Tải bản đầy đủ

Tranh tụng tại phiên tòa sơ thẩm vụ án hình sự từ thực tiễn tỉnh Bắc Ninh (Luận văn thạc sĩ)

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGUYỄN CÔNG THẮNG

TRANH TỤNG TẠI PHIÊN TÒA SƠ THẨM VỤ ÁN
HÌNH SỰ TỪ THỰC TIỄN TỈNH BẮC NINH

LUẬN VĂN THẠC SĨ
LUẬT HÌNH SỰ VÀ TỐ TỤNG HÌNH SỰ

Hà Nội - 2020


VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGUYỄN CÔNG THẮNG

TRANH TỤNG TẠI PHIÊN TÒA SƠ THẨM VỤ ÁN
HÌNH SỰ TỪ THỰC TIỄN TỈNH BẮC NINH


Ngành: Luật hình sự và Tố tụng hình sự
Mã số: 8380104

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS. PHẠM MINH TUYÊN

Hà Nội - 2020


LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các
kết quả, ví dụ và trích dẫn trong luận văn đảm bảo tính chính xác và trung
thực. Các kết luận khoa học của luận văn là kết quả quá trình tự nghiên cứu
của tác giả!
NGƯỜI CAM ĐOAN

NGUYỄN CÔNG THẮNG


MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ........................................................................................................... 1
CHƯƠNG 1. NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT VỀ
TRANH TỤNG TẠI PHIÊN TÒA SƠ THẨM VỤ ÁN HÌNH SỰ ............. 7
1.1. Khái niệm tranh tụng và tranh tụng tại phiên tòa sơ thẩm vụ án hình sự ... 7
1.2. Đặc điểm và ý nghĩa của tranh tụng tại phiên tòa sơ thẩm vụ án hình sự 11
1.3. Cơ sở quy định và điều kiện đảm bảo thực hiện tranh tụng tại phiên tòa sơ
thẩm vụ án hình sự ........................................................................................... 14
1.4. Lịch sử lập pháp các quy định về tranh tụng và tranh tụng tại phiên tòa sơ
thẩm vụ án hình sự ........................................................................................... 17
Tiểu kết chương 1 ........................................................................................... 19
CHƯƠNG 2. QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ NĂM
2015 VỀ TRANH TỤNG TẠI PHIÊN TÒA SƠ THẨM VỤ ÁN HÌNH SỰ
VÀ THỰC TIỄN TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH BẮC NINH .............................. 20
2.1. Quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 về tranh tụng tại phiên
tòa sơ thẩm vụ án hình sự................................................................................. 20
2.2. Thực tiễn tranh tụng tại phiên tòa sơ thẩm vụ án hình sự trên địa bàn tỉnh
Bắc Ninh ........................................................................................................... 22
2.3. Những hạn chế, thiếu sót trong thực hiện tranh tụng tại phiên tòa sơ thẩm
vụ án hình sự trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh và nguyên nhân .............................. 34


Tiểu kết chương 2 ........................................................................................... 43
Chương 3. YÊU CẦU VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG
TRANH TỤNG TẠI PHIÊN TÒA SƠ THẨM VỤ ÁN HÌNH SỰ ........... 44
3.1. Yêu cầu nâng cao chất lượng tranh tụng tại phiên tòa sơ thẩm vụ án hình sự 44
3.2. Giải pháp nâng cao chất lượng tranh tụng tại phiên tòa sơ thẩm vụ án
hình sự .............................................................................................................. 45
Tiểu kết chương 3 ........................................................................................... 58
KẾT LUẬN ..................................................................................................... 60
TÀI LIỆU THAM KHẢO


DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
BLHS

: Bộ luật hình sự

BLTTHS

: Bộ luật tố tụng hình sự

CQTHTT

: Cơ quan tiến hành tố tụng

VAHS

: Vụ án hình sự

THTT

: Tiến hành tố tụng

TAND

: Tòa án nhân dân

TTHS

: Tố tụng hình sự

HĐXX

: Hội đồng xét xử

VKS

: Viện kiểm sát


DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Bảng 2.1. Số vụ án hình sự sơ thẩm được Tòa án nhân dân hai cấp tỉnh Bắc
Ninh giải quyết từ năm 2015 đến năm 2019. .......................................... 23
Bảng 2.2. Số vụ án hình sự sơ thẩm được Tòa án nhân dân hai cấp tỉnh Bắc
Ninh giải quyết có Luật sư tham gia bào chữa từ năm 2015 đến năm 2019 24
Bảng 2.3. Số vụ án hình sự sơ thẩm được Tòa án nhân dân hai cấp tỉnh Bắc
Ninh giải quyết có Luật sư tham gia bào chữa do được Chỉ định tham
gia từ năm 2015 đến năm 2019 ............................................................... 25
Bảng 2.4. Số vụ án hình sự sơ thẩm được Tòa án nhân dân hai cấp tỉnh Bắc
Ninh chấp nhận quan điểm của Viện kiểm sát và số vụ án hình sự sơ
thẩm Viện kiểm sát rút quyết định truy tố hoặc thay đổi tội danh từ
năm 2015 đến năm 2019 ......................................................................... 26


MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Tranh tụng trong TTHS là một khái niệm quen thuộc nhưng ở nước ta,
đây là một vấn đề còn mới, ít được đề cập trong khoa học pháp lý. Tranh tụng
được đề cập chính thức trong Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 2/1/2002, Nghị
quyết 49/NQ-TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị: đẩy mạnh tranh tụng tại
tất cả phiên tòa xét xử, coi đây là hoạt động đột phá của các cơ quan tư pháp.
Tuy nhiên, tranh tụng chỉ được coi là nguyên tắc cơ bản trong TTHS cho đến
khi BLTTHS năm 2015 được ban hành và có hiệu lực nhằm thể chế hóa
những quy định trong các Nghị quyết của Đảng và Nhà nước ta và thực tiễn
xét xử và kinh nghiệm của các quốc gia trên thế giới.
Mặc dù BLTTHS năm 2015 có hiệu lực từ ngày 01/01/2018 đã có bước
tiến bộ rất lớn khi ghi nhận những nội dung liên quan đến tranh tụng như ghi
nhận nguyên tắc “Tranh tụng trong xét xử được bảo đảm” (Điều 26); điều
chỉnh khái niệm về chứng cứ, quy định quyền thu thập chứng cứ của người
bào chữa và cách thức người bào chữa thu thập chứng cứ; bổ sung quy định
về giải quyết yêu cầu, đề nghị trước khi mở phiên tòa (Điều 279); quy định
chặt chẽ sự có mặt của bị cáo, người bào chữa tại phiên tòa (Điều 290 và Điều
291)...nhằm tăng cường tranh tụng, góp phần hạn chế oan sai nâng cao chất
lượng giải quyết các vụ án hình sự.
Tuy nhiên, thực tiễn thời gian vừa qua trên địa bàn cả nước và tỉnh Bắc
Ninh cho thấy quy định về tranh tụng trong BLTTHS năm 2015 vẫn có một
số quy định chưa phù hợp với thực tiễn và các quy định khác của BLTTHS,
trong thực tiễn thì hoạt động tranh tụng vẫn còn mang tính hình thức, chưa
được chú trọng và quan tâm đúng mức; chưa được phát huy đúng mức nhiều
vụ án chưa phát huy hết khả năng tranh luận của các chủ thể tham gia tố tụng
tại phiên tòa; một số Hộ đồng xét xử mà vai trò chủ yếu là Thẩm phán được
phân công chủ tọa phiên tòa chưa xem trọng quá trình tranh tụng tại phiên tòa,
1


