá trình toàn cầu hóa làm gia tăng tính tùy thuộc lẫn nhau giữa các
quốc gia có lợi cho cuộc đấu tranh vì hòa bình, hợp tác và phát triển.
Tóm lại, dưới tác động của toàn cầu hóa, thế giới ngày nay trở thành một thế
giới thống nhất trong đa dạng. Các nền văn hóa giao thoa, con người ngày càng có
điều kiện hướng tới sự phát triển toàn diện. Cùng với toàn cầu hóa là xu thế khu vực
hóa. Xu thế khu vực hóa phản ánh sự khác biệt và mâu thuẫn về lợi ích giữa các quốc
gia, khu vực trong một thế giới đa dạng, trong đó sự hợp tác và liên kết quốc tế ngày
càng tăng lên nhưng cuộc đấu tranh vì lợi ích quốc gia, dân tộc, khu vực cũng rất gay
gắt và quyết liệt.

5


2. Hoạt động xuất khẩu
2.1 Khái niệm
Xuất khẩu hàng hóa là hoạt động kinh doanh buôn bán ở phạm vi quốc tế. Đây
không phải là hành vi buôn bán riêng lẻ mà cả là một hệ thống các quan hệ mua bán
trong nền thương mại có tổ chức cả bên trong và bên ngoài nhằm bán sản phẩm, hàng
hóa sản xuất trong nước ra nước ngoài thu ngoại tệ, đẩy mạnh sản xuất hàng hóa phát
triển, chuyển đổi cơ cấu kinh tế ổn định từng bước nâng cao mức sống nhân dân.
Kinh doanh xuất khẩu cũng chính là hoạt động kinh doanh quốc tế đầu tiên của
một doanh nghiệp. Hoạt động này được tiếp tục ngay cả khi doanh nghiệp đã đa dạng
hóa hoạt động kinh doanh của mình.
Xuất khẩu hàng hóa nằm trong lĩnh vực phân phối và lưu thông hàng hóa của
một quá trình tái sản xuất mở rộng, nhằm mục đích liên kết sản xuất với tiêu dùng của
nước này với nước khác. Nền sản xuất phát triển lớn mạnh hay sao sẽ phụ thuộc vào
hoạt động này.
2.2. Vai trò của xuất khẩu
Với hoạt động xuất khẩu thì đây là một hoạt động mang lại nền phát triển cho kinh
tế, mở rộng sản xuất để tăng thu thêm nguồn ngoại tệ, tạo điều kiện cho nhập khẩu và
phát triển cơ sở hạ tầng.
 Xuất khẩu tạo nguồn vốn chủ yếu cho nhập khẩu
 Xuất khẩu góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế sang nền kinh tế hướng ngoại
 Tạo công ăn việc làm và cải thiện đời sống cho công nhân
 Xuất khẩu là cơ sở để mở rộng và thúc đẩy các quan hệ kinh tế đối ngoại ở
nước ta.
2.3. Các hình thức xuất khẩu chính tại Việt Nam
 Xuất khẩu ủy thác
Đây là hình thức mà đơn vị đứng ra với vai trò trung gian xuất khẩu, làm thay đơn
vị sản xuất làm tất cả những thủ tục cần thiết để xuất khẩu hàng hóa và hưởng phần
trăm phí ủy thác theo giá trị hàng xuất khẩu. Các bước được thực hiện như sau:
- Kí hợp đồng ủy thác xuất khẩu với các đơn vị trong nước
6


- Kí kết hợp đồng với bên nước ngoài, giao hàng và thanh toán
- Nhận phí ủy thác đơn vị sản xuất trong nước
Ưu điểm của hình thức này chính là mức độ rủi ro thấp, trách nhiệm ít, công sức ít.
Đặc biệt không cần huy động vốn để mua hàng, tuy hưởng chi phí nhưng nhận tiền
nhanh, cần ít thủ tục và tương đối tin cậy.
 Xuất khẩu trực tiếp
Đây là hình thức đơn vị ngoại thương đặt mua sản phẩm của đơn vị sản xuất trong
nước, sau đó xuất khẩu những sản phẩm đó ra nước ngoài với danh nghĩa là hàng của
đơn vị mình. Các bước được thực hiện như sau:
- Kí hợp đồng nội: mua và trả tiền cho các đơn vị sản xuất trong nước
- Kí hợp đồng ngoại: giao hàng và thanh toán tiền hàng với bên nước ngoài
Khi xuất khẩu với hình thức trực tiếp thì lợi nhuận sẽ cao hơn so với hình thức
khác, tuy nhiên đòi hỏi kinh nghiệm, thời gian, chi phí …khả năng rủi ro sẽ cao hơn
 Xuất khẩu gia công ủy thác
Đơn vị ngoại thương đứng ra nhận hàng hoặc bán thành phẩm về cho xí nghiệp gia
công sau đó thu hồi thành phẩm xuất lại cho bên ngoài. Đơn vị này hưởng phần trăm
phí ủy thác và gia công. Phí này được thỏa thuận trước với xí nghiệp trong nước. Các
bước được thực hiện như sau:
- Kí hợp đồng ủy thác xuất khẩu với đơn vị sản xuất trong nước
- Kí hợp đồng gia công với bên nước ngoài và nhập nguyên liệu
- Giao nguyên liệu gia công
- Xuất khẩu thành phẩm cho bên nước ngoài
- Thanh toán chi phí gia công cho đơn vị sản xuất
Với hình thức này thì chi phí bỏ ra sẽ không nhiều, đạt hiệu quả cao trong kinh tế ,
tránh rủi ro. Tuy nhiên đòi hỏi thủ tục rườm rà, cán bộ kinh doanh có nhiều kinh
nghiệm để xử lý mọi rắc rối.

