Tải bản đầy đủ

Đấu thầu mua thuốc chữa bệnh tập trung theo pháp luật Việt Nam từ thực tiễn Thành phố Hồ Chí Minh (Luận văn thạc sĩ)

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGUYỄN TIẾN DŨNG

ĐẤU THẦU MUA THUỐC CHỮA BỆNH TẬP TRUNG
THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM TỪ THỰC TIỄN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT KINH TẾ


VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGUYỄN TIẾN DŨNG

ĐẤU THẦU MUA THUỐC CHỮA BỆNH TẬP TRUNG
THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM TỪ THỰC TIỄN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH


Ngành: Luật Kinh tế
Mã số: 838 01 07

PGS. TS. BÙI NGUYÊN KHÁNH


LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đề tài “Đấu thầu mua thuốc chữa bệnh tập trung theo pháp luật
Việt Nam từ thực tiễn Thành phố Hồ Chí Minh” là nghiên cứu của riêng tôi. Các nội
dung kết quả nhiên cứu trong đề tài này là trung thực và chưa công bố trong bất kỳ
công trình nghiên cứu nào khác.
Các số liệu, ví dụ trích dẫn phục vụ cho việc phân tích, nhận xét, đánh giá được
chính tác giả thu thập từ các nguồn khác nhau, đảm bảo tính chính xác, trung thực và
tin cậy.
Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã hoàn thành việc thanh toán các nghĩa
vụ tài chính theo quy định của Học viện Khoa học Xã hội, Viện Hàn lâm Khoa học Xã
hội Việt Nam.
Vậy tôi viết lời cam đoan này đề nghị Học viện Khoa học Xã hội xem xét để tôi
có thể được bảo vệ Luận văn.
Tác giả luận văn

Nguyễn Tiến Dũng


MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ......................................................................................................................... 1
CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ ĐẤU THẦU MUA THUỐC
CHỮA BỆNH TẬP TRUNG THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM HIỆN NAY .......... 7
1.1 Khái quát về đấu thầu mua thuốc chữa bệnh tập trung ...................................... 7
1.1.1 Khái niệm đấu thầu mua thuốc chữa bệnh tập trung............................................... 7
1.1.2 Đặc điểm của đấu thầu mua thuốc chữa bệnh tập trung. ...................................... 10
1.1.3 Ý nghĩa, vai trò của đấu thầu mua thuốc chữa bệnh tập trung .............................. 13
1.2 Pháp luật về đấu thầu mua thuốc chữa bệnh tập trung ..................................... 16
1.2.1 Khái niệm pháp luật về đấu thầu mua thuốc chữa bệnh tập trung. ....................... 16
1.2.2 Nội dung pháp luật về đấu thầu mua thuốc chữa bệnh tập trung .......................... 18
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ ĐẤU THẦU MUA THUỐC
CHỮA BỆNH TẬP TRUNG TỪ THỰC TIỄN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH ... 27
2.1 Thực trạng các quy định pháp luật về mua sắm thuốc chữa bệnh tập trung ở
Việt Nam hiện nay ........................................................................................................ 27
2.1.1 Chủ thể tham gia quan hệ đấu thầu mua thuốc chữa bệnh tập trung .................... 27


2.1.2 Đối tượng đấu thầu ................................................................................................ 31
2.1.3 Hình thức và phương thức lựa chọn nhà thầu ....................................................... 31
2.1.4 Đánh giá hồ sơ dự thầu ......................................................................................... 35
2.1.5 Cách thức thực hiện............................................................................................... 39
2.1.6 Thương thảo hợp đồng .......................................................................................... 40
2.2. Thực tiễn về đấu thầu mua thuốc chữa bệnh tập trung tại thành phố Hồ Chí
Minh............................................................................................................................... 45
2.2.1 Nhu cầu sử dụng thuốc chữa bệnh tại thành phố Hồ Chí Minh ............................ 45
2.2.2. Thực tiễn thực thi pháp luật về đấu thầu mua thuốc chữa bệnh tập trung tại thành
phố Hồ Chí Minh ........................................................................................................... 47


CHƯƠNG 3: PHƯƠNG HƯỚNG, GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ
ĐẤU THẦU TRONG MUA THUỐC CHỮA BỆNH TẬP TRUNG Ở VIỆT NAM
HIỆN NAY .................................................................................................................... 57
3.1 Phương hướng hoàn thiện ..................................................................................... 57
3.1.1. Hoàn thiện pháp luật về đấu thầu mua thuốc chữa bệnh tập trung cần đặt trong
xu hướng hội nhập quốc tế, thời kỳ cách mạng công nghiệp 4.0................................... 58
3.1.2. Hoàn thiện pháp luật về đấu thầu mua thuốc chữa bệnh tập trung hướng tới sự
đồng bộ, hài hóa pháp luật kinh tế nói chung ................................................................ 59
3.1.3. Hoàn thiện pháp luật về đấu thầu mua thuốc chữa bệnh tập trung phải đảm bảo
minh bạch và hiệu quả.................................................................................................... 60
3.1.4. Hoàn thiện pháp luật về đấu thầu mua thuốc chữa bệnh tập trung nhằm nâng cao
năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp, các nhà đầu tư ........................................... 61
3.2. Giải pháp hoàn thiện pháp luật về đấu thầu trong mua thuốc chữa bệnh tập
trung ở Việt Nam hiện nay .......................................................................................... 63
3.2.1. Hoàn thiện, bảo đảm hài hòa và thống nhất giữa các quy định pháp luật đấu thầu
và luật chuyên ngành đấu thầu mua thuốc chữa bệnh tập trung .................................... 63
3.2.2. Xây dựng hệ thống cung cấp thông tin đấu thầu, trung tâm đào tạo cán bộ làm
công tác đấu thầu chất lượng cao ................................................................................... 65
3.2.3. Nâng cao chất lượng công tác lập và thẩm định dự án và quản lý công tác đấu
thầu ................................................................................................................................. 65
3.2.4. Nâng cao trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan, đơn vị đồng thời tăng cường
công tác kiểm tra, giám sát công tác đấu thầu ............................................................... 66
3.2.5. Kiên quyết giải quyết triệt để những hành vi tiêu cực, vi phạm pháp luật về đầu
tư mua sắm, đấu thầu...................................................................................................... 67
KẾT LUẬN CHUNG ................................................................................................... 69
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO


DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
HSDT:

Hồ sơ dự thầu

HSMT:

Hồ sơ mời thầu

UBND:

Ủy ban nhân dân

BHYT:

Bảo hiểm y tế

TCB:

Thuốc chữa bệnh


MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Sức khỏe là vàng, có sức khỏe là có tất cả, hẳn chúng ta ai cũng biết giá trị của
sức khỏe, ai cũng mong muốn mình được khỏe mạnh. Vì vậy công tác chăm sóc và bảo
vệ sức khỏe cho nhân dân rất được Đảng và Nhà nước chú trọng, quan tâm. TCB có
một vai trò rất quan trọng trong việc chăm sóc và bảo vê ̣sức khỏe nhân dân. Cũng như
tình hình thực tế tại nhiều nước đang phát triển, chi phí cho TCB ở Việt Nam luôn
chiếm tỷ trọng lớn trong tổng chi phí y tế nói chung và chi phí khám chữa bệnh nói
riêng.
Thời gian qua, Bộ Y tế đã dành kinh phí rất lớn để xây dựng và hoàn thiện các
cơ sở khám, chữa bệnh khắp đất nước từ các bệnh viện Trung ương cho đến địa
phương, trong đó việc đầu tư cho TCB chiếm tỷ lệ lớn trong nguồn kinh phí của Nhà
nước dành cho phát triển ngành y tế. Tuy nhiên, TCB là một loại hàng hóa đặc biệt, tác
động trực tiếp tới sức khỏe, tính mạng con người nên để mua được TCB phù hợp với
từng cơ sở khám, chữa bệnh là một bài toán khó cho các nhà quản lý, hoạch định chính
sách về y tế trong bối cảnh hiện nay. Luật đấu thầu 2013 được ban hành và có hiệu lực
giúp cho việc đấu thầu mua sắm hàng hóa trở nên thuận tiện, tiết kiệm và có hiệu quả
cao, mang đến lợi ích cho cả bên chủ đầu tư và nhà thầu. Việc đấu thầu mua sắm TCB
để chăm sóc sức khỏe cho nhân dân cũng không nằm ngoài phạm vi điều chỉnh của
Luật đấu thầu 2013 khi chủ đầu tư là các bệnh viện, trung tâm y tế có sử dụng nguồn
kinh phí của Nhà nước.
Để làm rõ hơn thực trạng pháp luật và thực tiễn áp dụng pháp luật về đấu thầu
mua sắm hàng hóa nói chung và TCB nói riêng có điểm gì giống và khác nhau? Làm
sao để có một giải pháp tối ưu giúp cơ sở khám chữa bệnh có thể mua được thuốc tốt
để điều trị cho bệnh nhân nhưng vẫn tiết kiệm, đảm bảo tính hiệu quả? Những thách
thức nào đặt ra đối với thực tiễn áp dụng pháp luật về đấu thầu mua sắm TCB nói
chung và đấu thầu mua sắm TCB tập trung nói riêng?

1


Xuất phát từ những vấn đề nêu trên, người viết chọn đề tài “Đấu thầu mua
thuốc chữa bệnh tập trung theo pháp luật Việt Nam từ thực tiễn Thành phố Hồ Chí
Minh” để làm luận văn tốt nghiệp.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Những quy định của pháp luật về đấu thầu mua sắm hàng hóa đã có từ lâu.
Trước đây cũng đã có những bài báo, công trình nghiên cứu viết về vấn đề này như:
- Phạm Lương Sơn (2012), “Nghiên cứu thực trạng đấu thầu mua thuốc BHYT
cho các cơ sở khám, chữa bệnh công lập ở Việt Nam”, Luận án Tiến sĩ Dược học,
Trường Đại học Dược Hà Nội; [18]
- Nguyễn Thị Hiệp (2017), “Đấu thầu mua sắm hàng hóa theo phương thức một
giai đoạn một túi hồ sơ theo pháp luật Việt Nam từ thực tiễn ngành khí tượng thủy
văn”, Luận văn Thạc sĩ, Học viện Khoa học xã hội; [17]
- Nguyễn Thị Hương Giang (2017), “Trình tự thủ tục đấu thầu mua sắm hàng
hóa theo pháp luật về đấu thầu từ thực tiễn các đơn vị sự nghiệp công lập ở Việt Nam
hiện nay”, Luận văn Thạc sĩ, Học viện Khoa học xã hội; [15]
- Cao Thị Lê Thương (2018), “Bảo đảm dự thầu trong đấu thầu mua sắm hàng
hóa theo pháp luật Việt Nam hiện nay”, Viện Nhà nước và pháp luật – Viện Hàn lâm
khoa học xã hội Việt Nam; [19]
- Nguyễn Sơn Hà (2019). “Đấu thầu mua sắm hàng hóa theo phương thức một
giai đoạn hai túi hồ sơ theo pháp luật đấu thầu ở Việt Nam” Luận văn Thạc sĩ, Học
viện Khoa học xã hội; [16]
Tuy nhiên, qua tìm hiểu và nghiên cứu, tác giả nhận thấy:
Thứ nhất, trước đây đã có nhiều tác giả nghiên cứu và công bố về lĩnh vực pháp
luật đấu thầu mua sắm hàng hóa nói chung nhưng công trình nghiên cứu khoa học
chuyên sâu về pháp luật đấu thầu mua TCB tập trung chưa thấy được công bố.
Thứ hai, khi đề cập đến việc đầu tư mua TCB, có nhiều bài báo viết về công tác
mua sắm thuốc tại các cơ sở khám, chữa bệnh trong nước nhưng phần lớn chỉ nói tới

2


việc đấu thầu riêng lẻ của các cơ sở khám chữa bệnh hoặc nếu có nói tới đấu thầu tập
trung thì cũng chỉ dừng lại ở các nội dung: liệt kê những tồn tại, lãng phí mua sắm;
hiệu quả sử dụng TCB sau đầu tư…
Kể từ khi Luật đấu thầu năm 2013 có hiệu lực thi hành đã cập nhật thêm nhiều
quy định mới hơn so với Luật đấu thầu năm 2005, việc cập nhật những vấn đề mới
nhằm tạo ra môi trường công khai, minh bạch, cạnh tranh công bằng trong hoạt động
đấu thầu, điều này góp phần vào việc hoàn thiện hệ thống các quy định của pháp luật
về mua sắm có sử dụng vốn của nhà nước, như: các phương thức lựa chọn nhà thầu,
một số quy định pháp luật nhằm hạn chế những tiêu cực, bất cập trong quá trình đấu
thầu mua sắm hàng hóa, thương thảo hợp đồng… Đây cũng là vấn đề người viết muốn
mổ xẻ, phân tích kỹ hơn trong luận văn của mình.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Mục đích của Luân văn là nghiên cứu, làm sáng tỏ những vấn đề lý luận về đấu
thầu mua TCB tập trung; phân tích, đánh giá thực trạng pháp luật và thực tiễn thực thi
pháp luật về đấu thầu mua TCB tập trung ở Việt Nam hiện nay; qua đó kiến nghị một
số giải pháp nhằm hoàn thiện các quy định pháp luật về đấu thầu mua TCB tập trung ở
Việt Nam trong thời gian tới.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để thực hiện được mục đích nghiên cứu trên, nhiệm vụ của đề tài được xác định
bao gồm:
- Nghiên cứu, làm sáng tỏ những vấn đề lý luận về đấu thầu mua TCB tập trung;
- Phân tích thực trạng pháp luật về đấu thầu mua TCB tập trung ở Việt Nam
hiện nay;
- Phân tích, đánh giá thực tiễn thực thi pháp luật về đấu thầu mua TCB tập trung
ở Việt Nam hiện nay;

