Tải bản đầy đủ

Tìm hiểu về hoạt động gia công quốc tế đối với ngành may mặc tại việt nam hiện nay

MỤC LỤ

LỜI MỞ ĐẦU......................................................................................2
I, LÝ THUYẾT CHUNG VỀ GIA CÔNG QUỐC TẾ..............................3
1,KHÁI NIỆM, ĐẶC ĐIỂM ................................................................3
2, TÁC DỤNG CỦA PHƯƠNG THỨC GIA CÔNG QUỐC TẾ.............3
3, CÁC LOẠI GIA CÔNG QUỐC TẾ VÀ HỢP ĐỒNG GIA CÔNG
QUỐC TẾ............................................................................................3
II, CƠ SỞ THỰC TIỄN........................................................................5
1, THỰC TRẠNG GIA CÔNG QUỐC TẾ NGÀNH DỆT MAY VIỆT
NAM....................................................................................................5
2. LIÊN HỆ TẠI CÔNG TY TNHH SẢN XUẤT THƯƠNG MẠI DỊCH
VỤ T.V.S SÀI GÒN...........................................................................10
III, GIẢI PHÁP ĐỂ PHÁT TRIỂN HOẠT ĐỘNG GIA CÔNG QUỐC TẾ
CHO NGÀNH DỆT MAY VIỆT NAM.................................................15
1. NÊU PHƯƠNG HƯỚNG PHÁT TRIỂN CHO NGÀNH TRONG
NHỮNG NĂM TỚI............................................................................15
2. ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP ĐỂ PHÁT TRIỂN HOẠT ĐỘNG GIA CÔNG
QUỐC TẾ NGÀNH DỆT MAY VIỆT NAM.........................................16
KẾT LUẬN........................................................................................19


1


LỜI MỞ ĐẦU
Ngành Dệt may là một ngành có truyền thông từ lâu ở Việt Nam.
Đây là một ngành quan trọng trong nền kinh tế của nước ta vì nó
phục vụ nhu cầu thiết yếu của con người, giải quyết được nhiêu việc
làm cho xã hội. Dệt may Việt Nam đã trở thành một mắt xích trong
chuỗi giá trị toàn cầu ngành dệt may nhưng mới chỉ dừng lại ở khâu
gia công, đặt mình vào vị trí đấy của chuỗi giá trị toàn cầu. Chính vì
thế khi Việt Nam thâm nhập ngày càng sâu vào thị trường thế giới,
sản phẩm dệt may của Việt Nam dù được xuất đi rất nhiều nơi và
Việt Nam có tên trong top 10 nước xuất khẩu dệt may lớn nhất thế
giới nhưng giá trị thu về lại rất thấp.Đứng trước tình hình đó, các
doanh nghiệp dệt may Việt Nam cần định hướng phát triển trong
tương lai như thế nào? Tiếp tục xuất khẩu hàng gia công quốc tế hay
cần tìm con đường mới để thoát khỏi kiếp gia công lâu nay ?
Để tìm hiểu rõ hơn về vấn đề gia công quốc tế nói chung và gia
công

may

mặc



Việt Nam nói riêng, nhóm 6 mình chọn đề tài thảo luận: “ Tìm hiểu
về hoạt động gia công quốc tế đối với ngành may mặc tại Việt Nam
hiện nay”. Để hoàn thành bài thảo luận, nhóm 6 đã nhận được sự
giảng dạy và chỉnh sửa bài nhiệt tình của Thầy Vũ Anh Tuấn. Mặc dù
có nhiều cố gắng song bài không thể tránh được những sai sót,
chúng em rất mong có thêm sự đóng góp của thầy giáo để bài thảo
luận được hoàn chỉnh.

2


I, LÝ THUYẾT CHUNG VỀ GIA CÔNG QUỐC TẾ.
1,KHÁI NIỆM, ĐẶC ĐIỂM .
Gia công quốc tế(GCQT) là phương thức gia công quốc tế trogn


đó bên đặt gia công nước ngoài cung cấp máy móc, thiết bị, nguyên
liệu, phụ kiện hoặc bán thành phẩm để bên nhận gia công trong
nước tiến hành tôt chức quá trình sản xuất thành phẩm theo yêu cầu
của bên đặt gia công.Toàn bộ sản phẩm làm ra bên nhận gia công sẽ
giao lại cho bên đặt gia công để nhận về 1 khoản thù lao theo thỏa
thuận.Gia công quốc tế là hình thức gia công thương mại mà bên gia
công hoặc bên đặt gia công là thương nhân nước ngoài.
2, TÁC DỤNG CỦA PHƯƠNG THỨC GIA CÔNG QUỐC TẾ.
 Tác dụng với bên đặt gia công
 Hạ thấp giá thành sản phẩm, do đó làm tăng sức mạnh cạnh
tranh trên thị trường quốc tế
 Có thể điều chỉnh cơ cấu nghành nghề ở nước sở tại
 Tác dụng với bên gia công
 Giảm tải dư thừa lao động hay thất nghiệp,phát triển nguồn
nhân lực, tăng thu nhập
 Phát triển nguồn lao động, tạo cơ hội việc làm và phát triển
kinh

tế

Thu hút sự đầu tư kĩ thuật hiện đại và kinh nghiệm quản lý tiên tiến
của nước ngoài, thúc đẩy kinh tế hướng xuất khẩu phát triển
3, CÁC LOẠI GIA CÔNG QUỐC TẾ VÀ HỢP ĐỒNG GIA CÔNG
QUỐC TẾ
 Các loại gia công quốc tế
 Bên đặt gia công theo nguyên liệu hoặc bán thành phẩm cho
bên nhận gia công và sau thời gian sản xuất, chế tạo, sẽ thu hồi
thành phẩm, khi đó quyền sở hữu nguyên liệu chuyển từ bên đặt gia
công sang bên nhận gia công

