Tải bản đầy đủ

tiểu luận kinh tế vĩ mô 2 tăng trưởng kinh tế theo chiều sâu và thực trạng ở VN 2008 2018

NỘI DUNG

Chương 1

TỔNG QUAN VỀ TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ THEO CHIỀU
SÂU (TTKTTCS)

1.1

Khái niệm

1.1.1 Khái niệm tăng trưởng kinh tế
Tăng trưởng kinh tế là sự gia tăng mức sản xuất mà nền kinh tế tạo ra theo thời gian.
Sự tăng trưởng này được đo lường bởi tốc độ tăng trưởng kinh tế song chỉ số này sẽ không
xác thực nếu như dân số tăng rất nhanh trong khi tổng sản phẩm quốc nội (GDP) thực tế lại tăng
trưởng chậm. Do đó, để đo lường tăng trưởng kinh tế người ta sử dụng chỉ tiêu GDP bình quân đầu
người.
Lịch sử phát triển kinh tế ở mỗi quốc gia cho thấy, tùy theo quan niệm khác nhau của các
nhà lãnh đạo đã lựa chọn những mô hình tăng trưởng kinh tế khác nhau. Nhìn một cách tổng thể,
tăng trưởng kinh tế có thể xét theo hai hướng là tăng trưởng theo chiều sâu và tăng trưởng theo
chiều rộng.


1.1.2 Khái niệm tăng trưởng kinh tế theo chiều sâu
Mô hình TTKTTCS là dựa vào khoa học và công nghệ hiện đại, nâng cao hiệu quả, chất
lượng của tăng trưởng, như: nâng cao hiệu quả sử dụng vốn, tăng năng suất lao động, nâng cao sự
đóng góp của nhân tố năng suất tổng hợp (TFP), hướng hoạt động của nền kinh tế vào các ngành,
lĩnh vực có giá trị gia tăng cao, giảm chi phí sản xuất, chủ động sản xuất và xuất khẩu hàng hóa có
hàm lượng công nghệ cao, trên cơ sở khai thác triệt để các lợi thế của đất nước. Tăng trưởng theo

1


chiều sâu không chỉ nâng cao chất lượng, hiệu quả nền kinh tế, mà còn gắn với bảo vệ môi trường
sinh thái, cải thiện phúc lợi xã hội,…
Trong khi đó, mô hình tăng trưởng theo chiều rộng là dựa vào khai thác tài nguyên thiên
nhiên, thâm dụng lao động, phụ thuộc quá nhiều vào vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI), năng
suất lao động thấp, hiệu quả đầu tư không cao, chất lượng tăng trưởng thấp.
Trong quá trình phát triển kinh tế, tồn tại sự kết hợp xen kẽ của hai loại tăng trưởng này nhằm
theo đuổi mục tiêu tăng trưởng cả số lượng và chất lượng, nâng cao chất lượng tăng trưởng và sức
cạnh tranh; kết hợp có hiệu quả hai loại tăng trưởng trên cơ sở ứng dụng tiến bộ khoa học và công
nghệ, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, phát huy lợi thế so sánh, chủ động hội nhập quốc tế.
1.2

Các nhân tố của mô hình TTKTTCS
Hiệu quả hoạt động kinh tế được đánh giá qua xem xét việc sử dụng các yếu tố đầu vào là vốn

và lao động. Nhờ tác động tổng hợp của các yếu tố được phối hợp trong quá trình tổ chức quản lý
sản xuất mà tạo ra giá trị gia tăng mới cao hơn. Như vậy, trong phần giá trị gia tăng tạo ra, ngoài
phần đóng góp của nhân tố đầu vào là vốn và lao động (những nhân tố có thể lượng hoá), người ta
còn thấy một phần giá trị mới do bộ phận vô hình tạo ra. Bộ phận này được thể hiện qua năng suất
các nhân tố tổng hợp (TFP - Total Factor Productivity).
TFP cho biết mức độ đóng góp các nhân tố vô hình như khoa học công nghệ, trình độ chuyên
môn kỹ thuật của lao động, trình độ tổ chức quản lý sản xuất, sức cạnh tranh của sản phẩm… tác
động đến mức tăng trưởng GDP.
Trên phương diện tính toán, TFP chỉ phần trăm tăng GDP sau khi trừ đi phần đóng góp của
tăng số lượng lao động và vốn. Xét ở góc độ các yếu tố đầu vào, một nền kinh tế đạt được tăng
trưởng dựa chủ yếu vào 3 nhân tố chính: Vốn (K), Lao động (L) và năng suất các nhân tố tổng hợp
(TFP). Với cách tiếp cận này, hàm sản xuất có dạng:
Y= F(K, L, TFP)

2




Trong đó Y là thu nhập của nền kinh tế (GDP)
Dựa trên cơ sở lý thuyết trên, phạm vi bài tiểu luận này sẽ sử dụng chủ yếu chỉ số tăng
trưởng TFP là yếu tố tạo nên tăng trưởng theo chiều sâu, và việc đánh giá sự thay đổi TFP sẽ dựa
theo các yếu tố chính quyết định chỉ số TFP như trong kết quả nghiên cứu của Tổ chức Năng suất
Châu Á (APO). Theo đó, nguồn tăng TFP chủ yếu dựa vào 5 yếu tố chính.

