Tải bản đầy đủ

Quan điểm của Gia Long và Minh Mạng về xây dựng, quản lý đội ngũ quan lại (1802 – 1841) (Luận án tiến sĩ0

VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

HỒ NGỌC ĐĂNG

QUAN ĐIỂM CỦA GIA LONG VÀ MINH MẠNG
VỀ XÂY DỰNG, QUẢN LÝ ĐỘI NGŨ QUAN LẠI
(1802-1841)

LUẬN ÁN TIẾN SĨ TRIẾT HỌC

HÀ NỘI - 2020


VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

HỒ NGỌC ĐĂNG


QUAN ĐIỂM CỦA GIA LONG VÀ MINH MẠNG
VỀ XÂY DỰNG, QUẢN LÝ ĐỘI NGŨ QUAN LẠI
(1802-1841)

Ngành: Triết học
Mã số: 9229001

LUẬN ÁN TIẾN SĨ TRIẾT HỌC

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. Nguyễn Tài Đông

HÀ NỘI - 2020


LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan, luận án là công trình nghiên cứu độc lập của riêng
tôi. Các số liệu, kết quả nêu trong luận án là trung thực, rõ ràng và có nguồn
gốc cụ thể. Kết quả nghiên cứu được trình bày trong luận án chưa từng được
công bố trong bất kỳ công trình nào khác.
Tác giả

Hồ Ngọc Đăng


MỤC LỤC
MỞ ĐẦU .......................................................................................................... 1
Chƣơng 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI .............. 6
1.1. Các tài liệu nghiên cứu về những điều kiện, tiền đề khách quan và
nhân tố chủ quan cho sự hình thành quan điểm của vua Gia Long và
Minh Mạng (1802-1841) về xây dựng và quản lý đội ngũ quan lại ........... 6
1.2. Các công trình liên quan đến việc nghiên cứu những nội dung cơ bản
trong quan điểm của Gia Long và Minh Mạng về xây dựng, quản lý đội
ngũ quan lại (1802-1841) và việc thực thi quan điểm đó đương thời ............ 15
1.3. Các công trình nghiên cứu đề cập đến giá trị, hạn chế và bài học lịch
sử từ quan điểm của Gia Long và Minh Mạng về xây dựng, quản lý đội
ngũ quan lại (1802-1841) đối với công tác cán bộ ở nước ta hiện nay ........ 22
1.4. Đánh giá khái quát về tình hình nghiên cứu đề tài và một số vấn
đề đặt ra từ tổng quan các công trình khoa học liên quan đến đề tài cần
được tiếp tục giải quyết trong luận án....................................................... 28
Chƣơng 2: CƠ SỞ HÌNH THÀNH QUAN ĐIỂM CỦA VUA GIA


LONG VÀ MINH MẠNG VỀ XÂY DỰNG, QUẢN LÝ ĐỘI NGŨ
QUAN LẠI ..................................................................................................... 32
2.1. Khái niệm quan lại và quan lại triều Nguyễn dưới thời Gia Long
và Minh Mạng (1802 – 1841) ................................................................... 32
2.2. Những điều kiện, tiền đề khách quan cho sự hình thành quan điểm của
Gia Long và Minh Mạng trong lĩnh vực xây dựng và quản lý quan lại........... 36
2.3. Nhân tố chủ quan trong sự hình thành quan điểm của Gia Long và
Minh Mạng về xây dựng, quản lý đội ngũ quan lại .................................. 68
Chƣơng 3: NHỮNG NỘI DUNG CHỦ YẾU TRONG QUAN ĐIỂM
CỦA GIA LONG VÀ MINH MẠNG VỀ XÂY DỰNG, QUẢN LÝ
ĐỘI NGŨ QUAN LẠI (1802-1841) VÀ SỰ THỰC HIỆN QUAN
ĐIỂM ĐÓ ĐƢƠNG THỜI ........................................................................... 74


3.1. Những nội dung chủ yếu trong quan điểm của vua Gia Long về
xây dựng, quản lý đội ngũ quan lại ........................................................... 75
3.2. Những nội dung chủ yếu trong quan điểm của vua Minh Mạng về
xây dựng, quản lý đội ngũ quan lại. .......................................................... 79
3.3. Việc thực hiện các quan điểm của vua Gia Long và vua Minh
Mạng về xây dựng, quản lý đội ngũ quan lại............................................ 86
Chƣơng 4: GIÁ TRỊ, HẠN CHẾ TRONG QUAN ĐIỂM CỦA GIA
LONG VÀ MINH MẠNG VỀ XÂY DỰNG, QUẢN LÝ ĐỘI NGŨ
QUAN LẠI VÀ BÀI HỌC LỊCH SỬ CỦA NÓ ....................................... 114
4.1. Một số giá trị, hạn chế trong quan điểm của Gia Long và Minh
Mạng về xây dựng, quản lý đội ngũ quan lại (1802 – 1841) .................. 114
4.2. Bài học lịch sử từ quan điểm của Gia Long và Minh Mạng về xây
dựng, quản lý đội ngũ quan lại (1802 – 1841) đối với công tác cán bộ
nước ta hiện nay ...................................................................................... 132
KẾT LUẬN .................................................................................................. 147
CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ ĐÃ CÔNG BỐ
LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN ..................................................... 151
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ................................................... 152


MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Thực tiễn lịch sử hàng ngàn năm đã chứng tỏ một điều hết sức rõ ràng rằng,
việc xây dựng và quản lý quan lại dưới chế độ phong kiến trước đây hay đội ngũ
cán bộ hiện nay là một trong những yêu cầu có tính quyết định đến tồn vong đối
với bất cứ một triều đại, chế độ chính trị nào. Nếu xây dựng được một đội ngũ
quan lại hay cán bộ đủ về số lượng, tinh anh về trí tuệ, mẫn cán trong công việc,
trong sạch về đạo đức, liêm chính, sẽ góp phần quan trọng cho việc điều hành đất
nước của giới cầm quyền,đồng thời đảm bảo được quyền và lợi ích cho nhân dân.
Ngược lại, nếu giai cấp thống trị không chú trọng đến hoặc không xây dựng được
đội ngũ quan lại đáp ứng yêu cầu trị nước thì đất nước sẽ ngày càng lụi tàn, dân
chúng bất bình, xã hội loạn lạc. Do đó không phải ngẫu nhiên mà Thân Nhân
Trung (1419-1499) trong văn bia dựng ở Quốc Tử Giám thành Thăng Long từng
nói: “... Hiền tài là nguyên khí của quốc gia, nguyên khí thịnh thì thế nước mạnh,
rồi lên cao, nguyên khí suy thì thế nước yếu, rồi xuống” [166]. Nhân tài thời nào
cũng cần cho sự phát triển của quốc gia, cho nên Chủ tịch Hồ Chí Minh từng
khẳng định: “Nhà nước cần phải kiến thiết. Kiến thiết cần phải có nhân tài” [72,
tr.452]. Đảng ta cũng xác định rằng: “Cán bộ là nhân tố quyết định sự thành bại
của cách mạng; công tác cán bộ là khâu “then chốt” của công tác xây dựng Đảng
và hệ thống chính trị” [154, tr.5].
Năm 1802, Gia Long lập ra triều Nguyễn trong bối cảnh đất nước mới
trải qua nội chiến kéo dài nhiều năm giữa hai thế lực Trịnh - Nguyễn, tiếp đến
là cuộc chiến tranh giữa Nguyễn Ánh và Tây Sơn. Các cuộc nội chiến đó đã
gây ra hậu quả nghiêm trọng trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội và đến
lượt mình, triều Nguyễn cần phải giải quyết. Đất nước Việt Nam từ đó được
thống nhất trên lãnh thổ rộng lớn, điều đó lại đặt ra cho triều Nguyễn một
thách thức không nhỏ, đó là phải làm thế nào để xây dựng và kiện toàn bộ
máy hành chính nhà nước từ trung ương đến địa phương; nguồn nhân lực đảm
nhiệm việc vận hành bộ máy đó như thế nào để duy trì sự thống trị của triều
đại và nhân dân được sống yên ổn. Bên cạnh đó, tình hình thế giới và khu vực
đang có những biến động, gây ra các yếu tố bất lợi đe dọa đến sự tồn vong
1