3


- Đề xuất một số phương hướng, giải pháp nhằm mục đích hoàn thiện các quy
định của pháp luật về đấu thầu mua TCB tập trung ở Việt Nam trong thời gian tới.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là các vấn đề lý luận, các quy định pháp luật
và thực tiễn thực thi các quy định pháp luật về đấu thầu mua sắm TCB tập trung.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Thứ nhất, luận văn tập trung nghiên cứu, phân tích các phương diện pháp lý, cơ
sở lý luận, thực tiễn áp dụng trong thời gian qua và nội dung các quy định của pháp
luật về đấu thầu mua sắm TCB tập trung ở Việt Nam nói chung, TP Hồ Chí Minh nói
riêng có sử dụng kinh phí Nhà nước.
Thứ hai, luận văn đề xuất những phương hướng, giải pháp cụ thể nhằm bổ sung
và hoàn thiện các quy định của pháp luật về hoạt động đấu thầu mua sắm TCB tập
trung tại Việt Nam với mục đích tiết kiệm, mang lại hiệu quả cao nhất.
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
5.1. Phương pháp luận
Luận văn được thực hiện trên cơ sở của phương pháp luận là phép biện chứng
duy vật, cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh và các quan
điểm, đường lối của Đảng, các văn bản pháp luật của Nhà nước để phân tích, đánh giá
nhằm làm rõ những vấn đề thuộc phạm vi nghiên cứu của đề tài.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
Người viết đã sử dụng các phương pháp chủ yếu trong nghiên cứu khoa học nói
chung và nghiên cứu về khoa học pháp lý nói riêng để thực hiện và hoàn thành luận
văn, như: phương pháp so sánh, phương pháp phân tích – tổng hợp, phương pháp thống
kê – đối chiếu và một số phương pháp khác để làm sáng tỏ các vấn đề đưa ra.

4


6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
6.1. Ý nghĩa lý luận
Luận văn đưa ra những luận cứ dựa trên các căn cứ khoa học pháp lý và phân
tích thực tiễn, qua đó người viết kiến nghị một số phương hướng, giải pháp nhằm hoàn
thiện hệ thống pháp luật về đấu thầu nói chung và đấu thầu mua sắm TCB tập trung nói
riêng, giúp cho hoạt động đấu thầu mua sắm TCB tập trung ở Việt Nam mang lại hiệu
quả cao.
6.2. Ý nghĩa thực tiễn
Kể từ khi Luật đấu thầu năm 2013 được Quốc hội thông qua đã thay đổi, bổ
sung nhiều nội dung mới so với Luật đấu thầu trước đó, đã khắc phục được một số vấn
đề bất cập. Mặc dù vậy, tác giả thấy cũng cần làm sáng tỏ thêm một số vấn đề như:
Một là, những căn cứ để lập kế hoạch lựa chọn nhà thầu mua sắm hàng hóa,
trong đó có TCB còn nhiều điểm chưa phù hợp.
Hai là, những biểu mẫu dùng để xây dựng HSMT mua sắm hàng hóa được Bộ
Kế hoạch đầu tư quy định, có nhiều chổ còn mang tính chung chung chưa rõ ràng, từ
đó tạo ra kẽ hở để bên mời thầu, nhà thầu bắt tay với nhau đưa ra những “tiêu chí phụ”
hoặc những đặc tính độc lạ mà chỉ một số nhà thầu thõa mãn nhằm hạn chế tính cạnh
tranh trong hoạt động đấu thầu.
Ba là, pháp luật quy định chủ đầu tư thành lập các Tổ chuyên gia trong đấu thầu
như: xây dựng kế hoạch đấu thầu, lập HSMT, thẩm định HSMT, thẩm định kết quả lựa
chọn nhà thầu…với các tiêu chí chỉ có tính chất định tính, phần nhiều mang tính hình
thức, đã từng có các trường hợp mà thành viên Tổ chuyên gia đứng về phía chủ đầu tư
hoặc bên nhà thầu, qua đó làm xuất hiện tiêu cực trong hoạt động đấu thầu.
Bốn là, TCB có thể coi là loại hàng hóa đặc thù tại vì nó tác động trực tiếp lên
sức khỏe, tính mạng, đời sống của con người nhưng lại sử dụng những biểu mẫu chung
do Bộ Kế hoạch và Đầu tư quy định cho hoạt động đấu thầu mua sắm hàng hóa nên đã
gây ra những khó khan nhất định cho nhà đầu tư, bên mời thầu khi áp dụng.

5


7. Kết cấu của luận văn
Kết cấu của luận văn bao gồm: phần mở đầu, chương 1, chương 2, chương 3,
phần kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, trong đó:
Chương 1. Những vấn đề lý luận về đấu thầu mua TCB tập trung theo pháp luật
Việt Nam hiện nay.
Chương 2. Thực trạng pháp luật về đấu thầu mua TCB tập trung từ thực tiễn tại
Tp Hồ Chí Minh.
Chương 3. Phương hướng, giải pháp hoàn thiện pháp luật về đấu thầu trong mua
TCB tập trung ở Việt Nam hiện nay.

6


CHƯƠNG 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ ĐẤU THẦU MUA THUỐC CHỮA BỆNH
TẬP TRUNG THEO PHÁP LUẬT
1.1.

Khái quát về đấu thầu mua thuốc chữa bệnh tập trung

1.1.1 Khái niệm đấu thầu mua thuốc chữa bệnh tập trung
Thuật ngữ “Procurement” được giải thích trong Quy định mẫu về đấu thầu mua
sắm hàng hóa của Liên Hợp quốc (UNCITRIAL) có nghĩa là sự giành được hàng hóa,
công trình hoặc dịch vụ nào đó (Điều 2, khoản a). Qua đó, hàng hóa ở đây có thể hiểu
là: “Tất cả các vật thể mô tả được bao gồm cả nguyên vật liệu thô, sản phẩm, các thiết
bị, các vật thể định hình hoặc dưới dạng lỏng, điện và dịch vụ phụ đi kèm hàng hóa
nhưng có giá trị thấp hơn hàng hóa (bao gồm: các loại hàng hóa khác theo quy định
của từng nước)” (Điều 2, khoản c)[21] .
Trong Từ điển tiếng Việt (Viện Ngôn ngữ biên soạn năm 1998) diễn tả hoạt
động “đấu thầu” được hiểu là việc “đọ công khai, ai nhận làm, nhận bán với điều kiện
tốt nhất thì được giao cho làm hoặc được bán hàng”. Ngân hàng thế giới WB thì quy
định các từ “bid” và “tender” (trong tiếng Anh) cùng có nghĩa giống nhau đó là “đấu
thầu" [20]. Hiểu một cách chung thì đấu thầu mua sắm hàng hóa là hoạt động chọn lựa
nhà thầu, đơn vị cung cấp đáp ứng đủ điều kiện, tiêu chuẩn của bên mời thầu để tiến
hành ký kết và thực hiện hợp đồng mua sắm hàng hóa đó dựa trên cơ sở bảo đảm tính
công khai, minh bạch, cạnh tranh công bằng và đem lại hiệu quả kinh tế cao nhất . Đó
cũng là phương pháp mà các nhà làm luật tiếp cận trong Luật đấu thầu số
43/2013/QH12 ngày 26 tháng 11 năm 2013 của Việt Nam (Điều 4, khoản 12). Từ đây,
có thể khẳng định là, hoạt động đấu thầu mua sắm hàng hóa cùng với những quy định
pháp luật chặt chẽ của nó là điều hết sức cần thiết và đã mang lại nhiều lợi ích cho nhà
thầu, chủ đầu tư, nhà tài trợ và Chính phủ của quốc gia được hưởng lợi. Trong lời nói
đầu Quy định mẫu về đấu thầu mua sắm hàng hóa của Liên Hợp quốc (UNCITRIAL)