• Chất lượng lao động: trình độ học vấn liên quan đến khả năng tiếp thu, ứng dụng những tiến
bộ khoa học và công nghệ; đào tạo nâng cao kỹ năng, tay nghề của người lao động; đào tạo
chuyển giao công nghệ. Đầu tư vào nguồn nhân lực làm tăng khả năng và năng lực của lực
lượng lao động trong việc sản xuất ra các sản phẩm và dịch vụ chất lượng cao là yếu tố rất
đóng góp rất quan trọng làm tăng TFP.
• Thay đổi nhu cầu hàng hóa, dịch vụ: tác động tới TFP thông qua việc tăng nhu cầu trong
nước và xuất khẩu về sản phẩm, hàng hoá là cơ sở quan trọng để sử dụng tối ưu các nguồn
lực.
• Thay đổi cơ cấu vốn: tăng cường đầu tư công nghệ tiên tiến như công nghệ thông tin và
truyền thông, công nghệ hiện đại và tự động hoá. Yếu tố này thể hiện việc đầu tư vốn vào
những lĩnh vực có năng suất cao, từ đó sẽ nâng cao hiệu quả của cả nền kinh tế.
• Thay đổi cơ cấu kinh tế: là việc phân bổ các nguồn lực phát triển kinh tế giữa các ngành và
thành phần kinh tế, các nguồn lực sẽ được phân bổ nhiều hơn cho các ngành hoặc thành
phần kinh tế có năng suất cao hơn, từ đó đóng góp vào việc tăng TFP.
• Áp dụng tiến bộ kĩ thuật: thúc đẩy các hoạt động sáng tạo, đổi mới; nghiên cứu và phát triển
sản phẩm mới, cải tiến quy trình sản xuất; công nghệ quản lý tiên tiến ( hệ thống, công cụ
quản lý tiên tiến…). Yếu tố này bao hàm các hoạt động như đổi mới, nghiên cứu phát triển,
thái độ làm việc tích cực, hệ thống quản lý, hệ thống tổ chức… tác động làm nâng cao năng
suất.

3


Trong 5 yếu tố chính đóng góp vào tăng TFP như đã nêu trên, 03 yếu tố được xác định tác động
trực tiếp, mạnh mẽ đến các tổ chức, doanh nghiệp, đó là: Áp dụng tiến bộ kỹ thuật; Chất lượng lao
động và Thay đổi cơ cấu vốn.
1.3

Đặc điểm của TTKTTCS

1.3.1 Ưu điểm
Mô hình TTKTTCS có đặc trưng chủ yếu là nâng cao hiệu quả của tất cả các yếu tố truyền
thống trên cơ sở tiến bộ kỹ thuật (TFP). Mô hình TTKTTCS có tính đặc thù và ưu điểm là:

• Tiến bộ khoa học kỹ thuật đóng vai trò chính trong quá trình tăng trưởng;
• Không chỉ tăng tổng khối lượng mà còn tăng cả chất lượng sản phẩm;

• Giảm chi phí lao động và tư liệu sản xuất tính trên một đơn vị thu nhập quốc dân, giảm giá trị một
đơn vị sản phẩm. Trong tổng khối lượng sản xuất, tỷ trọng của các ngành có hàm lượng khoa học
cao tăng lên;
• Tỷ trọng sản phẩm trung gian giảm và tỷ trọng sản phẩm cuối cùng đi vào tiêu dùng tăng
lên tương ứng, do vậy mà nâng cao được hiệu quả kinh tế, nâng cao chất lượng sống của
dân cư.

• Việc nâng cao mức sống của con người trong điều kiện TTKT theo chiều sâu không chỉ thể hiện ở
tăng phúc lợi vật chất, mà còn ở tăng chất lượng các dịch vụ xã hội (giáo dục, y tế...) và môi trường
xung quanh (giảm thiểu ô nhiễm môi trường, loại bỏ những công nghệ rủi ro...), tăng thời gian tự
do, nâng cao mức thỏa mãn nhu cầu đẳng cấp cao…

1.3.2 Nhược điểm
• TTKTTCS đòi hỏi nâng cao trình độ vốn con người. Sự tăng trưởng ổn định chỉ có thể đạt được
bằng tăng năng suất lao động, bao gồm cả đổi mới sáng tạo. Các nhân tố như tiến bộ kỹ thuật, tích
lũy vốn và vốn con người, xây dựng hạ tầng cơ sở và thể chế kinh tế trong dài hạn thúc đẩy tăng
trưởng kinh tế thông qua nâng cao năng suất lao động, năng suất của vốn con người, đổi mới vốn

4


sản xuất và giảm chi phí. Đối với những nước đang phát triển, để thực thi được những cải cách trên
sẽ khó hơn so với các nước phát triển.

