Tải bản đầy đủ

Quyền tự do cư trú của công dân từ thực tiễn thành phố Hồ Chí Minh (Luận văn thạc sĩ)

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

TRẦN VĂN ĐIỆP

QUYỀN TỰ DO CƯ TRÚ CỦA CÔNG DÂN TỪ THỰC TIỀN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

HÀ NỘI, 2020


VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

TRẦN VĂN ĐIỆP

QUYỀN TỰ DO CƯ TRÚ CỦA CÔNG DÂN TỪ THỰC TIỀN

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Chuyên ngành: Luật Hiến pháp và luật hành chính
Mã số

: 8380102

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
GS. TS .NGUYỄN ĐĂNG DUNG

HÀ NỘI, 2020


MỤC LỤC

MỞ ĐẦU ................................................................................................ 2
Chương 1 ............................................................................................... 7
CÁC VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LÝ VỀ QUYỀN TỰ DO CƯ
TRÚ......................................................................................................... 7
1.1.Các vấn đề lý luận về quyền tự do cư trú. ......................................... 7
1.2.Quyền tự do cư trú theo luật pháp quốc tế ........................................ 8
1.3.Quyền tự do cư trú theo luật pháp Việt Nam. ................................. 14
Chương 2 ............................................................................................. 18
THỰC HIỆN QUYỀN TỰ DO CƯ TRÚ CỦA CÔNG DÂN ......... 18
TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH. ................................................. 18
2.1. Thực trạng dân số và điều kiện tự nhiên, kinh tế, dân số của thành
phố Hồ Chí Minh đến việc bảo đảm quyền tự do cư trú của công dân. 18
2.2. Việc ban hành các quy định về quyền tự do cư trú của công dân tại
thành phố Hồ Chí Minh......................................................................... 22
2.3. Thực tế thực hiện pháp luật về quyền tự do cư trú của công dân tại
thành phố Hồ Chí Minh......................................................................... 36
2.4. Những hạn chế và bất cập trong việc thực hiện quyền tự do cư trú
của công dân tại thành phố Hồ Chí Minh. ............................................ 50
Chương 3 .............................................................................................. 58
QUAN ĐIỂM, GIẢI PHÁP BẢO ĐẢM QUYỀN TỰ DO CƯ TRÚ
CỦA CÔNG DÂN TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH.................. 59
3.1. Quan điểm về bảo đảm quyền cư trú của công dân từ thực tiễn
thành phố Hồ Chí Minh......................................................................... 59


3.2. Một số giải pháp bảo đảm quyền cư trú của công dân từ thực tiễn
thành phố Hồ Chí Minh......................................................................... 61
KẾT LUẬN .......................................................................................... 69
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ........................................... 70


LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi.
Các số liệu nêu trong luận văn này là trung thực. Những kết luận khoa học của
luận văn chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác.

Tác giả: Trần Văn Điệp


LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thiện luận văn, tôi đã nhận được sự giúp đỡ nhiệt tình của các
thầy cô, bạn học và đồng nghiệp. Nhân dịp này cho tôi được gửi lời cảm ơn
chân thành tới các thầy cô giáo tham gia giảng dạy, công tác tại Học viện Khoa
học xã hội – nơi tôi đã học tập; cảm ơn các bạn bè và đồng nghiệp, những
người đã cung cấp nhiều số liệu cho tôi.
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành của mình tới thầy
Gs.Ts.Nguyễn Đăng Dung đã tận tình hướng dẫn khoa học, giúp đỡ tôi trong
quá trình hoàn thiện Luận văn này.
Tác giả: Trần Văn Điệp

3


DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

ICCPR

Công ước quốc tế về các quyền dân sự, chính trị

ICESCR:

Công ước quốc tế về các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa

OHCHR:

Văn phòng Cao ủy Liên hợp quốc về Nhân quyền

UDHR:

Tuyên ngôn thế giới về nhân quyền

UNHRC:

Ủy ban nhân quyền Liên hợp quốc

HĐND:

Hội đồng nhân dân

UBND:

Ủy ban nhân dân

ANTT:

An ninh trật tự

TDCT:

Tự do cư trú

4


DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1 Dân số thành phố Hồ Chí Minh qua các năm 2016, 2017, 2018
Bảng 2.2. Dân số 24 quận huyện thành phố Hồ Chí Minh.
Bảng 2.3. Đăng ký thường trú tại thành phố Hồ Chí Minh qua các năm 2016,
2017, 2018