3


 Bên đặt gia công bán đứt nguyên liệu cho bên nhận gia công
và sau thời gian sản xuất sẽ thu hồi thành phẩm, khi đó quyền sở
hữu nguyên liệu chuyển từ bên đặt gia công sang bên nhận gia công
 Ngoài ra còn có hình thức kết hợp, bên đặt gia công chỉ giao
những nguyên liệu chính còn bên nhận gia công cung cấp nguyên
vật liệu phụ
 Theo giá thưc tế: bên đặt gia công tính toán toàn bộ chi phí
thực thế của mình với tiền thù lao gia công cho bên nhận gia công
 Theo giá thị trường: xác định giá định mức cho mỗi sản
phẩm, bao gồm chi phí định mức và thù lao định mức
 Hợp đồng gia công quốc tế
 Bản chất là hợp đồng bán sức lao động( nhà máy kí kết với
nước ngoài, công ty xuất nhập khẩu kí kêt hợp đồng…)
 Những nội dung cơ bản của hợp đồng:
o

Mục đích của hợp đồng

o

Quy định về thành phẩm

o

Quy định về nguyên vật liệu

o

Quy định về giá cả gia công

o

Quy định về nghiệm thu

o

Quy định về thanh toán

o

Quy định về giao hàng

o

Quy định về vận chuyển

o

Quy định về bảo hiểm.

 Những vấn đề cần lưu ý khi áp dụng phương thức gia công
quốc tế
 Khi phát triển nghiệp vụ thương mại quốc tế phải có quan
điểm toàn cục, chú ý xử lý mối quan hệ xuất khẩu thông thường

4


 Xác định hợp lý chi phí lao động, tăng cường hạch toán kinh
tế, xem xét chi phí lao động phù hợp, tham khảo mức chi phí lao
động của thị trường nước ngoài để cân nhắc hiệu quả
 Dần dần mở rộng tỷ trọng sử dụng nguyên liệu, linh kiện
nước mình sản xuất ở những khu vực có điều kiện, dần quá độ sang
tự kinh doanh xuất khẩu
 Nâng cao năng lực của doanh nghiệp, nâng cao năng suất lao
động, tăng khả năng cạnh tranh về mặt chất lượng, cần kế hoạch
nâng cao trình độ kĩ thuẩn của nghiệp vụ gia công.

5


II, CƠ SỞ THỰC TIỄN
1, THỰC TRẠNG GIA CÔNG QUỐC TẾ NGÀNH DỆT MAY VIỆT
NAM
a, Thực trạng chung
Hiện nay, hoạt động gia công quốc tế đang là hoạt động chính
trong ngành dệt may của Việt Nam trong nhiều năm qua. Từ nhiều
năm qua, hàng dệt may của Việt Nam xuất khẩu chủ yếu theo hình
thức gia công nước ngoài (xuất gia công) và xuất hàng sản xuất từ
nguyên liệu nhập khẩu (xuất sản xuất xuất khẩu).
Dệt may là một trong những ngành xuất khẩu mũi nhọn, đóng
góp khoảng 16% trong tỷ trọng xuất khẩu của cả nước, trở thành
một ngành xuất khẩu chủ lực của cả nước. Năm 2017, kim ngạch
xuất khẩu dệt may của Việt Nam đạt 31 tỷ USD, Nếu trừ đi lượng
nguyên phụ liệu nhập khẩu phục vụ làm hàng nội địa, thì xuất siêu
15,5 tỷ USD – mức cao nhất từ trước tới nay.
Năm 2018, ngành dệt may đặt mục tiêu xuất khẩu đạt 33,5 tỷ
USD; tập trung đầu tư tái cơ cấu nội bộ ngành, áp dụng công nghệ
tiên tiến để tự cân đối dần các khâu, nâng cao năng suất, chất lượng
sản phẩm; chuyển dịch sản xuất theo vùng lãnh thổ; tăng cường hợp
tác, liên doanh, liên kết giữa doanh nghiệp dệt may trong nước với
nhau, doanh nghiệp trong nước với đầu tư nước ngoài; khai thác thị
trường truyền thống song song khai thác thị trường mới; đẩy mạnh
hàng FOB, ODM,…
Ngành dệt may phát triển, đang nằm trong top 5 nước xuất khẩu
nhiều nhất trong ngành dệt may thế giới. Nhiều công ty Ấn Độ đã
đầu tư vào lĩnh vực dệt may Việt Nam. Ngược lại, các DN dệt may
Việt Nam có thể phát triển đầu tư sản xuất hàng may sẵn ngay tại
Ấn Độ để cung ứng cho thị trường 1,3 tỷ dân nước này. Điểm nghẽn
của ngành dệt may Việt Nam là nguyên phụ liệu.

6


Xuất khẩu hàng may mặc của Việt Nam thời gian tới sẽ gặp một
số khó khăn, do Mỹ đang thắt chặt hơn các quy định, quy chuẩn về
an toàn các sản phẩm nhập khẩu nhằm giảm thâm hụt thương mại.
Cùng với đó, mức độ cạnh tranh giữa các nhà cung cấp hàng may
mặc vào thị trường Mỹ cũng sẽ gay gắt hơn, không chỉ về chất lượng
mà còn về khả năng giao hàng, đáp ứng đơn hàng cũng như việc
triển khai các hoạt động sản xuất mang tính bền vững…
Lĩnh vực sản xuất sử dụng nhiều lao động như dệt may thì nguồn
nhân lực chất lượng cao giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong việc
nâng cao năng suất, chất lượng. Nguồn nhân lực chất lượng cao giúp
doanh nghiệp khai thác được các khâu có giá trị gia tăng cao trong
chuỗi giá trị toàn cầu của ngành dệt may. Nhưng thực trạng hiện nay
có đến 75% lao động trong lĩnh vực này chưa qua đào tạo hoặc chỉ
được đào tạo dưới 3 tháng. Cả nước hiện có 19 trường Cao đẳng, 19
trường Đại học và 3 Viện có chương trình đào tạo liên quan chuyên
ngành công nghệ dệt, may hoặc thiết kế thời trang.
Thúc đẩy xuất khẩu hàng dệt may vào thị trường Australia trong
bối cảnh CPTPP. Theo cam kết trong Hiệp định CPTPP, Úc sẽ giảm
thuế nhập khẩu về 5% ngay trong năm đầu tiên và về 0% từ năm thứ
tư kể từ ngày có hiệu lực đối với hầu hết sản phẩm may mặc thuộc
nhóm HS 6203, HS 6204 và HS6206. Hiện nay, Úc có xu hướng
chuyển sang nhập khẩu và đặt gia công tại Việt Nam do giá nhân
công rẻ hơn với Trung Quốc kèm theo mức thuế quan ưu đãi. Việt
Nam phải đối mặt sự cạnh tranh lớn mạnh đền từ “gã khổng lồ”
Trung Quốc khi thị phần may mặc của nước này tại Úc lên tới 60%.
Nguyên nhân chính là, các doanh nghiệp Trung Quốc tiếp cận thị
trường Úc sớm hơn doanh nghiệp Việt Nam. Ngoài Trung Quốc, Ấn Độ
cũng đang tích cực thâm nhập vào thị trường này.
Việc tham gia CPTPP sẽ tạo lợi thế vượt trội cho Việt Nam mở
rộng và khai thác thị trường với kim ngạch xuất khẩu dự kiến đạt 4,8
tỷ USD trong năm 2018 (tăng trưởng 10,5% so với năm 2017). Các
7