7


viết về mục đích, vai trò của luật đấu thầu mua sắm hàng hóa cũng đã khẳng định rõ
ràng:
- Tăng cường cao nhất tính kinh tế và hiệu quả của hoạt động đấu thầu
- Khuyến khích các đối tác, nhà thầu, nhà cung cấp không phụ thuộc vào quốc
tịch tham gia quy trình mua sắm, từ đó phát triển thương mại quốc tế.
- Tăng cường tính cạnh tranh giữa các nhà thầu
- Đối xử công bằng với tất cả các nhà thầu
- Tăng cường sự công khai, minh bạch, liêm chính, cạnh tranh công bằng và đạt
được niềm tin của người dân
- Đảm bảo sự rõ ràng, minh bạch của các khâu liên quan trong quá trình mua
sắm.
Cùng với sự phát triển và yêu cầu minh bạch của nền kinh tế thị trường, đấu
thầu ngày càng trở thành biện pháp, phương thức và công cụ hữu hiệu được áp dụng
rộng rãi trên toàn thế giới. Lúc đầu các quy định về đấu thầu chỉ đơn giản là: công khai
và cạnh tranh. Khi được áp dụng vào thực tế thì đòi hỏi những quy định đó phải rõ
ràng, đầy đủ, không những dừng lại ở các quy chế, quy định mang tính chất tạm thời
mà bắt buộc cần phải có một hệ thống pháp lý chặt chẽ. Điều đó là rất quan trọng, cần
thiết và phù hợp với những quy luật của xã hội phát triển theo nền kinh tế hàng hóa thị
trường. Qua đó, có thể khẳng định là, hoạt động đấu thầu có mục đích, vai trò bảo đảm
bốn nội dung: hiệu quả - cạnh tranh - công bằng - minh bạch.
Ngày nay khi xã hội ngày càng phát triển thì nhu cầu mua sắm công ngày càng
lớn nguy cơ thất thoát trong quá trình mua sắm công ngày càng gia tăng vì lĩnh vực hay
ngành nghề nào cũng cần mua sắm công. Hoạt động mua sắm công chiếm tỷ lệ lớn,
nhất là ở các nước đang phát triển.
Trong quá trình tổ chức thực hiện đấu thầu mua sắm công, đang có sự kết hợp
giữa hai mô hình là mua sắm tập trung (đối với các loại tài sản có số lượng mua sắm
nhiều, tổng giá trị lớn và có yêu cầu được trang bị đồng bộ, hiện đại); mua sắm phân

8


tán (đối với các loại tài sản, hàng hóa có số lượng mua sắm ít, tổng giá trị nhỏ). Tuy
nhiên, ở bối cảnh nền kinh tế đang gặp nhiều khó khăn, yêu cầu thắt chặt chi tiêu công
gắn với công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí đang được đặt ra, việc hoàn thiện
cơ chế mua sắm tập trung và mở rộng phạm vi áp dụng là hết sức cần thiết, phù hợp
với xu hướng chung của nhiều quốc gia hiện nay.
Đấu thầu mua TCB tập trung được hiểu là cách tổ chức đấu thầu công khai
rộng rãi để lựa chọn nhà thầu cung cấp TCB thông qua đơn vị mua sắm tập trung của
ngành y tế với mục đích cuối cùng là nhằm giảm chi phí, thời gian, đầu mối trong quá
trình tổ chức đấu thầu, tăng cường tính chuyên nghiệp trong đấu thầu, góp phần nâng
cao hiệu quả kinh tế. Đấu thầu mua sắm TCB tập trung được áp dụng trong trường
hợp chủ đầu tư có nhu cầu mua TCB với số lượng lớn, quy cách và tính chất tương tự ở
một hoặc một số cơ sở khám chữa bệnh. Đấu thầu mua sắm tập trung có thể được thực
hiện dựa theo một trong hai cách như sau:
(i) Đơn vị mua sắm tập trung ngành y tế tập hợp nhu cầu mua sắm, tiến hành
lựa chọn nhà thầu là các công ty dược, trực tiếp ký hợp đồng với nhà thầu được lựa
chọn cung cấp TCB;
(ii) Đơn vị mua sắm tập trung ngành y tế tập hợp nhu cầu mua sắm, tiến hành
lựa chọn nhà thầu là các công ty dược, ký văn bản thỏa thuận khung với một hoặc
nhiều nhà thầu được lựa chọn làm căn cứ cơ sở để các đơn vị, bệnh viện có nhu cầu
mua sắm trực tiếp ký hợp đồng với nhà thầu được lựa chọn để cung cấp TCB.
Đơn vị mua sắm tập trung căn cứ vào cơ sở nhiệm vụ được giao hoặc hợp đồng
ký với các cơ sở khám chữa bệnh có nhu cầu mua sắm để lựa chọn nhà thầu.
Như vậy, với cách hiểu ở trên, đấu thầu tập trung không phải là tập trung việc
mua sắm TCB vào một đầu mối sau đó cấp phát cho các đơn vị sử dụng mà đấu thầu
TCB tập trung, trước hết là tạo ra một thiết chế để tổng hợp, rà soát nhu cầu sử dụng
thuốc của các cơ quan, bệnh viện đảm bảo hợp lý, tiết kiệm; trên cơ sở đó lựa chọn các
nhà cung cấp thuốc có chất lượng và giá cả hợp lý nhất làm cơ sở cho các cơ sở khám