chưa tạo điều kiện cho các bên tham gia tranh luận và đối đáp một cách tích
cực, vẫn còn có tình trạng khống chế thời gian tranh luận; bên cạnh đó thì
trình độ chuyên môn và kỹ năng của chủ thể buộc tội là Kiểm sát viên còn
hạn chế, chưa am hiểu nhiều lĩnh vực, chưa tương xứng với nhiệm vụ được
giao; bị cáo, bị hại và những người tham gia tố tụng khác hoặc người đại diện
hợp pháp của họ phần lớn rất hạn chế về hiểu biết pháp luật và không có kỹ
năng tranh luận…
Do vậy, trước yêu cầu của của việc tiếp tục cải cách tư pháp, nâng cao
chất lượng tranh tụng, hạn chế oan sai, bỏ lọt tội phạm và thực tiễn tranh tụng tại
tỉnh Bắc Ninh, tác giả chọn đề tài: “Tranh tụng tại phiên tòa sơ thẩm vụ án hình
sự từ thực tiễn tỉnh Bắc Ninh” làm đề tài luận văn thạc sĩ chuyên ngành Luật.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Liên quan đến đề tài trên cũng đã có nhiều công trình khoa học nghiên
cứu, mà tiêu biểu là một số công trình sau:
(i) Về sách chuyên khảo (Giáo trình, Bình luận khoa học BLTTHS):
Nguyễn Ngọc Chí (Chủ biên) (2001), Giáo trình Luật TTHS Việt Nam, Nxb.
Đại học Quốc gia Hà Nội; GS.TS. Võ Khánh Vinh (chủ biên, 2011), Bình
luận khoa học Bộ luật tố tụng hình sự, Nxb. Tư pháp, Hà Nội; Học viện Khoa
học Xã hội (2012), Bình luận khoa học Bộ luật TTHS, Nxb.Tư pháp, Hà Nội;
PGS.TS. Nguyễn Tất Viễn (2005), Bình luận khoa học Bộ luật tố tụng hình
sự, Nxb. Công an nhân dân, Hà Nội; TS. Nguyễn Đức Mai (2011), Đề tài
khoa học cấp cơ sở Tòa án nhân dân tối cao (TANDTC) về “Hoàn thiện các
quy định của BLTTHS năm 2003 liên quan đến tranh tụng tại phiên tòa sơ
thẩm- cơ sở lý luận và thực tiễn”, Hà Nội; Phạm Hồng Hải (2004), Cải cách
tư pháp ở Việt Nam trong giai đoạn xây dựng Nhà nước pháp quyền, Nxb.
Đại học Quốc gia, Hà Nội; Nguyễn Thái Phúc (1995), “Một số vấn đề về
quyền công tố”, Kỷ yếu đề tài khoa học cấp bộ “Những vấn đề lý luận và thực
tiễn cấp bách của TTHS Việt Nam, Viện kiểm sát nhân dân tối cao; Nguyễn
2


Hữu Thể, Đỗ Văn Đương, Nguyễn Thị Thủy (Đồng chủ biên) (2003), Những
vấn đề lý luận và thực tiễn cấp bách của việc đổi mới thủ tục tố tụng hình sự
đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp (sách chuyên khảo), Nxb. Chính trị quốc
gia, Hà Nội.
(ii) Luận văn thạc sĩ, tiến sĩ: Nguyễn Hải Ninh (2003), Thủ tục xét hỏi,
tranh luận tại phiên tòa hình sự sơ thẩm, Luận văn thạc sĩ luật học, Học viện
Chính trị Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh; Nguyễn Tiến Long (2005),
Thực hiện pháp luật đảm bảo Nguyên tắc tranh tụng trong xét xử án hình sự
sơ thẩm ở Việt Nam hiện nay, Luận văn thạc sỹ luật học, Học viện Chính trị
Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh; Nguyễn Thị Hồng Nhung (2014), Cơ sở
lý luận và thực tiễn về tranh tụng tại phiên tòa trong xét xử vụ án hình sự ở
tỉnh Bắc Ninh, Luận văn thạc sỹ luật học, Khoa luật, Đại học quốc gia Hà
Nội; Lê Trung Dũng (2018), Tranh tụng tại phiên tòa hình sự sơ thẩm theo
pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam từ thực tiễn xét xử của cá tòa án quân sự
Quân khu 2, Luận văn thạc sĩ Luật học, Học viện Khoa học xã hội, Hà Nội;
v.v…
(iii) Tạp chí và các tài liệu khác: Trần Văn Độ (2004), Bản chất của
tranh tụng tại phiên tòa, Tạp chí Khoa học pháp lý, số 04; Nguyễn Thái Phúc
(2008), Vấn đề tranh tụng và tăng cường tranh tụng trong TTHS theo yêu cầu
của cải cách tư pháp, Tạp chí NN&PL, số 08; Nguyễn Trương Tín (2010),
Một số vấn đề về sự tham gia tranh tụng của người bị hại và nguyên đơn dân
sự tại phiên tòa hình sự sơ thẩm theo yêu cầu của cải cách tư pháp, Tạp chí
luật học, số 03; Cao Xuân Phong (2003), Bảo đảm quyền của bị can, bị cáo
trong phiên tòa mở rộng tranh tụng, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật, số
08/2003; Đinh Văn Quế (2004), Vai trò của Hội đồng xét xử trong việc tranh
tụng tại phiên tòa sơ thẩm hình sự, Tạp chí Tòa án nhân dân, số 01/2004;
PGS. TS Trần Văn Độ (2004), Bản chất của tranh tụng tại phiên tòa, Tạp chí
khoa học pháp lý, số 04/2004; Từ Văn Nhũ (2012), Đổi mới thủ tục xét xử
3