ngành như dệt may, da giày và sử dụng nhiều lao động của Việt Nam
vẫn được lợi.
b. Một số thực trạng xảy ra trong ngành
 Gian dối gia công: Trong quá trình gia công xuất hiện những
sản phẩm “ca ba” làm thêm ngoài luồng gây tổn hại không nhỏ tới
sản xuất kinh doanh của ngành dệt may. Dù không phải là hàng giả,
hàng nhái nhưng những sản phẩm đó đôi khi đè nén cả hàng chính,
gây ảnh hưởng không nhỏ tới uy tín gia công của nền kinh tế lao
động rẻ như Việt Nam.
 Sâu nở thời tự do: Trong thời đại công nghệ phát triển như
hiện nay thì chẳng khó khăn gì để bắt chước, copy ra những sản
phẩm giả ngỡ như thật. Đây chính là nguyên nhân dẫn đến việc
nhiều nhà thầu phụ gia công thừa ra số lượng hàng đặt từ các hãng
lớn để tuồn ra ngoài kiếm lời. Bỏ mặc những thiệt hại mà công ty
chính ngạch phải hứng chịu từ việc hàng hóa “ca ba” phá giá trên thị
trường.
 Tuột mất quyền chủ động: Chính hãng phải sẵn sàng từ bỏ
quyền kiểm soát trong vấn đề sở hữu trí tuệ, bí kíp nhà nghề do vấn
nạn ca ba khiến cho nhiều nhà đầu tư nước ngoài nản lòng.
c, Thuận lợi
 Ngành dệt may Việt Nam được đánh giá là ngành có lợi thế
so sánh cao nhờ các yếu tố:
 Vị trí địa lý là điều kiện giao lưu hàng hóa. Khí hậu thuận lợi
cũng góp phần cho các nghề trồng dâu, nuôi tằm, dệt lụa, cho ra đời
các sản phẩm chất lượng cao.
 Khả năng đổi mới thiết bị công nghệ: trang thiết bị ngành
may đã có những thay đổi đáng kể với các thiết bị công nghệ mới
của các nước tiên tiến, có thể sản xuất các mặt hàng chất lượng
quốc tế.

8


 Các chính sách hỗ trợ của chính phủ: ngành dệt may với đặc
điểm có hàm lượng lao động lớn và tỉ lệ sản phẩm sản xuất cao,
được xếp vào lĩnh vực khuyến khích đầu tư phát triển.
 Khả năng cạnh tranh: xuất phát từ những lợi thế trên, mặc dù
sản phẩm dệt may Việt Nam hầu như chưa được biết đến trên thị
trường thế giới nhưng sản phẩm may xuất khẩu Việt Nam được đánh
giá cao ở nhiều phương diện. Chất lượng sản phẩm tốt và ổn định,
thời gian giao hàng được xem vào loại tốt nhất so với các nước châu
Á.
 Cuộc chiến thượng mại Mỹ - Trung diễn ra đem lại cơ hội dịch
chuyển đơn hàng từ Trung Quốc sang Việt Nam: Hàng dệt may Việt
Nam đứng thứ 2 thị phần nhập khẩu tại Mỹ, chỉ sau Trung Quốc. Vì
vậy, ngành dệt may Việt nam được kì vọng sẽ hưởng lợi từ sự dịch
chuyển đơn hàng khi hàng dệt may Trung Quốc đang bị áp thuế 25%.
Việt Nam sẽ có lợi thế lớn nhờ chi phí nhân công giá rẻ và năng lực
sản xuất mạnh.
 Từ 2019, Việt Nam bắt đầu thực thi nhiều hiệp định thương
mại tự do (FTA) thế hệ mới như Hiệp định Đối tác toàn diện và tiến
bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP), Hiệp định thương mại tự do Việt
Nam - EU (EVFTA),… sẽ giúp ngành dệt may có thêm nhiều cơ hội để
tăng trưởng xuất khẩu. Song, bên cạnh các cơ hội được hưởng ưu đãi
về thuế quan, đa dạng hóa thị trường và sản phẩm xuất khẩu, các
DN cũng phải đối diện với nhiều thách thức khi các sản phẩm hàng
hóa từ các nước nội khối tràn vào ngày càng nhiều, các đối thủ cạnh
tranh có tiềm lực về tài chính, công nghệ, trình độ quản trị nhân lực,

d, Khó khăn
 Đại dịch COVID -19 đang làm thay đổi cả chuỗi sản xuất của
ngành dệt may toàn cầu. Những nền công nghiệp gia công và xuất
khẩu dệt may hàng đầu thế giới như Ấn Độ, Bangladesh hay Việt
9