7


Phần 2: Ảnh hưởng của quá trình toàn cầu hóa đến hoạt động xuất khẩu nông
sản Việt Nam
1. Thực trạng xuất khẩu một số nông sản chính của Việt Nam
Từ năm 2009 đến nay, giá trị xuất khẩu nông sản của Việt Nam luôn ở mức cao,
đóng góp một phần không nhỏ vào tổng giá trị xuất khẩu hàng hóa và GDP của Việt
Nam. Theo thống kê của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, tổng kim ngạch
xuất khẩu nông sản tăng từ 16,5 tỷ USD năm 2008 lên 32,1 tỷ USD năm 2016 (tăng
trưởng 8,7%/năm). Trong đó, một số mặt hàng có kim ngạch xuất khẩu tăng mạnh và
đều qua các năm như hạt điều (tăng trưởng 15,3 %/năm), nhóm hàng rau quả (tăng
trưởng 25,2%), hạt tiêu (tăng trưởng 21%/năm), riêng mặt hàng gạo có tăng trưởng âm
(-3,5%/năm).
Bảng 1: Kim ngạch xuất khẩu một số nông sản chính, giai đoạn 2008-2016
Kim ngạch xuất khẩu (triệu USD)

Tăng trưởng

Nông sản chính

2008

2010

2012

2014

2016

2008-2016

Cà phê

2.111

1.851

3.673

3.557

3.336

5,9

Hạt điều

911

1.135

1.470

1.992

2.843

15,3

Hàng rau quả

406

451

827

1.489

2.458

25,2

Gạo

2.894

3.248

3.673

2.935

2.172

-3,5

Cao su

1.604

2.388

2.860

1.780

1.672

0,5

Hạt tiêu

311

421

793

1.201

1.429

21,0

Sắn & sp từ sắn

364

564

1.361

1.137

999

13,5

Chè

147

200

225

228

217

5,0

(Nguồn: Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông nghiệp nông thôn, 2017)
 Lúa gạo
Mặt hàng lúa gạo của Việt Nam hiện nay không còn xếp nhất, nhì thế giới về kim
ngạch xuất khẩu như giai đoạn trước nữa. Năm 2016, kim ngạch xuất khẩu chưa đến
2,2 tỷ USD, chiếm khoảng 12% thị phần thế giới và là nước xuất khẩu gạo lớn thứ 4
thế giới sau Ấn Độ, Thái Lan và Hoa Kỳ. Gạo của Việt Nam thường xuất khẩu ở dạng
hạt xát trắng (nguyên hạt hoặc trộn tấm) chiếm tới 93%, còn lại là gạo xay (6%) hoặc
thóc (1%). Đặc biệt, cơ cấu gạo xuất khẩu đã có bước chuyển biến tích cực khi tỷ lệ
gạo thơm, gạo chất lượng đang tăng cao. Theo Báo cáo tình hình xuất nhập khẩu năm
2016 của Bộ Công thương năm 2017, cơ cấu gạo cao cấp chiếm tới 21,6%, gạo cấp
8


trung bình 13,4%, gạo cấp thấp 7,2%, gạo thơm 28,5%, gạo Japonica 3,2%, gạo nếp
20,8%, gạo tấm 3,6% và gạo đồ 0,8%.
Thị trường xuất khẩu gạo chính của Việt Nam hiện nay là Trung Quốc (chiếm
31%), Philipines (17%), Indonesia (9%) và Malaysia (8%).
- Thị trường Trung Quốc: Đây là quốc gia sản xuất và tiêu thụ gạo lớn trên thế giới,
chiếm khoảng 1/3 tổng sản lượng toàn cầu. Một trong những chính sách của Trung
Quốc có ảnh hưởng đến thương mại gạo là lập hàng rào kỹ thuật trong việc nhập khẩu
gạo từ Việt Nam bằng cách chỉ cấp giấy phép cho 22 doanh nghiệp xuất khẩu gạo từ
Việt Nam. Những đối thủ cạnh tranh chính của Việt Nam trên thị trường Trung Quốc là
Thái Lan và Pakistan. Nhưng Việt Nam có lợi thế cạnh tranh hơn về địa lý so với các
nước này trong cung cấp gạo cho thị trường Trung Quốc.
- Thị trường Đông Nam Á (Philipines, Indonesia, Malaysia): Tại thị trường
Philippines, gạo Việt Nam chiếm hơn 48% (cao hơn so với 42,4% của Thái Lan). Tại
thị trường Indonesia, gạo Việt Nam chiếm 57,6% (cao hơn so với 19% của Thái Lan,
và 18% của Pakistan). Tại thị trường Malaysia, gạo Việt Nam chiếm gần 29%, thấp
hơn Thái Lan (38,5%) nhưng cao hơn Pakistan (14,3%), Ấn Độ (10,2%) và
Campuchia (7,7%). Sản xuất gạo trong nước của các nước này chưa đáp ứng đủ nhu
cầu tiêu dùng nên phải nhập khẩu. Nhưng các nước này cũng luôn có các chính sách
đẩy mạnh sản xuất trong nước để giảm phụ thuộc vào nhập khẩu, các hiệp định xuất
khẩu của chính phủ đang có xu hướng giảm. Những đối thủ cạnh tranh chính của Việt
Nam trên thị trường này chủ yếu là Thái Lan, Pakistan và Ấn Độ. Thái Lan là đối thủ
chính trong xuất khẩu sang thị trường này (thường thông qua đấu thầu giữa Việt Nam
và Thái Lan). Ngoài ra, một số nước như Ấn Độ, Pakistan cũng đang đẩy mạnh xuất
khẩu gạo vào thị trường này.
Về đối thủ cạnh tranh, Thái Lan được coi là đối thủ cạnh tranh chính của gạo Việt
Nam trên các thị trường xuất khẩu. Thái Lan có thế mạnh là nước sản xuất và xuất
khẩu gạo lớn cả về khối lượng và chất lượng. Tuy nhiên, hiện nay Thái Lan đang có
định hướng giảm 112.000 ha vào niên vụ 2017-2018 để chuyển sang trồng mía. Như
vậy, sản lượng gạo sản xuất của Thái Lan có khả năng giảm bớt trong thời gian tới.
Đây cũng là cơ hội cho khối lượng gạo Việt Nam được xuất khẩu nhiều hơn.