nhằm nâng cao chất lượng tranh tụng tại phiên tòa hình sự, Tạp chí Tòa án
nhân dân, số 10/2012, Hà Nội; v.v...
Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu trên mới chỉ dừng lại ở khái quát
chung hoặc được thể hiện một phần trong kết quả của các công trình nghiên
cứu khác về tranh tụng, nhiều công trình nghiên cứu về tranh tụng trong bối
cảnh BLTTHS năm 2015 chưa có hiệu lực pháp luật; tính đến nay, chưa có
công trình nào nghiên cứu đề tài trên trong phạm vi một tỉnh là tỉnh Bắc Ninh,
trong khoảng thời gian từ năm 2015 đến năm 2019. Do vậy, việc nghiên cứu
đề tài: “Tranh tụng tại phiên tòa sơ thẩm vụ án hình sự từ thực tiễn tỉnh Bắc
Ninh” là vấn đề hoàn toàn mới và không trùng lặp với các công trình đã
nghiên cứu trước đây.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu đề tài trên nhằm làm sâu sắc thêm lý luận và
pháp luật về tranh tụng tại phiên tòa sơ thẩm vụ án hình sự. Trên cơ sở đó,
luận văn đánh giá những kết quả đạt được, những hạn chế vướng mắc của
hoạt động tranh tụng tại phiên tòa sơ thẩm trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh và
nguyên nhân của những vướng mắc, hạn chế, từ đó luận văn kiến nghị một số
giải pháp nhằm nâng cao chất lượng tranh tụng tại phiên tòa sơ thẩm vụ án
hình sự của tỉnh Bắc Ninh.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Làm sáng tỏ một số vấn đề lý luận và pháp luật về tranh tụng tại
phiên tòa sơ thẩm vụ án hình sự như khái niệm, đặc điểm, ý nghĩa của tranh
tụng tại phiên tòa sơ thẩm; cũng như khái quát lịch sử lập pháp tố tụng hình
sự về tranh tụng và tranh tụng tại phiên tòa sơ thẩm vụ án hình sự.
- Phân tích, đánh giá khái quát thực trạng hoạt động tranh tụng tại
phiên tòa sơ thẩm vụ án hình sự tại Bắc Ninh giai đoạn năm 2015 đến năm
2019.
4


- Luận văn phân tích những yêu cầu và đề xuất một số giải pháp nâng
cao chất lượng tranh tụng tại phiên tòa sơ thẩm vụ án hình sự trên địa bàn tỉnh
Bắc Ninh đáp ứng yêu cầu tiếp tục cải cách tư pháp.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu một số vấn đề lý luận và pháp luật về tranh tụng
tại phiên tòa sơ thẩm vụ án hình sự từ thực tiễn tỉnh Bắc Ninh.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu trong phạm vi pháp luật tố tụng hình sự mà trọng
tâm là Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và thực tiễn xét xử sơ thẩm vụ án
hình sự của Tòa án nhân dân hai cấp tỉnh Bắc Ninh.
Phạm vi không gian: tỉnh Bắc Ninh
Phạm vi thời gian: từ năm 2015 đến năm 2019.
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Luận văn được thực hiện dựa trên cơ sở lý luận của Chủ nghĩa Mác Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng và Nhà nước về cải
cách tư pháp theo yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa.
Phương pháp luận: Luận văn sử dụng các phương pháp duy vật biện
chứng, duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác – Lênin và các phương pháp cụ thể
như: phân tích, tổng hợp, logic, lịch sử, thống kê…để nghiên cứu đề tài.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn
Về mặt lý luận: Kết quả nghiên cứu của luận văn góp phần làm sâu sắc
thêm một số vấn đề lý luận về tranh tụng tại phiên tòa sơ thẩm vụ án hình sự
trong pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam thông qua phân tích thực tiễn tỉnh
Bắc Ninh. Đồng thời, nâng cao nhận thức về hoạt động tranh tụng tại phiên
tòa sơ thẩm theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.
Về mặt thực tiễn: Kết quả nghiên cứu của luận văn có thể là một tài liệu
tham khảo trong công tác nghiên cứu khoa học những nội dung liên quan đến
5


hoạt động tranh tụng và là tài liệu có giá trị tham khảo về mặt lý luận đối với
những người làm công tác thực tiễn trong các cơ quan tố tụng của tỉnh Bắc
Ninh, cũng như là tài liệu tham khảo trong công tác giảng dạy. Kết quả
nghiên cứu của luận văn góp phần hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự về
hoạt động tranh tụng trong công tác xây dựng pháp luật.
7. Kết cấu của luận văn
Chương 1. Những vấn đề lý luận và pháp luật về tranh tụng tại phiên
tòa sơ thẩm vụ án hình sự.
Chương 2. Quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 về tranh tụng
tại phiên tòa sơ thẩm vụ án hình sự và thực tiễn trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh.
Chương 3. Yêu cầu và giải pháp nâng cao chất lượng tranh tụng tại
phiên tòa sơ thẩm vụ án hình sự.