Nam đang phải chịu những tổn thương liên tiếp khi nguồn cung
nguyên phụ liệu lớn nhất thế giới là Trung Quốc và nguồn cầu lớn
nhất thế giới là châu Âu và Mỹ đang nằm trong tình trạng đóng cửa.
Tại Việt Nam, theo báo cáo của Hiệp hội Dệt may, 100% doanh
nghiệp sản xuất hàng may mặc đều bị ảnh hưởng do đại dịch bệnh
COVID-19, trong đó khoảng 70% doanh nghiệp đã cắt giảm nhân sự
trong tháng 3 và có thể 80% doanh nghiệp sẽ phải cắt giảm nhân sự
trong tháng 4 và tháng 5.
 Các mặt hàng dệt may của Việt Nam phải cạnh tranh trực
diện với các sản phẩm phổ thông khác từ các nước có lợi thế về gia
công nhưng rất mạnh về nguyên phụ liệu như: Trung Quốc, Pakistan,
Srilanca, Ấn Độ...
 Nguyên vật liệu ngành vẫn còn phải nhập khẩu và ngành dệt
có tốc độ tăng trưởng chậm hơn ngành may nên ngành may không
có sự chủ động trong sản xuất kinh doanh. Tình trạng này còn làm
ảnh hưởng tới các đơn đặt hàng về thời gian, chất lượng và hiệu quả
kinh tế tỷ lệ nội địa hóa các sản phẩm ngành may còn thấp và hiệu
quả kinh tế chưa cao.
 Giá lao động rẻ nhưng chất lượng lao động không cao, đặc
biệt lao động có trình độ chuyên môn thấp chiếm 60% nên nâng suất
lao động thấp, so với các nước trong khu vực thì năng suất lao động
của ngành dệt may nước ta chỉ bằng 2/3. Lương thấp gây ra tình
trạng di chuyển lao động trong cùng ngành hoặc ra khỏi ngành làm
cho việc đào tạo chuyên môn gặp nhiều khó khăn. Ngoài ra công ty
có khả năng xuất khẩu hàng may mặc và gia công là chủ yếu chứ
không thực hiện xuất khẩu trực tiếp.
 Khả năng tự thiết kế còn yếu, phần lớn là làm theo mẫu mã
đặt hàng của phía nước ngoài để xuất khẩu

10


 Việc xá bỏ hạn ngạch cũng vô hình chung làm cho các doanh
nghiệp Việt Nam phải đối đầu với Trung Quốc, Ấn độ trong việc xuất
khẩu hàng hóa sang các nước WTO
 Do sức ép của quá trình hội nhập tạo nên một hiện tượng tâm
lý, vừa bất an vừa buông xuôi. Bất an do chúng ta không biết nhiều
về các đối thủ cạnh tranh, vì việc kinh doanh quốc tế không được
chú trọng
 Hiện nay các chính sách hỗ trợ của nhà nước không còn, các
công ty dệt may phải tự mình đối mặt với các biến động của thì
trường trong và ngoài nước.
 So với cơ hội thì trong xu hướng toàn cầu hoá và tự do hoá
thương mại, gia công quốc tế ngành dệt may Việt Nam cũng gặp
không ít thách thức. Khi mà hoạt động gia công may mặc Việt Nam
đang phải đương đầu với những đối thủ trên sức mình, Việt Nam mất
lợi thế cạnh tranh so với các nước xuất khẩu (cùng trong Top 4) là Ấn
Độ và Banglades hay cả nước láng giềng Trung Quốc.
 Doanh nghiệp dệt may Việt Nam vừa nhỏ về quy mô, vừa
thiếu tiềm lực tài chính, công nghệ và kỹ thuật, nên năng suất lao
động bình quân thấp so với các nước trong khu vực.
 Với thách thức từ cuộc chiến thương mại Mỹ - Trung, đó là khi
Mỹ áp thuế cao đối với hàng dệt may Trung Quốc sẽ xuất hiện xu
hướng chuyển tải bất hợp pháp, gian lận xuất xứ của các doanh
nghiệp Trung Quốc sang Việt Nam. Từ đó càng khiến cho gia công
dệt may Việt Nam càng đối diện với thách thức lớn hơn trong xây
dựng thương hiệu và uy tín tại các thị trường lớn.
 Ngoài ra, nếu không kiểm soát tốt những thiết bị, công nghệ
lạc hậu Trung Quốc có thể di chuyển sang Việt Nam. Từ đó càng
khiến cho sự đuổi kịp về công nghệ tiên tiến so với các đối thủ gia
công dệt may khác càng chậm chạp và có thể làm mất hẳn lợi thế.

11


 Căng thẳng thương mại Mỹ-Trung cũng ảnh hưởng tới tỷ giá
giữa các đồng tiền, giá hàng hóa gia công tại Việt Nam cao hơn so
với một số nước trong khu vực
 Trong quá khứ, lao động trong lĩnh vực dệt may của Việt Nam
từng được đánh giá cao ở ba điểm là sự khéo léo, chi phí và số
lượng. Nhưng hiện nay, nhiều công đoạn đòi hỏi sự khéo léo thì máy
móc có thể làm được, giá lao động Việt Nam đã không còn rẻ trong
so sánh với một số nước khác, lực lượng lao động bổ sung giảm do
dân số già đi. Đây làm một trong những điểm đáng quan ngại.Cùng
với đó là tình trạng người lao động thường xuyên nhảy việc, gây xáo
trộn lực lượng lao động. Tình trạng hay nhảy việc làm cho thách thức
về đào tạo và bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn cho nhân
công càng lớn hơn.
2. LIÊN HỆ TẠI CÔNG TY TNHH SẢN XUẤT THƯƠNG MẠI
DỊCH VỤ T.V.S SÀI GÒN
Mã số thuế: 0312601077
Địa chỉ: 45 Đường TTN08, Khu phố 5, Phường Tân Thới Nhất,
Quận 12, Hồ Chí Minh
Được thành lập 27/12/2013 và chính thức hoạt động từ
1/1/2014 hiện giờ có 250 công nhân, chuyên may gia công và FOB
các loại hàng đồng phục và thời trang cho thị trường Nhật- Hàn
Quốc- Mỹ.
Ngành nghề kinh doanh chủ yếu của công ty là: may xuất khẩu
theo đơn đặt hàng, may xuất khẩu thời trang nữ. T.V.S Sài Gòn là
đơn vị chuyên May gia công & FOB các mặt hàng xuất khẩu bao
gồm: Quần áo đồng phục cao cấp: bệnh viện, nhà máy, văn phòng,
nhà hàng,.. Quần áo thời trang đa dạng: quần short, áo jackets, áo
sơ mi, áo coat,.. Các nhãn hàng đang gia công: Adabat, Rosasen,
EnsuiteVictorian, Duskin, Munsingwear,.
Hoạt động chi tiết đối với mặt hàng được đặt gia công toàn bộ
sẽ bao gồm: bên công ty đặt gia công khi đặt hàng sẽ gửi kiểu mẫu ,
12