1


MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Quyền tự do cư trú là một quyền quan trọng của con người được ghi
nhận trong nhiều văn kiện quốc tế mà Việt Nam đã ký kết, trong đó bao
gồm Tuyên ngôn thế giới về nhân quyền 1948 và Công ước quốc tế quyền
con người về chính trị, dân sự 1966. Tự do đi lại, cư trú cũng là một trong
những quyền cơ bản của công dân được ghi nhận ngay từ Hiến pháp đầu
tiên năm 1946 và tiếp tục được khẳng định trong các bản Hiến pháp về sau,
bao gồm Hiến pháp năm 2013. Bên cạnh đó, quyền này cũng được cụ thể
hoá trong Bộ luật Dân sự, Luật Cư trú 2013 và nhiều văn bản quy phạm
pháp luật khác.
Cùng với sự phát triển nền kinh tế của đất nước, số người từ ngoại
thành chuyển lên thành thị làm ăn sinh sống cư trú ngày một tăng. Việc đó
gây không ít khó khăn cho công tác quản lý xã hội nói chung và công tác
giữ gìn an ninh trật tự nói riêng. Luật Cư trú năm 2006 được ban hành ngày
29/11/2006 và có hiệu lực từ 01/07/2007 đã được sửa đổi, bổ sung năm
2013 và các văn bản hướng dẫn thi hành Luật Cư trú, vẫn còn một số hạn
chế, đòi hỏi cần được nghiên cứu sửa đổi, bổ sung để đáp ứng các yêu cầu
trong tình hình mới.
Đặc biệt là ở những đô thị lớn thì vấn đề bảo đảm quyền tự do cư trú
lại càng trở nên phức tạp mà thành phố Hồ Chí Minh, là một ví dụ điển
hình. Nơi đây là có dân số đông, nhiều người nước ngoài sinh sống, học
sinh sinh viên và người lao động tỉnh khác đến làm ăn học tập và cư trú. Do
vậy ở thành phố Hồ Chí Minh, đang đặt ra vấn đề làm sao để bảo đảm
quyền cư do cư trú của công dân mà vẫn đảm bảo được trật tự xã hội, trị an
trên địa bàn thành phố.
Nhằm góp phần nâng cao hiệu quả bảo đảm quyền tự do cư trú của
công dân ở thành phố Hồ Chí Minh cũng như tìm ra giải pháp hoàn thiện
2


pháp luật về cư trú, cũng như tầm quan trọng về quyền tự do cư trú và bảo
đảm quyền tự do cư trú của công dân. Học viên quyết định chọn đề tài
“Quyền tự do cư trú của công dân từ thực tiễn thành phố Hồ Chí Minh”
để thực hiện luận văn thạc sĩ luật của mình.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Tự do cư trú hiện nay là vấn đề đáng chú ý của nhiều nhà quản lý
cũng như những cán bộ trực tiếp tham gia công tác về quản lý cư trú. Đã có
một số công trình, tài liệu nghiên cứu của các nhà khoa học liên quan đến
quyền tự do cư trú của công dân ở Việt Nam, cụ thể là:
- Cao Vũ Minh (2014), Hoàn thiện các quy định của pháp luật về cư
trú bảo đảm quyền cư trú của công dân, Tạp chí nhà nước và pháp luật, số
5/2014.
- Đỗ Văn Hòa, Trịnh Khắc Thẩm (chủ biên) (1999), Nghiên cứu di
dân ở Việt Nam, Nxb. Nông nghiệp, Hà Nội.
- Hà Thị Phương Tiến – Hà Quang Ngọc (2000),, Lao động nữ di cư
tự do nông thôn thành thị, Nhà xuất bản phụ nữ, Hà Nội.
- Lê Thành Tâm (2009) Để pháp luật về cư trú phù hợp hơn với thực
tiễn, Tạp chí Lao động và xã hội, số 372, 2009.
- Trần Hồng Vân (2002), Tác động xã hội của di cư tự do vào Tp Hồ
Chí Minh thời kỳ đổi mới, Nxb. Khoa học xã hội, Tp Hồ Chí Minh.
- Đặng Nguyên Anh (2010) “Di dân đến khu đô thị và các khu công
nghiệp - Thực trạng và một số vấn đề chính sách qua nghiên cứu đánh giá
tư liệu 2004-2009”, Nxb. Khoa học xã hội, Tp Hồ Chí Minh.
-Lê Thị Hoài Thu., Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp, số 12, 2013 Những vấn đề đặt ra trước thực trạng lao động di cư trong nước.
Những đề tài khoa học trên đã làm sáng tỏ đến nội dung về quyền cư
trú của công dân. Các tài liệu trên là nền tảng để học viện tham khảo trong
suốt quá trình thực hiện luận văn thạc sỹ.
3


Tuy vậy, hiện nay chưa có riêng một đề tài nào liên quan đến quyền
cư trú của công dân tại một địa bàn cụ thể là Thành phố Hồ Chí Minh.
Chính vì vậy tác giả cho rằng luận văn này vẫn cần thiết cả mặt về lý luận
lẫn thực tiễn.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu.
3. 1.

Đối tượng nghiên cứu

Luận văn nghiên cứu các vấn đề lý luận, pháp lý và thực tiễn về quyền
tự do cư trú của công dân từ thực tiễn ở thành phố Hồ Chí Minh.
3. 2.