6


Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT VỀ TRANH TỤNG
TẠI PHIÊN TÒA SƠ THẨM VỤ ÁN HÌNH SỰ
1.1. Khái niệm tranh tụng và tranh tụng tại phiên tòa sơ thẩm vụ
án hình sự
1.1.1. Khái niệm tranh tụng trong tố tụng hình sự
Có thể nói “tranh tụng” là kết quả, thành tựu tiến bộ của nhân loại trong
việc bảo vệ quyền con người. Trong tố tụng hình sự thì đây là cơ chế hữu hiệu
để đi đến chân lý trong vụ án, bảo đảm sự công bằng và minh bạch trong giải
quyết vụ án hình sự.
Các nhà nghiên cứu lịch sử Nhà nước và Pháp luật thế giới chứng minh
rằng tư tưởng về tranh tụng bắt nguồn từ ý tưởng của nhà triết học cổ đại nổi
tiếng người Hy Lạp Plato. Ông cho rằng “bằng cách nói chuyện (đối thoại) về
một điều gì đó trong một thời gian dài, một vài dấu hiệu hoặc hiểu biết sẽ xuất
hiện và cả hai bên sẽ cùng nhìn ra sự thật” [16, tr.10]. Ý tưởng này của Plato
được các luật gia Hy Lạp cổ đại phát triển và xây dựng là một trong những
nguyên tắc cơ bản của TTHS ở nhà nước Hy Lạp cổ đại. Dưới góc độ ngôn
ngữ học thì, tranh tụng là “thưa kiện nhau để giành lẽ phải” [43, tr.1966]. Như
vậy, về ngôn ngữ, tranh tụng là sự kiện tụng hay cáo buộc lẫn nhau giữa các
bên có lợi ích đối lập nhau.
Do đó, có thể hiểu: Tranh tụng là việc các bên đưa ra quan điểm cùng
với các luận cứ để bảo vệ và tranh luận với nhau, để bác bỏ một phần hoặc
toàn bộ quan điểm của bên ngược lại nhằm đạt mục đích của mình.
Trong khoa học luật tố tụng hình sự Việt Nam có nhiều cách hiểu khác
nhau và chưa thống nhất quan điểm về tranh tụng.
Quan điểm cho rằng: “Tranh tụng là quá trình tranh luận, trao đổi giữa
các bên. Trong tranh tụng, các quan điểm pháp lý khác nhau được cọ sát và
chân lý khách quan xuất hiện” [14, tr.126]. Khái niệm này tiếp cận tranh tụng
7


là quá trình tranh luận giữa các quan điểm khác nhau là chưa đúng với bản
chất của tranh tụng. Bởi theo tác giả, tranh tụng bên cạnh việc tranh luận còn
là quá trình đấu tranh nhằm phủ định, bác bỏ lẫn nhau giữa hai quan điểm
buộc tội và gỡ tội, để đi tới chân lý khách quan.
Còn theo từ điển Tiếng Việt thì, tranh tụng là “Thưa kiện nhau để dành
lẽ phải” [46, tr.1966].
Tác giả Nguyễn Trương Tín có quan điểm: “Tranh tụng trong TTHS
được hiểu là quá trình đối trọng bình đẳng nhằm phủ định lẫn nhau giữa chức
năng buộc tội và bào chữa” [25].
Nhận xét: các khái niệm tranh tụng nêu trên đều có những yếu tố hợp
lý, mặc dù còn có cách tiếp cận khác nhau nhưng các tác giả đều thống nhất ở
nội hàm: tranh tụng là hoạt động tố tụng, trong đó có sự tham gia của hai chủ
thể là buộc tội và gỡ tội nhằm bác bỏ quan điểm của nhau. Tuy nhiên theo tác
giả, để xây dựng được khái niệm tranh tụng với đầy đủ nội hàm cần bao hàm
được yếu tố chủ thể, phạm vi và cách thức thực hiện tranh tụng.
Tiếp thu các quan điểm về khái niệm tranh tụng nêu trên nêu trên, dưới
góc độ phân tích tranh tụng trong tố tụng hình sự, tác giả đưa ra khái niệm
tranh tụng trong tố tụng hình sự như sau: Tranh tụng trong tố tụng hình sự là
hoạt động nhận thức, tư duy và là hoạt động thực tiễn áp dụng pháp luật hình
sự và tố tụng hình sự do các chủ thể buộc tội và gỡ tội thực hiện trên cơ sở tài
liệu, chứng cứ và các kỹ năng tranh luận được thực hiện theo trình tự, thủ tục
do pháp luật tố tụng hình sự quy định nhằm bác bỏ một phần hoặc toàn bộ
quan điểm của biên kia làm cơ sở để kết luận về vụ án hình sự.
Bên cạnh khái niệm về tranh tụng còn có một số khái niệm liên quan và
quan hệ gần gũi, mật thiết là khái niệm về “nguyên tắc tranh tụng”, “bảo đảm
nguyên tắc tranh tụng”, “tranh tụng tại phiên tòa” và “tranh tụng ngoài phiên
tòa”. Theo đó, nguyên tắc tranh tụng nguyên tắc cơ bản trong tố tụng tư pháp,
trong đó có TTHS, mang tính định hướng chỉ đạo hoạt động của các chủ thể
8


thực hiện các giai đoạn tố tụng, là một góc độ tiếp cận của tranh tụng. Tuy
nhiên, tranh tụng còn được tiếp cận dưới nhiều góc độ như là một mô hình tố
tụng...Tranh tụng trong TTHS diễn ra ở mọi giai đoạn của quá trình tố tụng,
tuy nhiên chỉ có thể được tiến hành đầy đủ tại phiên tòa đặc biệt là phiên tòa
xét xử sơ thẩm vụ án hình sự.
Bảo đảm nguyên tắc tranh tụng (trong TTHS) là những điều kiện, cơ sở
nhằm tạo điều kiện cho các bên buộc tội, gỡ tội và trách nhiệm của Tòa án
trong việc tạo điều kiện cho các bên thực hiện đầy đủ quyền, nghĩa vụ của
mình và tranh tụng dân chủ, bình đẳng trước Tòa án.
Tranh tụng ngoài phiên tòa là hình thức có sự đấu tranh, phủ định lẫn
nhau giữa các bên có chức năng, đối trọng với nhau nhưng không có sự tham
gia của Tòa án (Hội đồng xét xử) như là trung gian, trọng tài cho hoạt động
tranh tụng mà thay vào đó là một chủ thể khác như Hội động trọng tài...
1.1.2. Khái niệm tranh tụng tại phiên tòa sơ thẩm vụ án hình sự
Thứ nhất: Về khái niệm phiên tòa sơ thẩm
Phiên tòa sơ thẩm vụ án hình sự là một giai đoạn của tố tụng hình sự,
mà ở đó phiên tòa sơ thẩm vụ án hình sự là hình thức hoạt động xét xử lần
đầu của Tòa án cấp sơ thẩm trong việc xét xử vụ án hình sự để xem xét và ra
phán quyết lần đầu về toàn bộ vụ án hình sự theo trình tự, thủ tục mà pháp
luật quy định. Phiên tòa sơ thẩm vụ án hình sự cũng chính là nơi mà các chủ
thể buộc tội và chủ thể gỡ tội thực hiện chức năng tố tụng của mình một cách
công khai và đầy đủ nhất. Tại phiên tòa sơ thẩm thì Kiểm sát viên được phân
công là người thực hiện chức năng buộc tội - thực hành quyền công tố tại
phiên tòa; bị cáo và người bào chữa của họ thực hiện chức năng bào chữa
theo các quy định của pháp luật tố tụng hình sự. Bản chất của hoạt động xét
xử tại phiên tòa sơ thẩm vụ án hình sự chính là sự kiểm tra một cách công
khai tất cả các tài liệu, chứng cứ của vụ án đã được thu thập trong quá trình
điều tra, thông qua kết quả tranh tụng của các chủ thể buộc tội và gỡ tội để có
9