của triều Nguyễn và chủ quyền của đất nước. Đây chính là những yêu cầu đặt
ra cho Gia Long cần phải xây dựng bộ máy hành chính mạnh với đội ngũ
quan lại tài đức, thân tín để cùng hoàng đế gánh vác trọng trách lịch sử giao
phó. Là một vị vua đã kinh qua trận mạc, trong quá trình điều hành đất nước,
vua Gia Long đã rất nhạy bén trong việc xây dựng bộ máy hành chính và đội
ngũ quan lại đáp ứng yêu cầu thực tiễn.
Tiếp nối thành quả của vua cha để lại, Minh Mạng lên nắm quyền điều
hành đất nước với những yêu cầu cấp bách cần phải củng cố mạnh hơn nữa
nền quân chủ chuyên chế. Đặc biệt là mô hình chính quyền “quân quản” tạm
thời và cơ chế “tản quyền” dưới triều Gia Long đã trở nên bất cập, tình hình
kinh tế, chính trị - xã hội đang có những diễn biến phức tạp, do đó Minh
Mạng nhận thức rất rõ việc cấp bách hơn bao giờ hết là cần phải cải cách bộ
máy hành chính một cách mạnh mẽ hơn. Điều đó đương nhiên sẽ kéo theo
việc xây dựng đội ngũ quan lại đủ tài đức, mẫn cán và trung quân phù hợp với
nhu cầu của bộ máy hành chính đó. Như vậy, nguyên nhân dẫn đến cuộc cải
cách hành chính trên cả nước vào những năm 1831-1832, là cần làm tinh gọn
bộ máy nhà nước,tuyển dụng và bổ nhiệm quan lại đáp ứng yêu cầu của các
định chế hành chính và quân sự đương thời.
Trước yêu cầu của tồn tại xã hội mà cụ thể là tồn tại chính trị của đất
nước đương thời, hai vị vua Gia Long và Minh Mạng (1802-1841) đã xây
dựng được quan điểm về xây dựng và quản lý đội ngũ quan lại do sự đòi hỏi
của thực tiễn đời sống chính trị - xã hội, vừa đáp ứng yêu cầu trước mắt về
củng cố nền quân chủ chuyên chế, xây dựng đế quyền và bảo vệ lãnh thổ và
chăm lo cho dân chúng, vừa có tính vượt trước để ứng phó về lâu dài khi có
những biến cố chính trị - xã hội có thể xẩy ra trong tương lai để duy trì sự
thống trị bền vững của triều đại. Lịch sử cho thấy, chính sự nhạy bén đó của
Gia Long và Minh Mạng đã giúp cho triều Nguyễn đạt được những thành tựu
lớn trên nhiều lĩnh vực mà ngày nay sử sách vẫn còn ghi nhận. Đặc biệt, qua
nghiên cứu kết quả của các cuộc hội thảo khoa học về triều Nguyễn trong vài
thập niên trở lại đây cho thấy trong việc đánh giá triều đại này đã có nhiều
quan điểm khách quan, khoa học hơn trước, tức là sự thẩm định về thành tựu
2


cũng như hạn chế của triều Nguyễn đúng với thực tế lịch sử trong gần thế kỷ
rưỡi tồn tại của nó.
Tuy nhiên, trong những năm qua, việc nghiên cứu cơ sở cho việc hình
thành các quan điểm của Gia Long và Minh Mạng về xây dựng và quản lý đội
ngũ quan lại chủ yếu được thực hiện từ góc độ Sử học, nghĩa là trên thực tế
việc nghiên cứu đó vẫn chưa đầy đủ và thiếu cách tiếp cận từ góc độ triết học.
Bởi lẽ, chỉ với cách tiếp cận triết học đến tồn tại chính trị của triều Nguyễn
đương thời mới làm rõ được những vấn đề cốt lõi của nó như: chế độ quân
chủ trung ương tập quyền của triều Nguyễn được xây dựng trên cơ sở nào?
Tại sao triều Nguyễn phải thực hiện bước quá độ từ chế độ quân quản sang
quân chủ chuyên chế dựa trên nền tảng tư tưởng Nho giáo? Thực chất vấn đề
con người trong lĩnh vực xây dựng và quản lý đội ngũ quan lại là gì? Nội dung
và cách thức thực thi quan điểm của Gia Long và Minh Mạng về xây dựng và
quản lý đội ngũ quan lại ra sao? Hiệu quả và những hạn chế trong việc thực thi
quan điểm đó như thế nào? Có hay không trong quan điểm của Gia Long và
Minh Mạng về xây dựng và quản lý đội ngũ quan lại những ý nghĩa mà chúng ta
có thể khái quát thành bài học cho công tác cán bộ ở nước ta hiện nay? V.v.
Với mục đích “ôn cố tri tân”, chúng tôi khẳng định rằng, việc nghiên cứu
quan điểm xây dựng và quản lý đội ngũ quan lại dưới triều Gia Long và Minh
Mạng sẽ đem lại cho chúng ta bài học kinh nghiệm quý báu trong công tác
cán bộ nước ta hiện nay. Điều này càng trở nên cấp thiết hơn, khi hiện nay các
vấn đề tiêu cực đang xẩy ra ngày một phức tạp, tinh vi trong đội ngũ cán bộ
công chức nhà nước, thậm chí trong số đó có những cán bộ cao cấp của Đảng,
chính họ đã và đang làm xói mòn lòng tin của nhân dân vào Đảng cũng như
sự tồn vong của chế độ. Chính vì vậy, ngoài việc quán triệt sâu sắc quan điểm
của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh về công tác cán bộ, coi “cán bộ là gốc của
mọi công việc” và “công việc thành công hoặc thất bại đều do cán bộ tốt hoặc
kém” [73,tr. 269, 273], thiết nghĩ cần tham khảo quan điểm của Gia Long và
Minh Mạng về xây dựng và quản lý đội ngũ quan lại với tư cách kinh nghiệm
lịch sử để cán bộ công chức nước ta không chỉ là những “công bộc của dân”,

3


mà còn là những người có đủ năng lực, phẩm chất đạo đức trong việc hoàn
thiện nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa.
Với những vấn đề cấp thiết nêu trên, chúng tôi chọn đề tài “Quan điểm
của Gia Long và Minh Mạng về xây dựng, quản lý đội ngũ quan lại (18021841)” cho luận án tiến sĩ triết học của mình.
2. Mục đích và nhiệm vụ của luận án
2.1. Mục đích
Luận án góp phần làm rõ quan điểm của Gia Long và Minh Mạng về xây
dựng và quản lý đội ngũ quan lại, từ đó chỉ ra những giá trị, hạn chế và rút ra bài
học lịch sử từ quan điểm đó đối với công tác cán bộ ở nước ta hiện nay.
2.2.