Phạm vi nghiên cứu

Phạm vi nội dung, tác giả không mở rộng đến các quyền con người,
quyền công dân khác mà chỉ nghiên cứu về quyền tự do cư trú của công
dân.
Phạm vi không gian, đề tài chỉ tập trung nghiên cứu thực trạng về
quyền tự do cư trú của công dân tại Thành phố Hồ Chí Minh.
Phạm vi thời gian, đề tài chỉ tập trung nghiên cứu thực trạng về
quyền tự do cư trú của công dân ở thành phố Hồ Chí Minh trong thời gian
khoảng 3 năm gần đây.
4. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
4. 1. Mục đích
Luận văn có mục đích nghiên là phân tích, làm rõ những vấn đề pháp
lý, lý luận và thực tiễn về quyền tự do cư trú của công dân ở thành phố Hồ
Chí Minh; thông qua đó đề xuất các giải pháp nhằm góp phần nâng cao
hiệu quả bảo đảm quyền tự do cư trú của công dân ở Thành phố Hồ Chí
Minh, cũng như tìm ra giải pháp hoàn thiện pháp luật về cư trú trong thời
gian tới.
4. 2.

Nhiệm vụ

- Nhiệm vụ luận văn là nghiên cứu về quyền tự do cư trú của công dân
những vấn đề lý luận và thực tiễn.
- Nghiên cứu quy định Luật Cư trú 2013 và các văn bản hướng dẫn
4


thi hành Luật Cư trú, làm rõ những vướng mắc, bất cập, hạn chế trong thực
tiễn thực hiện.
- Nghiên cứu đánh giá thực trạng bảo đảm quyền tự do cư trú của
công dân Thành phố phố Hồ Chí Minh, từ đó chỉ ra những vướng mắc, bất
cập, hạn chế cùng nguyên nhân trong thực tiễn thực hiện.
- Từ yêu cầu khách quan trong thực tế học viên mạnh dạn đề xuất
những các giải pháp hoàn thiện pháp luật để bảo đảm quyền tự do cư trú
của công dân ở nước ta trong thời gian tới từ thực tiễn thành phố Hồ Chí
Minh.
4.2.1 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
Nhằm thực hiện những mục tiêu đã đề ra, tác giả đã sử dụng phương
pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác-Lênin;
kết hợp với nền tảng tư tưởng Hồ Chí Minh và đường lối cương lĩnh của
Đảng Cộng sản Việt Nam, Hiến pháp, pháp luật và các văn bản hướng dẫn
thi hành Luật Cư trú làm cơ sở lý luận cho luận văn.
Tác giả đã sử dụng các phương pháp: chứng minh biện luận, hệ thống
phân tích, đối chiếu, thống kê, tổng hợp. Kết hợp với tổng kết thực tiễn tại
Thành phố Hồ Chí Minh cùng với các phương pháp nghiên cứu khác.
4.2.2 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Là công trình nghiên cứu đầu tiên về quyền tự do cư trú của công
dân tại Thành phố Hồ Chí Minh trong 03 năm gần đây.
Luận văn cung cấp những thông tin thực tiễn cũng như những hạn
chế bất cập của pháp luật về cư trú và những đề xuất nâng cao hiệu quả
bảo đảm quyền tự do cư trú của công dân ở Thành phố Hồ Chí Minh.
Cùng với đó, luận văn có thể dùng cho việc tham khảo, nghiên cứu,
giảng dạy, học tập chuyên ngành Luật Hiến pháp - Luật hành chính.
Cơ cấu của luận văn

5


Cơ cấu của luận văn gồm các phần mục lục, danh mục các tài liệu
tham khảo, danh mục bảng, danh mục các chữ viết tắt và kết luận.
Nội dung chính luận văn gồm 3 chương như sau:
Chương 1: Các vấn đề lý luận và pháp lý về quyền tự do cư trú.
Chương 2: Thực hiện quyền tự do cư trú của công dân tại Thành phố Hồ
Chí Minh
Chương 3: Quan điểm, giải pháp bảo đảm quyền tự do cư trú của công
dân tại Thành phố Hồ Chí Minh.