cơ sở đánh giá một cách khách quan, toàn diện về quan điểm của Cơ quan
điều tra thông qua bản Kết luận điều tra và của Viện kiểm sát, thông qua Cáo
trạng truy tố bị can ra trước Tòa án.
Thứ hai: Về khái niệm tranh tụng tại phiên tòa sơ thẩm vụ án hình sự.
Tranh tụng tại phiên tòa sơ thẩm vụ án hình sự chính là sự đối trọng
nhằm phủ định lẫn nhau giữa chủ thể buộc tội và chủ thể gỡ tội nhưng sự
khác biệt là Tòa án mà ở đây là Hội đồng xét xử với vai trò là trọng tài điều
hành phần tranh tụng của hai bên. Tại phiên tòa sơ thẩm vụ án hình sự các
chủ thể buộc tội và gỡ tội thực hiện chức năng tố tụng của mình một cách
công khai và đầy đủ nhất bởi đây là nơi hội tụ đầy đủ ba chức năng cơ bản
của tố tụng hình sự là: Buộc tội, bào chữa và xét xử mà kết quả tranh tụng tại
tòa chính là căn cứ để Hội đồng xét xử, bên buộc tội và bên bào chữa xác định
sự thật vụ án được khách quan nhất.
Tại phiên tòa sơ thẩm vụ án hình sự, chức năng buộc tội trực tiếp do
Kiểm sát viên, bị hại (trong trường hợp khởi tố vụ án theo yêu cầu bị hại)
thực hiện. Kiểm sát viên buộc tội thông qua Cáo trạng, quá trình xét hỏi, luận
tội và tranh luận với bên bào chữa. Bị hại được quyền trình bày ý kiến, đưa ra
các chứng cứ để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Chức năng bào
chữa tại phiên tòa sơ thẩm vụ án hình sự chủ yếu do bị cáo, người bào chữa,
người đại diện hợp pháp của (bị cáo, pháp nhân thương mại) thực hiện. Phiên
tòa sơ thẩm vụ án hình sự là giai đoạn trung tâm thể hiện đầy đủ nhất bản chất
quá trình tố tụng nói chung và tranh tụng nói riêng.
Do vậy, có thể hiểu: Tranh tụng tại phiên tòa sơ thẩm vụ án hình sự là
hoạt động nhận thức, tư duy và là hoạt động thực tiễn áp dụng pháp luật hình
sự và tố tụng hình sự do các chủ thể buộc tội và gỡ tội thực hiện tại phiên tòa
sơ thẩm vụ án hình sự, trên cơ sở tài liệu, chứng cứ và các kỹ năng tranh luận
được thực hiện theo trình tự, thủ tục do pháp luật tố tụng hình sự quy định
nhằm bác bỏ một phần hoặc toàn bộ quan điểm của biên kía, dưới sự điều
10


khiển, quyết định của Tòa án với vai trò trung tâm, trọng tài nhằm đi đến việc
giải quyết vụ án hình sự.
1.2. Đặc điểm và ý nghĩa của tranh tụng tại phiên tòa sơ thẩm vụ
án hình sự
1.2.1. Đặc điểm của tranh tụng tại phiên tòa sơ thẩm vụ án hình sự
Từ khái niệm nêu trên, dưới góc độ pháp lý, chúng ta có thể thấy
những đặc điểm của tranh tụng tại phiên tòa sơ thẩm vụ án hình sự như sau:
Thứ nhất, về chủ thể tranh tụng tại phiên tòa sơ thẩm vụ án hình sự
Tại phiên tòa sơ thẩm vụ án hình sự thì bên cạnh sự xuất hiện của hai
chủ thể là chủ thể buộc tội và gỡ tội thì còn có sự xuất hiện của chủ thể thứ ba
là Hội đồng xét xử. Ba chủ thể trên gắn liền với ba chức năng tại phiên tòa xét
xử sơ thẩm vụ án hình sự là buộc tội, bào chữa (gỡ tội) và xét xử do các chủ
thể có địa vị pháp lý khác nhau thực hiện.
- Nhóm chủ thể có chức năng tranh tụng gồm: Chủ thể chính là bên
buộc tội và bên gỡ tội.
+ Chủ thể thực hiện chức năng buộc tội: Viện kiểm sát (đại diện là
Kiểm sát viên), thực hành quyền công tố tại phiên tòa để nhân danh Nhà nước
buộc tội bị cáo tại phiên tòa. Kiểm sát viên phải chịu trách nhiệm trước pháp
luật và trước Viện trưởng (Phó Viện trưởng) về hành vi, quyết định của mình.
+ Bị hại, người đại diện hợp pháp của bị hại (trường hợp vụ án được
khởi tố theo yêu cầu của bị hại) – cũng chủ thể buộc tội nhân danh cá nhân.
Trường hợp buộc tội này là trường hợp khởi tố vụ án theo yêu cầu của bị hại
hoặc người đại diện của bị hại là người dưới 18 tuổi, người có nhược điểm về
tâm thần hoặc thể chất hoặc đã chết quy định tại khoản 1 các điều 134, 135,
136, 138, 139, 141, 143, 155, 156 và 226 BLHS năm 2015. Theo đó: bị hại
hoặc người đại diện của họ trình bày lời buộc tội tại phiên tòa và họ có quyền
trình bày, bổ sung ý kiến sau khi Kiểm sát viên trình bày luận tội.

