Tải bản đầy đủ

Tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ từ thực tiễn tỉnh Bắc Ninh (Luận văn thạc sĩ)

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGUYỄN BÁ CÔNG

TỘI VI PHẠM QUY ĐỊNH VỀ THAM GIA GIAO THÔNG
ĐƯỜNG BỘ TỪ THỰC TIỄN TỈNH BẮC NINH

LUẬN VĂN THẠC SĨ
LUẬT HÌNH SỰ VÀ TỐ TỤNG HÌNH SỰ

Hà Nội – 2020


VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGUYỄN BÁ CÔNG

TỘI VI PHẠM QUY ĐỊNH VỀ THAM GIA GIAO THÔNG ĐƯỜNG
BỘ TỪ THỰC TIỄN TỈNH BẮC NINH


Ngành: Luật hình sự và Tố tụng hình sự
Mã số: 8380104

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
TS. NGUYỄN THỊ THANH THÙY

Hà Nội - 2020


LỜI CAM ĐOAN
Giám đốc Học viện Khoa học xã hội đã quyết định giao cho học viên
Nguyễn Bá Công đề tài luận văn thạc sĩ: “Tội vi phạm quy định về tham gia
giao thông đường bộ từ thực tiễn tỉnh Bắc Ninh”. Chuyên ngành: Luật hình
sự và Tố tụng hình sự; Mã số: 8380104.
Tác giả xin cam đoan rằng số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn
Thạc sĩ Luật học về “Tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
từ thực tiễn tỉnh Bắc Ninh” là hoàn toàn trung thực và không trùng lắp với các
đề tài nghiên cứu khác. Các số liệu, nội dung trình bày trong luận văn có trích
dẫn nguồn gốc. Luận văn này là đề tài nghiên cứu của cá nhân tôi dưới sự
hướng dẫn khoa học của cô giáo, TS. Nguyễn Thị Thanh Thùy.
Học viên xin chịu mọi trách nhiệm về tính trung thực của luận văn.
Tác giả luận văn

Nguyễn Bá Công


MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU ........................................................................................................... 1
Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TỘI VI PHẠM QUY ĐỊNH
VỀ THAM GIA GIAO THÔNG ĐƯỜNG BỘ THEO LUẬT HÌNH SỰ VIỆT
NAM.................................................................................................................. 8
1.1. Khái niệm, dấu hiệu pháp lý của tội vi phạm quy định về tham gia
giao thông đường bộ........................................................................................ 8
1.2 Quy định pháp luật hiện hành về tội vi phạm quy định về tham gia
giao thông đường bộ...................................................................................... 17
1.3 Khái quát lịch sử Luật hình sự Việt Nam quy định về tội vi phạm quy
định về tham giao thông đường bộ .............................................................. 21
Tiểu kết chương 1 .......................................................................................... 32


Chương 2: THỰC TIỄN ÁP DỤNG PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VỀ TỘI VI
PHẠM QUY ĐỊNH VỀ THAM GIA GIAO THÔNG ĐƯỜNG BỘ TẠI ĐỊA
BÀN TỈNH BẮC NINH.................................................................................. 33
2.1. Khái quát tình hình xét xử tội vi phạm quy định về tham gia giao
thông đường bộ tại tỉnh Bắc Ninh ............................................................... 33
2.2. Thực tiễn định tội danh tội vi phạm quy định về tham gia giao
thông đường bộ của Tòa án tại tỉnh Bắc Ninh ......................................... 36
2.3. Thực tiễn quyết định hình phạt về tội vi phạm quy định về tham gia
giao thông đường bộ của TAND hai cấp tỉnh Bắc Ninh ............................ 45
Tiểu kết chương 2 .......................................................................................... 62
Chương 3: CÁC GIẢI PHÁP ĐẢM BẢO ÁP DỤNG ĐÚNG QUY ĐỊNH
CỦA PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VỀ TỘI VI PHẠM QUY ĐỊNH VỀ THAM
GIA GIAO THÔNG ĐƯỜNG BỘ TẠI BẮC NINH .................................... 63


3.1 Yêu cầu đảm bảo áp dụng đúng quy định của pháp luật hình sự về tội
vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ trên địa bàn tỉnh Bắc
Ninh................................................................................................................. 63
3.2. Các giải pháp đảm bảo áp dụng đúng các quy định của pháp luật
hình sự về xử lý tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ 67
Tiểu kết chương 3 .......................................................................................... 74
KẾT LUẬN ..................................................................................................... 75
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ........................................................ 77


DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

BLHS

Bộ luật hình sự

BLTTHS

Bộ luật tố tụng hình sự

TAND

Tòa án nhân dân

VKS

Viện kiểm sát

TNHS

Trách nhiệm hình sự

GS.TS

Giáo sư, Tiến sĩ

TS

Tiến sĩ

HKTT

Hộ khẩu thường trú

BKS

Biển kiểm soát


DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Bảng 2.1 Số vụ án và số bị cáo phạm tội vi phạm các quy định về điều
khiển phương tiện giao thông đường bộ, tội vi phạm quy định về tham gia
giao thông đường bộ và tổng số vụ án và bị cáo bị đưa ra xét xử từ năm 2014
đến năm 2018
Bảng 2.2 Thống kê các vụ án và bị cáo bị xét xử về tội vi phạm quy
định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ trong 05 năm (2014 2018) trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh
Bảng 2.3 Thống kê các vụ án và bị cáo bị xét xử về tội vi phạm quy định về
tham gia giao thông đường bộ quy định tại Điều 260 BLHS năm 2015 trong
năm 2018 trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh
Bảng 2.4 Số bị cáo bị xét xử về tội vi phạm quy định về điều khiển
phương tiện giao thông đường bộ và tội vi phạm quy định về tham gia giao
thông đường bộ tại các huyện của tỉnh Bắc Ninh từ năm 2014 đến năm 2018.
Bảng 2.5 Cơ cấu hình phạt Tòa án áp dụng khi xét xử sơ thẩm tội “vi
phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh
giai đoạn 2014 - 2018


MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Bắc Ninh là một trong những tỉnh có diện tích nhỏ nhất đất nước, tuy
nhiên nằm trong khu vực trọng điểm kinh tế phía Bắc của đất nước nên có hệ
thống đường giao thông thuận lợi, có nhiều tuyến đường huyết mạch trọng
điểm như Quốc lộ 1A, 1B nối Lạng Sơn, Bắc Giang với các tỉnh thành trong
nước hay Quốc lộ 18 nối liền giữa sân bay quốc tế Nội Bài với hệ thống cảng
biển Quảng Ninh, Hải Phòng và các tuyến đường khác nối liền các tỉnh, thành
phố giáp ranh giữa Hải Dương, Hưng Yên và thành phố Hà Nội. Ngoài ra,
Bắc Ninh còn có nhiều khu công nghiệp lớn, tập trung các doanh nghiệp lớn
như Sam Sung, Canon, Hồng Hải,…. Và là nơi có nhiều làng nghề truyền
thống phát triển đa dạng, với số lượng người và xe cơ giới tham gia giao
thông rất lớn, mật độ đông đúc, dẫn đến số lượng các vụ tai nạn giao thông
đường bộ xảy ra với nhiều vụ việc nghiêm trọng xâm hại đến tính mạng, sức
khỏe và tài sản của những người tham gia giao thông và gia tăng trong những
năm gần đây.
Mặt khác, Bộ luật hình sự năm 2015 ra đời đã có sự thay đổi lớn về tội
phạm liên quan đến tai nạn giao thông đường bộ đó là sự thay đổi về tên tội
danh từ tội Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ
thành tội Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ, trong đó các
dấu hiệu pháp lý của cấu thành tội phạm này có sự thay đổi để phù hợp hơn
với tình hình thực tế. Bên cạnh đó, các đề tài nghiên cứu chủ yếu về tội Vi
phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ, chưa có nhiều
công trình nghiên cứu về tội phạm Vi phạm quy định về tham gia giao thông
đường bộ.
Do đó để làm rõ các dấu hiệu pháp lý của tội Vi phạm quy định về
tham gia giao thông đường bộ là cần thiết và từ đó đề ra những kiến nghị, giải
1


pháp để góp phần phòng, chống tội vi phạm quy định về tham gia giao thông
đường bộ, bảo đảm an ninh trật tự, an toàn xã hội, góp phần làm giảm các vụ
việc vi phạm giao thông có dấu hiệu hình sự. Đây là lý do tác giả lựa chọng
đề tài “Tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ từ thực tiễn
tỉnh Bắc Ninh” làm đề tài luận văn thạc sỹ của mình.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Dưới góc độ pháp lý, trong thời gian qua việc nghiên cứu về tội vi
phạm các quy định về tham gia giao thông đường bộ đã thu hút được sự quan
tâm của nhiều nhà nghiên cứu và cán bộ làm thực tiễn. Đến nay đã có nhiều
công trình nghiên cứu được thể hiện trên ba bình diện - luận án, luận văn,
sách chuyên khảo, bình luận, cũng như giáo trình dành cho hệ đại học và một
số bài viết bình luận như:
* Nhóm thứ nhất (các luận án tiến sĩ, luận văn thạc sĩ) bao gồm:
- Bùi Kiến Quốc (2001), “Các biện pháp đấu tranh phòng, chống tội vi
phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ ở Thủ đô Hà
Nội”, Luận án tiến sỹ luật học;
- Nguyễn Văn Tuyên (2018), “Kiểm sát điều tra tội vi phạm quy định
về tham gia giao thông đường bộ từ thực tiễn tỉnh Lạng Sơn”, Luận văn thạc
sĩ;
- Nguyễn Hồng Phong (2019) “Tội vi phạm quy định về tham gia giao
thông đường bộ theo quy định của pháp luật hình sự Việt Nam từ thực tiễn
thành phố Hồ Chí Minh”, Luận văn thạc sĩ;
- Nguyễn Quang Tuấn (2016), “Kiểm sát điều tra vụ án vi phạm quy
định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ từ thực tiễn tại tỉnh Bắc
Ninh”, Luận văn thạc sỹ luật học;