9


Tóm lại, gạo của Việt Nam vẫn chiếm lĩnh các thị trường truyền thống và trong khu
vực như Trung Quốc và một số nước ASEAN và có xu hướng mở rộng sang các nước
Trung Đông do lợi thế về giá thấp hơn các đối thủ cạnh tranh, phù hợp với thị trường
cấp thấp và các hợp đồng dạng G2G mang yếu tố quan hệ chính trị hợp tác. Hiên tại,
việc thâm nhập các thị trường khó tính còn nhiều hạn chế về yêu cầu chất lượng và
chủng loại. Tóm lại, thị trường gạo của Việt Nam vẫn là các quốc gia truyền thống và
tập trung vào gạo phẩm cấp trung bình phù hợp với nhu cầu của các thị trường cấp
thấp.
 Cà phê
Giá trị xuất khẩu cà phê của Việt Nam năm 2016 đạt 3,3 tỷ USD, chiếm gần 11%
tổng giá trị xuất khẩu cà phê thế giới, là nước xếp thứ 2 thế giới sau Brazil 16%. Sản
phẩm cà phê xuất khẩu của Việt Nam chủ yếu là hạt cà phê xanh chưa rang, chiếm tới
92,7% tổng giá trị xuất khẩu, hay nói cách khác là xuất khẩu thô. Các loại sản phẩm
khác chiếm tỷ lệ rất nhỏ, chẳng hạn như hạt đã rang chỉ chiểm 0,5% và cà phê hòa tan
6,5%.
Thị trường xuất khẩu lớn nhất của cà phê Việt Nam là Đức (chiếm 13,44% tổng giá
trị xuất khẩu), tiếp đến là Hoa Kỳ (11,74%), Tây Ban Nha (8,63%) và Italia (7,43%).
- Thị trường Đức là đầu mối nhập khẩu cà phê vào các nước châu Âu và có vai trò lớn
trong cộng đồng Châu Âu (EC) nên Đức áp dụng tiêu chuẩn chất lượng châu Âu cho
cà phê nhập khẩu từ Việt Nam. Những đối thủ cạnh tranh chính của Việt Nam trên thị
trường này gồm Brazil (chiếm 26%), Honduras (7%) và Colombia (6%). Như vậy
Brazil là đối thủ lớn với thị phần gấp hai lần Việt Nam. Cà phê của Brazil có thế mạnh
về Arabica nhưng cũng xuất khẩu cả Robusta, trong khi Việt Nam chủ yếu là Robusta.
Tuy nhiên, Việt Nam có thế mạnh là nhà sản xuất Robusta lớn nhất thế giới.
- Thị trường Hoa Kỳ là thị trường có nhiều biến động trong thời gian gần đây, nhất là
vấn đề tự do thương mại, nhiều biện pháp bảo hộ áp dụng như kiện bán phá giá, tiêu
chuẩn vệ sinh an toàn thực phẩm. Những đối thủ cạnh tranh chính của Việt Nam trên
thị trường này gồm Brazil (chiếm 23%) Colombia (21%) Việt Nam (6%) và Indonesia
(5%). Các nước này có lợi thế về địa lý là gần Hoa Kỳ hơn so với Việt Nam.
- Thị trường Tây Ban Nha cũng là một thị trường tiêu thụ lớn về cà phê. Những đối thủ
cạnh tranh chính của Việt Nam trên thị trường này gồm Brazil (chiếm 14%) Colombia
10


(7%) (thấp hơn mức 23% của Việt Nam). Brazil và Colombia là có lợi thế về sản phẩm
cà phê Arabica nhưng lại kém Việt Nam về cà phê Robusta. Vì vậy, Việt Nam có thế
mạnh là nhà sản xuất Robusta lớn nhất thế giới, và đã ký hiệp định tự do thương mại
giữa Việt Nam - EU.
Tại các thị trường mới nổi tại Châu Á là Nhật Bản, Hàn Quốc, Việt Nam là nhà
cung cấp lớn thứ hai sau Brazil. Việt Nam có lợi thế về địa lý và đã ký hiệp định
thương mại tự do giữa hai nước. Nhưng đây cũng là các thị trường yêu cầu cao với các
mặt hàng thực phẩm, đồ uống nói chung, cà phê nói riêng. Cụ thể, Luật bảo vệ thực
vật (BVTV) của Nhật Bản quy định rõ là hạt cà phê xanh sấy khô chưa qua xử lý nhiệt
được coi là sản phẩm tươi và buộc phải tuân thủ quy trình kiểm dịch thực vật. Khi đó,
các thủ tục kiểm dịch được tiến hành tại sân bay và cảng biển dưới sự kiểm soát của cơ
quan kiểm dịch địa phương. Cà phê xay và các sản phẩm chế biến được miễn tuân thủ
quy định của Luật BVTV, chỉ cần tuân theo quy trình kiểm dịch an toàn vệ sinh thực
phẩm theo Luật An toàn vệ sinh thực phẩm. Theo đó, luật này sẽ kiểm tra và siết chặt
hơn các thành phần trong sản phẩm cà phê nhập khẩu. Khi xuất khẩu sang Nhật, cà
phê Việt Nam buộc phải kiểm tra loại và thành phần các chất phụ gia, dư lượng thuốc
trừ sâu, độc tố nấm (mycotoxin) và nhiều chất khác. Các sản phẩm có những thành
phần bị cấm tại Nhật Bản hoặc là vượt quá mức độ cho phép, hoặc lượng độc tố nấm
trên mức cho phép sẽ bị cấm nhập khẩu vào thị trường này. Ngoài ra, các sản phẩm cà
phê nhập từ Việt Nam phải ghi rõ nguồn gốc xuất xứ hàng hóa và thành phần sản
phẩm. Các quy định của Hàn Quốc cũng tương tự.
Việt Nam đang tiếp tục duy trì những thị trường truyền thống như EU, Hoa Kỳ và
mở rộng sang các thị trường tiềm năng như Nhật Bản, Hàn Quốc. Nhưng để đáp ứng
được yêu cầu của các thị trường tiềm năng, cà phê Việt Nam cần phải nâng cao chất
lượng và đảm bảo về tồn dư thuốc BVTV cũng như đảm bảo vệ sinh an toàn thực
phẩm. Về mặt sản phẩm, ngoài việc duy trì các sản phẩm cà phê xanh cần tăng cường
sản phẩm chế biến như cà phê hòa tan, cà phê rang xay…