11


+ Chủ thể thực hiện chức năng gỡ tội: Bị cáo, người bào chữa; người
đại diện cho bị cáo hoặc pháp nhân thương mại đưa ra các chứng cứ, các căn
cứ pháp lý và lập luận để bác bỏ sự buộc tội, đưa ra các kết luận, yêu cầu và
đề nghị với Hội đồng xét xử về việc giải quyết vụ án. Tại phiên tòa thì bị cáo
trình bày ý kiến về bản cáo trạng và những tình tiết của vụ án. Người bào
chữa hỏi bị cáo về những chứng cứ, tài liệu, đồ vật liên quan đến việc bào
chữa và tình tiết khác của vụ án theo hướng gỡ tội (vô tội hoặc giảm nhẹ).
- Nhóm chủ thể có chức năng xét xử: Là các thành viên của Hội đồng
xét xử được phân công giải quyết vụ án, đóng vai trò trung gian, trọng tài cho
các chủ thể khác tham gia tranh tụng tạo điều kiện cho các chủ thể khác thực
hiện đầy đủ quyền, nghĩa vụ và tranh tụng dân chủ, bình đẳng.
- Nhóm các chủ thể khác: như người làm chứng, người có quyền lợi
liên quan...nhằm giúp Tòa án xác định sự thật khách quan của vụ án.
Thứ hai, về nội dung tranh tụng tại phiên tòa sơ thẩm vụ án hình sự
Nội dung tranh tụng tại phiên tòa sơ thẩm vụ án hình sự thể hiện ở việc
các bên (buộc tội, gỡ tội) có quyền đưa ra các tài liệu, chứng cứ do các Cơ quan và
người có thẩm quyền tiến hành tố tụng thu thập được trong quá trình điều tra hoặc
các tài liệu, chứng cứ do người bào chữa tự thu thập theo đúng quy định của pháp
luật tố tụng hình sự để tranh luận với nhau nhằm làm rõ các tình tiết của vụ án
điều hành của Hội đồng xét xử (Chủ tọa phiên tòa).
Tại phiên tòa sơ thẩm vụ án hình sự, thông qua tranh tụng thì kết quả tranh
tụng cũng chính là cơ sở để Hội đồng xét xử căn cứ để chứng minh, làm rõ nội
dung vụ án từ đó Hội đồng xét xử có những đánh giá khách quan, toàn diện và
đưa ra bản án đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
Thứ ba, về phạm vi tranh tụng tại phiên tòa sơ thẩm vụ án hình sự
Phạm vi tranh tụng tại phiên tòa sơ thẩm vụ án hình sự giữa các bên được
bắt đầu khi Kiểm sát viên công bố bản cáo trạng, xét hỏi, tranh luận đối đạp về các
chứng cứ có tội, chứng cứ xác định vô tội; tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội
12


của hành vi phạm tội; hậu quả do hành vi phạm tội gây ra; nhân thân và vai trò của
bị cáo trong vụ án; những tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, mức
hình phạt; trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng, biện pháp tư pháp; nguyên nhân,
điều kiện phạm tội và những tình tiết khác có ý nghĩa đối với vụ án.
Thứ tư, về thủ tục tranh tụng tại phiên tòa sơ thẩm vụ án hình sự
Ngay phần thủ tục bắt đầu phiên tòa cũng hết sức quan trọng mà ở đó
Hội đồng xét xử phải: Kiểm tra sự có mặt của những thành phần được triệu
tập đến phiên tòa như bị cáo, bị hại, người làm chứng; xem xét và giải quyết
yêu cầu đề nghị thay đổi người có thẩm quyền tiến hành tố tụng, về sự vắng
mặt của người tham gia tố tụng; giải thích quyền và nghĩa vụ tố tụng cho
người tham gia tố tụng; yêu cầu cam đoan của người làm chứng, người phiên
dịch, người dịch thuật, người giám định, người định giá tài sản.
Tiếp đó là thủ tục công bố bản Cáo trạng của Viện kiểm sát, công bố
các lời khai trong giai đoạn điều tra, truy tố theo quy định của Bộ luật Tố tụng
hình sự, tranh luận đối đáp các ý kiến của Kiểm sát viên và chủ thể khác có
liên quan, nghị án và tuyên án trên cơ sở chứng cứ, tài liệu đã được xét hỏi
công khai tại phiên tòa và kết quả tranh luận giữa bên buộc tội và bên gỡ tội;
ra bản án phán quyết về các nội dung đã được tranh tụng tại phiên tòa và đồng
thời kết thúc thủ tục tranh tụng tại phiên tòa sơ thẩm vụ án hình sự.
1.2.2. Ý nghĩa của tranh tụng tại phiên tòa sơ thẩm vụ án hình sự
*Ý nghĩa chính trị - xã hội
Tranh tụng tại phiên tòa sơ thẩm vụ án hình sự chính là việc cụ thể hóa
chủ trương, đường lối của Đảng ta như: Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày
02/01/2002, Nghị quyết 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị và của
Nhà nước ta đã được ghi nhận tại Điều 103 của Hiến pháp năm 2013.
Bên cạnh đó, hoạt động này còn có ý nghĩa to lớn trong việc bảo vệ
quyền con người, trong bối cảnh Nhà nước ta đang hướng tới xây dựng Nhà

13


nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa với tư tưởng tất cả vì quyền lợi của nhân
dân, thể hiện tính dân chủ, nhân văn, nhân đạo và tiến bộ của Nhà nước ta đối
với người bị buộc tội.
*Ý nghĩa pháp lý
Tranh tụng làm cho các yếu tố của vụ án như chứng cứ vật chất, lời
khai… của các bên rõ ràng, đồng thời cũng tìm ra điểm mâu thuẫn của chứng
cứ, tình tiết của vụ án. Điều này là căn cứ để tìm ra sự thật dưới những cách
nhìn khác nhau đem lại cái nhìn toàn diện về vụ án.
Thực hiện tranh tụng trong tố tụng hình sự nói chung và tại phiên tòa
sơ thẩm vụ án hình sự nói riêng nhằm đảm bảo quyền con người và quyền
công dân, đảm bảo quyền bào chữa của người bị buộc tội, phản ánh tính nhân
văn sâu sắc trong hệ thống pháp luật. Điều này phù hợp với tinh thần nhân
quyền ngày càng được đề cao cũng như phản ánh xu hướng phát triển chung
về mặt lập pháp trên thế giới.
1.3. Cơ sở quy định và điều kiện đảm bảo thực hiện tranh tụng tại
phiên tòa sơ thẩm vụ án hình sự
1.3.1. Cơ sở quy định tranh tụng tại phiên tòa sơ thẩm vụ án hình sự
1.3.1.1. Theo yêu cầu của cải cách tư pháp
Theo tinh thần của cải cách tư pháp, Tòa án là trung tâm của cải cách tư
pháp và hoạt động xét xử là trọng tâm. Theo đó, vấn đề nâng cao chất lượng
tại các phiên tòa xét xử là yêu cầu cấp thiết của cải cách tư pháp.
Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 02/01/2002 và Nghị quyết số 49NQ/TW ngày 02/06/2005 và Kết luận số 79-KL/TW ngày 28/7/2010… đều
đã xác định tầm quan trong của tranh tụng trong xét xử, một trong những nội
dung trọng tâm, khâu đột phá của cải cách tư pháp. Trong đó, Nghị quyết số
08-NQ/TW ngày 02/01/2001 của Bộ Chính trị có xác định quan điểm chỉ đạo
hoạt động đối với Tòa án nhân dân là: “… việc phán quyết của Tòa án phải
căn cứ chủ yếu vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy
14