2


- Nguyễn Đắc Dũng (2011), “Tội vi phạm quy định về điều khiển
phương tiện giao thông đường bộ trong luật hình sự Việt Nam (trên cơ sở
nghiên cứu thực tiễn địa bàn tỉnh Bắc Ninh)”, Luận văn thạc sĩ;
* Nhóm thứ hai (các sách chuyên khảo, tham khảo) bao gồm:
- GS.TS. Võ Khánh Vinh (2013), Chương X: Các tội xâm phạm
an toàn công cộng, trật tự công cộng, Trong sách: Giáo trình Luật Hình sự
Việt Nam – Phần các tội phạm, do GS.TS. Võ Khánh Vinh chủ biên, Nxb
Công an nhân dân, Hà Nội.
- TS. Phạm Minh Tuyên (2014), Các tội phạm xâm phạm trật
tự, an toàn giao thông đường bộ (Một số vấn đề lý luận và thực tiễn xét xử ở
Việt Nam), NXB Thanh niên.
- TS. Cao Thị Oanh (2010), Giáo trình Luật Hình sự Việt Nam, Nxb
Giáo dục Việt Nam, Hà Nội.
- GS.TS Nguyễn Ngọc Hòa (2018), Giáo trình Luật Hình sự Việt Nam,
Nxb Công an nhân dân.
- GS.TS Nguyễn Ngọc Hòa (2018), Bình luận khoa học Bộ luật Hình
sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017, Nxb Tư pháp.
- Đinh Văn Quế (2006), Bình luận khoa học Bộ luật hình sự phần các
tội phạm, tập VII, Nxb thành phố Hồ Chí Minh.
Một số bài viết được đăng trên các tạp chí, trang tin điện tử về tội vi
phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ như:
- Tạp chí Khoa học 2011 bàn về tội vi phạm giao thông đường bộ theo
Bộ luật hình sự năm 2015 Lê Văn Luật (2011), Xác định lỗi khi định
tội danh và quyết định hình phạt đối với tội vi phạm quy định về điều khiển
tham gia giao thông đường bộ đường bộ một số vấn đề lý luận và thực tiễn,
Tòa án nhân dân, tr. 10-14.

3


- Nguyễn Duy Nam (2017), Bàn về tội vi phạm quy định tham gia giao
thông đường bộ tại Điều 260 Bộ luật hình sự năm 2015, website:
http://moj.gov.vn.
Tuy nhiên, đa số các công trình nghiên cứu trên đều dựa trên cơ sở Bộ
luật hình sự năm 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009; hiện nay Bộ luật hình sự
năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 đã ban hành và có hiệu lực, về cấu
thành cơ bản của tội Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ cũng
trên cơ sở đó có nhiều thay đổi, do vậy về lý luận và thực tiễn có nhiều thay
đổi, do đó việc tiếp tục nghiên cứu để hoàn thiện các quy định của Bộ luật
hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 về tội vi phạm quy định về
tham gia giao thông đường bộ, cũng như đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu
quả áp dụng đối với các quy định về loại tội phạm này vẫn còn có ý nghĩa lý
luận và thực tiễn, đặc biệt trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích
Luận văn nghiên cứu một cách tương đối về những vấn đề pháp lý cơ
bản về tội vi phạm các quy định về tham gia giao thông đường bộ như: Khái
niệm, các dấu hiệu pháp lý, trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội, đồng
thời đi sâu vào phân tích thực tiễn xét xử loại tội phạm này trên địa bàn tỉnh
Bắc Ninh từ năm 2014 đến năm 2018.
3.2. Nhiệm vụ
Quá trình nghiên cứu tội Vi phạm quy định về tham gia giao thông
đường bộ nhằm làm rõ các dấu hiệu pháp lý cấu thành tội phạm này và thực
tiễn xét xử người phạm tội trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh. Từ đó tìm ra những
một số vướng mắc, tồn tại trong công tác xét xử loại tội phạm này, đồng thời
đưa ra một số kiến nghị, giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng các quy định

4


của Bộ luật hình sự trong việc xử lý loại tội vi phạm quy định về tham gia
giao thông đường bộ.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Luận văn đi sâu nghiên cứu về dấu hiệu pháp lý tội phạm Vi phạm quy
định về tham gia giao thông đường bộ và thực tiễn xét xử tại tỉnh Bắc Ninh.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Nghiên cứu về tội phạm vi phạm quy định về tham gia giao thông
đường bộ từ thực tiễn xét xử tại tỉnh Bắc Ninh từ ngày 01/01/2014 đến ngày
31/12/2018.
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
5.1. Phương pháp luận
Luận văn được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa
Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, chính sách, chủ trương của
Đảng và Nhà nước về công tác đấu tranh phòng chống tội phạm.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện mục đích nghiên cứu, tác giả đã sử dụng các phương pháp
nghiên cứu như: Phân tích quy phạm pháp luật; tổng hợp và thống kê xã hội
học; khảo sát thực tiễn; phân tích, so sánh và nghiên cứu. Cụ thể:
Phương pháp phân tích quy phạm pháp luật được tác giả sử dụng tại
chương 1 và chương 2 để làm rõ về các dấu hiệu pháp lý thực tiễn việc định
tội danh, áp dụng hình phạt tại tỉnh Bắc Ninh đối với tội vi phạm quy định về
tham gia giao thông đường bộ.
Phương pháp tổng hợp, phân tích và thống kê xã hội, khảo sát thực tiễn
được tác giả sử dụng tại chương 2, nhằm làm rõ thực trạng và nguyên nhân
công tác áp dụng pháp luật trong việc xét xử tội vi phạm quy định về tham gia
giao thông đường bộ từ thực tiễn xét xử tại tỉnh Bắc Ninh.
5