 Rau quả

11


Rau quả là mặt hàng nông sản có kim ngạch xuất khẩu tăng mạnh trong năm 2016
và cũng là mặt hàng mà Việt Nam đã có nhiều thành công trong mở rộng thị trường.
Kim ngạch xuất khẩu rau quả năm 2016 đạt 2,5 tỷ USD, tăng mạnh 33,6% so với năm
2015 (theo Báo cáo của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn năm 2016). Đây là
ngành hàng có tăng trưởng nổi bật nhất trong nhóm các mặt hàng nông sản. Theo Báo
cáo của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn năm 2016 thì trong khi các ngành
hàng khác gặp khó khăn do sụt giảm lượng và giá xuất khẩu thì ngành hàng này liên
tục tăng trưởng mạnh trong những năm gần đây (cụ thể, năm 2014 tăng 28,4%, năm
2015 tăng 23,7%).
Trung Quốc là thị trường nhập khẩu lớn nhất các loại rau quả của Việt Nam, tiếp
theo là Hoa Kỳ, EU, Hàn Quốc, Nhật Bản với mức tăng trưởng cao. Trong thời gian
qua, nhiều loại trái cây Việt Nam đã thâm nhập được và mở rộng xuất khẩu vào các thị
trường “có yêu cầu cao về tiêu chuẩn, chất lượng” như nhãn, vải thiều, thanh long vào
thị trường Hoa Kỳ; vải thiều vào thị trường Australia, Malaysia, EU (Pháp, Đức, Anh,
Hà Lan); thanh long, xoài vào thị trường Nhật Bản, Hàn Quốc; cam, quýt, thanh long
vào thị trường Singapore… Đặc biệt, những năm gần đây, lượng tiêu thụ các loại rau
và năm loại quả chuối, dứa, đu đủ, xoài, bơ trên thị trưởng Nhật Bản và Hàn Quốc
tăng cao. Mà đây là những đặc sản thế mạnh của Việt Nam nên Việt Nam có khả năng
mở rộng được sang các thị trường này. Tuy nhiên, Nhật Bản, Hàn Quốc và cả Hoa Kỳ
đều là các thị trường khó tính với các hàng rào kỹ thuật cao đặc biệt đối với các mặt
hàng nông sản tươi. Quy định nhập khẩu của các thị trường “khó tính” này là tương
đối giống nhau, đặc biệt là Hàn Quốc gần như “bắt chước” quy định của Nhật Bản,
nhưng việc thực hiện giám sát chất lượng lại khác nhau. Theo kết quả khảo sát của
Viện Chính sách và Chiến lược phát triển nông nghiệp nông thôn, 100% các doanh
nghiệp được khảo sát nhận định rằng, trong ba nước Nhật Bản, Hàn Quốc, Hoa Kỳ,
tiêu chuẩn và việc giám sát chất lượng của Nhật Bản là cao nhất, sau đó đến Hoa Kỳ
và cuối cùng là Hàn Quốc. Nhật Bản kiểm soát rất chặt chẽ khâu vệ sinh an toàn thực
phẩm và kiểm dịch thực vật nên việc đưa trái cây tươi vào thị trường này không dễ,
phụ thuộc nhiều vào việc đàm phán giữa các cơ quan chức năng hai bên. Chẳng hạn,
trước khi Nhật Bản cho phép nhập trái thanh long (ruột trắng) từ Việt Nam vào năm
2009, Việt Nam và Nhật Bản phải mất 4 - 5 năm đàm phán, chuẩn bị. Tương tự, để
xuất lô xoài Cát Chu tươi vào Nhật Bản mới đây cũng mất gần bốn năm đàm phán.
12


Điều đáng mừng, cả xoài và thanh long Việt Nam khi vào các hệ thống siêu thị lớn tại
Nhật như Aeon, Simachu... đã được người tiêu dùng Nhật đón nhận. Quy trình thực tế
để một doanh nghiệp Việt Nam xuất khẩu được sang Nhật Bản phải trải qua các bước
rất chặt chẽ. Bước 1: Doanh nghiệp Nhật Bản gửi bảng hỏi khoảng 1.000 câu hỏi bằng
tiếng Anh để tìm hiểu về doanh nghiệp và sản phẩm. Bước 2: Gửi mẫu, có thể phải gửi
khoảng 10 - 20 lần để họ đánh giá và góp ý cho sản phẩm. Bước 3: Cử cán bộ sang
kiểm tra vùng sản xuất (vùng trồng, khu vực sơ chế, khu nhà ở, khu vệ sinh, máy móc
thiết bị sản xuất,...). Bước 4: Ký hợp đồng chính thức. Bước 5: Có cán bộ sang kiểm
tra, đánh giá hàng năm.
Như vậy, mặc dù Việt Nam có thế mạnh của nước nhiệt đới, sản xuất được rất
nhiều mặt hàng rau quả đặc sản, phong phú nhưng muốn có chỗ đứng vững trên các thị
trường cao cấp, nông nghiệp Việt Nam không còn cách nào khác là phải cải thiện từ
khâu chọn giống, tổ chức sản xuất đến bảo quản sau thu hoạch, xử lý kiểm dịch, đóng
gói và vận chuyển...
2. Khó khăn của hoạt động xuất khẩu nông sản Việt Nam
Xuất khẩu nông sản Việt Nam dự báo có nhiều triển vọng do nhu cầu thị trường
tăng và cơ hội được hưởng ưu đãi lớn về thuế, song nhiều mặt hàng và thị trường vẫn
gặp khó khăn.
Đối với các thị trường truyền thống (Trung Quốc, Nga,…) là các thị trường quan
trọng với tỷ trọng xuất khẩu sang các thị trường này lớn, yêu cầu về tiêu chuẩn chất
lượng không cao. Tuy nhiên, cũng chính vì hầu hết nông sản của Việt Nam phụ thuộc
quá lớn vào các thị trường này nên người nông dân Việt Nam thường rơi vào tình trạng
“được mùa rớt giá”, đặc biệt có những vụ nông sản rơi vào thảm cảnh lịch sử như vụ
thanh long tháng 9/2015, giá sụt thảm hại với hàng loạt thanh long đổ cho gia súc ăn,
đổ đầy ra đường, hoặc gần đây nhất là mặt hàng thịt lợn xuất sang Trung Quốc.
Các thị trường cao cấp (EU, Úc, Nhật Bản, Hàn Quốc, Hoa Kỳ,…) là các thị
trường chủ lực của Việt Nam trong tiến trình đa dạng hóa thị trường, thúc đẩy xuất
khẩu bền vững và thu được giá trị gia tăng cao. Sự hấp dẫn của các thị trường này
đồng nghĩa với sự cạnh tranh quyết liệt với những đối thủ cạnh tranh lớn như Trung
Quốc, Thái Lan, Indonesia,… là những nước tương đồng với Việt Nam về các mặt
hàng nông sản xuất khẩu. Bên cạnh đó, những rào cản kỹ thuật về dư lượng hóa chất,
13