màu sắc, yêu cầu chi tiết đối với từng mặt hàng ( đối với đồng phục
của bệnh viện thì có yêu cầu riêng về áo y tá, áo bác sĩ, quần y tá và
bác sĩ ) cho công ty. Rồi sau đó bên T.V.S Sài Gòn sẽ thực hiện đơn
hàng đó với nguyên phụ liệu tất cả từ bên mình và sẽ xuất khẩu sản
phẩm cuối cùng.
Hoạt động đối với việc gia công cho các nhãn hàng Adabat,
Rosasen... thì bên T.V.S chỉ thuần sản xuất với đội ngũ nhân viên
nhân viên của mình, còn từ nguyên phụ liệu để sản xuất thì do bên
đặt gia công cung cấp và dĩ nhiên kiểu dáng, mẫu mã, chất lượng,
yêu cầu vẫn là do bên đặt gia công đề ra phù hợp với tiêu chuẩn của
nhãn hàng. Khâu cuối cùng của quy trình sản xuất của công ty sẽ là
kiểm tra chất lượng rồi ủi sản phẩm. Sau khi hoàn thành đơn hàng
bên T.V.S sẽ giao hàng chủ yếu với điều kiện FOB.
Công ty được biết đến rộng rãi với tiêu chí Chất Lượng Cao –
Giá cả Cạnh Tranh – Giao Hàng Đúng Thời Gian nên rất uy tín trên thị
trường nội địa và quốc tế nói chung.
HỢP ĐỒNG GIA CÔNG ĐẶT HÀNG
(Số: 01/HĐGCĐH)
 Căn cứ luật thương mại số 36/2015/QH11 ngày 14/06/2005
và luật dân sự số 33/2015/QH11 ngày 14/06/2005 của Quốc hội nước
CHXHCN Việt Nam
 Căn cứ vào khả năng và nhu cầu SXKD của hai bên
Hôm nay ngày 04 tháng 07 năm 2020, chúng tôi gồm có:
Bên A( bên đặt hàng): Công ty TNHH ShinHwa
 Địa

chỉ:

220-5-216 namsung-dong

shi, Gyeongsangnam-do
 Email: ltdshinhwa@gmail.com
 Số điện thoại: 82- 55- 2343321
 Fax: 82- 55- 2343321
 Mã số thuế: 0213270206
13

happo-gu

masan-


 Tài khoản số: 030214562
 Do ông: Lee Jong Suk giữ chức vụ phó giám đốc công ty đại
diện
Bên B(bên sản xuất gia công): Công ty TNHH Sản Xuất
Thương Mại Dịch Vụ T.V.S Sài Gòn
 Địa chỉ: 45 Đường TTN08, Khu phố 5, Phường Tân Thới Nhất,
Quận 12, Hồ Chí Minh
 Email: letuan.tvssaigon@gmail.com
 Số điện thoại: (028) 62558586
 Fax: (028) 62558586
 Mã số thuế: 0312601077
 Tài khoản số: 21510001230255
 Do ông: Lê Tuấn giữ chức giám đốc công ty đại diện

14


Hai bên thống nhất thỏa thuận với nội dung hợp đồng như sau:
Điều 1: Đối tương của hợp đồng
Tên sản phẩm hàng hóa cần sản xuất:
 Hàng hóa bao gồm đồng phục cho công nhân nhà máy sản
xuất của công ty trách nhiệm hữu hạn ShinHwa, bao gồm:
Hàng hóa
Áo bảo hộ
Quần bảo

Mã HS

Số lượng

Giá FOB

Số

61130090
62103040

(chiếc)
1500
1500

(USD)
85
100

tiền( USD)
127,500
150,000

hộ
tổng

277,500

 Phẩm chất hàng hóa: các lớp vải phải có bề mặt nhẵn, không bị
xù hay sổ chỉ. Đồ bảo hộ cần đúng tiêu chuẩn, rộng rãi, thoáng mát,
phù hợp với tính chất làm việc trong nhà máy của công nhân.
Điều 2: Nguyên liệu chính và phụ:
 Tên nguyên liệu: Vải kaki. Số lượng 10,000m. Chất lượng: vải
kaki Hàn Quốc dày dặn, có độ cứng, dày nhưng vẫn co dãn
 Tên phụ liệu: chỉ may : 20,000 cuộn chỉ to
Dây kéo: 3000 dây kéo áo, 3000 dây kéo quần
 Thời gian giao: 3 ngày kể từ ngày kí kết hợp đồng. Tại cảng Hải
Phòng, Việt Nam
 Trách nhiệm bảo quản: Bên B chịu mọi trách nhiệm về số lượng,
chất lượng các nguyên liệu do bên A cung ứng và phải sử dụng đúng
loại nguyên liệu đã giao vào sản xuất sản phẩm
Điều 3: Nghĩa vụ của bên A và bên B
Bên A có nghĩa vụ:
 Cung cấp nguyên vật liệu theo đúng số lượng, chất lượng, thời
hạn và địa điểm cho bên B, trừ trường hợp có thỏa thuận khác; cung
cấp các giấy tờ cần thiết liên quan đến gia công
 Chỉ dẫn cho bên B thực hiện hợp đồng