Nhiệm vụ

Để thực hiện mục đích nêu trên, luận án cần giải quyết các nhiệm vụ sau:
Thứ nhất, luận án phân tích, làm rõ những điều kiện, tiền đề khách
quan và nhân tố chủ quan cho sự hình thành quan điểm của Gia Long và Minh
Mạng về xây dựng và quản lý đội ngũ quan lại.
Thứ hai, phân tích, trình bày nghiên cứu những nội dung cơ bản trong quan
điểm của Gia Long và Minh Mạng về xây dựng và quản lý đội ngũ quan lại.
Thứ ba, rút ra ý nghĩa và bài học lịch sử từ quan điểm về xây dựng và
quản lý đội ngũ quan lại của triều Nguyễn dưới thời trị vì của Gia Long và
Minh Mạng đối với công tác cán bộ ở nước ta hiện nay
3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu của luận án
3.1. Đối tượng
Đối tượng nghiên cứu của luận án là quan điểm của Gia Long và Minh
Mạng về xây dựng, quản lý đội ngũ quan lại triều Nguyễn (1802 – 1841).
3.2. Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu của đề tài là toàn bộ những điều kiện, tiền đề
khách quan và nhân tố chủ quan hình thành nên quan điểm của vua Gia Long
và Minh Mạng về xây dựng và quản lý đội ngũ quan lại cũng như cách thức
thực hiện quan điểm đó trong lịch sử triều Nguyễn giai đoạn 1802 – 1841.
Trên cơ sở đó, luận án bước đầu đưa ra sự đánh giá khách quan ý nghĩa và bài
học lịch sử của các quan điểm đó đối với công tác cán bộ ở nước ta hiện nay.
4


4. Cơ sở lý luận và phƣơng pháp nghiên cứu của luận án
4.1. Cơ sở lý luận
Đề tài luận án được thực hiện dựa trên cơ sở lý luận của triết học chủ
nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và các quan điểm của Đảng Cộng
sản Việt Nam về lĩnh vực triết học chính trị (quản lý nhà nước, đạo đức và
văn hóa công vụ, v.v.).
4.2. Phương pháp nghiên cứu
Luận án vận dụng phương pháp luận của triết học Mác – Lênin,sử dụng
phương pháp phân tích – tổng hợp, so sánh – đối chiếu, hệ thống hóa, khái
quát hóa, kết hợp logic với lịch sử, v.v., đồng thời chú trọng cách tiếp cận liên
ngành, chủ yếu là các ngành khoa học xã hội và nhân văn như: Chính trị học,
Sử học, Luật học, Xã hội học, v.v.
5. Cái mới của luận án
Luận án làm rõ một số nội dung, đặc điểm, giá trị và hạn chế trong
quan điểm của Gia Long và Minh Mạng về xây dựng, quản lý đội ngũ quan
lại triều Nguyễn (1802 – 1841), đồng thời rút ra bài học lịch sử của quan điểm
đó đối với công tác cán bộ ở nước ta hiện nay.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án
6.1. Ý nghĩa lý luận
Trên cơ sở phân tích, làm rõ khái niệm, nguồn gốc và một số nội dung
cơ bản trong quan điểm của Gia Long và Minh Mạng về xây dựng, quản lý
đội ngũ quan lại triều Nguyễn (1802 – 1841), luận án án chỉ ra một số đóng
góp về mặt lý luận của quan điểm đó trong đường lối trị nước của hai vị vua
đầu triều này.
6.2. Ý nghĩa thực tiễn
Luận án làm rõ vai trò của quan điểm về xây dựng và quản lý đội ngũ
quan lại của Gia Long và Minh Mạng, do đó những kết quả nghiên cứu của
luận án có thể làm tài liệu tham khảo cho những người quan tâm nghiên cứu
về triều Nguyễn nói chung, vấn đề quan lại triều Nguyễn và công tác cán bộ
nước ta hiện nay nói riêng.
7. Kết cấu của luận án
Luận án có kết cấu gồm 4 chương 12 tiết.
5


Chƣơng 1
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI
Cho đến nay, có thể nói đã có khá nhiều công trình khoa học ở mức độ
khác nhau nghiên cứu về triều Nguyễn nói chung và bộ máy hành chính, quá
trình xây dựng, quản lý đội ngũ quan lại của triều Nguyễn trong thời kỳ trị vì
của hai vua đầu triều là Gia Long và Minh Mạng (1802-1841) nói riêng. Tuy
nhiên, đề tài luận án chỉ tập trung tham khảo các công trình nghiên cứu đã
được công bố về những điều kiện, tiền đề khách quan và nhân tố chủ quan
cho sự hình thành và thực thi quan điểm của hai vị vua đầu triều này về xây
dựng và quản lý đội ngũ quan lại; những nội dung cơ bản và cách thức triển
khai quan điểm đó trong đời sống chính trị - xã hội Việt Nam đương thời; ý
nghĩa và bài học lịch sử trong quan điểm của Gia Long và Minh Mạng về xây
dựng và quản lý đội ngũ quan lại đối với công tác cán bộ nước ta hiện nay. Từ
nhu cầu tìm hiểu các quan điểm trong các công trình khoa học của các học giả
đi trước, chúng tôi tạm phân định các hướng nghiên cứu liên quan đến đề tài
luận án để tiện cho việc đánh giá, tiếp thu cũng như chỉ ra những vấn đề cần
được tiếp tục làm rõ trong luận án này.
1.1. Các tài liệu nghiên cứu về những điều kiện, tiền đề khách quan
và nhân tố chủ quan cho sự hình thành quan điểm của vua Gia Long và
Minh Mạng (1802-1841) về xây dựng và quản lý đội ngũ quan lại
Nghiên cứu các tài liệu, các công trình khoa học đã được công bố liên
quan đến đề tài là hết sức cần thiết để tìm ra căn cứ với tư cách những tiền đề
khách quan và yếu tố chủ quan góp phần hình thành nên quan điểm của hai vị
vua đầu triều Nguyễn về xây dựng và quản lý đội ngũ quan lại của triều đình.
Tiền đề khách quan chính là bối cảnh lịch sử của đất nước và tình hình khu
vực dẫn đến tính tất yếu của sự ra đời triều Nguyễn với hệ thống chính trị của
nó, đặc biệt là bộ máy nhà nước quân chủ chuyên chế phương Đông được
thiết lập từ trung ương đến địa phương mà ở đó, các hàm phẩm quan lại với
nhiệm vụ đảm trách được phân định rõ ràng nhằm duy trì sự cai trị có hiệu
quả của triều đình. Yếu tố chủ quan được các công trình đề cập tới chính là sự
lựa chọn mô hình nhà nước quân chủ chuyên chế và năng lực của hai vị vua
6


đầu triều trong việc xác định quan điểm của mình về xây dựng và quản lý đội
ngũ quan lại cũng như thực thi quan điểm đó.
Trần Trong Kim từ năm 1919 – 1921 đã cho ra mắt cuốn Việt Nam sử
lược; được Nxb Văn hóa Thông tin ấn hành năm 1999 [62]. Trong cuốn sách
này, tác giả đã trình bày khái lược về các triều đại phong kiến Việt Nam,
trong đó có triều Nguyễn. Kỳ vọng của tác giả là kê cứu các sự kiện lịch sử
sao “cho tường tận” và chân thực, tránh sự nhận định chủ quan cũng như
thiên sự thiên vị của người làm sử.
Cuốn Đại cương lịch sử Việt Nam, tập 1, Nxb Giáo dục Hà Nội ấn hành
năm 1999 do Trương Hữu Quýnh (chủ biên) và các tác giả khác là Phan Đại
Doãn, Nguyễn Cảnh Minh [110]. Trong công trình này, cụ thể là chương XIV
cuốn sách đề cập đến tình hình Việt Nam nửa đầu thế kỷ XIX gồm các vấn đề
về chính trị, kinh tế, xã hội và văn hóa. Cho đến thời điểm cuốn sách này
được ấn hành, ở nước ta đã có một số bộ sử, song có thể nói, đây là công trình
khái quát một cách ngắn gọn nhất về tình hình nhà Nguyễn trong lĩnh vực tổ
chức chính quyền từ trung ương tới địa phương, khi tình hình thế giới có
nhiều biến động lớn do sự phát triển và bành trướng của chủ nghĩa tư bản
phương Tây sang phương Đông, làm cho một số nước rơi vào ách đô hộ của
thực dân, trong đó có Việt Nam. Cuốn sách đã cung cấp cho chúng ta bức
tranh chung khá rõ nét về bối cảnh lịch sử cung như các tiền đề cơ bản cho sự
hình thành quan điểm của vua Gia Long và Minh Mạng về xây dựng và quản
lý đội ngũ quan lại của triều Nguyễn đương thời. Tuy nhiên, khi đề cập đến
Nho giáo với tư cách là bệ đỡ hệ tư tưởng của triều Nguyễn, cuốn sách chưa
làm rõ vai trò của Nho giáo đối với các lĩnh vực đời sống của xã hội tới mức
nào, thậm chí còn ghép nó vào mục tôn giáo tín ngưỡng, do đó những hệ lụy
mà nhà Nguyễn gặp phải trong nửa cuối thế kỷ XIX có phải là bởi Nho giáo
hay không lại chưa có lời giải đáp.
Cuốn Tình hình ruộng đất nông nghiệp và đời sống nông dân dưới triều
Nguyễn do Trương Hữu Quýnh – Đỗ Bang chủ biên, các tác giả Vũ Minh
Giang, Vũ Văn Quân và Nguyễn Quang Trung Tiến, Nxb Thuận Hóa, Huế
năm 1997 [111], đã đề cập đến vấn đề căn bản của kinh tế triều Nguyễn là sở
7