Phương pháp phân tích, so sánh và nghiên cứu được tác giả sử dụng
trong toàn bộ 03 chương của luận văn nhằm làm rõ các đặc điểm, sự khác
nhau qua các thời kỳ của loại tội phạm từ đó đánh giá những hạn chế, thiếu
sót khi điều tra, truy tố và xét xử loại tội phạm này tại địa bàn tỉnh Bắc Ninh.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
6.1. Ý nghĩa lý luận
Kết quả nghiên cứu của luận văn góp một phần hoàn thiện về mặt lý
luận đối với tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ trong
khoa học luật hình sự Việt Nam. Cụ thể đã làm rõ các vấn đề chung về tội này
trong luật hình sự Việt Nam, phân tích khái quát sự hình thành và phát triển
của luật hình sự của nước ta về loại tội phạm này từ năm 1945 đến nay; làm
sáng tỏ các quy định của Bộ luật hính sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm
2017; phân tích thông qua thực tiễn khởi tố, điều tra, xét xử trên địa bàn tỉnh
Bắc Ninh từ năm 2014 đến năm 2018, qua đó chỉ ra những mâu thuẫn, bất cập
của quy định hiện hành, từ đó đưa ra nguyên nhân và tìm giải pháp khắc phục,
nâng cao hiệu quả áp dụng các quy định của Bộ luật hình sự về tội vi phạm
quy định về tham gia giao thông đường bộ ở khía cạnh lập pháp và thực tiễn
áp dụng trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh.
6.2. Ý nghĩa thực tiễn
Ngoài ý nghĩa về mặt lý luận, luận văn còn có thể được sử dụng làm tài
liệu nghiên cứu, tham khảo, học tập. Một số đề xuất, kiến nghị của luận văn
có thể cung cấp những luận cứ khoa học phục vụ công tác lập pháp và hoạt
động thực tiễn áp dụng Bộ luật hình sự Việt Nam liên quan đến tội phạm vi
phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ, qua đó góp phần nâng cao
hiệu quả công tác đấu tranh phòng, chống loại tội phạm này trên địa bàn tỉnh
Bắc Ninh nói riêng và toàn quốc nói chung.

6


7. Kết cấu của luận văn
- Chương 1: Những vấn đề lý luận về tội vi phạm quy định về tham gia
giao thông đường bộ theo Luật hình sự Việt Nam
- Chương 2: Thực tiễn áp dụng hình phạt về tội vi phạm quy định về
tham gia giao thông đường bộ tại địa bàn tỉnh Bắc Ninh
- Chương 3: Các giải pháp đảm bảo áp dụng đúng pháp luật hình sự về
tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ

7


Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TỘI VI PHẠM QUY ĐỊNH VỀ THAM
GIA GIAO THÔNG ĐƯỜNG BỘ THEO LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM
1.1. Khái niệm, dấu hiệu pháp lý của tội vi phạm quy định về tham
gia giao thông đường bộ
1.1.1 Khái niệm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
Khái niệm tội phạm được Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung
năm 2017 (gọi tắt là BLHS 2015) quy định:
Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luật
Hình sự, do người có năng lực trách nhiệm hình sự hoặc pháp nhân thương
mại thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống
nhất, toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc, xâm phạm chế độ chính trị, chế độ kinh tế,
nền văn hóa, quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội, quyền, lợi ích hợp
pháp của tổ chức, xâm phạm quyền con người, quyền, lợi ích hợp pháp của
công dân, xâm phạm những lĩnh vực khác của trật tự pháp luật xã hội chủ
nghĩa mà theo quy định của Bộ luật này phải bị xử lý hình sự. [3, Điều 8],
Theo quy định của BLHS năm 2015, thì khái niệm của các loại tội
phạm cụ thể được quy định trong các điều luật phần các tội phạm cụ thể, bằng
mô tả các dấu hiệu pháp lý đặc trưng của các tội phạm đó là tính nguy hiểm
cho xã hội và tính có lỗi. Tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường
bộ quy định tại Điều 260 BLHS năm 2015 được hiểu là: Việc một người có
hành vi vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ (người này có thể
điều khiển hoặc sử dụng phương tiện giao thông đường bộ hoặc người này
dẫn dắt súc vật hoặc người này thực hiện hành vi đi bộ tham gia giao thông
đường bộ) gây thiệt hại cho tính mạng hoặc gây thiệt hại nghiêm trọng cho
sức khoẻ, tài sản của người khác, và được thực hiện với lỗi vô ý.
Dưới góc độ Luật hình sự, nhiều tác giả đã đưa ra các khái niệm về tội
vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ như:
8