15


 Chịu trách nhiệm đối với tính hợp pháp về quyền sở hữu trí tuệ
của hàng hóa gia công, nguyên liệu, vật liệu, máy móc, thiết bị dung
để gia công chuyển cho bên B
Bên B có nghĩa vụ:
 Bảo quản nguyên vật liệu do bên A cung cấp
 Báo cho bên A biết để đổi nguyên vật liệu khác, nếu nguyên
vật liệu không đảm bảo chất lượng;
 Giao sản phẩm cho bên A đúng số lượng, chất lượng, phương
thức, thời hạn và địa điểm đã thỏa thuận
Điều 4: Thời gian sản xuất và giao sản phẩm:
 Bên B bắt đầu sản xuất từ ngày: sau 7 ngày bên A giao các
nguyên vật liệu
 Trong quá trình sản xuất bên A có quyền kiểm tra và yêu cầu B
sản xuất theo đúng mẫu sản phẩm đa thỏa thuận bắt đầu từ ngày
đưa nguyên liệu vào sản xuất
 Thời gian giao nhận sản phẩm: sau 37 ngày kể từ ngày bên B
nhận được nguyên vật liệu từ A
 Bên B giao hàng cho A trong vòng 10 ngày từ khi phát hành L/C
 Cảng bốc hàng: cảng Hải Phòng, Việt Nam
 Cảng dỡ hàng: cảng Busan, Hàn Quốc
Điều 5: Thanh toán:
 Thanh toán bằng L/C không hủy ngang trả ngay 100% trị giá
hóa đơn cho người bán
 Người hưởng lợi: Công ty trách nhiệm hữu hạn ShinHwa
 Ngân hàng mở L/C: ngân hàng Hàn Quốc
 Tài khoản số: 030214562
 Địa

chỉ:

312-4-112- namdong

happo-gu

shi, Gyeongsangnam-do
 Người mở L/C: ông Lee Jong Suk
Điều 6: Trách nhiệm do vi phạm hợp đồng
16

masan-


 Vi phạm về chất lượng: bên B phải làm lại, giảm giá, sửa chữa,
bồi thường nguyên vật liệu,...
 vi phạm số lượng: nguyên vật liệu hư hỏng phải bồi thường
nguyên vật liệu theo giá hiện thời
 vi phạm nghĩa vụ thanh toán: Bồi thường theo tỉ lệ lãi suất của
ngân hàng…

17


Điều 7: Thủ tục giải quyết tranh chấp hợp đồng:
Hai bên cần phải chủ động thông báo cho nhau biết tiến độ
thực hiện hợp đồng, nếu có vấn đề bất lợi phát sinh các bên kịp thời
báo cho nhau biết và chủ động bàn bạc giải quyết trên cơ sở thương
lượng đảm bảo hai bên cùng có lợi
trường hợp có vấn đề tranh chấp không tự thương lượng được thì
mới khiếu nại ra Tòa án
Điều 8: Các thỏa thuận khác:
Điều kiện cơ sở giao hàng trong hợp đồng được dẫn chiếu theo
Incoterm 2010 các điều khoản đảm bảo hợp đồng được quy định
trong luật thương mại 2005
Điều 9: Hiệu lực của hợp đồng
 Hợp đồng có hiệu lực sau 7 ngày kể từ ngày bên B nhận được
các nguyên vật liệu từ bên A
 Hợp đồng được thành lập 02 bản, mỗi bên giữ 1 bản có giá trị
pháp lý như nhau
ĐAỊ DIỆN BÊN A

ĐẠI DIỆN BÊN B

18


III, GIẢI PHÁP ĐỂ PHÁT TRIỂN HOẠT ĐỘNG GIA CÔNG
QUỐC TẾ CHO NGÀNH DỆT MAY VIỆT NAM
1. NÊU PHƯƠNG HƯỚNG PHÁT TRIỂN CHO NGÀNH TRONG
NHỮNG NĂM TỚI
 Tập trung đầu tư chiều sâu, nâng cao năng lực sản xuất,
năng suất lao động, xây dựng phát triển mạnh thương hiệu, nâng
cao chất lượng sản phẩm của các dự án đã đầu tư. Đồng thời kêu gọi
đầu tư dự án may sản phẩm chất lượng cao. Nâng cao giá trị xuất
khẩu hàng FOB nhằm giảm tỷ lệ gia công đơn giản, tăng giá trị xuất
khẩu. Đồng thời tập trungvào thiết kế mẫu mã, ưu tiên phát triển
hàng hóa thương hiệu Việt:
 Thứ nhất, các DN trong ngành phải chung tay thực hiện
những giải pháp về đầu tư, thị trường, đào tạo phát triển nguồn nhân
lực, áp dụng khoa học công nghệ, giải quyết những khâu yếu, bất
cập của ngành.
 Thứ hai, Hiệp hội Dệt may Việt Nam cần làm tốt hơn nữa vai
trò là cầu nối giữa DN hội viên với thị trường trong và ngoài nước
thông qua các hoạt động xúc tiến thương mại, các hoạt động hợp tác
quốc tế…, nhất là làm cầu nối giữa các DN và các cơ quan quản lý
nhà nước trong việc tiếp nhận, phản ánh của DN để nghiên cứu, kiến
nghị, đề xuất tháo gỡ những khó khăn vướng mắc cho doanh nghiệp.
 Thứ ba, Nhà nước tiếp tục cải cách thủ tục hành chính, kiểm
tra chuyên ngành, tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp, đảm bảo môi
trường đầu tư kinh doanh thông thoáng cho doanh nghiệp. Tạo điều
kiện thu hút và cấp phép các dự án đầu tư lớn, có trình độ thiết bị
công nghệ tiên tiến và quy trình xử lý nước thải đảm bảo thân thiện
với môi trường vào khâu dệt nhuộm để giải quyết điểm “nghẽn’ của
ngành và đáp ứng yêu cầu xuất xứ của các Hiệp định thương mại tự
do như CPTPP và EVFTA… Đồng thời, cần có chính sách phát triển
trong 10-15 năm tới để tận dụng hiệp định này. Hiện nay, một số địa
phương quay lại với dệt may, đặc biệt là dệt nhuộm, nhưng nhiều dự
19