hữu ruộng đất. Cụ thể, công trình này đã nghiên cứu địa bạ, tình hình ruộng
đất nông nghiệp cũng như đời sống nông dân Việt Nam dưới triều Nguyễn.
Sở hữu ruộng đất dưới triều Nguyễn nửa đầu thế kỷ XIX gồm có hai loại, đó
là sở hữu nhà nước và sở hữu tư nhân. Vào đầu thế kỷ XIX, Gia Long và
Minh Mạng đã coi đất đai là tư liệu sản xuất chủ yếu để phát triển nền kinh tế,
do đó việc khai hoang, mở rộng diện tích canh tác, đặc biệt là ở các vùng
Nam bộ được chú trọng và đẩy mạnh. Nhà Nguyễn đã coi việc mở rộng hai
loại hình thức đồn điền (trại đồn điền do binh lính khai hoang và hậu đồn điền
do dân khai hoang) để kết hợp giữa kinh tế với an ninh quốc phòng. Ở Bắc bộ
thời Minh Mệnh có hình thức dinh điền, tức là đất khai hoang vùng duyên hải
với hai huyện Tiền Hải (Thái Bình) và Kim Sơn (Ninh Bình) do Nguyễn
Công Trứ chỉ huy đã làm cho diện tích đất canh tác nông nghiệp tăng đáng kể.
Có thể nói, công trình này là tư liệu tham khảo cho việc nghiên cứu tình hình
kinh tế, chính trị, xã hội thời kỳ đầu thế kỷ XIX trong văn cảnh nhà Nguyễn
đã chỉ đạo và quản lý quan lại thực hiện chủ trương của nhà nước như thế nào
và hiệu quả ra sao.
Cuốn Những vấn đề lịch sử và văn chương triều Nguyễn, do Trần Hữu
Duy, Nguyễn Phong Nam làm chủ biên, Nxb Giáo dục ấn hành năm 1997
[25], là tập hợp gồm 26 bài nghiên cứu về triều Nguyễn với cách nhìn, những
kiến giải khác nhau, thậm chí trái ngược nhau về các vấn đề như: Triều
Nguyễn và xã hội Việt Nam thế kỷ XIX của Nguyễn Phan Quang; Về tư tưởng
“thực tiễn” và tư tưởng “giáo điều” của triều Nguyễn của Bửu Nam; Minh
Mạng với hai tư tưởng chính trị lớn của ông: củng cố nền thống nhất quốc
gia và yên dân của Nguyễn Minh Tường; Mấy vấn đề phương pháp luận
nghiên cứu triều Nguyễn của Trương Hữu Quýnh, v.v., đều là những nội dung
bổ ích cho việc tham khảo trong quá trình thực hiện luận án của chúng tôi.
Cuốn Một số vấn đề về quan chế triều Nguyễn của các tác giả Phan Đại
Doãn, Nguyễn Minh Tường, Hoàng Phương, Lê Thành Lân, Nguyễn Ngọc
Quỳnh, Nxb Thuận Hóa, Huế 1998 [19] đã đề cập đến vấn đề quan chế với tư
cách là một trong những nội dung quan trọng của các triều đại phong kiến
trong việc xây dựng và củng cố vương triều, xây dựng đường lối trị nước trên
8


cơ sở thực thi các chủ trương chính sách của Hoàng đế, triều đình. Theo các
tác giả, “quan chế phản ánh trình độ tổ chức, tầm nhìn, sự sáng tạo, canh tân
hay bảo thủ, trì trệ của một chế độ với thời đại mà yêu câu lịch sử, đất nước
đó đang đặt ra” [19, tr.5]. Cuốn sách đã đề cập đến mô hình tổ chức nhà nước
quân chủ triều Nguyễn trên cơ sở tham khảo các mô hình nhà nước quân chủ
Đại Việt và Minh Thanh (Trung Quốc), trong đó nhấn mạnh đến vai trò của
Nho giáo với tư cách là trụ đỡ hệ tư tưởng cho triều đại từ việc thiết lập bộ
máy nhà nước từ trung ương đến địa phương cho tới việc điều hành sự hoạt
động của bộ máy đó.
Lê Sĩ Thắng với cuốn Lịch sử tư tưởng Việt Nam, tập 2, Nxb Khoa học
xã hội ấn hành năm 1997 [117] bước đầu phân tích những hệ lụy nêu trên và
đi đến nhận định cho rằng, tư tưởng bảo thủ, phản động của triều Nguyễn về
thực chất là do đề cao Nho giáo, cụ thể là đề cao tư tưởng “Nội Hạ ngoại Di”
của truyền thống Trung Hoa, dẫn đến các chính sách “bế quan tỏa cảng”,
“trọng nông ức thương”, v.v. Quan điểm của tác giả công trình này về thực
chất, vẫn chưa có gì mới bởi khi đó, giới Sử học cũng như ở nhiều lĩnh vực
khác của khoa học xã hội và nhân văn ít nhiều vẫn còn mang tính định kiến,
chủ quan về triều Nguyễn, coi đó là một triều đại “cõng rắn cắn gà nhà”.
Kỷ yếu Hội thảo khoa học: Chúa Nguyễn và vương triều Nguyễn trong
lịch sử Việt Nam từ thế kỷ XVI đến thế kỷ XIX, Nxb Thế giới, Hà Nội, năm
2008 [18]. Hội thảo được tổ chức vào tháng 10 năm 2008 tại Thanh Hóa, tại
đây nhiều vấn đề về chúa Nguyễn và triều Nguyễn được đặt ra, trước hết là
xuất phát từ yêu cầu về tính khoa học, khách quan của sử học, như GS. Phan
Huy Lê trong Báo cáo đề dẫn của mình đã nói: “Nhận thức lịch sử là một quá
trình tiến tới tiếp cận lịch sử một cách càng ngày càng khách quan, trung thực,
gần với sự thật lịch sử nhất trong khả năng của các nhà sử học… Khả năng
này tùy thuộc vào rất nhiều yếu tố, trước hết là năng lực của nhà sử học biểu
thị ở trình độ lý thuyết và phương pháp luận cách tập hợp và xử lý các nguồn
thông tin, mặt khác, là cách nhìn và động cơ của nhà sử học liên quan đến
những tác động chi phối hay ảnh hưởng của bối cảnh chính trị của mỗi thời kỳ
lịch sử” [18, tr.11]. Xuất phát từ yêu cầu đó, nhiều vấn đề về phương pháp luận
9