6


Chương 1
CÁC VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LÝ VỀ QUYỀN TỰ DO CƯ TRÚ
1.1. Các vấn đề lý luận về quyền tự do cư trú.
Quyền tự do đi lại, cư trú trước hết được đề cập trong Điều 13 Tuyên
ngôn thế giới về Nhân quyền, tên tiếng Anh Universal Declaration of Human
Rights (UDHR), trong đó nêu rằng: Mọi người đều có quyền tự do đi lại và tự
do cư trú trong phạm vi lãnh thổ của quốc gia. Tất cả mọi người đều được
quyền rời khỏi nước mình, cũng như quyền trở về nước mình kể cả bất kỳ nước
nào đã được phép cư trú hợp pháp. Quy định này sau đó được tái khẳng định và
cụ thể hóa trong các Điều 12 và 13 Công ước Quốc tế về các quyền Dân sự và
Chính trị, tên tiếng Anh viết tắt (ICCPR).
“Tất cả mọi người đều được quyền rời khỏi nước mình, cũng như quyền
trở về nước mình kể cả bất kỳ nước nào đã được phép cư trú hợp pháp.”. Điều
12 ICCPR
Nhìn tổng quát, có thể thấy rằng Khoản 1,2,4 Điều 12 ICCPR đã đề cập
đến bốn dạng tự do cụ thể có mối liên hệ gắn kết với nhau, bao gồm:
Tự do đi lại trong phạm vi lãnh thổ quốc gia; Tự do đi khỏi bất kỳ nước
nào, kể cả nước mình; Tự do trở về nước mình. Tự do lựa chọn nơi sinh sống
trên lãnh thổ quốc gia; . “Không ai bị tước đoạt một cách tuỳ tiện quyền được
trở về nước mình”.
Nếu là cần thiết để bảo vệ an ninh quốc gia, trật tự công cộng, sức khoẻ
hoặc đạo đức xã hội….. Thì quyền tự do đi lại và cư trú có thể bị hạn chế nếu do
luật định nhưng phải phù hợp với những quyền khác được ICCPR công nhận,
khoản 3 Điều 12. Quyền tự do đi lại và cư trú không phải là một quyền tuyệt
đối,
Các quốc gia thành viên phải tuân thủ nguyên tắc có liên quan theo
Điều 5 ICCPR, những hạn chế đưa ra phải không làm tổn hại đến bản chất của
các quyền; phải có sự tương thích giữa sự hạn chế và quyền có liên quan,
7


nguyên tắc tương xứng này cần được tuân thủ một cách tuyệt đối giữa các cơ
quan.
Các hạn chế thích đáng gồm:
(i) Những giới hạn về quyền tự do cư trú ở những nơi nguy hiểm đến tính
mạng, sức khỏe;
(ii) Giới hạn việc đi vào những khu vực quân sự. khu vực lây nhiễm bệnh.
Cần lưu ý là kể cả khi những hạn chế đưa ra phải phù hợp với những
nguyên tắc cơ bản về bình đẳng và không phân biệt đối xử về chủng tộc, giới
tính, sắc tộc, ngôn ngữ, tôn giáo, quan điểm chính trị hay quan điểm khác,
nguồn gốc dân tộc hay xã hội, sở hữu, nguồn gốc xuất thân hay địa vị khác.
1.2. Quyền tự do cư trú theo luật pháp quốc tế
“ Mọi người đều có quyền tự do đi lại và tự do cư trú trong phạm vi lãnh
thổ của quốc gia. Mọi người đều có quyền rời khỏi bất kỳ nước nào, kể cả nước
mình, cũng như có quyền trở về nước mình.” được đề cập trong Điều 13 Tuyên
ngôn Quốc tế Nhân quyền (UDHR). Quy định này sau đó được tái khẳng định
và cụ thể hóa trong các điều 12 và 13 Công ước quốc tế về các quyền dân sự và
chính trị năm 1966 (ICCPR).
“Không ai bị tước đoạt một cách tùy tiện quyền được trở về nước mình.
Mọi người đều có quyền tự do rời khỏi bất kỳ nước nào, kể cả nước mình.. Bất
cứ ai cư trú hợp pháp trên lãnh thổ của một quốc gia đều có quyền tự do đi lại
và tự do lựa chọn nơi cư trú trong phạm vi lãnh thổ quốc gia đó..” quy định tại
khoản 1, 2, 4 Điều 12 ICCPR:
Có thể thấy rằng, Điều 12 ICCPR đã đề cập bốn dạng tự do cụ thể có mối
liên hệ gắn kết với nhau, bao gồm: Tự do lựa chọn nơi sinh sống trên lãnh thổ
quốc gia; Tự do đi khỏi bất kỳ nước nào, kể cả nước mình;; Tự do trở về nước
mình;Tự do đi lại trong phạm vi lãnh thổ quốc gia.