đủ, toàn diện các chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, của người bào chữa, bị
cáo, nhân chứng, nguyên đơn, bị đơn và những người có quyền, lợi ích hợp
pháp để ra những bản án, quyết định đúng pháp luật, có tính thuyết phục và
trong thời hạn pháp luật quy định”. Điều đó khẳng định, tranh tụng tại phiên
tòa sơ thẩm vụ án hình sự là một trong những nội dung có ý nghĩa quan trọng
trong hoạt động tố tụng hình sự.
1.3.1.2. Theo yêu cầu của Hiến pháp
Hiến pháp 2013 đã quy định tại Chương II về quyền con người, quyền
và nghĩa vụ cơ bản của công dân. Có thể thấy việc xác định quyền con người,
quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân ngay sau Chương quy định về chế độ
Chính trị đã thể hiện sự quan tâm của Đảng và Nhà nước luôn coi trọng, ghi
nhận và bảo đảm quyền con người và đó cũng là biểu hiện của một Nhà nước
tiến bộ, dân chủ, văn minh. Quan điểm, chủ trương của Đảng về hoạt động
tranh tụng đã được thể chế hóa ở Hiến pháp 2013. Chính vì vậy, để bảo đảm
quyền con người trong tố tụng hình sự thì cũng lần đầu tiên tại khoản 5, Điều
103, Hiến pháp năm 2013 quy định “Nguyên tắc tranh tụng trong xét xử được
bảo đảm”. Thể chế các quy định của Hiến pháp 2013 thì cũng lần đầu tiên Bộ
luật Tố tụng hình sự 2015 cũng đã ghi nhận việc bảo đảm tranh tụng trong xét
xử là một nguyên tắc cơ bản của tố tụng hình sự. Với việc ghi nhận của Hiến
pháp 2013 và Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 thì quyền của người bị buộc tội sẽ
được đảm bảo đầy đủ, bị cáo được quyền tự bào chữa cho mình hoặc nhờ
người bào chữa, được quyền tranh luận, đối đáp với luận tội của đại diện Viện
kiểm sát để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình tại phiên tòa. Với việc
lần đầu tiên, Hiến pháp 2013 cũng đã khẳng định ngoài công tác xét xử thì
Tòa án còn có nhiệm vụ thực hiện quyền tư pháp, để thực hiện quyền tư pháp
thì phải bảo đảm được nguyên tắc tranh tụng. Ngược lại, chỉ có tranh tụng
được bảo đảm thì quyền tư pháp mới được thể hiện. Để bảo đảm mối quan hệ
hữu cơ như vậy thì các cơ quan và người có thẩm quyền tiến hành tố tụng
15


cũng cần phải đổi mới tư duy pháp lý nói chung và tư duy xét xử nói riêng,
phải coi trọng tranh tụng; tạo lập cho được môi trường thật sự dân chủ và bình
đẳng tại phiên tòa.
1.3.1.3. Đảm bảo theo nguyên tắc tố tụng hình sự
Như đã phân tích ở trên, lần đầu tiên BLTTHS Việt Nam đã quy định
tranh tụng trở thành nguyên tắc cơ bản của tố tụng hình sự. Theo đó Điều 26
BLTTHS 2015 đã quy định: “...Bản án, quyết định của tòa án phải căn cứ
vào kết quả kiểm tra, đánh giá chứng cứ và kết quả tranh tụng tại phiên tòa”.
Đây là cơ sở pháp lý quan trọng để thực hiện tranh tụng. Điều này cũng
đặt ra yêu cầu các chủ thể buộc tội và gỡ tội hoàn toàn bình đẳng với nhau,
Hội đồng xét xử là chủ thể phải bảo đảm thực hiện quyền bình đẳng trên tại
phiên tòa xét xử trong việc bày tỏ ý kiến và bảo vệ ý kiến của mình trong toàn
bộ quá trình giải quyết vụ án mà đỉnh điểm của quá trình này diễn ra tại phiên
tòa sơ thẩm.
1.3.2. Điều kiện bảo đảm thực hiện tranh tụng tại phiên tòa sơ thẩm
vụ án hình sự
Thứ nhất, những đảm bảo về mặt pháp lý.
Để tranh tụng được thực hiện một cách bình đẳng, công khai thì những
quy định của pháp luật tố tụng hình sự và pháp luật liên quan về quyền, nghĩa
vụ của các chủ thể buộc tội, gỡ tội cần được quy định cụ thể, đầy đủ, hợp lý
về địa vị tố tụng trong việc thu thập chứng cứ, được tạo điều kiện tham gia xét
hỏi, tranh luận
Thứ hai, phẩm chất đạo đức và năng lực chuyên môn của chủ thể tham
gia tranh tụng cần được nâng cao, đáp ứng yêu cầu tranh tụng.
Thứ ba, đảm bảo cơ sơ vật chất như phòng xử án, số hóa hồ sơ...cho
hoạt động tranh tụng nhằm tạo điều kiện cho các bên dễ dàng tiếp xúc trong
quá trình tố tụng;