• TTKTTCS cần phải có đội ngũ tri thức cao nghiên cứu chính xác, học hỏi các kinh nghiệm của các
nước trên thế giới những cũng cần phải phù hợp với điều kiện của doanh nghiệp mình.

1.4

Vai trò của TTKTTCS đối với nền kinh tế

• TTKTTCS tạo điều kiện giải quyết công ăn việc làm, giảm thất nghiệp, nâng cao năng suất lao động
và chất lượng nguồn nhân lực. Khi một nền kinh tế có tỷ lệ tăng trưởng cao thì một trong những
nguyên nhân quan trọng là đã sử dụng tốt hơn lực lượng lao động. Vì vậy, tăng trưởng kinh tế nhanh
thì thất nghiệp có xu hướng giảm. Mối quan hệ giữa tăng trưởng thực tế và tỷ lệ thất nghiệp ở nước
phát triển đã được lượng hoá dưới tên gọi quy luật Okun (hay quy luật 2% –1). Quy luật này xác
định, nếu GDP thực tế tăng 2% trong vòng một năm so với GDP tiềm năng của năm đó thì tỷ lệ thất
nghiệp giảm đi 1%.
• TTKTTCS làm cho mức thu nhập của dân cư tăng, phúc lợi xã hội và chất lượng cuộc sống của
cộng đồng được cải thiện như: kéo dài tuổi thọ, giảm tỷ lệ suy dinh dưỡng và tử vong ở trẻ em, giúp
cho giáo dục, y tế, văn hoá… phát triển.
• TTKTTCS tạo tiền đề để nâng cao trình độ khoa học – kỹ thuật của quốc gia, giúp theo kịp tiến bộ
khoa học – kỹ thuật trên thế giới.
• Đối với các nước chậm phát triển như nước ta, TTKTTCS còn là điều kiện tiên quyết để khắc phục
sự tụt hậu xa hơn về kinh tế so với các nước đang phát triển.
Thực tế cho thấy, không phải sự tăng trưởng nào cũng mang lại hiệu quả kinh tế – xã hội như
mong muốn, đôi khi quá trình tăng trưởng mang tính hai mặt. Chẳng hạn, tăng trưởng kinh tế quá
mức có thể dẫn đến tình trạng nền kinh tế “quá nóng”, gây ra lạm phát, hoặc tăng trưởng kinh tế cao
làm cho dân cư giàu lên, nhưng đồng thời cũng có thể làm cho sự phân hoá giàu nghèo trong xã hội
tăng lên. Vì vậy, đòi hỏi mỗi quốc gia trong từng thời kỳ phải tìm ra những biện pháp tích cực để
đạt được sự tăng trưởng hợp lý, bền vững. Tăng trưởng kinh tế bền vững là tăng trưởng kinh tế đạt

5


mức tương đối cao, ổn định trong thời gian tương đối dài (ít nhất từ 20 – 30 năm) và giải quyết tốt
vấn đề tiến bộ xã hội gắn với bảo vệ môi trường sinh thái.

6


Chương 2

THỰC TRẠNG TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ THEO CHIỀU
SÂU CỦA VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2008-2018

2.1

Thực trạng tăng trưởng kinh tế theo chiều sâu của Việt Nam giai đoạn 2008-2018

2.1.1 Giai đoạn 2008-2010 (tăng trưởng kinh tế theo chiều rộng)
Trong khoảng 30 năm thực hiện công cuộc đổi mới, nền kinh tế nước ta đã đạt được nhiều
thành tựu về kinh tế như tốc độ tăng trưởng kinh tế cao, quy mô kinh tế mở rộng đáng kể, giải quyết
các vấn đề việc làm, thu nhập,... Để đạt được những kết quả đó, nước ta đã lựa chọn phát triển theo
chiều rộng – tăng trưởng chủ yếu dựa vào vốn, lao động và tài nguyên là chính. Tăng trưởng kinh tế
trong giai đoạn này có những đặc điểm sau:


Tỷ trọng vốn đầu tư cho phát triển kinh tế Việt Nam sau một khoảng thời gian tăng liên tục đến năm
2007 đạt mức kỉ lục là 46,5% thì trong giai đoạn 2008-2010 có dấu hiện chững lại là giảm dần
xuống còn 41% năm 2010.