nghiên cứu các vấn đề chính trị - xã hội Việt Nam thời Nguyễn được đề xuất,
đặc biệt là đường lối cai trị của triều Nguyễn với quan điểm và cách thức quản lý
đội ngũ quan lại đương thời là những vấn đề được chúng tôi hết sức quan tâm
trong quá trình thực hiện luận án của mình từ góc độ tiếp cận triết học.
Nghiên cứu về triều Nguyễn, nhất là bộ máy hành chính và đội ngũ quan
lại của triều Nguyễn có khá nhiều công trình, trong đó phải kể đến những
công trình của các học giả như Nguyễn Minh Tường, Đỗ Bang. Trong những
năm 1995-1997, Đỗ Bang đã chủ biên công trình “Tổ chức bộ máy nhà nước
triều Nguyễn (1802-1884)” (thuộc đề tài độc lập cấp Nhà nước về triều
Nguyễn) và công trình này được Nhà xuất bản Thuận Hóa xuất bản năm 1997
[6]. Trong công trình này tác giả đã dành một phần khái quát về cơ cấu tổ
chức, chức năng, nhiệm vụ của bộ máy và hệ thống quan lại từ trung ương
đến địa phương dưới triều Nguyễn từ năm 1802 đến năm 1884,được chia
thành 2 phần: tổ chức chính quyền trung ương và bộ máy hành chính địa
phương. Trong đó, ở phần tổ chức bộ máy nhà nước trung ương, tác giả đã
khát quát khá đầy đủ về hệ thống các cơ quan trực thuộc hoàng đế, hệ thống
tổ chức bộ máy, nhân sự, nhiệm vụ của các bộ, các nha, v.v. Về bộ máy hành
chính địa phương, tác giả chia làm 2 thời kỳ là trước (1802-1830) và sau cuộc
cải cách hành chính của Minh Mạng (1831-1884) [6].
Tiếp đến, năm 1998, tác giả Đỗ Bang cho ra mắt cuốn Khảo cứu kinh tế
và tổ chức bộ máy nhà nước triều Nguyễn: những vấn đề đặt ra hiện nay[7].
Tại chương II công trình này đã trình bày một cách khá hệ thống về nguyên lý
cai trị của triều Nguyễn và tổ chức bộ máy từ trung ương đến địa phương,gồm
các vấn đề về nguyên lý cai trị, quan chế và các khoa thi tiến sĩ. Công trình đã
khái quát được những thành tựu cũng như hạn chế của triều Nguyễn trong
việc tổ chức và điều hành bộ máy nhà nước từ trung ương đến địa phương mà
bộ máy đó về thực chất là sự tích hợp cách tổ chức cũng như phương pháp cai
trị trong lịch sử chế độ phong kiến Việt Nam trước đó cũng như của các triều
đại phong kiến Minh, Thanh của Trung Quốc. Với quan điểm trị nước của chế
độ phong kiến trung ương tập quyền dựa trên nền tảng Nho giáo, triều
Nguyễn không thể tránh được những sai lầm lịch sử về tính bảo thủ, xa rời
10


thực tế dẫn đến sự yếu kém và liên tục trượt dốc trước các vấn đề chính trị xã hội trong nước cũng như tình hình thế giới và khu vực lúc bấy giờ.
Cuốn Lịch sử nhà Nguyễn một cách tiếp cận mới, Nxb Đại học Sư phạm
Hà Nội, năm 2011 [68], là tập hợp các bài nghiên cứu về triều Nguyễn, đặc
biệt là phần đánh giá “công”, “tội” của triều Nguyễn trên cơ sở khoa học,
khách quan và công bằng. Trong công trình này, nhiều vấn đề mới mang tính
phương pháp luận Sử học nghiên cứu về triều Nguyễn, tuy nhiên mức độ khái
quát lý luận từ góc độ triết học về vấn đề chủ quan và khách quan của đường
lối trị nước mà trong đó, quan điểm xây dựng và quản lý đội ngũ quan lại
chưa được rõ.
Nguyễn Minh Tường với cuốn Tổ chức bộ máy nhà nước quân chủ Việt
Nam (Từ năm 939 đến năm 1884), Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 2015 [141].
Cuốn sách được in khổ lớn với số lượng trên 900 tr., trong các chương III, IV,
V, VI, VII,VIII, IX, X, tác giả đã chú trọng phân tích việc tổ chức chính
quyền trung ương và địa phương, tổ chức quân đội, việc ban hành luật pháp
và thực thi pháp luật, thiết lập các cơ quan kiểm ra, giám sát bộ máy nhà
nước, cách tuyển bổ quan lại và lệ phong tước, về nhiệm vụ và quyền lợi của
các quan lại, vấn đề khảo khóa, thưởng phạt và chế độ hưu trí của quan lại. Có
thể nói, cuốn sách đã đề cập đến hầu hết các vấn đề liên quan đến xây dựng
và quản lý đội ngũ quan lại, do đó, nó trở thành căn cứ cần thiết cho việc
nghiên cứu đề tài của chúng tôi.
Trong số các công trình bàn về năng lực chủ quan của Gia Long và Minh
Mệnh phải kể đến cuốn Ngoại giao giữa Việt Nam và các nước phương Tây
dưới triều Nguyễn (1802-1858) của tác giả Trần Nam Tiến, Nxb Đại học quốc
gia TP Hồ Chí Minh năm 2006 [132].Cuốn sách gồm 4 chương trình bày về
đường lối đối ngoại của triều Nguyễn với các nước phương Tây, trong đó có
chương 2 và chương 3 đề cập đến chính sách đối ngoại của Gia Long (18021820) và Minh Mạng (1820-1840). Chính sách đối ngoại của hai vị vua đầu
triều Nguyễn đã thể hiện khá rõ nét năng lực chủ quan của họ, bởi lẽ từ trước
tới nay, khi đánh giá về Gia Long, các nhà khoa học thường nhắc đến tội lớn
của ông là “cõng rắn cắn gà nhà”, song trên thực tế, theo tác giả cuốn sách
11


này, “trong bối cảnh các nước phương Tây đang tăng cường tiếp xúc với Việt
Nam, Gia Long đã tìm cách tránh né quan hệ chính thức với các nước này, và
thực tế ông là người đã đặt nền móng cho một đường lối đối ngoại “tự thủ”,
“khép kín”, mang tính chất không phương Tây” [132, tr.8]. Còn Minh Mạng
trong chính sách ngoại giao của mình với các nước phương Tây lại tỏ ra cứng
rắn hơn vua cha, cụ thể “các vấn đề “hạn thương” và “sát đạo” dưới triều
Minh Mạng đã ảnh hưởng rất nhiều đến quan hệ quốc tế của Việt Nam…
[đưa] chủ trương “bế quan tỏa cảng” của Gia Long trở thành quốc sách”. Hạn
chế của các chính sách ngoại giao đương thời rõ ràng là khó tránh khỏi bởi đó
là những chính sách “tình thế” trước sự bành trướng ngày càng mạnh mẽ của
chủ nghĩa tư bản phương Tây sang phương Đông, song qua chính sách đối
ngoại, chúng ta thấy rõ năng lực chủ quan của hai vị vua này thật đáng ghi nhận.
Không chỉ trong lĩnh vực đối ngoại, trong chính sách đối nội, đặc biệt là
trong việc thiết lập vương triều với bộ máy quan liêu ngày càng hoàn thiện từ
trung ương đến địa phương cũng cho thấy tài năng của họ được thể hiện khá
rõ nét. Điều này được phản ánh trong các công trình nghiên cứu mà chúng tôi
đã nêu ở trên, đặc biệt là trong cuốn Định chế hành chính và quân sự triều
Nguyễn (1802-1885) do Huỳnh Công Bá làm chủ biên [4]. Trong công trình
này, tác giả đưa ra nhận định cho rằng, “Triều Nguyễn ra đời và tồn tại trong
một bối cảnh chính trị - xã hội đặc biệt của đất nước và trong tình hình thế
giới có nhiều biến chuyển phức tạp. Với nỗ lực to lớn của mình, vương triều
Nguyễn đã đóng góp nhiều mặt cho lịch sử dân tộc, từ tổ chức về nhà nước,
đến phát triển về kinh tế, xây dựng về văn hóa và bang giao với các quốc gia
láng giềng” [4, tr.57]
Cũng trong cuốn Việt Nam sử lược[62], Trần Trọng Kim đã đề cập đến
năng lực chủ quan của hai vị vua đầu triều Nguyễn, cụ thể đối với “vua thế
tổ” (Nguyễn Ánh) được tác giả ca ngợi là “ông vua có tài trí, rất khôn ngoan,
trong 25 năm trời, chống nhau với Tây Sơn, trải bao nhiêu lần hoạn nạn, thế
mà không bao giờ ngã lòng, cứ một niềm lo sự khôi phục. Ngài lại có cái đức
tính rất tốt của những kẻ lập nghiệp lớn, là cái đức tính biết chọn người mà
dùng, khiến cho những kẻ hào kiệt ai cũng nức lòng mà theo giúp” [62,
12