an toàn thực phẩm, nguồn gốc xuất xứ do các thị trường này đặt ra là những khó khăn
không nhỏ đối với các doanh nghiệp xuất khẩu của Việt Nam. Một số nông sản như
chè, rau quả tươi đã có tỷ lệ hàng bị trả lại cao do vượt ngưỡng tồn dư thuốc BVTV.
Kết quả khảo sát đánh giá khả năng đáp ứng của nông sản Việt Nam sang các thị
trường khó tính như Nhật Bản, Hàn Quốc, Hoa Kỳ đã chỉ ra những điểm đáp ứng và
chưa đáp ứng được của các tác nhân liên quan đến xuất khẩu nông sản của Việt Nam
như sau:
- Phía người sản xuất: Người nông dân Việt Nam có đặc điểm rất cần cù, chịu khó,
thông minh và rất dày kinh nghiệm trong việc sản xuất, canh tác các loại nông sản.
Tuy nhiên phần lớn họ lại đang sản xuất theo phương thức truyền thống, manh mún,
nhỏ lẻ, sử dụng nhiều yếu tố đầu vào (phân bón, thuốc trừ sâu,...), phụ thuộc vào thời
tiết (mưa, nắng,...). Người nông dân rất khó thay đổi phương thức sản xuất. Đặc biệt,
trong việc thực hiện đúng loại thuốc BVTV, đúng liều lượng và đúng thời gian cách ly
là một điều hết sức khó khăn. Nhiều doanh nghiệp chưa quản lý được việc sử dụng
thuốc BVTV của người dân nên hàng nông sản không đảm bảo chất lượng, yêu cầu về
dư lượng thuốc BVTV, ảnh hưởng đến uy tín của doanh nghiệp xuất khẩu.
- Phía doanh nghiệp: Các doanh nghiệp Việt Nam ngày càng năng động và linh hoạt
hơn trong việc tiếp cận các khách hàng “khó tính”, đổi mới công nghệ sản xuất - chế
biến, thay đổi mẫu mã sản phẩm phù hợp với yêu cầu của khách hàng. Tuy nhiên, phần
lớn doanh nghiệp nông nghiệp Việt Nam là doanh nghiệp vừa và nhỏ nên còn tồn tại
một số hạn chế như: (i) ít vốn đầu tư nên khó đổi mới khoa học kỹ thuật, đầu tư máy
móc, áp dụng sản xuất công nghệ cao, (ii) hạn chế về việc tiếp cận các thông tin thị
trường nước ngoài; (iii) còn nhiều doanh nghiệp có tư tưởng “ăn xổi”, chưa kiên nhẫn
đáp ứng các yêu cầu kỹ lưỡng của khách hàng “khó tính” hoặc có tư tưởng xuất khẩu
được một vài lô hàng rồi, các lô hàng sau lại lơ là việc giám sát chất lượng; (iv) phần
lớn doanh nghiệp còn thu mua nông sản trên thị trường, chưa có vùng nguyên liệu
riêng để đảm bảo sản lượng, chất lượng, giám sát được dịch bệnh và việc sử dụng
thuốc BVTV; (v) doanh nghiệp không có đất (vùng sản xuất) thuộc quyền sử dụng của
doanh nghiệp mà phải đi ký hợp đồng thuê đất 5 năm -10 năm với rất nhiều hộ dân,
nên doanh nghiệp phải đối mặt với rủi ro bị phá vỡ hợp đồng từ phía người dân hoặc
khi hết thời hạn thuê đất, không ký tiếp được thì lại phải xin cấp lại mã số vùng trồng
khác gây tốn chi phí và thời gian.
14


- Hỗ trợ của Nhà nước: Nhà nước đã và đang kiên nhẫn, tích cực đẩy mạnh đàm phán
cấp Chính phủ Việt Nam với Chính phủ Nhật Bản, Hàn Quốc, Hoa Kỳ nhằm giới thiệu
các nông sản mới và đồng thời yêu cầu sự cho phép nhập khẩu của các nước này. Ví
dụ Việt Nam đã mất 4 -5 năm thậm chí là 7 năm để đám phán, chuẩn bị để xuất thành
công một loại quả tươi vào Nhật Bản, Hàn Quốc hoặc Hoa Kỳ. Tuy nhiên, sự hỗ trợ
xuất khẩu của Việt Nam còn nhiều hạn chế: (i) chưa có cơ quan tìm hiểu thông tin thị
trường, nhu cầu người tiêu dùng tại nước ngoài và kết nối doanh nghiệp Việt Nam doanh nghiệp nước ngoài; (ii) cơ sở vật chất phục vụ chiếu xạ/xử lý hơi nước nóng còn
hạn chế, nếu như ở Thái Lan chỉ mất 0,3 đô la Mỹ/kg cho chi phí chiếu xạ thì ở Việt
Nam là 0,5 đến 0,8 đô la Mỹ/kg[16]; (iii) chưa có chính sách phù hợp hỗ trợ giảm chi
phí vận chuyển nội địa và vận chuyển bằng đường biển, đường hàng không; chi phí
vận chuyển chiếm hơn 30% giá[17], chi phí vận chuyển nội địa rất cao, như chi phí
vận chuyển một container từ cảng Hải Phòng về Hà Nội đắt gấp ba lần so với từ Hàn
Quốc, Trung Quốc về Việt Nam, tạo gánh nặng chi phí lớn cho doanh nghiệp, khiến
cho giá nông sản kém khả năng cạnh tranh; (iv) chưa quy hoạch được vùng/khu công nông nghiệp gồm từ vùng nguyên liệu, nhà máy sản xuất - chế biến, nhà máy chiếu
xạ/xử lý hơi nước nóng hay kèm các dịch vụ nông nghiệp; (v) kinh phí dành cho hoạt
động xúc tiến thương mại ít và có xu hướng giảm mạnh, cách thức triển khai không
đổi mới, hiệu quả thấp.
3. Cơ hội toàn cầu hóa đối với hoạt động xuất khẩu nông sản Việt Nam
Việc tham gia vào quá trình hội nhập và toàn cầu hóa đã đem lại cho Việt Nam rất
nhiều nhiều những cơ hội vô cùng lớn lao, cụ thể:
 Mở rộng thị trường tiêu dùng sản phẩm nông nghiệp
Tham gia ngày càng sâu rộng vào kinh tế khu vực và quốc tế, đặc biệt là hội nhập
WTO đã ảnh hưởng mạnh mẽ đến hoạt động xuất, nhập khẩu của Việt Nam. Đây là
một sân chơi lớn mang tính toàn cầu, khi gia nhập WTO Việt Nam tăng vị thế của
mình trên trường quốc tế, có điều kiện chủ động tham gia chính sách thương mại toàn
cầu, thu hút đầu tư trong và ngoài nước...Gia nhập các tổ chức kinh tế và tham gia các
hiệp định thương mại song phương và đa phương sẽ tạo cơ hội cho Việt Nam phát huy
lợi thế so sánh, giải quyết được các trở ngại trong các lĩnh vực sản xuất là sự hạn chế
về thị trường xuất khẩu.
15