Một trong những lợi thế của Việt Nam là có nguồn lao động dồi dào, đóng góp quan trọng trong
việc thúc đẩy kinh tế phát triển. Nếu năm 1991, nước ta chỉ có khoảng 28,79 triệu lao động thì đến
năm 2010 có đến hơn 53 triệu lao động. Sự đóng góp của yếu tố lao động trong giai đoạn 2008 –
2010 vào tăng trưởng GDP chiếm 21,13%. Điều này phần nào phản ánh được tầm quan trọng của
lao động trong việc phát triển kinh tế Việt Nam giai đoạn vừa qua.



Trong các yếu tố cấu thành GDP, yếu tố năng suất tổng hợp của Việt Nam chiếm khá thấp chỉ
khoảng 22%. Trong khi đó, yếu tố này của Hàn Quốc là 51,32%, Malaysia là 36,18%, Thái Lan là
36,14%.

7


• Nền kinh tế Việt Nam có chất lượng tăng trưởng thấp. Từ sau năm 2008 đến 2010 và cho đến nay,
nền kinh tế bắt đầu xuất hiện dấu hiệu bất ổn khi tốc độ tăng trưởng chững lại, tỷ lệ lạm phát tăng
cao…
Biểu đồ 2.1 Tốc độ tăng trưởng GDP và lạm phát của Việt Nam giai đoạn 2000 - 2010

Nguồn: Tổng cục Thống kê

• Năng suất lao động còn thấp: Theo nghiên cứu của Tổ chức Lao động quốc tế (ILO), nếu như thời
kỳ đầu đổi mới ở giai đoạn 2002 – 2007, năng suất lao động xã hội nước ta tăng bình quân hàng

năm ở mức 5,2% thì kể từ cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu năm 2008, tốc độ tăng năng suất trung
bình hàng năm nước ta chỉ còn lại 3,3%.
• Năng lực cạnh tranh quốc gia còn kém: thể hiện ở một số chỉ tiêu như hiệu quả thị trường lao động,
mức độ phát triển thị trường tài chính hay trình độ khoa học công nghệ còn thấp, năng lực quản trị
vĩ mô, chất lượng thể chế còn hạn chế.
• Quá trình dịch chuyển cơ cấu còn chậm chạp, thiếu đồng bộ: Năm 2010, cơ cấu GDP dịch chuyển
theo hướng tỷ trọng nhóm ngành nông, lâm nghiệp giảm từ 19,67% xuống còn 18,39%, tỷ trọng 2
nhóm ngành công nghiệp - xây dựng và dịch vụ tăng lên từ 80,33% lên 81,61%. Cơ cấu đầu tư cũng
thay đổi theo xu hướng chuyển dịch cơ cấu ngành nhưng vấn đề đáng nói là ở đây mức độ đầu tư

8


cho nông nghiệp chưa thực sự tương xứng với lợi thế ngành nông nghiệp mang lại trong việc thúc
đẩy kinh tế phát triển.

• Các vấn đề xã hội, môi trường còn nhiều bất cập: Nhờ phát triển theo chiều rộng, thu nhập bình
quân đầu người nước ta đã tăng lên, tỷ lệ xóa đói giảm nghèo ngày càng cao làm cho tỷ lệ hộ nghèo
nước ta giảm xuống chỉ còn 7,6%. Tuy nhiên, mức độ chênh lệch giàu nghèo của nước ta vẫn còn
cao, đời sống vật chất và tinh thần của người dân còn thấp. Bên cạnh đó, do khai thác tài nguyên
thiên nhiên quá nhiều, quá chú trọng đến phát triển kinh tế mà thiếu quan tâm đến môi trường nên
môi trường sinh thái đang bị hủy hoại, ô nhiễm môi trường ngày càng tăng, ảnh hưởng xấu đến chất
lượng cuộc sống của người dân.

2.1.2 Giai đoạn 2011-2018 (tăng trưởng kinh tế theo chiều sâu)
• Theo Báo cáo của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, tăng trưởng kinh tế Việt Nam đang ngày càng ổn định và
chuyển dịch sang chiều sâu. Tốc độ tăng trưởng kinh tế từng bước được cải thiện, đạt mức tăng khá
trong những năm vừa qua. Theo đó, bình quân 3 năm 2016 - 2018 đạt 6,57% (cao hơn tốc độ tăng
bình quân 5,91%/năm của giai đoạn 2011 - 2015).
Bảng 2.1: Tốc độ tăng trưởng của các ngành so với năm trước (%)

Tổng số
Nông, lâm nghiệp
và thủy sản
Công nghiệp và
xây dựng
Dịch vụ
Thuế sản phẩm
trừ trợ cấp