9


chữa bệnh ký hợp đồng mua sắm với các nhà cung cấp được lựa chọn; cơ quan mua
sắm tập trung cũng là cơ quan tư vấn, hỗ trợ, có vai trò cụ thể hóa các quy định của
Nhà nước vào việc mua sắm đối với từng loại TCB để cho các cơ sở khám chữa bệnh
tổ chức thực hiện được thuận lợi, dễ dàng.
Đấu thầu mua TCB tập trung còn là hoạt động tham mưu, hỗ trợ cho Chính phủ,
UBND cấp tỉnh trong việc thực hiện các chức năng quản lý chi tiêu mua sắm công và
quản lý tài sản nhà nước, đồng thời tư vấn, hỗ trợ cho các cơ quan, bệnh viện thực hiện
việc mua sắm theo đúng quy trình, quy định của Nhà nước một cách tiết kiệm và hiệu
quả. Việc quy định hình thức đấu thầu mua sắm TCB tập trung là nhằm thay vì tổ chức
mua sắm thuốc với số lượng nhiều, chủng loại tương tự ở nhiều bệnh viện khác nhau,
thì đơn vị mua sắm tập trung của ngành y sẽ chịu trách nhiệm tổ chức mua sắm chuyên
nghiệp một lần. Hình thức này vừa giảm chi phí tổ chức đấu thầu, rút ngắn thời gian
đồng thời tăng tính chuyên nghiệp trong hoạt động đấu thầu mua sắm, góp phần nâng
cao hiệu quả kinh tế.
1.1.2 Đặc điểm của đấu thầu mua thuốc chữa bệnh tập trung.
Thứ nhất, đấu thầu mua TCB tập trung khác với kế hoạch hóa tập trung
Từ khi hòa bình lập lại, miền Bắc nước ta bước vô thời kỳ quá độ tiến lên chủ
nghĩa xã hội, năm 1960 miền Bắc đưa vào áp dụng mô hình kinh tế kế hoạch hóa tập
trung. Ưu điểm của mô hình này là trong giai đoạn kinh tế tăng trưởng theo chiều rộng,
tức là dựa vào sự tăng đầu tư. khai thác tài nguyên, nguồn lao động giá rẻ và một số lợi
thế khác, cơ chế kế hoạch hóa tập trung quan liêu bao cấp có những tác dụng nhất định.
Nó tạo sự tập trung tối đa các nguồn lực kinh tế, phát huy sức mạnh tổng hợp của toàn
dân vào các mục tiêu chủ yếu trong từng giai đoạn và điều kiện cụ thể, đặc biệt trong
quá trình công nghiệp hóa theo chiều hướng ưu tiên phát triển công nghiệp nặng. Cơ
chế này giúp tạo sự thống nhất trong thực hiện các mục tiêu.
Bên cạnh những ưu điểm thì cơ chế này cũng có những hạn chế như thủ tiêu sự
cạnh tranh, kìm hãm tiến bộ khoa học kỹ thuật, triệt tiêu động lực phát triển kinh tế,

10


sáng tạo đối với người lao động. Cơ chế kế hoạch hóa tập trung hạn chế sự phát triển
của các thành phần kinh tế khác, kìm hãm lao động sản xuất, làm giảm năng suất, chất
lượng, gây rối loạn trong lưu thông phân phối và gây ra nhiều hiện tượng tiêu cực trong
xã hội như tham nhũng, lãng phí. Đội ngũ cán bộ công chức của các cơ quan hành
chính nhà nước trở nên quan liêu, lộng quyền, hách dịch.
Khi nền kinh tế thế giới chuyển sang giai đoạn phát triển chiều sâu dựa vào việc
áp dụng các thành tựu của cuộc cách mạng khoa học và kỹ thuật hiện đại thì cơ chế
quản lý này càng bộc lộ rõ nét những khiếm khuyết của nó, làm cho nền kinh tế các
nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa, trong đó có nước ta lâm vào tình trạng khủng
hoảng trầm trọng. Nhu cầu đổi mới cơ chế quản lý kinh tế là tất yếu, hết sức cần thiết.
Đấu thầu mua TCB tập trung là việc áp dụng phương thức mua sắm mới để mua
thuốc nhằm làm tăng hiệu quả, tính chuyên nghiệp trong công tác mua sắm công, giảm
bớt sự trùng lặp công việc, lãng phí trong sử dụng nhân sự. Phương thức đấu thầu mua
sắm này giúp phát triển sản xuất, làm tăng năng suất lao động, khuyến khích tăng
cường chất lượng TCB và tạo cơ hội để ứng dụng công nghệ thông tin giúp làm tăng
hiệu quả mua sắm.
Thứ hai, mô hình đấu thầu mua TCB tập trung đối lập với mô hình mua sắm
phân tán
Mô hình mua sắm phân tán trong mua sắm TCB là Nhà nước phân bổ dự toán
cho từng cơ sở khám chữa bệnh để họ tự tổ chức thực hiện đấu thầu mua sắm theo quy
định đối với các gói thầu của dự án thuộc phạm vi quản lý cửa cơ sở khám chữa bệnh
đó.
Đấu thầu mua TCB tập trung là mô hình mua sắm trên cơ sở tổng hợp các nhu
cầu mua sắm giống nhau của nhiều cơ sở khám chữa bệnh. Các cơ sở khám chữa bệnh
có nhu cầu mua sắm thống nhất giao hoặc ký hợp đồng với đơn vị mua sắm tập trung
để họ tổ chức đấu thầu lựa chọn nhà thầu cung cấp TCB theo nhu cầu tổng hợp chung
đó.

11


Thứ ba, đấu thầu mua TCB tập trung là việc mua sắm một lần với số lượng lớn.
Căn cứ trên cơ sở tập hợp nhu cầu mua sắm giống nhau của nhiều cơ sở khám
chữa bệnh, đơn vị mua sắm tập trung tổ chức đấu thầu một lần nhằm lựa chọn được
một hoặc nhiều nhà thầu cung cấp TCB. Như vậy, khối lượng mua sắm là lớn hơn
nhiều so với mua sắm theo mô hình phân tán như cách áp dụng mua sắm truyền thống.
Ngoài ra, thay bằng việc mỗi cơ sở khám chữa bệnh tự tổ chức đấu thầu để lựa chọn
nhà thầu cung cấp thì đơn vị mua sắm tập trung sẽ tổ chức đấu thầu một lần.
Thứ tư, có nhiều chủ thể tham gia vào quá trình đấu thầu mua sắm thuốc tập
trung
Khi đấu thầu mua sắm thuốc tập trung thì hoạt động này được thực hiện bởi các
cơ quan nhà nước, các đơn vị sự nghiệp nhà nước, nên có nhiều chủ thể tham gia vào
quá trình mua sắm tập trung để bảo đảm được các mục tiêu của mua sắm tập trung là
cạnh tranh, công bằng, minh bạch và hiệu quả kinh tế. Các chủ thể tham gia bao gồm:
a) Các đối tượng tham gia trực tiếp vào hoạt động đấu thầu mua sắm TCB tập
trung:
- Bên mua: Chính là Nhà nước mà đại diện là các cơ quan nhà nước, bao gồm:
(i) Người có thẩm quyền quyết định việc đấu thầu mua sắm tập trung;
(ii) Bên mời thầu, là cơ quan, tổ chức được giao nhiệm vụ;
(iii) Tổ chuyên gia, bao gồm các cá nhân được bên mời thầu quyết định thành
lập để thực hiện nhiệm vụ đánh giá HSDT, lựa chọn nhà thầu phù hợp với yêu cầu căn
cứ HSMT và tổ chức đấu giá;
(iv) Cơ quan, tổ chức thẩm định.
- Bên bán: Nhà thầu tham gia mua sắm tập trung các gói thầu phù hợp với điều
kiện năng lực và kinh nghiệm của mình để dành được các hợp đồng trên cơ sở cạnh
tranh hoặc thông qua các hình thức lựa chọn khác theo quy định.
b) Các đối tượng tham gia gián tiếp vào hoạt động đấu thầu mua sắm TCB tập
trung:

12


Ngoài bên mua và bên bán là các đối tượng tham gia trực tiếp hoạt động đấu
thầu mua sắm tập trung còn có một bộ phận thứ ba gián tiếp tham gia vào hoạt động
này, bao gồm:
-

Cơ quan thanh tra, kiểm tra, giám sát;

-

Tổ chức, công ty kiểm toán độc lập;

-

Các cơ quan báo chí, truyền thông;

-

Sự tham gia của cộng đồng với vai trò giám sát.

1.1.3 Ý nghĩa, vai trò của đấu thầu mua thuốc chữa bệnh tập trung
- Ý nghĩa của đấu thầu mua TCB tập trung
+ Giá thuốc sẽ giảm mạnh
Trước đây tình trạng chênh lệch giá thuốc gây ảnh hưởng lớn đến người bệnh.
Cùng một mặt hàng thuốc của một công ty sản xuất mà mỗi nơi một giá khác nhau. Giá
thuốc giữa các tỉnh khác nhau đã đành (vì có thể do khoảng cách địa lý, nhà thầu tính
thêm phí vận chuyển) nhưng do việc đấu thầu đơn lẻ tại các bệnh viện đã tạo ra sự
chênh lệch giá đối với cùng một loại thuốc, với cùng một dạng hoạt chất và cùng một
dạng bào chế ở các cơ sở khám chữa bệnh trong cùng một địa phương. Nó cũng tạo
nên sự hỗn loạn về các mặt hàng thuốc khi có khá nhiều loại thuốc trúng thầu có cùng
một hoạt chất nhưng với tỉ lệ khác nhau. Việc xét thầu lâu nay đã đẻ ra những thủ thuật
“lách luật”, “cài thầu” để thuốc vào được danh mục sử dụng của cơ sở khám chữa
bệnh. Nhiều dạng bào chế với hàm lượng “lạ” để không bị cạnh tranh đã xuất hiện
khiến cho TCB từ “ma trận” về giá dẫn đến “mê hồn trận” về hàm lượng và dạng bào
chế.
Tình trạng này sẽ được khắc phục triệt để khi đấu thầu mua sắm tập trung với
các thuốc có hoạt chất được sử dụng với số lượng lớn. Đấu thầu tập trung cũng sẽ khắc
phục được tình trạng giá thuốc chênh lệch giữa các cơ sở khám chữa bệnh trong cùng
địa phương. Một nguyên lý sơ đẳng trong buôn bán bất cứ loại hàng hóa nào là nếu tôi
bán được nhiều hàng thì giá của tôi sẽ giảm hơn ở cửa hàng khác cùng chủng loại. Mua

13


với số lượng lớn sẽ rẻ hơn mua lẻ tẻ từng món. Đấu thầu thuốc tập trung với số lượng
rất lớn thì giá phải giảm là điều dễ thấy. Mặt khác, khi nhà thầu trúng thầu cung ứng
thuốc với số lượng lớn, họ cũng sẽ khá yên tâm với doanh số, tất nhiên trong điều kiện
nhà thầu đó phải có năng lực sản xuất và phân phối đảm bảo tiêu chuẩn kỹ thuật khi xét
thầu.
+ Đảm bảo chất lượng thuốc thống nhất trong cả nước
Chỉ các thuốc đủ điểm kỹ thuật mới được xem xét đến giá, tức là chất lượng
phải được đặt lên hàng đầu. Trong sản xuất kinh doanh dược phẩm, bộ tiêu chí
GP (Thực hành tốt) với các chuẩn rất cao theo EU hoặc WHO đã được các doanh
nghiệp dược quan tâm triển khai. Khi các thuốc trúng thầu đảm bảo đủ các yếu tố kỹ
thuật sẽ được phân vào 5 nhóm đối với thuốc tân dược nhóm Generic (thuốc tương
đương sinh học với biệt dược gốc đã hết hạn bản quyền). Năm nhóm đó hoàn toàn có
những tiêu chí rất rõ ràng, minh bạch, cố định, để xem thuốc đó có hay không được xếp
vào nhóm đó. Thuốc chỉ được đấu giá với nhau trong cùng một nhóm. Cho nên sẽ
không có chuyện thuốc chất lượng ở nhóm thấp hơn lại lọt vào trúng thầu ở nhóm
thuốc có chất lượng cao hơn. Mặt khác, quá trình đấu thầu luôn tuân thủ nguyên tắc
đấu thầu rộng rãi, đảm bảo sự cạnh tranh và tính minh bạch để chọn ra thuốc tốt có giá
thành tốt theo xu hướng giá thuốc đấu thầu tập trung phải giảm hơn so với đấu thầu
riêng lẻ ở nhiều nơi.
+ Điều phối giữa nơi dùng ít và nơi dùng nhiều
Chủ đầu tư, bên mời thầu có thể thực hiện vai trò điều phối thuốc trong quá trình
thực hiện cung ứng thuốc của các hãng dược. Việc giảm bớt thủ tục hành chính trong
điều phối thuốc như vậy sẽ tiện lợi hơn vì không phải chờ đợi xét duyệt mỗi khi thiếu
thuốc. Các cơ sở khám chữa bệnh không phải tổ chức xây dựng gói thầu, giá kế hoạch,
tổ chức đấu thầu; các nhà thầu cũng biết trước một lượng thuốc lớn và ổn định họ sẽ
phải cung cấp trong một thời gian dài cố định mà không phải làm hàng trăm bộ HSDT,
tham dự hàng trăm cuộc đấu thầu.