Việc các nước, trong đó có các thị trường lớn như Ca-na-đa, Ốt-xtrây-li-a và Nhật
Bản giảm thuế nhập khẩu về 0% cho hàng nông sản của ta sẽ tạo ra những tác động
tích cực trong việc thúc đẩy kim ngạch xuất khẩu. Theo đó, doanh nghiệp Việt Nam
khi xuất khẩu nông sản sang thị trường các nước thành viên của hiệp định song
phương, đa phương,..sẽ được hưởng cam kết cắt giảm thuế quan rất ưu đãi, giúp mở
rộng thị trường xuất khẩu, tăng cường tiếp cận các thị trường lớn nhất thế giới với ưu
thế đáng kể. Cụ thể, đối với CPTPP, các nước tham gia cam kết xóa bỏ từ 97% – 100%
số dòng thuế nhập khẩu đối với hàng hóa có xuất xứ từ Việt Nam tùy theo cam kết của
từng nước. Gần như toàn bộ hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam vào các nước thành
viên CPTPP sẽ được xóa bỏ thuế nhập khẩu hoàn toàn ngay khi Hiệp định có hiệu lực
hoặc theo lộ trình. EVFTA yêu cầu mở cửa thị trường với gần như 100% dòng thuế sẽ
được cắt giảm thuế quan trong vòng 7 năm. Và ngay sau năm 2020, hơn 85% dòng
thuế sẽ về 0%, chiếm tới 70% kim ngạch xuất khẩu của VN sang EU. Với EVFTA,
toàn bộ sản phẩm xuất khẩu chính, mũi nhọn của VN là nông sản như: gạo, cà phê,
mật ong, chăn nuôi, hoa quả, thủy sản... đều hưởng ưu đãi từ năm đầu.
Như vậy, nhờ có EVFTA và các cam kết cắt giảm thuế quan, cơ hội mở rộng thị
trường xuất khẩu sẽ là lợi thế lớn của ngành nông nghiệp.
 Tăng tính kết nối giữa các doanh nghiệp thông qua việc tham gia chuỗi
cung ứng khu vực và toàn cầu
Các nước CPTPP chiếm 13,5% GDP toàn cầu với tổng kim ngạch thương mại hơn
10.000 tỷ USD, lại bao gồm các thị trường lớn như Nhật Bản, Ca-na-đa, Ốt-xtrây-lia
sẽ mở ra nhiều cơ hội khi chuỗi cung ứng mới hình thành. Tham gia các hoạt động
thưng mại sẽ giúp xu hướng này phát triển ngày càng mạnh mẽ hơn, là điều kiện quan
trọng để nâng tầm trình độ phát triển của nền kinh tế nói chung và nền nông nghiệp
Việt Nam nói riêng, tăng năng suất lao động, tham gia vào các công đoạn sản xuất có
giá trị gia tăng cao hơn, từ đó tạo động lực và sức ép cho doanh nghiệp trong nước đầu
tư sản xuất trong nước theo hướng giảm xuất khẩu nguyên liệu và sơ chế, đầu tư phát
triển chuỗi giá trị và chuỗi cung ứng, tăng cường xuất khẩu sản phẩm chế biến có giá
trị gia tăng cao... Đây là cơ hội rất lớn để nâng tầm nền nông nghiệp Việt Nam trong 5
- 10 năm tới.
 Nâng cao chất lượng sản phẩm
16


Doanh nghiệp Việt Nam cần tuân thủ nghiêm các tiêu chuẩn khắt khe của thị trường
trong khối nhằm đẩy mạnh việc xuất khẩu sang các nước thành viên và tăng tính cạnh
tranh cho sản phẩm. Hàng hóa nông sản của Việt Nam còn phải đối diện với sức ép
cạnh tranh tại “sân nhà” đến từ việc hàng hóa các nước trong hoạt động thương mại
tràn vào thị trường trong nước. Sức ép từ hai phía sẽ tạo động lực cho doanh nghiệp
Việt Nam cải cách mô hình kinh doanh, đầu tư hơn vào dây chuyền sản xuất và nguồn
lực lao động.
Bên cạnh sức ép trực tiếp đến từ cạnh tranh, nền nông nghiệp Việt Nam sẽ hấp thụ
được khoa học kỹ thuật mới thông qua hoạt động đầu tư xuyên quốc gia đi kèm với
khoa học công nghệ và nâng cao trình độ kỹ năng lao động, từ đó thay đổi được cách
làm truyền thống, nâng cao hiệu quả sản xuất và chất lượng của sản phẩm. Việc hội
nhập sâu rộng vào nền kinh tế thế giới còn giúp ngành nông nghiệp Việt Nam tiếp cận
với nguồn nguyên liệu ổn định. Qua đó, giúp đa dạng hóa nguồn cung nguyên liệu đầu
vào cho sản xuất nông nghiệp; nâng cao chất lượng sản phẩm và đáp ứng nhu cầu tiêu
dùng nội địa, tiếp cận tốt hơn với công nghệ, cải thiện năng lực quản lý và nâng cao
hiệu quả sử dụng nguồn lực.
4. Thách thức của toàn cầu hóa đối với hoạt động xuất khẩu nông sản Việt Nam
Bên cạnh rất nhiều cơ hội rộng mở thì toàn cầu hóa cũng đặt ra không ít khó khăn
thách thức cho các doanh nghiệp xuất khẩu nông sản Việt Nam
 Doanh nghiệp phải đối mặt với sự cạnh tranh khốc liệt
- Song song những cơ hội vàng để mở rộng thị trường xuất khẩu nông sản, Việt Nam
vẫn phải đối mặt với không ít thách thức khi hội nhập. Đó là việc gia tăng cạnh tranh
với hàng nhập khẩu do hàng rào thuế dần được cắt giảm. Các quy định về truy xuất
nguồn gốc của các nước nhập khẩu ngày càng chặt chẽ và cao hơn khi giảm thuế...
- Sức ép cạnh tranh là một thách thức lớn đối với nền kinh tế và các doanh nghiệp Việt
Nam bao gồm các doanh nghiệp sản xuất và kinh doanh trong lĩnh vực nông nghiệp.
So với các thành viên khác, Việt Nam có lợi thế về sản xuất nông thủy sản nhiệt đới
với lợi thế sản xuất có khả năng cạnh tranh cao, giá thành thấp, nguồn nguyên liệu dồi
dào, năng suất cao, nguồn nhân lực rẻ hơn. Tuy nhiên, các nhóm mặt hàng nông sản
chế biến Việt Nam sẽ phải đối mặt với các mặt hàng rau quả chế biến phổ biến tại các
17