án của các nhà đầu tư danh tiếng, có đầy đủ yêu cầu thì lại không
được cấp phép. Chính phủ cần quy hoạch các khu công nghiệp, xử lý
nước thải để tạo điều kiện cho các doanh nghiệp. Các địa phương
liền kề cần phối hợp để địa điểm các khu công nghiệp thu hút nhiều
lao động không cùng đặt tại các vùng giáp ranh.Nhà nước và DN
cùng đầu tư mạnh mẽ hơn cho việc phát triển khoa học công nghệ.
Cụ thể, xây dựng nền tảng thiết kế 3D để đáp ứng được diễn biến
nhanh của thị trường; Xây dựng - đào tạo nguồn nhân lực có chất
lượng, tầm nhìn thời trang, ngoại ngữ để cập nhật xu thế thời trang
thế giới. Đồng thời, DN sản xuất phải có ý thức, chịu trách nhiệm đến
cùng cho sản phẩm làm ra để người tiêu dùng yên tâm, tin tưởng.
Bên cạnh đó, nhà nước cần xây dựng các khu công nghiệp có xử lý
nước thải, phải kêu gọi đầu tư nhà máy về sợi - dệt - nhuộm hoàn tất,
cũng như đưa ra giải pháp quyết liệt hơn để phát triển thị trường nội
địa, gắn với Cuộc vận động “Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt
Nam”.
 Thứ tư, Hiệp hội Dệt may Việt Nam và các DN sản xuất phải
nâng cao giá trị chuỗi cung ứng của mình. Việc lách qua các rào cản
như De Minimis chỉ là một biện pháp mang tính tạm thời, vì trong
tương lai, chúng ta còn có tham vọng nâng tầm vị thế xuất khẩu
sang nhiều quốc gia khác, đặc biệt trong bối cảnh thương mại toàn
cầu đang gặp bất ổn, Trung Quốc cũng đang phải gồng mình để giữ
vững vị thế số 1 về xuất khẩu hàng dệt may và may mặc. Nguồn vốn
đầu tư trực tiếp nước ngoài vào các DN dệt may, may mặc hiện nay
cần phải gia tăng vào nguồn nguyên liệu thượng nguồn như sợi, vải,
các khâu cắt may.
 Thứ năm, ngành Dệt may cần hướng tới phát triển bền vững,
đáp ứng yêu cầu của các thị trường lớn trên thế giới, giải pháp về
khoa học - công nghệ nhằm xanh hóa ngành dệt may đóng vai trò
quan trọng trong chiến lược phát triển.

20


 Cuối cùng ,. Tập trung đầu tư chiều sâu, nâng cao năng lực
sản xuất, năng suất lao động, xây dựng phát triển mạnh thương
hiệu, nâng cao chất lượng sản phẩm của các dự án đã đầu tư. Đồng
thời kêu gọi đầu tư dự án may sản phẩm chất lượng cao. Nâng cao
giá trị xuất khẩu hàng FOB nhằm giảm tỷ lệ gia công đơn giản, tăng
giá trị xuất khẩu. Đồng thời tập trungvào thiết kế mẫu mã, ưu tiên
phát triển hàng hóa thương hiệu Việt.
2. ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP ĐỂ PHÁT TRIỂN HOẠT ĐỘNG GIA
CÔNG QUỐC TẾ NGÀNH DỆT MAY VIỆT NAM
a. Nhóm giải pháp đối với các công ty gia công quốc tế
ngành may mặc
Trong thời gian tới có lẽ hoạt động gia công quốc tế ngành may
mặc ở Việt Nam còn tiếp tục được áp dụng. Bởi ngoài lợi ích về kinh
tế, hoạt động gia công còn giải quyết được việc làm cho rất nhiều lao
động cả ở thành phố và nông thôn. Vì vậy, hơn bao giờ hết cần phải
thúc đẩy và không ngừng hoàn thiện hoạt động gia công quốc tế
ngành may mặc để đáp ứng được các yêu cầu của thị trường. Một số
giải pháp được đề xuất với các công ty gia công đó là:
Thứ nhất, Nâng cáo khả năng cạnh tranh trong hoạt động
gia công ngành dệt may bằng cách:
 Đổi mới trang thiết bị: Để vươn lên trong bối cảnh khó khăn,
các doanh nghiệp ngành dệt may Việt Nam lúc này chỉ có cách là
đầu tư đổi mới công nghệ, thiết bị theo hướng hiện đại tiên tiến
(công nghệ 4.0), đào tạo nâng cao tay nghề cho nguồn nhân lực để
tăng năng suất lao động.
 Lập kế hoạch, tổ chức dây chuyền gia công hợp lý: Ngoài việc
đổi mới thì cũng cần có một dây chuyền sản xuất hợp lý, hiệu quả.
Các công ty phải lập kế hoạch triệt để hơn để sử dụng và khai thác
được tối đa máy móc, công nghệ giúp tăng năng suất và giảm giá
thành gia công.
 Nâng cao tay nghề cho người lao động và có chế độ đãi ngỗ
hợp lý: Các công ty cần chuẩn bị là nguồn nhân lực có khả năng hấp
21