14


Cái được rất lớn của việc đấu thầu thuốc tập trung chính là tạo động lực cho nền
sản xuất thuốc trong nước phát triển. DN chủ động được nguồn cung, đơn hàng dồi
dào, từ đó chủ động nâng cao năng suất, chuyển giao công nghệ để nâng sức cạnh tranh
trong đấu thầu.
-

Vai trò của đấu thầu mua TCB tập trung

Việc đấu thầu mua sắm TCB tập trung có vai trò bảo đảm đạt được bốn yếu tố,
đó là: hiệu quả - công bằng - minh bạch và cạnh tranh. Yếu tố hiệu quả có thể được
đánh giá dựa vào mặt tài chính hoặc thời gian thực hiện hay một yêu cầu, tiêu chí nào
đó phụ thuộc vào mục tiêu dự án. Chủ đầu tư muốn đảm bảo yêu cầu hiệu quả tốt nhất
cho dự án thì phải tạo mọi điều kiện để các nhà thầu có thể cạnh tranh công khai trong
phạm vi rộng nhất nhằm tạo ra sự minh bạch, công bằng, đáp ứng lợi ích cao nhất cho
các bên tham gia vào hoạt động đấu thầu.
Đối với chủ đầu tư, thông qua hoạt động đấu thầu mua sắm giúp chủ đầu tư có
thể chọn được các nhà thầu thõa mãn được yêu cầu về chất lượng TCB, tiết kiệm được
chi phí mua thuốc, bảo đảm tiến độ cung ứng thuốc. Bảo đảm quyền chủ động, tránh
tình trạng quá phụ thuộc vào một nhà thầu sẽ có thể nảy sinh nhiều hệ quả. Tạo ra một
môi trường có tính cạnh tranh công bằng và lành mạnh giữa các doanh nghiệp dược
tham gia thầu. Hoạt động đấu thầu giúp chủ đầu tư nâng cao năng lực cũng như trình
độ các cán bộ, nhân viên của chủ đầu tư.
Đối với nhà thầu, với mong muốn trúng thầu khi tham dự thầu thì các nhà thầu
cần phải tự mình hoàn thiện trên tất cả mọi mặt. Nhờ nguyên tắc minh bạch, công khai
và bình đẳng giữa các nhà thầu trong đấu thầu nên các nhà thầu phải cố gắng phát huy
cao nhất sự chủ động trong việc tìm kiếm các cơ hội tham dự đấu thầu và ký kết hợp
đồng (nếu trúng thầu), qua đó giúp tạo việc làm cho người lao động, tạo động lực phát
triển sản xuất kinh doanh. Thông qua hoạt động đấu thầu, các nhà thầu phải chọn lọc,
tính toán làm sao để việc đầu tư có trọng điểm nhằm nâng cao năng lực sản xuất và

15


phân phối, từ đó sẽ nâng cao năng lực của doanh nghiệp, giúp cho nâng cao hiệu quả
kinh tế khi giá tham dự thầu thấp nhưng vẫn thu được lợi nhuận hợp lý.
Đối với nền kinh tế quốc dân, đấu thầu có vai trò giúp phát huy hiệu quả công
tác quản lý điều hành nhà nước về đầu tư mua sắm công, qua đó kéo giảm tới mức thấp
nhất vấn đề thất thoát, lãng phí vốn đầu tư. Mặt khác, hoạt động đấu thầu mua sắm tập
trung cũng góp phần vào việc nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh trong lĩnh vực
đầu tư sản xuất dược nói riêng và toàn nền kinh tế nói chung, tạo ra môi trường cạnh
tranh bình đẳng giữa các doanh nghiệp, mang lại động lực to lớn thúc đẩy sự phát triển
của ngành công nghiệp dược nước ta, tạo điều kiện ứng dụng khoa học công nghệ vào
thực tiễn sản xuất, đổi mới kỹ thuật, rút ngắn khoảng cách để từng bước hội nhập với
các nước trong khu vực và quốc tế.
1.2.

Pháp luật về đấu thầu mua thuốc chữa bệnh tập trung

1.2.1 Khái niệm pháp luật về đấu thầu mua thuốc chữa bệnh tập trung.
Hoạt động đấu thầu đã xuất hiện từ rất lâu với những hình thức khác nhau, thế
nhưng các quy định pháp luật dùng để điều chỉnh hoạt động đấu thầu thì lại ra đời trễ
hơn. Các Biểu mẫu liên quan đến đấu thầu do Hiệp hội quốc tế các kỹ sư tư vấn
(FIDIC) biên soạn là một trong những căn cứ pháp lý dùng để điều chỉnh hoạt động
đấu thầu. Cùng với đó, nhiều quốc gia và những tổ chức quốc tế cũng đã tiếp tục xây
dựng các quy định, hướng dẫn, thể lệ và quy chế về hoạt động đấu thầu. Thời kỳ Pháp
thuộc, Việt Nam đã bắt đầu xuất hiện hình thức đấu thầu, năm 1954 sau khi hiệp định
Giơnevơ được ký kết về việc lập lại hòa bình ở Đông Dương, miền Bắc bắt tay vào xây
dựng đất nước, phát triển kinh tế, hoạt động đấu thầu được thực hiện bằng hình thức
đàm phán trực tiếp với các cấp kinh phí, tài trợ để mua sắm máy móc, thiết bị nhà
xưởng. Sau ngày giải phóng hoàn toàn miền Nam thống nhất đất nước, Việt Nam đã tổ
chức đấu thầu để chọn nhà thầu thi công hồ thủy lợi Dầu Tiếng vào năm 1979. Từ đó
đến nay nước ta đã thực hiện rất nhiều cuộc đấu thầu với mức độ to nhỏ khác nhau và
các lĩnh vực khác nhau trên khắp các địa phương tỉnh thành, qua đó giúp tiết kiệm

16


được nguồn tiền bạc, nhân công cho nền kinh tế nước nhà. Trước đây khi mà chưa có
một văn bản pháp lý nào điều chỉnh trực tiếp hoạt động đấu thầu thì nước ta áp dụng
một số văn bản có các quy định liên quan để điều chỉnh hoạt động đấu thầu mua sắm
hàng hóa như: Luật thương mại năm 1997, Nghị định 43/CP ngày 16/07/1996 của
Chính phủ, Thông tư liên tịch số 02/TTLB ngày 25/02/1997 về việc hướng dẫn thực
hiện Quy chế đấu thầu… Luật Đấu thầu số 61/2005/QH/QH11 ngày 29 tháng 11 năm
2005 ra đời chính thức trở thành văn bản pháp lý điều chỉnh trực tiếp hoạt động đấu
thầu mua sắm hàng hóa, tạo cơ sở nền tảng và khung pháp lý cho việc thực hiện những
cuộc đấu thầu sau đó.
Kể từ khi Luật Đấu thầu số 43/2013/QH13 ngày 26 tháng 11 năm 2013 có hiệu
lực pháp lý thay thế cho Luật Đấu thầu số 61/2005/QH/QH11 ngày 29 tháng 11 năm
2005, thì hoạt động đấu thầu mua sắm hàng hóa nói chung và đấu thầu mua TCB tập
trung nói riêng được điều chỉnh bởi nhiều văn bản pháp lý, như: Luật Thương mại năm
2005, Nghị định số 63/2014/NĐ-CP ngày 26/6/2014 của Chính phủ quy định chi tiết
thi hành một số điều của Luật Đấu thầu về lựa chọn nhà thầu, Luật Doanh nghiệp năm
2014 , Luật Đầu tư công số 49/2014/QH13,...Theo thời gian càng về sau thì hệ thống
các văn bản pháp luật về đấu thầu, đấu thầu mua sắm tập trung càng được hoàn thiện
hơn, làm cơ sở hành lang pháp lý vững chắc cho hoạt động đấu thầu mua sắm. Các quy
định của pháp luật đã góp phần tạo ra môi trường đấu thầu công bằng, minh bạch nhằm
đem lại lợi ích tốt nhất cho các chủ thể tham gia vào quá trình đấu thầu. Tuy nhiên,
mặc dù đã có nhiều văn bản pháp lý điều chỉnh hoạt động đấu thầu nói chung, đấu thầu
mua sắm tập trung nói riêng nhưng cũng còn bộc lộ nhiều hạn chế, bất cập trên phương
diện lý luận lẫn thực tiễn áp dụng. Điều này đã tác động khá lớn tới hiệu quả của hoạt
động đấu thầu, gây ra ảnh hưởng không tốt trong việc bảo vệ quyền lợi của các chủ thể
tham gia. Việc vận dụng đầy đủ, kịp thời và đúng đắn các nguyên tắc trong hoạt động
đấu thầu mua sắm tập trung góp phần tăng cường hiệu quả trong đấu thầu lẫn trong quá
trình giải quyết các tranh chấp xảy ra từ hoạt động đấu thầu. Pháp luật về đấu thầu mua