16


Thực tiễn cho thấy, tiêu chí đánh giá đã đảm bảo tranh tụng trong xét
xử bên cạnh việc hoàn thiện BLTTHS về quyền nghĩa vụ, đảm bảo pháp lý
cho chủ thể tham gia tranh tụng thì việc đánh giá hiệu quả tranh tụng thể hiện
ở việc tạo điều kiện cho các bên tranh tụng tại phiên tòa không bị giới hạn, bó
buộc bởi các áp lực và việc Tòa án có căn cứ vào kết quả tranh tụng để đưa ra
phán quyết đối với vụ án hay không.
1.4. Lịch sử lập pháp các quy định về tranh tụng và tranh tụng tại
phiên tòa sơ thẩm vụ án hình sự
* Giai đoạn từ sau Cách mạng tháng tám năm 1945 đến trước khi
BLTTHS năm 1988 có hiệu lực pháp luật
Đây là giai đoạn đất nước ta mới giành được độc lập, hệ thống pháp luật
đang giữ lại những quy định không trái với thể chế chính trị, nguyên tắc của
Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, đồng thời có sự kế thừa, tiếp thu tinh
hoa của hệ thống pháp luật của các quốc gia trên thế giới. Trong thời kỳ này,
pháp luật cũng đã từng bước quy định vai trò, chức năng nhiệm vụ và quyền,
nghĩa vụ của những chủ thể tham gia vào quá trình tố tụng hình sự. Một số
văn bản tiêu biểu như: Sắc lệnh số 33C ngày 13 tháng 9 năm 1945, Sắc lệnh
số 13 ngày 24/01/1946 về tổ chức các Tòa án và ngạch Thẩm phán, Hiến pháp
năm 1946. Trong giai đoạn ban hành Hiến pháp năm 1959 và Luật tổ chức
Tòa án nhân dân và Viện kiểm sát nhân dân cho thấy những quy định liên
quan đến tranh tụng đã có những bước tiến quan trọng.
Như vậy, có thể thấy trong hệ thống văn bản giai đoạn này đã phân
định rõ hơn vai trò của từng chủ thể tham gia tố tụng là Tòa án với chức năng
xét xử, Viện kiểm sát nhân dân với chức năng giữ quyền công tố (buộc tội) và
bị cáo có một trong những quyền quan trọng nhất là quyền bào chữa.
Đến khi Hiến pháp 1980 và Luật Tổ chức Tòa án nhân dân và Viện
kiểm sát nhân dân năm 1981 ra đời thì cơ bản ghi nhận các nội dung đã ghi
nhận trong Hiến pháp năm 1959 và Luật Tổ chức Tòa án nhân dân và Viện
17


kiểm sát nhân dân năm 1960. Bên cạnh đó, Pháp lệnh Tổ chức luật sư năm
1987 được ban hành là cơ sở pháp lý quan trọng để các tổ chức luật sư và luật
sư hoạt động.
Nhận xét chung: Có thể thấy trong giai đoạn này các quy định về tranh
tụng trong TTHS được quy định tản mạn ở nhiều văn bản khác nhau, chưa
quy định cụ thể quyền và nghĩa vụ của các chủ thể khi tham gia tranh tụng.
Do sự ảnh hưởng của pháp luật Liên bang Xô viết nên mô hình tố tụng hình
sự vẫn thiên về thẩm vấn, xét hỏi.
* Giai đoạn từ khi BLTTHS năm 1988 có hiệu lực pháp luật đến trước
khi BLTTHS năm 2015 có hiệu lực pháp luật
Trong giai đoạn này thì các quy định liên quan đến tranh tụng đã được
quy định cụ thể, rõ nét hơn so với giai đoạn trước đây. Trong giai đoạn này
còn nhiều văn bản được ban hành thể hiện về tranh tụng như: Hiến pháp năm
1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2001), Luật Tổ chức Tòa án nhân dân và Viện
kiểm sát nhân dân năm 2002 và BLTTHS năm 1988 (sửa đổi vào các năm
1990 1992 và 2000), và đặc biệt là BLTTHS năm 2003.
- BLTTHS năm 1988 và năm 2003 ghi nhận một số nguyên tắc như:
"Không ai bị coi là có tội khi chưa có bản án kết tội của Toà án đã có hiệu lực
pháp luật” (Điều 9 BLTTHS); nguyên tắc: "Bảo đảm quyền bào chữa của
người bị tạm giữ, bị can, bị cáo” (Điều 11 BLTTHS); "Bảo đảm quyền bình
đẳng trước Toà án”... (Điều 19 BLTTHS), thể hiện những nội dung liên quan
đến hoạt động tranh tụng.
Có thể thấy rằng BLTTHS năm 1988 và năm 2003 đã đan xen các yếu
tố tranh tụng trong quá trình tố tụng, nổi bật là tranh tụng tại phiên tòa. Mặc
dù vậy, tranh tụng vẫn chưa được quy định là một trong những nguyên tắc cơ
bản của Tố tụng hình sự Việt Nam.… đòi hỏi phải có những giải pháp nhằm
nâng cao chất lượng tranh tụng tại phiên tòa, thể chế hóa được đường lối, tư

18


tưởng của Đảng về cải cách tư pháp. Có thể nói, BLTTHS năm 1988 và 2003
đã có một số quy định tranh tụng nhưng còn mờ nhạt.
Tiểu kết chương 1
Thông qua Chương 1 của luận văn tác giả đã lần lượt phân tích và làm
rõ một số vấn đề lý luận và pháp luật về tranh tụng tại phiên tòa sơ thẩm vụ án
hình sự như khái niệm, đặc điểm, ý nghĩa và lịch sử lập pháp tố tụng hình sự
của Nhà nước ta về tranh tụng tại phiên tòa sơ thẩm vụ án hình sự. Theo đó,
tranh tụng tại phiên tòa sơ thẩm vụ án hình sự là hoạt động nhận thức, tư duy
và là hoạt động thực tiễn áp dụng pháp luật hình sự và tố tụng hình sự do các
chủ thể buộc tội và gỡ tội thực hiện tại phiên tòa sơ thẩm vụ án hình sự, trên
cơ sở tài liệu, chứng cứ và các kỹ năng tranh luận được thực hiện theo trình
tự, thủ tục do pháp luật tố tụng hình sự quy định nhằm bác bỏ một phần hoặc
toàn bộ quan điểm của biên kia, dưới sự điều khiển, quyết định của Tòa án
với vai trò trung tâm, trọng tài nhằm đi đến việc giải quyết vụ án một cách
khách quan, toàn diện. Đây chính là nền tàng và cơ sở để tác giả phân tích
quy định của BLTTHS năm 2015 về tranh tụng sơ thẩm vụ án hình sự và thực
tiễn áp dụng tại tỉnh Bắc Ninh tại Chương 2 của luận văn.

19


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×