thị trường mới với mẫu mã đa dạng và chất lượng cao do ngành công nghiệp chế biến
nông sản của ta chưa được phát triển như các thành viên khác.
 Gặp nhiều trở ngại khi tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu, thách thức lớn
trong việc củng cố năng lực cạnh tranh.
- Phần lớn các doanh nghiệp nông nghiệp có quy mô sản xuất nhỏ, nguồn lực (vốn,
con người) hạn chế, hiểu biết về thị trường quốc tế còn hạn chế.
- Công nghệ bảo quản, chế biến nông sản làm cho chất lượng hàng hóa xuất khẩu chưa
đảm bảo tiêu chuẩn và khó tiếp cận những thị trường khó tính, các sản phẩm xuất khẩu
chủ yếu là sơ chế, nhiều doanh nghiệp xuất khẩu vẫn phải qua trung gian là các công
ty đa quốc gia.
- Rất ít sản phẩn nông sản xuất khẩu có thương hiệu và được bảo hộ ở quốc tế
- Kênh hỗ trợ tư vấn doanh nghiệp còn hạn chế, nhất là những tư vấn hỗ trợ liên quan
đến phát triển thị trường, kết nối đầu tư, tiêu chuẩn xuất khẩu, tranh chấp thương
mại… ( đặc biệt là các hiệp hội ngành hàng, chưa có vai trò trong hỗ trợ doanh
nghiệp tiếp cận thị trường xuất khẩu).
- Với việc hội nhập trong xu thế toàn cầu hóa, doanh nghiệp phải đối diện với những
thách thức nội tại như năng lực chế biến chuyên sâu, chưa phát triển mạnh về thương
hiệu.
>> Chính từ những khó khăn nội tại vốn có ấy, toàn cầu hóa đang đặt ra thách thức
không hề nhỏ trong việc củng cố năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp xuất khẩu
nông sản Việt Nam.
 Thách thức trong việc đáp ứng các quy định pháp lí, những yêu cầu đòi hỏi
của thị trường xuất khẩu
- Bên cạnh những thách thức trên, đến từ việc thực thi các hiệp định thương mại, theo
các chuyên gia, ngược lại, khi hàng rào thuế quan được xóa bỏ thì hàng rào kỹ thuật
sẽ nghiêm ngặt và khắt khe hơn. Chính vì vậy, nó cũng đặt ra không ít thách thức đối
với sản xuất tiêu thụ, phân phối nông sản Việt Nam.
- Một trong những thách thức đối với xuất khẩu Việt Nam những tháng cuối năm 2019
là, việc các nước tăng cường áp dụng tiêu chuẩn về an toàn thực phẩm và về bảo vệ
môi trường ngày càng khắt khe như EU siết chặt mức dư lượng thuốc bảo vệ thực vật
18


đối với nông sản nhập khẩu. Mặc dù vấn đề an toàn thực phẩm của nông sản Việt
Nam tuy được cải thiện so với trước đây nhưng chưa thật sự bền vững. Năng lực chế
biến, bảo quản nông sản, công nghiệp phụ trợ đã có bước cải thiện đáng kể nhưng
vẫn chưa đáp ứng được với yêu cầu của nền nông nghiệp sản xuất hàng hóa lớn, sản
phẩm chế biến sâu chiếm tỷ lệ thấp.
- Đáng chú ý, xu hướng bảo hộ mậu dịch ngày càng tăng, một số nước sẵn sàng vi
phạm quy định của WTO để bảo hộ sản xuất trong nước. Nguồn cung toàn cầu tiếp
tục tăng, ngày càng nhiều nước tham gia cung ứng nông sản, trong khi nhiều nước
đẩy mạnh các chương trình, kế hoạch thúc đẩy sản xuất, hướng tới giảm dần phụ
thuộc vào nguồn nhập khẩu dẫn đến cạnh tranh ngày càng mạnh mẽ trong xuất khẩu
hàng hóa nông sản, thủy sản. Do vậy, giá xuất khẩu nông sản không còn là yếu tố
thuận lợi cho tăng trưởng xuất khẩu.
- Việc đáp ứng các quy tắc xuất xứ cũng như các rào cản kỹ thuật, kiểm dịch động thực
vật cũng là vấn đề đáng quan ngại đối với các doanh nghiệp trong ngành hàng này. Ví
dụ như yêu cầu vệ sinh dịch tễ cho nông sản vào thị trường EU rất chặt chẽ. Theo đó,
còn có những yêu cầu tuân thủ an toàn lao động trong quá trình sản xuất kinh doanh.
Tất cả những điều này đòi hỏi các doanh nghiệp Việt phải có một sự đầu tư thỏa đáng
nhằm cải thiện công nghệ, quy trình sản xuất để nâng cao chất lượng sản phẩm. Vì
vậy, nếu xét về đầu tư ngắn hạn, thì đây là một thách thức lớn đối với doanh nghiệp.
Phần 3. Giải pháp thúc đẩy hoạt động xuất khẩu nông sản Việt Nam
3.1. Tổ chức lại sản xuất nhằm nâng cao chất lượng, đảm bảo các yêu cầu an toàn
vệ sinh thực phẩm
- Dựa trên tín hiệu thị trường, quy hoạch lại các vùng sản xuất, nuôi trồng thích hợp, tổ
chức sản xuất điều phối theo nhu cầu xuất khẩu của thị trường. Đẩy mạnh việc cấp mã
số vùng trồng, vùng nuôi. Dần dần số hóa việc cấp và quản lý mã số vùng trồng.
- Xây dựng các trục sản phẩm xuất khẩu chủ lực theo chuỗi giá trị, trong đó lấy doanh
nghiệp làm hạt nhân, liên kết với các chủ thể kinh tế trong vùng sản xuất tập trung có
quy mô phù hợp, tạo ra chuỗi giá trị đồng bộ từ khâu đầu vào đến sản xuất, chế biến và
tiêu thụ; ứng dụng công nghệ cao, bảo đảm năng lực cạnh tranh theo yêu cầu thị
trường ở tất cả các công đoạn. Đẩy mạnh xây dựng các thương hiệu quốc gia cho các
ngành hàng xuất khẩu chủ lực (cà phê, gạo, cá tra, tôm, điều, tiêu, cao su, trái cây) và
các sản phẩm tiềm năng khác.
19