Theo tác giả Đinh Văn Quế thì “Vi phạm quy định về điều khiển
phương tiện giao thông đường bộ là hành vi vi phạm quy định về an toàn giao
thông đường bộ gây thiệt hại cho tính mạng hoặc gây thiệt hại nghiêm trọng
cho sức khỏe, tài sản của người khác” [38, tr.13]. Quan điểm này mới chỉ nêu
định nghĩa hành vi chứ chưa làm rõ khái niệm tội vi phạm quy định về điều
khiển phương tiện giao thông đường bộ, hơn nữa, hành vi phạm tội khác tội
phạm, vì khái niệm tội phạm đòi hỏi phải đầy đủ như khái niệm trong Điều 8
Bộ luật hình sự năm 2015 hiện hành.
Còn tác giả Trần Minh Hưởng lại cho rằng “Tội vi phạm quy định về
điều khiển phương tiện giao thông đường bộ là hành vi xâm phạm những quy
định của Nhà nước về an toàn giao thông đường bộ”[39, tr.434]. Chúng tôi
cho rằng, quan điểm này khá chung chung, chưa đầy đủ và chưa nêu cụ thể
hành vi phạm tội và dấu hiệu chủ thể của tội phạm này.
Tác giả Ngô Ngọc Thủy đưa ra quan điểm cụ thể hóa về hành vi phạm
tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ như:
“Tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ( đây là
cách giải thích theo quy định tại Điều 202 BLHS năm 1999), tức là hành vi
của người điều khiển phương tiện giao thông đường bộ nhưng mà vi phạm
quy định về an toàn giao thông đường bộ sau đó gây thiệt hại nghiêm trọng
cho sức khỏe, tài sản của người khác hoặc gây thiệt hại cho tính mạng người
khác”.
Theo tác giả Nguyễn Hồng Phong đưa ra khái niệm về tội vi phạm quy
định về tham gia giao thông đường bộ “là hành vi của người tham gia giao
thông đường bộ có năng lực trách nhiệm hình sự và đủ tuổi chịu trách nhiệm
hình sự mà vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ, do lỗi vô ý gây
thiệt hại nghiêm trọng cho sức khỏe, tài sản của người khác hoặc gây thiệt
hại cho tính mạng người khác” [24, tr10,11].
9


Về các khái niệm nêu trên, tác giả đồng ý với khái niệm mà tác giả
Nguyễn Hồng Phong đã đưa ra vì khái niệm này đã nêu cơ bản đầy đủ các dấu
hiệu pháp lý của tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ.
Do đó, tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ được
hiểu là hành vi của người có năng lực trách nhiệm hình sự, đủ tuổi chịu trách
nhiệm hình sự, người này tham gia giao thông đường bộ nhưng không thực
hiện hoặc thực hiện không đúng, không đầy đủ các quy định, quy tắc đảm bảo
an toàn giao thông đường bộ như vi phạm Luật giao thông đường bộ, các bộ
quy tắc khi tham gia giao thông.
1.1.2 Đặc điểm của tội vi phạm quy định về tham gia giao thông
đường bộ
Những đặc điểm, dấu hiệu của các tội vi phạm an toàn giao thông
đường bộ là cơ sở xem xét, xác định hành vi phạm tội của chủ thế. Các dấu
hiệu này bao gồm hành vi nguy hiểm cho xã hội; được BLHS quy định; do
chủ thể có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện; tính có lỗi; xâm hại đến
trật tự an toàn giao thông đường bộ; tính phải chịu hình phạt tương ứng.
i) Đặc điểm thứ nhất là hành vi gây nguy hiểm cho xã hội. Hành vi của
tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ trước hết phải là hành
vi nguy hiểm cho xã hội, tức là phải thể hiện bằng hành vi xác định của con
người. Hành vi đó xâm hại đến các quan hệ xã hội được BLHS bảo vệ. Hành
vi nguy hiểm cho xã hội của tội vi phạm quy định về tham gia giao thông
đường bộ là hành vi vi phạm các quy tắc an toàn, luật giao thông đường bộ và
hành vi này gây thiệt hại về tính mạng, sức khỏe, tài sản của người khác, của
tổ chức, Nhà nước và được thể hiện dưới dạng hành động hoặc không hành
động.
ii) Đặc điểm thứ hai là hành vi vi phạm phải được BLHS quy định