8


Theo khoản 1 Điều 12- Việc bảo đảm quyền tự do đi lại và tự do lựa chọn
nơi sinh sống trong phạm vi lãnh thổ của quốc gia không phụ thuộc vào mục
đích hay lý do của việc đi lại hay của việc lựa chọn nơi cư trú, quyền tự do đi lại
được áp dụng trên toàn bộ lãnh thổ của một nước, các cá nhân có quyền đi từ
nơi này đến nơi khác của quốc gia và được sinh cơ lập nghiệp ở những nơi mà
mình lựa chọn.
Quyền tự do đi ra nước ngoài để làm việc, thăm quan cũng như để cư trú
lâu dài, không phụ thuộc vào nước đến và mục đích, thời gian mà cá nhân dự
định ở lại bên ngoài nước mình kể cả nước mình. Bất cứ sự hạn chế nào với
quyền này phải căn cứ vào quy định trong khoản 3 Điều 12 ICCPR.
Giấy tờ thông hành như hộ chiếu… là cần thiết để một người đi lại giữa
các nước. Nên quyền có được những giấy tờ thông hành cũng nằm trong quyền
được đi khỏi một nước. Nước mà một người sẽ đến cư trú và nước người đó có
quốc tịch đều có trách nhiệm bảo đảm quyền tự do rời khỏi bất kỳ nước nào nêu
ở khoản 2 Điều 12 ICCPR.
Trong mọi trường hợp, cá nhân không thể bị tước đoạt một cách trái pháp
luật quyền trở về nước mình, bất kể sự tước đoạt đó từ cơ quan nhà nước nào và
kể cả khi một nhà nước đã ra quyết định tước quốc tịch của một cá nhân hoặc
trục xuất một cá nhân đến một nước thứ ba thì cũng không được ngăn cản cá
nhân này được trở về đất nước của mình nếu không có lý do chính đáng.
Quyền được trở lại nước mình không chỉ là quyền của một người được
trở lại sau khi rời đất nước mình mà còn quyền của một người có quốc tịch nước
đó sinh ra ở nước ngoài lần đầu tiên trở về nước mình mang quốc tịch.
Quyền tự do cư trú chỉ bị hạn chế ngoại trừ những trường hợp được quy
định tại khoản 3 Điều 12 ICCPR, bao hàm sự bảo vệ khỏi tình trạng bị bắt buộc
di dời chỗ ở trong phạm vi lãnh thổ quốc gia, cũng như khỏi bị ngăn cấm không
được đến hoặc sinh sống ở một khu vực nhất định trên lãnh thổ quốc gia,
9


Cư trú được hiểu là “sinh sống thường xuyên tại một địa điểm dưới hình
thức tạm trú/ thường trú ”. Để thực hiện quyền này cá nhân phải được bảo đảm
quyền có nơi ở. Và cần phải hiểu đó là quyền được sống ở nơi được tôn trọng về
phẩm giá và an toàn, bình yên. Trong đó nhà ở đóng vai trò quan trọng để cá
nhân thực hiện quyền cư trú, nhưng có thể có một số khía cạnh nhất định của
quyền này cần được xem xét trong bất cứ bối cảnh cụ thể:
Một là, an ninh pháp lý về sở hữu tài sản. Quyền sở hữu dưới nhiều hình
thức khác nhau, gồm cả nhà ở hợp tác, nhà thuê, nhà ở khẩn cấp và định cư
không chính thức, tự làm chủ, …... Tất cả các hình thức sở hữu, đều được quyền
bảo đảm an ninh về tài sản nhất định.
“Nghĩa vụ cơ bản của các chính phủ là bảo vệ và cải thiện tình hình nhà ở
và môi trường xung quanh hơn là làm tổn hại hoặc phá hủy chúng” Nghị quyết
43/181”. Từ lâu cộng đồng quốc tế đã thừa nhận rằng việc cưỡng chế di dời
khỏi nơi cư trú là một vấn đề hết sức nghiêm trọng. Con người phải được bảo vệ
bằng pháp luật để chống lại những hành động không công bằng liên quan đến
việc di dời hoặc đất đai của họ.
Hai là, tính sẵn sàng của dịch vụ, nguyên liệu, cơ sở vật chất và kết cấu
hạ tầng. Một nơi ở thích đáng cần bảo đảm đủ những điều kiện vật chất cơ bản
về y tế, an ninh, tiện nghi và dinh dưỡng. Lợi ích của quyền có nhà ở thích đáng
là được tiếp cận một cách bền vững với các nguồn lực chung và nguồn lực tự
nhiên, với các điều kiện nước sạch, chất đốt, ánh sáng, sưởi ấm, vệ sinh, giặt
giũ, phương tiện về bảo quản thực phẩm, xử lý rác thải, các dịch vụ chống cháy
và các dịch vụ khẩn cấp khác.
Ba là, tính vừa phải. Nhà nước cần có biện pháp để bảo đảm tỷ lệ chi
phí liên quan đến nhà ở nói chung phù hợp với mức thu nhập, đồng thời các nhà
nước cũng cần xây dựng chế độ trợ cấp về nhà ở cho những người không có khả
năng chi trả, cũng như các hình thức và mức độ hỗ trợ tài chính về nhà ở để
10