- Đầu tư đổi mới và nâng cao chất lượng máy móc, thiết bị; công nghệ sản xuất; quy
trình sản xuất; phương thức quản trị doanh nghiệp; chất lượng nguồn nhân lực. Ưu tiên
và hỗ trợ cho nghiên cứu, ứng dụng và chuyển giao khoa học - công nghệ nông
nghiệp, tập trung vào các khâu giống, quy trình sản xuất, chế biến, quản lý chuỗi giá
trị. Có chính sách đặc biệt ưu đãi cho phát triển nông nghiệp công nghệ cao, xanh,
sạch, hữu cơ.
- Tăng cường các mối liên kết giữa các khâu sản xuất - vận chuyển - chế biến - tiêu
thụ; giữa doanh nghiệp cung ứng nguyên phụ liệu với doanh nghiệp sản xuất sản phẩm
cuối; giữa nhà nông - nhà nước - nhà khoa học - nhà doanh nghiệp (trong nông
nghiệp); giữa doanh nghiệp trong nước với doanh nghiệp FDI;
- Tăng cường công tác quản lý chất lượng của các doanh nghiệp xuất khẩu: Doanh
nghiệp xuất khẩu là mắt xích quan trọng trong việc đảm bảo hàng hóa xuất khẩu tuân
thủ các tiêu chuẩn và yêu cầu của thị trường sở tại. Các cơ quan có chức năng kiểm
soát chất lượng vệ sinh an toàn thực phẩm cần tăng cường năng lực kiểm tra kiểm
nghiệm để có thể phát hiện sớm những doanh nghiệp không đáp ứng được các yêu cầu
về vệ sinh an toàn thực phẩm, xây dựng các chế tài phù hợp với pháp luật để ngăn
chặn những doanh nghiệp này tham gia vào hoạt động xuất khẩu những mặt hàng có
nguy cơ vi phạm cao. Đồng thời, đây là nhóm theo dõi, giám sát nhập khẩu các cơ
quan chức năng Nhật Bản, Hàn Quốc, Hoa Kỳ nên có thể cân nhắc việc giới hạn số
lượng doanh nghiệp xuất khẩu trên cơ sở lựa chọn những doanh nghiệp có hệ thống
quản lý chất lượng tốt, có năng lực chế biến xuất khẩu.
- Quản lý chất lượng của các hộ gia đình và doanh nghiệp nuôi trồng, xây dựng chuỗi
giá trị khép kín. Bên cạnh công tác quản lý chất lượng của các doanh nghiệp cũng cần
chú trọng đến công tác quản lý chất lượng của các hộ gia đình và doanh nghiệp nuôi
trồng vì đây chính là nguồn cung cấp nguyên liệu cho các doanh nghiệp chế biến xuất
khẩu. Thực tế các vụ việc vướng mắc liên quan đến vấn đề vệ sinh kiểm dịch của hàng
nông sản xuất khẩu cho thấy, trong nhiều trường hợp, mặc dù quy trình sản xuất của
các doanh nghiệp chế biến xuất khẩu tuân thủ chặt chẽ các quy chuẩn liên quan nhưng
hàng hóa vẫn không đạt các tiêu chí về vệ sinh kiểm dịch do ngay từ đầu vào, nguyên
liệu đã có dư lượng hóa chất vượt quá mức cho phép. Vì vậy, cần phải kiểm soát theo
chuỗi cung ứng ngay từ khâu cung cấp đầu vào cho sản xuất cho đến xuất khẩu mới là
giải pháp bền vững.
20


3.2. Chính sách hỗ trợ của Nhà nước
- Nhà nước đứng ra xây dựng hệ thống tìm hiểu thông tin thị trường tại các nước, huy
động hệ thống tham tán thương mại, kết nối với các tổ chức chuyên nghiên cứu thị
trường ở các nước xuất khẩu. Doanh nghiệp muốn sử dụng thông tin phải đóng phí để
đảm bảo hệ thống có thể tự vận hành, đáp ứng nhu cầu của doanh nghiệp mà không tạo
gánh nặng cho ngân sách.
- Đổi mới cách thức làm xúc tiến thương mại, trong điều kiện ngân sách hạn hẹp có thể
giảm bớt tỷ lệ chi đoàn đi, tăng tỷ lệ chi cho hiệp hội, doanh nghiệp đầu tàu có kế
hoạch dài hơi thâm nhập một thị trường mới, chi đi gặp đối tác để trực tiếp đàm phán,
ký kết hợp đồng, hỗ trợ doanh nghiệp xây dựng và bảo vệ thương hiệu (sở hữu trí tuệ).
- Hỗ trợ doanh nghiệp giảm chi phí và hạ giá thành thông qua:
+ Phát triển hạ tầng cơ sở và logistics
+ Cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia.
- Hỗ trợ doanh nghiệp tiếp cận được đất đai, nhất là các dự án đầu tư vào chế biến sâu
sản phẩm, cụm liên hoàn sản xuất - sơ chế - bảo quản - chế biến công nghiệp để giảm
tổn thất sau thu hoạch.
- Đề ra chính sách hỗ trợ doanh nghiệp nhập khẩu công nghệ sản xuất hiện đại như
thuế nhập khẩu nhà kính, cập nhật các loại máy móc hiện đại phục vụ sản xuất - kinh
doanh nông sản (máy chiếu xạ, máy xử lý hơi nước nóng) trong danh sách máy móc
được hưởng ưu đãi thuế nhập khẩu.
- Chính phủ tăng cường đàm phán để tiếp tục mở cửa thị trường cho các nông sản mới,
đặc biệt là nhóm rau, hoa quả đang có nhiều tiềm năng.
KẾT LUẬN
Trước xu hướng toàn cầu hóa về kinh tế như hiện nay, sự cạnh tranh trên các lĩnh vực
ngày càng trở nên khốc liệt hơn, nhất là trong lĩnh vực nông nghiệp. Việt Nam là một
nước nông nghiệp, trình độ sản xuất còn chưa cao, nên càng phải đối diện với những
nguy cơ mất thị trường ngay trên sân nhà. Để nắm được cơ hội và vượt qua những
thách thức, cần phải có một số giải pháp hiệu quả để giúp nền nông nghiệp Việt Nam
nắm bắt cơ hội, vượt qua thách thức mới có thể phát triển nhanh và bền vững.
21


____________________________

BẢNG ĐÁNH GIÁ THÀNH VIÊN – NHÓM 1
ST
T
1
2
3
4
5
6
7
8
9
10

Họ và tên

Nhiệm vụ

Đoàn Đức An
Đỗ Thị Lan Anh
Hoàng Thị Quế Anh
Nguyễn Quỳnh Anh
K54F4
Nguyễn Quỳnh Anh
K54N7
Nguyễn Thị Phương Anh
K54F2
Nguyễn Thị Phương Anh
K54N4
Nguyễn Vân Anh
(Nhóm trưởng )

Lời mở đầu + kết luận
Thuyết tình
Lý thuyết về hoạt động xuất khẩu
Lý thuyết về toàn cầu hóa

Phạm Thị Ngọc Anh
Sái Phương Anh

Làm slide
Thuyết trình

Cơ hội và thách thức của toàn cầu hóa đối
với hoạt động xuất khẩu nông sản Việt Nam
Giải pháp thúc đẩy hoạt động xuất khẩu
nông sản Việt Nam
Thực trạng và khó khăn của hoạt động xuất
khẩu nông sản Việt Nam
Tổng hợp word

22

Đánh giá



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×