10


Theo quy định của Điều 2 BLHS năm 2015 quy định về cơ sở của trách
nhiệm hình sự: “Chỉ người nào phạm một tội đã được Bộ luật hình sự quy
định mới phải chịu trách nhiệm hình sự". [3, Điều 2]
Nếu hành vi của chủ thề không cấu thành các tội được quy định trong
BLHS thì không bị coi là tội phạm và không phải chịu hình phạt trong BLHS,
trong trường hợp này là tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường
bộ quy định tại Điều 260 BLHS năm 2015.
iii) Đặc điểm thứ ba là do chủ thế có năng lực trách nhiệm hình sự và
đạt đủ độ tuổi theo quy định của BLHS thực hiện:
Người có năng lực trách nhiệm hình sự phải đạt độ tuổi theo quy định
của BLHS và có khả năng nhận thức và điều khiển hành vi của mình;
- Về độ tuổi: Theo quy định tại Điều 12 BLHS năm 2015 về tuổi chịu
trách nhiệm hình sự:
“1. Người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi
tội phạm, trừ những tội phạm mà Bộ luật này có quy định khác.
2. Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự
về tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng quy định tại
một trong các điều 123, 134, 141, 142, 143, 144, 150, 151, 168, 169, 170,
171, 173, 178, 248, 249, 250, 251, 252, 265, 266, 286, 287, 289, 290, 299,
303 và 304 của Bộ luật này”. [3, Điều 12]
- Về khả năng nhận thức và điểu khiển hành vi của chủ thể: BLHS năm
2015 dùng phưong pháp loại trừ khi quy định các trường hợp không có năng
lực trách nhiệm hình sự: Điều 21 BLHS năm 2015 quy định “Người thực hiện
hành vi nguy hiểm cho xã hội trong khi đang mắc bệnh tâm thần, một bệnh
khác làm mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của
mình, thì không phải chịu trách nhiệm hình sự”. [3, Điều 21]
iv) Đặc điểm thứ tư là hành vi phạm tội phải có lỗi của chủ thể
11


Lỗi của chủ thể thực hiện tội phạm xâm hại đến trật tự, an toàn giao
thông đường bộ thể hiện: Lỗi cố ý và lỗi vô ý. Các lỗi được thế hiện bằng
hành vi của chủ thế như sau:
Cố ý phạm tội là thực hiện hành vi phạm tội trong những trường hợp
sau:
1. Người phạm tội nhận thức rõ hành vi của mình là nguy hiểm cho xã
hội, thấy trước hậu quả của hành vi đó và mong muốn hậu quả xảy ra;
2. Người phạm tội nhận thức rõ hành vi của mình là nguy hiểm cho xã
hội, thấy trước hậu quả của hành vi đó có thể xảy ra, tuy không mong muốn
nhưng vẫn có ý thức để mặc cho hậu quả xảy ra. [3, Điều 10]
Vô ý phạm tội là thực hiện hành vi phạm tội trong những trường hợp
sau:
1. Người phạm tội tuy thấy trước hành vi của mình có thể gây ra hậu
quả nguy hại cho xã hội nhưng cho rằng hậu quả đó sẽ không xảy ra hoặc có
thể ngăn ngừa được;
2. Người phạm tội không thấy trước hành vi của mình có thể gây ra
hậu quả nguy hại cho xã hội, mặc dù phải thấy trước và có thể thấy trước hậu
quả đó. [3, Điều 11]
Đối với tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ, dấu
hiệu lỗi là lỗi vô ý.
v) Đặc điếm thứ năm là xâm hại đến trật tự an toàn giao thông đường
bộ
Tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ là những hành
vi nguy hiểm cho xã hội, được quy định trong BLHS, xâm hại đến trật tự an
toàn giao thông đường bộ gây thiệt hại về tính mạng, sức khỏe hoặc tài sản
của công dân, tổ chức hoặc Nhà nước.
vi) Đặc điểm thứ sáu là tính phải chịu hình phạt của tội phạm:
12


Hình phạt là biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất của Nhà nước áp
dụng đối với người phạm tội hoặc pháp nhân thương mại phạm tội nhằm tước
bỏ hoặc hạn chế quyền, lợi ích của người, pháp nhân thương mại đó.
Mục dích của hình phạt được thể hiện: “Hình phạt không chỉ nhằm
trừng trị người, pháp nhân thương mại phạm tội mà còn giáo dục họ ý thức
tuân theo pháp luật và các quy tắc của cuộc sống, ngăn ngừa họ phạm tội
mới; giáo dục người, pháp nhân thương mại khác tôn trọng pháp luật, phòng
ngừa và đấu tranh chống tội phạm”. [3, Điều 31]
Trên cơ sở xác định tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân của
chủ thế và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, thì hình phạt
do Tòa án quyết định đối với chủ thế thực hiện hành vi phạm tội.
1.1.3 Các dấu hiệu pháp lý của tội vi phạm quy định về tham gia giao
thông đường bộ
Nói đến dấu hiệu pháp lý của một tội phạm tức là ta nói về các dấu hiệu,
đặc điểm của loại tội phạm đó bao gồm có khách thể của tội phạm (là đối
tượng bị xâm hại), chủ thể của tội phạm (là người thực hiện hành vi nguy
hiểm cho xã hội), mặt chủ quan của tội phạm (bao gồm các dấu hiệu như lỗi,
động cơ, mục đích,…), mặt khách quan của tội phạm (bao gồm có hành vi
nguy hiểm cho xã hội của tội phạm, hậu quả của tội phạm, mối quan hệ nhân
quả giữa hành vi nguy hiểm cho xã hội và hậu quả, công cụ phương tiện,
phương pháp, thủ đoạn, hoàn cảnh, địa điểm phạm tội).
- Thứ nhất về khách thể của tội phạm vi phạm quy định về tham gia giao
thông đường bộ: Là quy định của Nhà nước về an toàn giao thông đường bộ,
đó là những quy định nhằm đảm bảo vệ an toàn tính mạng, sức khỏe của công
dân, bảo vệ tài sản của Nhà nước, của các tổ chức và tài sản của công dân
trong hoạt động tham gia giao thông đường bộ. Hành vi vi phạm quy định về
tham gia giao thông đường bộ là hành vi của chủ thể tham gia giao thông
13