tr.451]. Tuy nhiên, tác giả cũng đề cập đến những mặt trái của Gia Long,
chẳng hạn khi nói đến công lao của vị vua này, Trần Trọng Kim cho rằng:
“Công nghiệp của ngài thì to thật, tài trí của ngài thì cao thật, những chỉ hiềm
có một điều là khi công việc xong rồi, ngài không bảo toàn cho những công
thần, mà lại lấy những chuyện nhỏ nhặt đem giết hại những người có công với
ngài, khiến cho hậu thế ai xem đến những chuyện ấy, cũng nhớ đến vua Hán
Cao, và lại thở dài mà thương tiếc cho những người ham mê hai chữ công
danh về đời áp chế ngày xưa” [62, tr. 451]
Với Minh Mạng, cũng trong tác phẩm này, Trần Trọng Kim đã ca ngợi
ông “là một ông vua có tư chất minh mẫn, có tính hiếu học và lại hay làm;
phàm có việc gì, ngài cũng xem xét đến, và có châu phê rồi mới được thi
hành” [62, tr.452]. Công lao của Minh Mạng trong các lĩnh vực cải cách giáo
dục, hành chính và điều hành đất nước rất to lớn, song bên cạnh những nhận
định về tài trí và công lao của vị vua này, Trần Trọng Kim còn cho rằng, “cái
nghĩa vụ của người làm sử, tưởng nên kê cứu cho tường tận, rồi cứ sự thực
mà nói, chứ không nên lấy lòng yêu ghét của mình mà xét đoán. Dẫu người
mình ghét mà có làm điều phải, mình cũng phải khen; người mình yêu mà có
làm điều trái, mình cũng phải chê. Vua Thánh tổ là một ông vua chuyên chế,
tất thế nào cũng có nhiều điều sai lầm và có nhiều điều tàn ác, nhưng xét cho
kỹ, thì thật ngài cũng có lòng vì nước lắm” [62, tr.454].
Ngoài ra, trong số các công trình nghiên cứu của các học giả nước ngoài
đã được dịch ra tiếng Việt gần đây phải kể đến cuốn sách của Yoshiharu
Tshuboi nhan đề: Nước Đại Nam đối diện với Pháp và Trung Hoa, Hội Sử
học Việt Nam, Hà Nội, 1993 [153]. Trong cuốn sách này tác giả đã tập trung
phân tích những đặc điểm về chính trị - xã hội, kinh tế của Đại Nam và khó
khăn mà nước Đại Nam phải đối mặt trước sự xâm lược của Pháp và Trung
Hoa trong nửa cuối thế kỷ XIX. Đồng thời tác giả đưa ra sự so sánh nước
Nhật thời Minh Trị với thời Tự Đức, một bên giữ vững được lãnh thổ và chủ
quyền quốc gia, còn Đại Nam thì thất bại. Cuốn sách của Emmanuel Poisson:
Quan và lại ở miền Bắc Việt Nam – một bộ máy hành chính trước thử thách
(1820-1918) do Đào Hùng và Nguyễn Văn Sự dịch, Nxb Tri thức, Hà Nội,
13


2018, đã nêu những tiêu chí của quan và lại, khảo cứu khá đầy đủ cách thức
đào tạo và thi tuyển, sử dụng quan và lại dưới triều Nguyễn từ năm 18201918, trong đó có 21 năm dưới sự trị vì của vua Minh Mạng (1820-1841)[35].
Tuy nghiên cứu với diện rộng về khu vực Đông Nam Á, tác giả Hall
D.G.E. với cuốn Lịch sử Đông Nam Á, do Nxb Chính trị quốc gia ấn hành
năm 1997 cho chúng ta nhận biết bức tranh toàn cảnh sinh động về lịch sử
hình thành và phát triển của các quốc gia Đông Nam Á, về quá trình đấu tranh
xây dựng các quốc gia thống nhất ổn định như ngày nay trong khu vực này.
Mặc dù một số nội dung của cuốn sách khác với đánh giá của chúng ta, kể các
các tư liệu và sự kiện mà tác giả sử dụng chưa khớp với những tư liệu hiện có
của chúng ta, song có thể nói đây là cuốn sách tham khảo phong phú về lịch
sử và quan hệ giữa các nước Đông Nam Á [39].
Đặc biệt, dịch giả Ngô Bắc là người rất quan tâm đến việc sưu tầm, dịch
và diễn giải nhiều tác phẩm của các học giả nước ngoài, đăng trên tạp chí điện
tử https://nghiencuulichsu.com như: Chủ nghĩa đế quốc Pháp thời ban sơ tại
Cochinchina [188] của Georges Taboulet. Trong bài này người viết đề cập
đến sự xâm chiếm của Pháp đối với Lục tỉnh miền Đông Nam bộ (1864) và
quá trình thực dân hóa vùng đất này. Đáng quan tâm hơn là Ngô Bắc đã trích
dịch cuốn Religion and Ritual in the Royal Courts Dai Vietcủa John K. Khi
viết về tôn giáo và nghi lễ dưới triều Nguyễn đầu thế kỷ XIX, tức dưới thời trị
vì của Gia Long và Minh Mạng, tác giả viết: “Các nhà cai trị họ Nguyễn đã
hành động để thiết lập một vương quốc kiểu nhà Thanh đương đại… Trong
khi ngày càng định hướng theo Khổng học nhiều hơn dưới thời cai trị của vị
vua thứ nhì, Hoàng đế Minh Mạng (1820-1841), và nhấn mạnh đế nghi lễ tại
đàn Nam Giao, Việt Nam đã chứng kiến Phật giáo vẫn tiếp tục là một thành tố
mạnh mẽ trong các tín ngưỡng của giới quí tộc, đặc biệt các phụ nữ” [189].
Tóm lại, vì có năng lực cai trị cao cho nên hai vị vua đầu triều Nguyễn
đã giành lại được quyền thống trị từ triều đại Tây Sơn vốn đang bị suy thoái,
củng cố bộ máy nhà nước và không ngừng cải cách để hoàn thiện nó trên
phạm vi cả nước phù hợp với mô hình quân chủ chuyên chế. Trong quá trình
thiết lập vương triều và tái thiết đất nước sau nhiều năm nội chiến, triều
14


Nguyễn lại gặp phải những biến động bất lợi của tình hình khu vực và thế
giới, do đó những sai lầm về chính sách đối ngoại là không thể tránh khỏi.
Tuy nhiên, những thành tựu mà triều Nguyễn đạt được trong thời kỳ trị vị của
hai Gia Long và Minh Mạng là không thể phủ nhận, đồng thời qua đó cho
thấy năng lực chủ quan của họ được khẳng định.
1.2. Các công trình liên quan đến việc nghiên cứu những nội dung cơ
bản trong quan điểm của Gia Long và Minh Mạng về xây dựng, quản lý
đội ngũ quan lại (1802-1841) và việc thực thi quan điểm đó đƣơng thời
Một trong những công trình nghiên cứu khá đầy đủ về bộ máy hành
chính của các triều đại quân chủ Việt Nam là Luận án Tiến sỹ Luật khoa của
Nguyễn Sĩ Hải (1962, Sài Gòn), với đề tài Tổ chức chính quyền trung ương
thời Nguyễn sơ: 1802-1847[41]. Đây là công trình nghiên cứu khá công phu và
có nhiều đóng góp trong việc khảo cứu về bộ máy hành chính triều Nguyễn nói
chung, giai đoạn 1802-1841 nói riêng. Là một trong những công trình nghiên
cứu về hệ thống quan lại, nhất là các cơ chế hoạt động của bộ máy nhà nước và
cơ chế thanh tra, kiểm tra, giám sát quan lại của triều Nguyễn, tác giả đã trình
bày khá chi tiết về chức năng, nhiệm vụ của các cơ quan giám sát triều Nguyễn
như: Đô sát viện, Lục khoa và Giám sát ngự sử các đạo.
Năm 1983, Vũ Thị Phụng đã cho xuất bản cuốn giáo trình Lịch sử nhà
nước và pháp luật Việt Nam do Nxb Khoa học xã hội ấn hành [89]. Trong
công trình này tác giả đã đề cập sơ lược về tổ chức bộ máy và đội ngũ quan
lại của các triều đại quân chủ Việt Nam, trong đó có triều Nguyễn.
Năm 1996, tác giả Nguyễn Minh Tường đã cho ra đời cuốn “Cải cách
hành chính dưới triều Minh Mạng” [139], trong đó ông đề cập đến định chế
đội ngũ quan lại từ trung ương đến địa phương của Minh Mạng. Tác giả
cho rằng cuộc cải cách hành chính này mang lại hiệu quả là củng cố và
tăng cường chế độ giám sát toàn bộ tổ chức bộ máy nhà nước từ trung ương
đến địa phương.
Ở một mức độ sâu hơn, trong cuốn Tổ chức bộ máy nhà nước quân chủ
Việt Nam (từ năm 939 đến năm 1884)[141], tại chương VII, tác giả Nguyễn
Minh Tường trình bày cơ cấu tổ chức và hoạt động giám sát đội ngũ quan lại
15