2011
6,24

2012
5,25

2013
5,42

2014
5,98

2015
6,68

2016
6,21

2017
6,81

2018
7,08

4,23

2,92

2,63

3,44

2,41

1,36

2,9

3,76

7,6

7,39

5,08

6,42

9,64

7,57

8,0

8,85

7,47

6,71

6,72

6,16

6,33

6,98

7,44

7,03

2,07

-1,6

6,42

7,93

5,54

6,38

6,34

6,3

Nguồn: Tổng cục thống kê

9


• Hiệu quả sử dụng vốn đầu tư thể hiện qua chỉ số ICOR đang dần được cải thiện, từ mức 6,42 năm
2016 giảm xuống còn 6,11 năm 2017 và ước tính năm 2018 là 5,97, bình quân giai đoạn 2016-2018
hệ số ICOR ở mức 6,17, thấp hơn mức 6,25 của giai đoạn 2011-2015.

Bảng 2.2: Hệ số ICOR theo giá so sánh 2010
Hệ số ICOR theo
giá so sánh 2010
2011
5,72
2012
6,76
2013
6,67
2014
6,29
2015
5,80
2016
6,42
Sơ bộ 2017
6,11
Nguồn: Tổng cục thống kê

• Tỷ lệ đóng góp của năng suất các nhân tố tổng hợp (TFP) trong tăng trưởng GDP năm 2018 đạt
43,5%, bình quân giai đoạn 2016-2018 đạt 43,3%, cao hơn nhiều so với mức bình quân 33,6% của
giai đoạn 2011-2015. Tỷ lệ vốn đầu tư toàn xã hội thực hiện/GDP năm 2018 đạt 33,5%, đảm bảo
mục tiêu Quốc hội đề ra từ 33-34%.
Bảng 2.3: Tốc độ tăng và tỷ trọng của các nhân tố trong tăng trưởng kinh tế giai đoạn 2011-2017

10


Tốc độ tăng
GDP(%)

Tốc độ tăng
vốn (%)

Tốc độ tăng
lao động (%)

Tốc độ tăng TPF(%)

2011

6,24

9,26

2,66

2012

5,25

7,24

2013

5,42

2014

Đóng góp của các yếu tố vào tăng GDP(%)
Tăng vốn

Tăng lao động

Tăng TFP

0,85

60,6

25,4

14,0

2,13

1,06

54,7

24,7

20,7

6,77

1,53

1,71

50,9

16,9

32,2

5,98

6,84

1,03

2,15

54,2

9,2

36,6

2015

6,68

7,15

0,18

3,10

51,3

1,5

47,3

2016

6,21

7,45

0,84

2,16

57,3

7,3

35,5

2017

6,81

7,70

0,75

2,63

54,7

5,8

39,5

BQ 2011-2015

5,91

7,45

1,50

1,78

54,3

15,5

30,1

BQ 2011-2016

5,96

7,44

1,39

1,84

54,8

14,2

31,0

BQ2011-2017

6,08

7,48

1,30

1,95

54,8

13,0

32,2

BQ2016-2017

6,51

7,58

0,80

2,40

56,0

6,5

37,5

Nguồn: Tổng cục thống kê

• Cơ cấu kinh tế của Việt Nam tiếp tục chuyển dịch tích cực theo xu hướng giảm tỷ trọng nông, lâm
nghiệp và thủy sản; tăng tỷ trọng ngành công nghiệp, xây dựng và ngành dịch vụ. Năm 2018, khu
vực nông, lâm nghiệp và thủy sản chiếm tỷ trọng 14,57% GDP; khu vực công nghiệp và xây dựng
chiếm 34,28%; khu vực dịch vụ chiếm 41,17%; thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm chiếm 9,98%.
So với năm 2017 thì năm 2018 ngành công nghiệp và xây dựng có tốc độ tăng hơn 8,85%, còn lại
các ngành khác có tốc độ tăng ngày càng chậm hơn, đáng kể nhất là ngành Nông lâm nghiệp và
thủy sản từ năm 2015 đến 2017 có tốc tăng hơn so với năm trước, từ 2,41% (năm 2015) tăng lên
5,54% (năm 2017), nhưng đến năm 2018 thì chỉ giảm còn 3,67% và dự kiến còn giảm trong các
năm tới.