đường bộ, hành vi này gây nguy hiểm cho xã hội, gây thiệt hại cho tính mạng,
sức khoẻ, tài sản của người khác. Chỉ những hành vi vi phạm quy định về
tham gia giao thông đường bộ gây thiệt hại cho tính mạng hoặc gây thiệt hại
nghiêm trọng cho sức khoẻ (ví dụ như gây tổn thương cơ thể do thương tích
gây nên của 01 người từ 61% trở lên,…), tài sản (gây thiệt hại từ 100.000.000
đồng trở lên) của người khác hoặc hành vi tham gia giao thông đường bộ có
khả năng thực tế dẫn đến hậu quả đặc biệt nghiêm trọng nếu không được ngăn
chặn kịp thời mới bị coi là phạm tội hình sự. Đối với những hành vi vi phạm
quy định về tham gia giao thông đường bộ khác mà tính chất nguy hiểm
không đáng kể hoặc gây thiệt hại cho người khác nhỏ (ví dụ gây tổn thương
cơ thể do thương tích gây nên dưới 61%,…) thì bị xử phạt vi phạm hành
chính.
- Thứ hai về mặt khách quan của tội phạm vi phạm quy định về tham gia
giao thông đường bộ: Mặt khách quan của tội phạm bao gồm hành vi khách
quan, hậu quả nguy hiểm cho xã hội, mối quan hệ nhân quả giũa hành vi và
công cụ phương tiện, phương pháp, thủ đoạn, hoàn cảnh, không gian, thời
gian, địa điểm phạm tội.
+ Hành vi khách quan: Người phạm tội có hành vi vi phạm các quy định
về tham gia giao thông đường bộ, cụ thể: Đi quá tốc độ, chở quá trọng tải quy
định, tránh, vượt trái phép; đi không đúng tuyến đường, phần đường; vi phạm
các quy định khác về an toàn giao thông đường bộ như chuyên chở người,
hàng không đúng số lượng, trọng tải quy định;....
+ Hậu quả: Tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ là tội
phạm có cấu thành vật chất. Do đó, hậu quả là dấu hiệu bắt buộc đối với tội
này. Nếu hành vi vi phạm các quy định về tham gia giao thông đường bộ chưa
gây ra hậu quả nghiêm trọng như: Làm chết người hoặc gây gây thương tích
14


cho 01 người từ 61% trở lên, hoặc gây thiệt hại về tài sản từ 100.000.000
đồng trở lên,… thì không cấu thành tội phạm, trừ trường hợp quy định tại
khoản 4 Điều 260 Bộ luật Hình sự. Trên thực tế, hành vi vi phạm quy định về
tham gia giao thông đường bộ gây tai nạn giao thông dẫn đến chết người, thiệt
hại về tài sản rất nhiều.
+ Mối quan hệ nhân quả: Hành vi vi phạm các quy định về tham gia giao
thông đường bộ là nguyên nhân dẫn đến hậu quả (tai nạn giao thông) gây thiệt
hại về tài sản, sức khỏe, tính mạng của người khác. Trường hợp thiệt hại về
tài sản, sức khỏe, tính mạng của người khác không phải do hành vi vi phạm
quy định về tham gia giao thông đường bộ gây ra thì không cấu thành tội này.
+ Các dấu hiệu khách quan khác: Loại phương tiện giao thông đường bộ;
địa điểm,… Do đó, việc xác định các dấu hiệu khách quan này là rất quan
trọng, để phân biệt giữa tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường
bộ với các tội khác. Theo quy định tại khoản 1 Điều 3 Luật Giao thông đường
bộ thì “Đường bộ gồm đường, cầu đường bộ, hầm đường bộ, bến phà đường
bộ”. Phương tiện tham gia giao thông đường bộ bao gồm phương tiện giao
thông đường bộ và xe máy chuyên dùng [16.Điều 3]. Trong đó phương tiện
giao thông đường bộ được quy định tại gồm “phương tiện giao thông cơ giới
đường bộ, phương tiện giao thông thô sơ đường bộ” [16.Điều 3]. Phương tiện
giao thông cơ giới đường bộ (gọi là xe cơ giới) gồm xe ô tô; máy kéo; rơ
moóc hoặc sơ mi rơ moóc được kéo bởi xe ô tô, máy kéo; xe mô tô hai bánh;
xe mô tô ba bánh; xe gắn máy (kể cả xe máy điện) và các loại xe tương tự.
Phương tiện giao thông thô sơ đường bộ (sau đây gọi là xe thô sơ) gồm xe
đạp (kể cả xe đạp máy), xe xích lô, xe lăn dùng cho người khuyết tật, xe súc
vật kéo và các loại xe tương tự. Xe máy chuyên dùng quy định tại khoản 20
Điều 3 Luật giao thông đường bộ gồm xe máy thi công, xe máy nông nghiệp,