của cơ quan kiểm tra, giám sát trong bộ máy nhà nước triều Nguyễn. Mặt
khác, cuốn sách cũng đã khái quát về cách tuyển bổ quan lại và lệ phong tước
của các triều đại quân chủ Việt Nam nói chung, triều Nguyễn nói riêng. Trong
hai chương cuối của cuốn sách, tác giả đã phân tích làm rõ nhiệm vụ, quyền
lợi của quan lại cũng như vấn đề khảo khóa, thưởng phạt đối với quan lại dưới
thời kỳ quân chủ Việt Nam, đặc biệt tác giả nhấn mạnh đến quan điểm của
triều đình nhà Nguyễn về Lệ Hồi tỵ như một biện pháp ngăn chặn việc lợi
dụng chức quyền của các quan lại nơi họ làm việc.
Ngoài ra, trên trang www.xaydungdang.org.vn, tác giả Nguyễn Minh
Tường cũng đã công bố bài “Sử dụng quan lại dưới thời Minh Mệnh” [173].
Trong bài viết này, tác giả cho biết dưới thời Minh Mệnh, “việc quan trọng
đầu tiên là cách thức tuyển lựa quan lại công khai, minh bạch và cẩn trọng”.
Trong đó, vai trò bộ Lại rất quan trọng, đội ngũ quan lại của bộ này phải là
những người “công tâm, trong sạch, có khả năng tổ chức và am hiểu về con
người”. Dưới triều Minh Mệnh việc tuyển dụng quan lại chủ yếu qua 3
phương thức: nhiệm tử, tiến cử và khoa cử. Việc tuyển dụng khá công bằng,
nghiêm túc và cẩn trọng. Đội ngũ quan sau khi được bổ dụng đều phải trải
qua thời gian Thí sai – thử việc. Không dừng ở đó, vua Minh Mệnh cũng định
ra nhiệm biện pháp nhằm ngăn chặn tệ quan tham, lại nhũng như đặt cơ quan
chuyên trách giám sát, kiểm tra, thực hiện chế độ “hồi tỵ”. Vua Minh Mệnh
còn định ra chế độ thưởng phạt khá chặt chẽ và nghiêm minh, nhất là chế độ
Khảo khóa...
Cũng trong cuốn Khảo cứu kinh tế và tổ chức bộ máy nhà nước triều
Nguyễn: những vấn đề đặt ra hiện nay[7],tác giả Đỗ Bang đã nghiên cứu về
hệ thống quan chế của triều Nguyễn; các thể thức tuyển dụng, phong tước và
tổ chức các khoa thi tiến sĩ nhằm chọn người tài ra giúp nước. Tác giả đã trình
bày khá rõ nhiệm vụ, quyền lợi, chế độ lương bổng của đội ngũ quan lại và
định chế của triều Nguyễn về thưởng phạt, khảo khóa đối với quan lại.
Năm 2015, tác giả Huỳnh Văn Nhật Tiến công bố bài viết “Các nguyên
tắc vận hành của bộ máy Nhà nước triều Nguyễn giai đoạn 1802-1840” [133]
trên tạp chí Khoa học (ĐH Sư phạm TP. HCM) số 4,cho rằng, triều Nguyễn
16


xây dựng bộ máy nhà nước trên các nguyên tắc như: “Quyền hành nặng, nhẹ
kiềm chế lẫn nhau, chức tước lớn, nhỏ ràng buộc lẫn nhau”; “Dàn trải trong
tính chuyên môn hóa”; “Phân vùng và kết hợp quản lý – giám sát”; “Thống
nhất trong tính độc lập”. Đồng thời, bài viết cũng làm rõ các nguyên tắc làm
việc giữa các bộ phận/cơ quan trong bộ máy nhà nước với các nguyên tắc
như: “Hiệp đồng biện sự”; “Bảo lưu cá nhân”; “Liên đới trách nhiệm”; “Cơ
cấu tương thông” và “Thường xuyên ứng trực”.
Một tác giả có khá nhiều công trình nghiên cứu về triều Nguyễn nói
chung và bộ máy, đội ngũ quan lại của triều Nguyễn nói riêng đó là Huỳnh
Công Bá. Trong đó, công trình có nhiều nội dung liên quan đến đề tài chúng
tôi đang nghiên cứu là cuốn Định chế hành chính và quân sự triều Nguyễn
(1802-1885) [4], do Nhà xuất bản Thuận Hóa ấn hành năm 2014. Trong công
trình này, tác giả đã dành chương hai “Định chế về cơ chế vận hành của bộ
máy công quyền triều Nguyễn”, phần 1, từ trang 227 đến trang 320 để phân
tích về các vấn đề liên quan đến cơ chế vận hành của bộ máy hành chính và
đội ngũ quan lại triều Nguyễn với các nội dung:
- Nguyên tắc vận hành và biện pháp chế ước trong bộ máy công
quyền (mục I).
- Định chế về quan lại triều Nguyễn (mục II).
- Định chế về thực thi công vụ (mục III).
- Định chế về chấp hành công quyền (mục IV).
Trong các nội dung trên, trong mục II, tác giả đã đi sâu phân tích và làm
rõ các yếu tố như định chế tuyển chọn quan lại, định chế sử dụng quan lại,
cách thức sử dụng quan lại, chế độ đãi ngộ và thưởng phạt của triều Nguyễn
đối với quan lại.
Bài “Thanh tra, giám sát và khảo xét quan lại thời phong kiến ở nước
ta” [47] của Thái Hoàng và Bùi Quý Lộ, đăng trên tạp chí Nghiên cứu lịch
sử,số 6 (283) năm 1995 đã khái quát về hệ thống tổ chức thanh tra, giám sát
của các triều đại quân chủ Việt Nam. Về chức năng, nhiệm vụ, tổ chức thanh
tra, giám sát được quyền can gián vua, giám sát việc làm của các quan, xem
xét các vụ án, xem xét các phương thức tuyển dụng, lựa chọn quan lại như
17