giúp cho việc đáp ứng nhu cầu về nhà ở một cách thích đáng. Chi phí tài chính
mà cá nhân hay hộ gia đình phải chi trả nhà ở cần phải ở mức hợp lý, không đe
dọa hay ảnh hưởng đến việc hưởng thụ các nhu cầu thiết yếu.
Bốn là, có thể định cư được. Tránh gây ảnh hưởng đến sức khỏe, bị lạnh,
ẩm ướt, nóng, mưa, gió và các mối đe dọa khác, nguy hại về mặt cấu trúc và lây
nhiễm bệnh tật và phải bảo đảm có thể định cư được cả về không gian và có sự
bảo vệ là các yếu tố của nhà ở thích đáng.
Nhằm tạo khuôn khổ chung cho tăng cường hợp tác về thúc đẩy và bảo vệ
nhân quyền trong khu vực. Ngày 18/11/2012 tại Thủ đô Phnom Penh,
Campuchia với sự chấp thuận và ký kết của lãnh đạo 10 nước thành viên Tuyên
bố Nhân quyền ASEAN là văn bản tuyên bố chung về Nhân quyền của các
nước ASEAN trong khuôn khổ Hội Ngị Cấp cao ASEAN lần thứ 21.
Tuyên bố Nhân quyền ASEAN gồm 40 điều khoản, khẳng định mọi công
dân ASEAN có 4 nhóm quyền căn bản về dân sự và chính trị, về kinh tế xã hội
và văn hóa những nguyên tắc căn bản là bình đẳng, tôn trọng đặc thù khu vực và
sự đa dạng của mỗi quốc gia.
Nội dung chính:
Tuyên bố có 7 phần với 40 Điều:
Mở đầu: Khẳng định lại nguyên tắc trong Hiến chương ASEAN, các mục
đích, nhấn mạnh cam kết đối với Hiến chương Liên Hiệp quốc, Tuyên ngôn
quốc tế về Nhân quyền, ,..., Nhằm tạo khuôn khổ chung cho tăng cường hợp tác
về thúc đẩy và bảo vệ nhân quyền trong khu vực.
Tất cả mọi người sinh ra đều tự do và bình đẳng về phẩm giá và các
quyền (trích đoạn mở đầu của Tuyên bố)
Những nguyên tắc cơ bản trong trong tuyên bố nhân quyền gồm:
Nguyên tắc được công nhận và bảo vệ trước các quy định pháp luật;
11


Nguyên tắc không phân biệt đối xử và quyền bình đẳng,;
Nguyên tắc không chính trị hóa vấn đề nhân quyền.
Nguyên tắc đối xử cân bằng giữa các quyền cân bằng giữa quyền và trách
nhiệm;
Nguyên tắc bảo đảm không thiên vị, khách quan
Nguyên tắc tôn trọng sự đa dạng văn hóa lịch sử đặc thù khu vực, về thể
chế chính trị, kinh tế, …;
Nhóm quyền dân sự và chính trị: cụ thể:
Quyền được sống;
Quyền không bị buôn bán và nô dịch;
Quyền hưởng tự do và an ninh cá nhân;
Quyền hôn nhân và gia đình;
Quyền có quốc tịch;
Quyền không bị tra tấn;
Quyền tự do cư trú,đi lại và tị nạn;
Quyền sở hữu tài sản;
Quyền được bảo vệ trước pháp luật và xét xử công bằng;
Quyền tham gia bầu cử, ứng cử theo luật pháp của mỗi nước;
Quyền riêng tư cá nhân và bảo vệ dữ liệu;
Quyền tự do hội họp, tự do ngôn luận;
Quyền tự do tín ngưỡng tôn giáo.
Nhóm quyền kinh tế, văn hóa, xã hội: Khẳng định một số quyền trong lĩnh vực
kinh tế, văn hóa, xã hội.
Quyền lập và tham gia công đoàn;
12


Quyền về việc làm;
Quyền cơ bản được tiếp cận các dịch vụ xã hội;
Quyền được chăm sóc sức khỏe.
Quyền được nâng cao thể chất;
Quyền giáo dục và an sinh xã hội;

 Giới hạn quyền tự do cư trú
Trong một số điều kiện nhất định, quyền tự do cư trú có thể bị giới hạn.
Một số điều ước quốc tế về cho phép các quốc gia thành viên áp đặt một
số điều kiện với việc hưởng thụ một số quyền con người nhất định.Việc giới hạn
một số quyền phải bảo đảm các điều kiện:
Thứ nhất, nhằm để tránh sự tùy tiện trong việc áp đặt các giới hạn về
quyền, những giới hạn đó phải được quy định trong luật quốc gia.
Thứ hai, những giới hạn đặt ra phải không trái với bản chất của các quyền
có liên quan, không làm tổn hại đến khả năng của các cá nhân có liên quan
trong việc hưởng thụ các quyền đó,
Thứ ba, với mục đích để bảo vệ an ninh quốc gia, để bảo đảm an toàn cho
cộng đồng, để bảo vệ sức khỏe hay đạo đức cộng đồng và để bảo vệ các quyền,
tự do hợp pháp của người khác, việc đặt ra các hạn chế về quyền là cần thiết
trong một xã hội dân chủ và nhằm mục đích duy nhất là để thúc đẩy phúc lợi
chung của cộng đồng.
Quy định về việc giới hạn quyền tự do cư trú:
“Trừ những hạn chế do luật định và là cần thiết để bảo vệ an ninh quốc gia, sức
khỏe hoặc đạo đức xã hội trật tự công cộng hoặc các quyền tự do của người
khác và phải phù hợp với những quyền khác được Công ước này công nhận thì
những giới hạn quyền tự do cư trú sẽ không phải chịu bất kỳ hạn chế nào,”.
Khoản 3 Điều 12 ICCPR.
13