11


• Năng suất lao động của Việt Nam thời gian qua có sự cải thiện đáng kể theo hướng tăng đều qua các
năm. NSLĐ toàn nền kinh tế theo giá hiện hành năm 2018 ước tính đạt 102 triệu đồng/lao động
(tương đương 4.512 USD/lao động), tăng 346 USD so với năm 2017. NSLĐ năm 2018 tăng 5,93%
so với năm 2017, cao hơn nhiều mức tăng 5,29% của năm 2016, xấp xỉ mức tăng 6,02% của năm
2017 (do lực lượng lao động được bổ sung và số lao động có việc làm năm 2018 tăng cao). Bình
quân giai đoạn 2016-2018 tăng 5,75%/năm, cao hơn mức tăng 4,35%/năm của giai đoạn 2011-2015.
• Tỷ lệ lạm phát có xu hướng giảm rõ rệt, năm 2017 là dưới 5% (thấp hơn tỷ lệ lạm phát trung bình
giai đoạn 2011-2017 là 6,5%). Các chính sách vĩ mô như chính sách tiền tệ, tài khóa và thương
mại... đã trở thành yếu tố công cụ trong cơ chế vận hành mô hình tăng trưởng kinh tế và được sử
dụng để kích thích tăng trưởng kinh tế, bình ổn kinh tế vĩ mô. Cán cân thương mại cải thiện từ nhập
siêu năm 2015 (3,2 tỷ USD), năm 2016 xuất siêu 2,68 tỷ USD và năm 2017 đạt thặng dư cán cân
thương mại.
2.2

Đánh giá

2.2.1 Thành tựu
Nhìn ra nền kinh tế toàn cầu năm 2018, môi trường kinh tế trở nên kém thuận lợi hơn do
căng thẳng giữa các nền kinh tế lớn. Tăng trưởng GDP toàn cầu đang chững lại, tiến trình hồi phục
thương mại và các hoạt động chế tạo và chế biến đang mất đà.
Tuy nhiên, tăng trưởng GDP Việt Nam vẫn giữ vững và có sự tăng trưởng khá và ổn định
qua các năm. Sức cầu trong nước mạnh được phản ánh qua việc đầu tư tư nhân và tiêu dùng tư nhân
ổn định và được hỗ trợ từ mức lương cao hơn, hiệu quả sử dụng vốn được cải thiện tốt hơn qua các
năm và các chính sách tạo thuận lợi cho các dòng vốn đầu tư đã thu hút các dòng vốn mạnh mẽ đầu
tư vào trong nước.
Nền kinh tế tiếp tục chuyển dịch theo hướng tới giảm tỷ trọng nông lâm tăng tỷ trọng trong
công nghiệp và dịch vụ. Từ đó cung cấp thêm nhiều việc làm cho người lao động. Tuy nhiên vấn đề
đặt ra là việc nâng cao năng suất lao động, cải thiện cơ sở hạ tầng. Để từ đó là động lực thúc đẩy

12


nền kinh tế chung của Việt Nam phát triển, tạo lợi thế cạnh tranh với các nước trong khu vực cũng
như trên trường quốc tế trong môi trường kinh tế kém ổn định.
Chính phủ tích cực tạo điều kiện, xây dựng môi trường ổn định hỗ trợ phát triển kinh tế.
Lạm phát có xu hướng giảm rõ rệt, các chính sách vĩ mô đã được thực hiện khá thành công kính
thích cung cầu trong nước, tạo điều kiện cho nền kinh tế phát triển.
Các chỉ số TFP và ICOR được cải thiện đáng kể cho thấy nền kinh tế phát triển một cách ổn
định và đi sâu vào khai thác triệt để các yếu tố sản xuất. Từ đó ta cũng thấy nỗ lực của các doanh
nghiệp toàn ngành và chính phủ qua việc thay đổi quy trình sản xuất và quản lý, áp dụng nhiều yếu
tố công nghệ kỹ thuật cho sản phẩm, …

2.2.2 Hạn chế
Tăng trưởng kinh tế Việt Nam mặc dù tương đối cao nhưng chưa đảm bảo tăng trưởng
nhanh và bền vững. Mặc dù chất lượng tăng trưởng có sự cải thiện nhưng nếu so với mức đóng góp
của TFP vào tăng trưởng GDP của các nước trong khu vực thì vẫn có sự chênh lệch đáng kể. Bình
quân giai đoạn 2010 - 2013, TFP đóng góp khoảng 20% vào tăng trưởng của Việt Nam, trong khi
đóng góp 59% vào tăng trưởng của Thái Lan, 52% tại Philippines, 30% tại Indonesia và 28% tại
Trung Quốc.
Nguồn vốn đầu tư cho nền kinh tế nước ta hiện nay còn phụ thuộc nhiều vào nguồn vốn từ
nước ngoài, chủ yếu từ FDI và ODA, dẫn đến mất chủ động trong cơ cấu vốn và phân phối vốn.
Phần lớn vốn lại tập trung vào các ngành công nghiệp và nông nghiệp, trong khi vốn cho các ngành
dịch vụ khá khiêm tốn. Điều này ảnh hưởng rất nhiều tới quá trình cơ cấu vốn – một yếu tố của TFP,
doanh nghiệp khó có thể tiếp cận công nghệ hiện đại, từ đó ảnh hưởng đến năng suất.
Hiệu quả sử dụng vốn đầu tư còn thấp. Tuy Việt Nam trong những năm gần đây đã tăng
trưởng vượt mức kế hoạch, song ICOR của Việt Nam còn cao, hiệu quả đầu tư còn thấp so với
nhiều nền kinh tế trong khu vực. Huy động vốn ngày càng khó khăn, nhất là trong bối cảnh ngân