bảo cử, tiến cử, thi cử... Đối với hoạt động khảo xét quan lại, hai tác giả cho
rằng: từ thời Lý – Trần hoạt động khảo xét quan lại đã được thực thi theo định
kỳ. Dưới thời vua Lê Thánh Tông còn định lệ “giản thải”. Đó là theo định kỳ
triều đình giao cho bộ Lại và Trưởng quan các bộ phận tiến hành xét kỹ nhưng
quan dưới quyền nếu năng lực yếu kém, bỉ ổi có thể cho nghỉ hưu... [47, tr.31].
Bên cạnh những kết quả nghiên cứu về phương thức tuyển chọn, bổ
nhiệm, chế độ khảo khóa, thanh tra, giám sát, khen thưởng, kỷ luật của triều
đình đối với quan lại dưới các triều đại quân chủ Việt Nam, có một số nhà
nghiên cứu cũng đã công bố kết qủa liên quan đến các vấn đề có liên quan
như giáo dục, khoa cử…
Một trong những công trình nghiên cứu khá sâu về hoạt động đào tạo và
sử dụng quan lại dưới triều Nguyễn (1802-1884) đó là cuốn Việc đào tạo và
sử dụng quan lại của triều Nguyễn [45] của tác giả Lê Thị Thanh Hòa do Nxb
Khoa học xã hội xuất bản năm 1998. Với công trình này, tác giả Lê Thị
Thanh Hòa đã nghiên cứu khá hệ thống về quá trình đào tạo và sử dụng quan
lại dưới chế độ quân chủ Việt Nam. Đối với triều Nguyễn, tác giả đã đi sâu
phân tích về hệ thống giáo dục, thi cử của triều Nguyễn. Đặc biệt, tác giả đã
dành chương III để nói về chính sách “dụng hiền”, tuyển chọn quan lại. Theo
tác giả, dưới triều Gia Long “trong đội ngũ quan lại từ cấp trung ương cho
đến cấp phủ huyện châu, người xuất thân khoa cử không nhiều” [45, tr.165].
Đến thời Minh Mạng “khoa cử đi vào nề nếp và trở thành cái lò sản sinh đội
ngũ quan lại”. Để trở thành người có chức vụ trong bộ máy nhà nước, nhất là
quan cấp huyện trở lên về nguyên tắc họ đều phải trải qua thời gian đào tạo
[45, tr.169]… Việc tuyển bổ quan lại từ phủ huyện trở lên đều do triều đình
bổ dụng, còn cấp xã và chánh phó tổng do kỳ hào chức sắc làng xã cử và
được quan trên phê chuẩn. Do vậy, bộ máy quan lại dưới triều Minh Mạng,
nhất là sau cải cách hành chính (1830-1831) có sự phát triển và hoàn chỉnh
hơn... Mục II, chương III, tác giả đã cho biết rõ hơn về định chế sử dụng quan
lại của triều Nguyễn qua chế độ đãi ngộ, chế độ thanh tra và giám sát, chế độ
thưởng phạt, chế độ thuyên chuyển và hồi tỵ, niên hạn tại chức và chế độ hưu
trí… Trong bộ Luật Gia Long của triều Nguyễn đã định rõ trách nhiệm, quyền
18


hạn và thưởng, phạt quan lại. Tất cả quan lại, kể cả đại thần nếu phạm khuyết
điểm, phạm luật đều bị trừng trị nghiêm khắc. Triều Nguyễn cũng áp dụng
chế độ thuyên chuyển, hồi tỵ nhằm hạn chế tệ tiêu cực, kết bè cánh, lạm dụng
quyền lực… để bòn rút của công, hạn dân, hại nước. Về chế độ hưu trí, triều
Nguyễn có quy định rõ rang nhưng đối với một số quan đại thần hiền tài, liêm
khiết triều đình có cơ chế đặc biệt là tham gia triều chính để có ý kiến khi vua
cần [45, tr.188-217].
Năm 1998, Nxb Thuận Hóa cho ấn hành cuốn Một số vấn đề quan chế
triều Nguyễn [19], do tác giả Phan Đại Doãn, Nguyễn Minh Tường và một số
tác giả khác biên soạn đã nghiên cứu về các định chế của triều Nguyễn đối
với quan lại. Trong chương II, tác giả Nguyễn Minh Tường đã trình bày hệ
thống các chức quan; cách tuyển bổ quan lại và lệ phong quan tước; nhiệm vụ
và quyền lợi của các quan của triều Nguyễn. Cuốn sách cũng phân tích, làm
rõ các biện pháp của triều Nguyễn trong việc kiểm sát và trừng trị quan lại
như cho thành lập các cơ quan giám sát, thực hiện chế độ Kinh lược sứ, chế
độ hồi tỵ nhằm hạn chế sự chuyên quyền, lạm quyền của quan lại trong cả
nước. Các vị vua đầu triều Nguyễn cũng đã định ra các chế độ thưởng phạt,
khảo khóa đối với quan lại rất chặt chẽ, làm cho “vấn đề thưởng phạt dưới
triều Nguyễn được quy chuẩn hóa thành điển chế, thường xuyên tiến hành dưới
danh xưng”; “Xét thành tích các quan viên từng khóa” [19, tr.151]. Công dụng
của chế độ Hồi tỵ còn được thể hiện ở chỗ nhằm hạn chế những người có quan
hệ thân thuộc trong cùng một trụ sở hành chính, địa phương làm việc sẽ không
khách quan, công minh mà có thể lợi dụng quyền hạn bao che cho nhau…
Năm 2006, tác giả Bùi Huy Khiên với bài viết Tuyển chọn, kiểm tra,
giám sát đội ngũ quan lại dưới triều Minh Mạng[59], trên tạp chí Nhà nước
và Pháp luật, đã khái quát về quy trình tuyển chọn, sử dụng quan lại dưới
triều vua và tổ chức, hoạt động của bộ máy thanh tra, giám sát. Trong đó tác
giả đã cho thấy chế độ Kinh lược sứ là hoạt động giám sát đặc biệt của triều
Nguyễn. Kinh lược sứ là hoạt động giám sát việc thừa hành nhiệm vụ của
quan lại đứng đầu các tỉnh, phủ, huyện, nhất là những địa phương vừa trải qua
giặc dã, thiên tai mất mùa, đói kém, dân chúng đói rách.
19


Một tác giả có khá nhiều nghiên cứu về các định chế pháp luật đối với
quan lại triều Nguyễn là Trần Thị Thanh Thanh. Trong thời gian gần đây, tác
giả này đã có các bài báo khoa học công bố như: Về pháp luật dành cho quan
lại thời Nguyễn (1802-1883) [118], báo cáo tại Hội thảo quốc tế Việt Nam
học lần thứ I, Trung tâm KHXH&NV quốc gia (1998). Qua bài “Phiếu nghĩ Một thể thức tham mưu và giám sát trong triều chính nhà Nguyễn”, tạp chí
Xưa và Nay (2000), tác giả này cho rằng, phiếu nghĩ chính là “một hoạt động
hành chính đặc biệt, vừa có tác dụng tham mưu cho vua, vừa tác dụng giám
sát thay vua”, đồng thời “giám sát, kiềm tỏa về quyền lực trong liên hệ giữa
các bộ và Nội các, giữa các bộ và địa phương, phản ánh về một trình độ về tổ
chức trong hoạt động hành chính của triều Nguyễn” [121, tr.12,15].
Năm 2006, tại Hội thảo 700 năm Thuận Hóa – Phú Xuân – Thừa Thiên
Huế (đến năm 2010, Kỷ yếu này được Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia xuất
bản với nhan đề Thuận Hóa – Phú Xuân – Thừa Thiên Huế: 700 năm hình
thành và phát triển) [63]. Trong đó, có bài viết Các biện pháp chế tài để điều
tiết cực quyền của bộ máy nhà nước tập quyền triều Nguyễn của tác giả Đỗ
Bang đã tiếp tục khái quát một cách khá đầy đủ về chức năng, nhiệm vụ của
cơ quan giám sát trong việc giám sát hoạt động của đội ngũ quan lại trong cả
nước dưới triều Nguyễn. Bài viết đã cho biết triều Nguyễn đã thành lập một
hệ thống cơ chế giám sát cơ quan công quyền cùng quan lại chặt chẽ và có
hiệu quả [63, tr.140-145].
Năm 2012, trên Bản tin Phòng, chống tham nhũng số 49&50, tác giả
Trần Hồng Nhung với bài viết “Một số giải pháp phòng ngừa tham nhũng
thời Nguyễn” [76], đã nêu các giải pháp chủ yếu như: Giáo dục phẩm chất đạo
đức cho quan lại theo tư tưởng Nho giáo; hạn chế phong tước hầu; định rõ
chức năng quyền hạn của quan lại và các cơ quan nhà nước; đề cao hoạt động
thanh tra, giám sát; tinh giản đội ngũ quan lại; coi trọng bộ máy hành chính
địa phương...); ban định chính sách tuyển bổ, sử dụng, đãi ngộ quan lại rõ
ràng, hợp lý. Đặc biệt, tác giả cho biết triều Nguyễn tuyển bổ quan lại chủ yếu
qua khoa cử nhằm chọn người đủ đức, đủ tài và có khả năng quản lý theo chế
độ “Hồi tỵ”, coi trọng công tác kiểm tra, khảo khóa năng lực quan lại theo
20


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×