1.3. Quyền tự do cư trú theo luật pháp Việt Nam.
Hiến pháp năm 2013 nước Cộng hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam, tại
Điều 23, ghi nhận quyền tự do cư trú. Quy định này được tái khẳng định trong
Điều 48 Bộ luật dân sự năm 2005, Điều 3 Luật cư trú năm 2006 được ban hành
ngày 29/11/2006 và có hiệu lực từ 01/07/2007 với 42 Điều đã được sửa đổi, bổ
sung năm 2013, quy định về quyền tự do cư trú trong nước của công dân
Tuy nhiên, bởi một lý do nào đó, trong Bộ luật dân sự năm 2015 (có hiệu
lực vào ngày 01-01-2017) không còn quy định về quyền tự do cứ trú.
Luật cư trú đã ghi nhận:
“Quyền tự do cư trú của công dân theo quy định của Điều 3 của Luật Cư
trú và các quy định khác có liên quan. Việc đăng ký tạm trú, thường trú. Khi
công dân có đủ điều kiện thì có quyền yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền
thực hiện việc đăng ký.
Quyền tự do cư trú của công dân còn được thể hiện bằng việc công dân
có quyền yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền đăng ký tạm trú, thường trú
đăng ký. Đó là việc công dân có quyền tự mình lựa chọn, quyết định nơi tạm trú
hoặc nơi thường trú, theo quy định của Luật cư trú và các quy định khác của
pháp luật có liên quan
Tuân thủ Hiến pháp và pháp luật là tiêu chí tiên quyết để thực hiện quyền
tự do cư trú, Luật Cư trú đã quy định rõ các nguyên tắc cư trú và quản lý cư trú,
đó là: kết hợp giữa việc bảo đảm quyền tự do cư trú, các quyền cơ bản khác của
công dân và trách nhiệm của Nhà nước với nhiệm vụ xây dựng, phát triển kinh
tế, xã hội, củng cố quốc phòng, an ninh, giữ gìn trật tự, an toàn xã hội; Bảo đảm
hài hoà quyền, lợi ích của công dân, lợi ích của Nhà nước, cộng đồng và xã hội.
“ Giới hạn quyền tự do cư trú của công dân phải theo quyết định của cơ
quan Nhà nước có thẩm quyền và phải tuân thủ trình tự, thủ tục do pháp luật
quy định”.
14


Nhà nước bảo đảm quyền tự do cư trú của công dân được quy định tại
Điều 5 Luật Cư trú. Việc quan tâm về nguồn lực cũng như về vật chất của Nhà
nước cho hoạt động quản lý cư trú cũng có nghĩa là phục vụ tốt cho việc thực
hiện quyền tự do cư trú của công dân. Luật cũng đã thể hiện rõ sự quan tâm của
Nhà nước đối với hoạt động quản lý cư trú, bằng cách bảo đảm ngân sách, cơ sở
vật chất, nguồn lực, đầu tư phát triển công nghệ, kỹ thuật tiên tiến.
Trong các trường hợp thay đổi về cư trú phải thực hiện đăng ký; mỗi
người chỉ được đăng ký tạm trú một nơi, đăng ký thường trú. Các bước về trình
tự, thủ tục đăng ký phải kịp thời, chính xác, đơn giản, thuận tiện.
Điều 8 Luật Cư trú quy định các hành vi bị nghiêm cấm, áp dụng đối với
cơ quan, tổ chức và cá nhân, cụ thể có chín nhóm hành vi bị nghiêm cấm. Các
quy định nhằm bảo đảm quyền tự do cư trú của công dân theo pháp luật. đồng
thời cũng bảo đảm cho công tác quản lý cư trú đạt hiệu quả cao..
Các hành vi bị nghiêm cấm gồm:
Lợi dụng quyền tự do cư trú để xâm phạm lợi ích của Nhà nước;
Lạm dụng quy định để gây phiền hà, sách nhiễu công dân;
Cản trở công dân thực hiện quyền tự do cư trú;
Tự đặt ra giấy tờ, biểu mẫu trái với quy định, thủ tục của pháp luật hoặc
làm sai lệnh sổ sách, hồ sơ về cư trú;
Lợi dụng quyền tự do cư trú để xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của cá
nhân;
Thu và sử dụng lệ phí trái với quy định của pháp luật về đăng ký cư trú;
Nhận hối lộ trong việc đăng ký, quản lý cư trú;
Sách nhiễu, gây phiền hà, cửa quyền, hách dịch;

15


Làm sai lệch nội dung sổ hộ khẩu, sổ tạm trú, giấy tờ khác liên quan đến
cư trú; Thuê, cho thuê, mượn, cho mượn, làm giả, sửa chữa, sử dụng giấy tờ
giả…
Lôi kéo, dụ dỗ, môi giới, giúp sức, kích động, xúi giục, , cưỡng bức
người khác vi phạm pháp luật về cư trú.