13


sách thâm hụt, bội chi ngân sách lớn, nợ công đang tăng nhanh, áp lực trả nợ lớn, buộc chúng ta
phải sử dụng hiệu quả từng đồng vốn đầu tư, giảm thiểu ICOR.
Chất lượng lao động được thể hiện thông qua năng suất lao động (NSLĐ) còn yếu kém. So
sánh với một số nước Đông Bắc Á và ASEAN, NSLĐ của Việt Nam vẫn ở mức thấp.Tốc độ tăng
NSLĐ vẫn còn thấp hơn khá xa so với tốc độ tăng GDP bình quân trong giai đoạn vừa qua, thấp hơn
nhiều so với tốc độ tăng lương thực tế bình quân (khoảng 12,59%/năm).Theo các chuyên gia kinh
tế, NSLĐ thấp dễ đặt Việt Nam trước nguy cơ mắc bẫy “thu nhập trung bình”, đây cũng là nguyên
nhân làm giảm sút tăng trưởng GDP của Việt Nam.
Tiến bộ khoa học kỹ thuật mới bước đầu chập chững phát triển. Những công nghệ tiên tiến
được đầu tư trong một số ngành, lĩnh vực sản xuất nước ta hiện lạc hậu khoảng 2 - 3 thế hệ công
nghệ so với các nước trong khu vực. Tình trạng này hạn chế năng lực cạnh tranh của các doanh
nghiệp và nền kinh tế trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực. Nhìn chung, năng lực
KH&CN nước ta còn yếu kém, chưa giải đáp được kịp thời nhiều vấn đề của thực tiễn đổi mới,
chưa gắn kết chặt chẽ và đáp ứng được yêu cầu của phát triển kinh tế - xã hội.
Thể chế kinh tế và thủ tục hành chính còn nhiều bất cập khiến nền kinh tế Việt Nam ở “vùng
trũng” tăng trưởng. Có nhiều rào cản về thể chế kinh tế của Việt Nam như chất lượng hệ thống pháp
luật chưa cao, thường xuyên phải sửa đổi; một số luật chồng chéo, mâu thuẫn, không phù hợp nên
khó đưa vào cuộc sống. Bên cạnh đó, bộ máy quản lý còn cồng kềnh, kém hiệu quả, còn tình trạng
“trên bảo dưới không nghe”; thủ tục hành chính còn nhiều và phức tạp; đội ngũ công chức còn thiếu
trách nhiệm, nhũng nhiễu; các chủ thể tham gia nền kinh tế còn chưa được đối xử công bằng…
Những rào cản này khiến cho việc điều hành kinh tế của Nhà nước còn khó khăn, hạn chế hiệu lực
điều hành, giảm khả năng cạnh tranh của nền kinh tế và làm lãng phí, thất thoát các nguồn lực cho
phát triển.

14


2.3

Đề xuất một số giải pháp để cải thiện mô hình TTKTTCS của Việt Nam

2.3.1 Về nguồn nhân lực
• Tiếp tục đổi mới quản lý Nhà nước về nguồn nhân lực: đổi mới các chính sách, cơ chế, công cụ phát
triển và quản lý nguồn nhân lực bao gồm các nội dung về môi trường làm việc, chính sách việc làm,
thu nhập, bảo hiểm, bảo trợ xã hội, điều kiện nhà ở và các điều kiện sinh sống, định cư, chú ý các
chính sách đối với bộ phận nhân lực chất lượng cao, nhân tài.
• Đẩy mạnh cải cách giáo dục: Đây là nhiệm vụ then chốt, giải pháp chủ yếu, là quốc sách hàng đầu
để phát triển nhân lực Việt Nam trong giai đoạn từ nay đến 2020 và những thời kỳ tiếp theo. Một số
nội dung chính trong quá trình đổi mới hệ thống giáo dục và đào tạo Việt Nam bao gồm: (i) Hoàn
thiện hệ thống giáo dục theo hướng mở, hội nhập, thúc đẩy phân tầng, phân luồng, khuyến khích
học tập suốt đời và xây dựng xã hội học tập; (ii) Phát triển mạnh và nâng cao chất lượng các trường
dạy nghề và đào tạo chuyên nghiệp. (iii) Đổi mới mạnh mẽ nội dung, khung chương trình đào tạo,
phương pháp dạy và học. (iv) Đổi mới chính sách đối với nhà giáo, cán bộ quản lý giáo dục; nâng
cao chất lượng nghiên cứu và ứng dụng khoa học và công nghệ vào giáo dục và đào tạo; (v) Phát
triển và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao là một đột phá
chiến lược. Chú trọng phát hiện, bồi dưỡng, phát huy nhân tài, đào tạo nhân lực cho phát triển kinh
tế tri thức.