17


sắm tập trung là hệ thống các quy phạm pháp luật do nhà nước ban hành với mục đích
điều chỉnh những quan hệ xã hội về tổ chức hoạt động đấu thầu, trong đó có các quan
hệ xã hội về đấu thầu mua sắm TCB tập trung. Các quan hệ xã hội về hoạt động đấu
thầu phát sinh trực tiếp từ quá trình xây dựng, duy trì, thay đổi và hoàn thành hoạt động
đấu thầu (mời tham dự thầu, hình thức và phương thức đấu thầu, chọn nhà thầu, tổ
chức đấu thầu, thương thảo hợp đồng, ký kết hợp đồng…). Pháp luật về đấu thầu mua
sắm TCB tập trung được hiểu là: tổng hợp các quy phạm pháp luật do Nhà nước ban
hành hoặc thừa nhận dùng để điều chỉnh các quan hệ xã hội nảy sinh trong quá trình tổ
chức, quản lý, thực hiện và áp dụng các quy định pháp luật điều chỉnh hoạt động đấu
thầu mua sắm TCB tập trung nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của Nhà nước, tổ
chức, cá nhân và các chủ thể khác.
1.2.2 Nội dung pháp luật về đấu thầu mua thuốc chữa bệnh tập trung
- Chủ thể tham gia quan hệ đấu thầu mua TCB tập trung
Đấu thầu mua sắm hàng hóa là một hoạt động thương mại, theo đó bên có nhu
cầu mua hàng hóa thông qua hoạt động mời thầu (gọi là bên mời thầu) nhằm chọn ra
trong số các thương nhân tham gia đấu thầu (gọi là bên dự thầu) thương nhân đạt được
tốt nhất các tiêu chí do bên mời thầu yêu cầu và được lựa chọn để ký kết và thực hiện
hợp đồng (gọi là bên trúng thầu). Đấu thầu mua sắm tập trung là một trong các cách
thức thực hiện hoạt động đấu thầu. Do đó, có thể hiểu rằng tham gia vào hoạt động đấu
thầu mua sắm hàng hóa tập trung nói chung, đấu thầu mua sắm TCB tập trung nói
riêng bao gồm hai nhóm chủ thể chính là bên mời thầu và bên dự thầu.
Thứ nhất, bên mời thầu, là bên có nhu cầu mua sắm hàng hóa, mà ở đây cụ thể
là mua TCB, là cơ quan, cơ sở khám chữa bệnh có đủ chuyên môn và năng lực để tổ
chức và thực hiện các hoạt động đấu thầu, đó là: Chủ đầu tư hay tổ chức khác do chủ
đầu tư thành lập hoặc lựa chọn; Đơn vị dự toán trực tiếp sử dụng nguồn vốn mua sắm
thường xuyên; Đơn vị mua sắm tập trung; Cơ quan nhà nước có thẩm quyền hay tổ
chức trực thuộc do cơ quan nhà nước có thẩm quyền lựa chọn. Đối với trường hợp chủ

18


sở hữu vốn không đồng thời là bên mời thầu thì chủ sở hữu vốn thật sự cũng có vai trò
ảnh hưởng nhất định đến gói thầu.
Thứ hai, bên dự thầu được hiểu là các thương nhân có năng lực cung cấp hàng
hóa mà cụ thể ở đây là TCB muốn thông qua đấu thầu để giành quyền cung cấp TCB
và được bên mời thầu mời tham dự đấu thầu. Bên dự thầu là thương nhân Việt Nam
hoặc thương nhân nước ngoài đáp ứng đầy đủ điều kiện.
Trong quá trình đấu thầu thì có nhiều thương nhân khác nhau cùng tham gia dự
thầu, tuy nhiên chỉ có thương nhân nào đạt các tiêu chí của bên mời thầu và xếp hạng
cao nhất (bên trúng thầu) mới được lựa chọn để ký kết hợp đồng cung ứng hàng hóa,
dịch vụ với bên mời thầu. Bên cạnh điều kiện về tư cách chủ thể phải là thương nhân
thì bên dự thầu cũng cần đáp ứng một số yêu cầu như: có năng lực pháp luật dân sự ,
trường hợp thương nhân là cá nhân thì cần phải có năng lực hành vi dân sự để ký kết và
thực hiện hợp đồng, phải độc lập về tài chính.
Bên dự thầu bao gồm nhà thầu chính, nhà thầu phụ, nhà thầu trong nước, nhà
thầu nước ngoài. Bên cạnh đó còn có các chủ thể trung gian khác như: Tổ Thẩm định
HSMT, Tổ thẩm định kết quả lựa chọn nhà thầu…
Các chủ thể trên xuất hiện tham gia vào quan hệ đấu thầu mua TCB tập trung
nhưng vẫn chưa được pháp luật quy định rõ về tư cách pháp lý, quyền lợi và nghĩa vụ
mặc dù có một vai trò rất quan trọng trong quá trình tổ chức và thực hiện đấu thầu. Sự
tham gia của họ giúp cho hoạt động đấu thầu được thực hiện nghiêm túc, theo đúng
quy định của pháp luật, kịp thời phát hiện những bất cập, thiếu sót và đưa ra các đề
xuất để điều chỉnh cho phù hợp. Do đó, việc sớm đưa ra các quy định rõ ràng về các
chủ thể này trong luật là vô cùng cần thiết.
-

Đối tượng đấu thầu

Đối tượng của đấu thầu mua sắm là TCB được cho phép kinh doanh trên thị
trường theo các quy định của pháp luật Việt Nam.
-

Hình thức và phương thức lựa chọn nhà thầu

19


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×