 Giới hạn quyền tự do cư trú
Quy định mang tính nguyên tắc trong việc giới hạn quyền con người, lần
đầu tiên Hiến pháp năm 2013 tại Điều 14 trong có quy định: “Quyền con người,
quyền công dân chỉ có thể bị hạn chế theo quy định của luật trong trường hợp
cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội, đạo đức
xã hội, sức khỏe cộng đồng”.
Điều 10 Luật Cư trú năm 2006 (sửa đổi, bổ sung năm 2013) có quy định
các trường hợp cụ thể bị hạn chế quyền tự do cư trú:
“1. Người bị cơ quan tiến hành tố tụng có thẩm quyền áp dụng biện pháp
cấm đi khỏi nơi cư trú.
2. Người bị Tòa án áp dụng hình phạt cấm cư trú; người bị kết án phạt tù
nhưng chưa có quyết định thi hành án, được hưởng án treo hoặc đang được
hoãn, tạm đình chỉ thi hành án phạt tù; người đang bị quản chế.
3. Người bị áp dụng biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng, cơ sở chữa
bệnh, cơ sở giáo dục nhưng đang được hoãn chấp hành hoặc tạm đình chỉ thi
hành”.
Để tránh tình trạng giới hạn một cách tùy tiện, xâm phạm đến quyền tự do
cư trú của công dân việc giới hạn quyền tự do cư trú phải tuân theo các quy định
của pháp luật.

16


Kết luận Chương 1
Nhà nước và pháp luật cần phải có những chính sách, quy định cụ thể
nhằm bảo vệ, bảo đảm quyền tự do cư trú của công dân. Trên cơ sở sự công
nhận và bảo hộ của Nhà nước mà công dân có thể có một nơi cư trú nhất định
theo sự lựa chọn của bản thân. Các quy định nhằm bảo đảm quyền tự do cư trú
của công dân theo pháp luật; đồng thời cũng bảo đảm cho công tác quản lý cư
trú đạt hiệu quả cao..

17


Chương 2
THỰC HIỆN QUYỀN TỰ DO CƯ TRÚ CỦA CÔNG DÂN
TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH.
2.1. Thực trạng về điều kiện tự nhiên, kinh tế, dân số của thành phố Hồ
Chí Minh đến việc bảo đảm quyền tự do cư trú của công dân.
Thành phố Hồ Chí Minh được thành lâp vào ngày 02 tháng 7 năm
1976, Quốc hội đầu tiên của nước Việt Nam thống nhất quyết định đổi tên nước
thành Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam, đồng thời đổi tên thành phố Sài
Gòn – Gia Định thành Thành phố Hồ Chí Minh
 Vị trí, địa hình
Với tổng diện tích 2.096 km² và 8.993.082 người, trong đó: thành thị
7.127.364 người (chiếm 79,25%), nông thôn: 1.865.718 người (chiếm 20,75%)
(số liệu 2019), thành phố Hồ Chí Minh là đô thị lớn thứ 2 Việt Nam về diện
tích (sau Hà Nội) và lớn nhất về dân số.


Về kinh tế
Trong nền kinh tế Việt Nam, Thành phố Hồ Chí Minh – Hòn Ngọc Viễn

Đông giữ vai trò đầu tàu.
Đến cuối năm 2018, GDP bình quân đầu người của thành phố ước đạt
hơn 6000 USD/người, cao gấp gần 2.5 lần so với mức trung bình cả nước.
Năm 2018 dân số toàn thành phố đã đạt đến 13 triệu người, tăng gấp 5,2
lần so với thời điểm tháng 4 năm 1975 (nếu tính cả người cư trú không đăng
ký). Lượng người nhập cư đổ vào thành phố cũng ngày càng tăng năm sau cao
hơn năn trước.
Theo đà phát triển của kinh tế, Thành phố Hồ Chí Minh có dân số tăng
quá nhanh và đang phải đối diện với những vấn đề của một đô thị lớn. Các
quận nội thành, đường sá thường xuyên ùn tắc do lượng xe quá lớn, giờ cao
điểm trở nên quá tải,. Hệ thống giao thông công cộng kém hiệu quả. Triều
18


cường gây ngập cục bộ cũng là vấn đề nan giải của thành phố cần có biện pháp
khắc phục. Môi trường thành phố đang bị ô nhiễm nặng do khí thải công nghiệp
sản xuất phương tiện giao thông, và nhiều các công trường xây dựng …. Ngoài
ra, thành phố đang phải đối mặt với nguy cơ bị nhấn chìm vì nước biển dâng lên
do biến đổi khí hậu gây ra. Mỗi khi đến mùa mưa, thành phố phải đối mặt với
việc ngập lụt trên các tuyến đường, hiện nay thành phố đã có chủ trương khắc
phục.


Về dân cư

19


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×