15


lâm nghiệp và các loại xe đặc chủng khác sử dụng vào mục đích quốc phòng,
an ninh có tham gia giao thông đường bộ.
- Thứ ba về chủ thể của tội phạm vi phạm quy định về tham gia giao
thông đường bộ: Theo quy định tại Điều 8 BLHS năm 2015 thì chủ thể của
tội phạm là người có năng lực trách nhiệm hình sự. Trong các quy định của
BLHS năm 2015 không có quy định cụ thể nào về khái niệm năng lực trách
nhiệm hình sự, tuy nhiên qua các điều cụ thể của BLHS có thể hiểu “Năng
lực trách nhiệm hình sự là người khi thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội
có khả năng nhận thức được tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi của
mình và có khả năng điều khiển được hành vi ấy, đạt độ tuổi chịu trách nhiệm
hình sự”.
Theo quy định tại Điều 12 BLHS năm 2015 thì: “1. Người từ đủ 16 tuổi
trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm, trừ những tội phạm mà
Bộ luật này có quy định khác.
2. Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự về
tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng quy định tại một
trong các điều 123, 134, 141, 142, 143, 144, 150, 151, 168, 169, 170, 171,
173, 178, 248, 249, 250, 251, 252, 265, 266, 286, 287, 289, 290, 299, 303 và
304 của Bộ luật này.” [3, Điều 12]
Như vậy, người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi không phải chịu trách
nhiệm hình sự về tội phạm này. Người từ đủ 16 tuổi trở lên là chủ thể của tội
vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ.
Điểm đặc biệt đối với chủ thể của tội vi phạm quy định về tham gia giao
thông đường bộ là người phạm tội có hành vi phạm tội khi đang tham gia giao
thông đường bộ bao gồm người điều khiển, người sử dụng phương tiện tham

16


gia giao thông đường bộ; người điều khiển, dẫn dắt súc vật; người đi bộ trên
đường bộ.
- Thứ tư về mặt chủ quan của tội phạm vi phạm quy định về tham gia
giao thông đường bộ: Mặt chủ quan của tội phạm là mặt bên trong của tội
phạm bao gồm lỗi, động cơ và mục đích phạm tội.
+ Đối với tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ thì lỗi
của người phạm tội là lỗi vô ý. Theo quy định tại Điều 11 BLHS thì vô ý
phạm tội được hiểu như sau: “Vô ý phạm tội là phạm tội trong những trường
hợp sau đây: 1. Người phạm tội tuy thấy trước hành vi của mình có thể gây ra
hậu quả nguy hại cho xã hội nhưng cho rằng hậu quả đó sẽ không xảy ra
hoặc có thể ngăn ngừa được; 2. Người phạm tội không thấy trước hành vi của
mình có thể gây ra hậu quả nguy hại cho xã hội, mặc dù phải thấy trước và có
thể thấy trước hậu quả đó.” [3, Điều 11]
+ Động cơ là động lực thúc đẩy người phạm tội thực hiện hành vi phạm
tội. Mục đích phạm tội là cái mốc mà người phạm tội đặt ra mong muốn đạt
được khi thực hiện tội phạm. Giữa mục đích phạm tội và hậu quả của tội
phạm luôn có mối liên quan chặt chẽ với nhau, hậu quả của tội phạm là sự thể
hiện, sự phản ánh mục đích phạm tội. Tội vi phạm quy định về tham gia giao
thông đường bộ dấu hiệu động cơ, mục đích phạm tội không phải là dấu hiệu
bắt buộc xuất phát từ yếu tố lỗi của loại tội phạm này.
1.2 Quy định pháp luật hiện hành về tội vi phạm quy định về tham
gia giao thông đường bộ
Kể từ ngày 01/01/2018, BLHS năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 có
hiệu lực thi hành, tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông
được sửa đổi thành tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ

17


quy định tại Điều 260 của BLHS. Theo quy định tại Điều 260 BLHS năm
2015:
“1. Người nào tham gia giao thông đường bộ mà vi phạm quy định về
an toàn giao thông đường bộ gây thiệt hại cho người khác thuộc một trong
các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000
đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 01 năm
đến 05 năm:
a) Làm chết người;
b) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 01 người mà tỷ
lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên;
c) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên
mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này từ 61% đến 121%;
d) Gây thiệt hại về tài sản từ 100.000.000 đồng đến dưới 500.000.000
đồng.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù
từ 03 năm đến 10 năm:
a) Không có giấy phép lái xe theo quy định;
b) Trong tình trạng có sử dụng rượu, bia mà trong máu hoặc hơi thở có
nồng độ cồn vượt quá mức quy định, có sử dụng chất ma túy hoặc chất kích
thích mạnh khác;
c) Bỏ chạy để trốn tránh trách nhiệm hoặc cố ý không cứu giúp người
bị nạn;
d) Không chấp hành hiệu lệnh của người điều khiển hoặc hướng dẫn
giao thông;
đ) Làm chết 02 người;
e) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên
mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này từ 122% đến 200%;
18


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×