thụ thành quả của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0, từng bước tự
động hoá các công đoạn sản xuất
 Tìm kiếm các nguồn có thể cung cấp nguyên phụ liệu uy tín:
Hiện thì các công ty phần lớn vẫn là gia công đơn thuẩn nhưng đôi
khi phía đối tác vẫn uỷ thác cho công ty nhập một số nguyên phụ
liệu để sản xuất. Cũng là một cơ hội để công ty có thêm lợi nhuận.
Nhưng hơn hết cần có một nguồn cung cấp ổn định và độ tin cậy cao
để chứng tỏ được uy tín của công ty với khách hàng và từ đó tạo điều
kiện để xúc tiến gia công theo phương thức mua đứt bán đoạn.
Thứ hai, đẩy mạnh hoạt động marketing nghiên cứu và
tiếp cận thị trường:
 Không ngừng mở rộng thị trường xuất khẩu để tìm kiếm
khách hàng đồng thời tăng sự lựa chọn khách hàng. Bởi khi mở rộng
thị trường, khách hàng nhiều hơn cầu tăng thì mới kéo theo cung
tăng và giá cũng tăng lên.
Thứ ba, quan hệ trực tiếp được với các đối tác gia công
 Tức là bỏ qua khâu trung gian và tiếp cận trực tiếp với đối tác
nước ngoài để tăng thêm lợi nhuận khi không phải chia sẻ bớt cho
khâu trung gian. Muốn tiếp cận trực tiếp được thì cần phải:
 Tạo ra được những mặt hàng có mẫu mã, phù hợp với thị
trường. Vì đây chính là cơ sở để các bên nước ngoài đặt gia công căn
cứ vào để đánh giá trình độ sản xuất, chất lượng có đáp ứng được
yêu cầu hay không.
 Mở rộng quan hệ với khách hàng mới.
Thứ tư, Nâng cao tỷ trọng gia công theo phương thức
mua đứt, bán đoạn
 Gia công đơn thuẩn chỉ nên được xem là hoạt động kinh
doanh tạm thời của công ty. Bởi vì, gia công theo phương thức mua
đứt, bán đoạn sẽ giúp nâng cao được lợi nhuận. Đồng thời làm cho
công ty tăng được khả năng thích ứng nhiều hơn, nâng coa trình độ
kinh doanh và tạo tiền đề hướng tới xuất khẩu trực tiếp khi đã tìm
được các nguồn cung cấp nguyên phụ liệu uy tín.
b. Nhóm giải pháp kiến nghị đối với nhà nước
22


 Nhà nước cần có những chính sách nhằm thúc đẩy các hoạt
động gia công:
 Hỗ trợ các công ty trong đầu tư đổi mới công nghệ, máy móc.
Để đầu tư thì cho đổi mới đòi hỏi một lượng vốn rất lớn. Vì vậy, đôi
khi một mình công ty không thể đủ sức để chi trả và cần đến sự hỗ
trợ của nhà nước qua các khoản vay vốn ngân hàng.
 Đào tạo và hỗ trợ đào tạo phát triển nhân lực:nhà nước cần
đẩy mạnh công tác giáo dục và đào tạo, chú trọng đến đào tạo đội
ngũ thiết kế bằng việc đầu tư cho các trường đại học, cao đẳng,
trường nghề đào tạo về lĩnh vực thiết kế thời trang.
 Giúp đỡ các công ty trong việc nghiên cứu thị trường, xúc
tiến và quảng bá sản phẩm. Bộ Thương Mại nên tăng cường tổ chức
hoặc liên hệ cho các công ty dệt may tham gia và hỗ chợ cho các
công ty chi phí tham gia hội chợ chuyên ngành dệt may để họ học
hỏi, để quảng bá sản phẩm, để tăng cơ hội thu hút các đơn đặt hàng
gia công. Các cơ quan Chính Phủ nhất là Hiệp hội Dệt may Việt Nam
cần làm tốt hơn nữa vai trò là cầu nối giữa công ty dệt may với thị
trường trong và ngoài nước thông qua các hoạt động xúc tiến thương
mại, các hoạt động hợp tác quốc tế.
 Nhà nước cần cải cách các thủ tục Hải quan theo hướng đơn
giản, phù hợp với quá trình phát triển của thị trường. Nên có sự
thống nhất từ cơ quan quản lý trong việc ghi mã số HS trước tên
hàng trong các hồ sơ chứng từ liên quan để tạo ra một sự đồng nhất
trong xác định hàng hoá làm cơ sở cho việc khai báo, tính, nộp thuế
và việc quản lý gia công cho nước ngoài. Từ đó tiết kiệm thời gian và
tạo thuận lợi cho các công ty gia công dệt may khi xuất khẩu, nhập
khẩu.

23


KẾT LUẬN
Ngành dệt may trong những năm qua đã có những bước tiến
đáng kể cho đến nay, sản phẩm của ngành dệt may Việt Nam đã có
mặt ở trên 100 nước và vùng lãnh thổ tại hầu hết các Châu lục. Liên
tiếp trong nhiều năm qua, doanh thu xuất khẩu của ngành dệt may
liên tục tăng, kim ngạch xuất khẩu của ngành dệt may luôn đứng thứ
hai về giá trị chỉ sau dầu thô. Đó là những thành tựu rất lớn của
ngành dệt may Việt Nam. Trong đó có đóng góp rất lớn của hoạt
động gia công hàng dệt may, hiện nay, hàng dệt may đa phần là sản
phẩm gia công thơng mại (chiếm khoảng 80% hàng dệt may xuất
khẩu ). Tuy vậy, ngành dệt may nói chung và gia công hàng dệt may
nói riêng vẫn còn bộc lộ nhiều hạn chế, một số những hạn chế đó là:
nguyên phụ liệu không đáp ứng đủ nhu cầu của ngành may .Chi phí
về lao động không còn là một thế mạnh của Việt Nam, bên cạnh đó
hiệu năng làm việc của ngời lao động cũng không cao làm cho khả
năng cạnh tranh của ngành dệt may nói chung và gia công nói riêng
không cao; Và tuy là một nớc có lợng lao động trẻ dồi dào nhng trong
những năm gần đây thì ngành dệt may Việt Nam lại thiếu lao động
rất nhiều, đặc biệt là vào thời vụ đặt hàng dẫn tới mất nhiều hợp
đồng sản xuất với bạn hàng. Việc phân tích toàn diện thực trạng
ngành dệt may nói chung và lĩnh vực gia công hàng dệt may nói
riêng của Việt Nam để từ đó tìm ra giải pháp tăng giá trị hàng dệt
may xuất khẩu trong những năm tới là một vấn đề thực sự cần thiết,
đó chính là một điều thực tế đang đòi hỏi.

24



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×