• Chủ động hội nhập: để hội nhập sâu hơn vào môi trường kinh doanh và phát triển quốc tế với mục
tiêu phát triển bền vững nguồn nhân lực, chúng ta cần chủ động hội nhập với những định hướng cơ
bản là: (i) Xây dựng lộ trình nội dung, chương trình và phương pháp giáo dục và đào tạo để đạt
được khung trình độ quốc gia đã xây dựng, phù hợp chuẩn quốc tế và đặc thù Việt Nam; (ii) Tiếp
tục thực hiện chính sách hỗ trợ từ ngân sách nhà nước và huy động các nguồn lực xã hội, kêu gọi
đầu tư nước ngoài, thu hút các trường đại học, dạy nghề có đẳng cấp quốc tế vào Việt Nam hoạt
động.

15


2.3.2 Về nguồn vốn đầu tư
Để tiến hành từng bước có hiệu quả mô hình TTKTTCS thì việc huy động nguồn vốn đầu tư
lớn và sử dụng nguồn vốn có kế hoạch, có hiệu quả là một yêu cầu thiết yếu trong bối cảnh hiện
nay. Để huy động và sử dụng tốt nguồn vốn đầu tư nhóm đề xuất giải pháp như sau:

• Huy động nguồn vốn trong nước: Có những chính sách, đãi ngộ để huy động toàn bộ nguồn vốn
trong nước, bao gồm huy động qua kênh ngân sách nhà nước, qua tổ chức tín dụng – tài chính, qua
doanh nghiệp, dân cư,... Chẳng hạn như uy động qua kênh ngân sách nhà nước bằng cách tăng hiệu
quả thu thuế, phí, lệ phí; phát hành trái phiếu, kì phiếu. Phát huy tiềm năng vốn từ các nguồn tài
nguyên và tài sản công còn bỏ phí.
• Huy động nguồn vốn đầu tư nước ngoài
- Thu hút vốn FDI phải được điều chỉnh theo hướng chuyển từ thiên về số lượng sang chú
trọng nhiều hơn đến hiệu quả thu hút và nâng cao chất lượng đầu tư, tận dụng tối đa nguồn
FDI để thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng hiện đại và hiệu quả. Ưu tiên các

-

công nghệ hiện đại nhưng vẫn đảm bảo “kinh tế xanh”, thân thiện với môi trường.
FDI không chỉ ưu đãi theo ngành, lĩnh vực mà cần gắn với vùng, lãnh thổ. Bảo đảm tính chủ
động của các địa phương nhưng cần gắn với trách nhiệm giải trình, hoàn thiện hệ thống chế

-

tài để tăng cường vai trò kiểm tra, giám sát, điều chỉnh của các Bộ, cơ quan Trung ương.
Các tỉnh, thành phố cần quan tâm định hướng thu hút FDI, thực hiện tốt quyền lựa chọn nhà
đầu tư và dự án FDI để thực hiện có hiệu quả quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội
địa phương, vùng lãnh thổ.

2.3.3 Về cơ sở hạ tầng
• Tập trung đầu tư và hoàn thành những công trình quan trọng, có tính đột phá. Tranh thủ nguồn vốn
ODA để đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng, đặc biệt ưu tiên các công trình có quy mô và tầm quan
trọng lớn nhất, có lợi thế địa lý và tiềm năng phát triển lớn. Tránh đầu tư dàn trải gây kém hiệu quả
và lãng phí nguồn lực.

16


• Áp dụng khoa học công nghệ tiên tiến, hiện đại để đẩy nhanh quá trình xây dựng và phát triển cơ sở
hạ tầng nhằm rút ngắn trình độ phát triển với các nước trong khu vực ASEAN và trên thế giới.
• Nâng cao công tác quản lí, phòng chống tham nhũng trong quá trình xây dựng và quản lí vận hành
cơ sở hạ tầng.
• Vận động sự ủng hộ và đóng góp tích cực của nhân dân trong phát triển hệ thống giao thông nông
thôn, cũng như tạo sự thống nhất cơ sở hạ tầng trong cả hệ thống.

2.3.4 Về khoa học – kỹ thuật
• Hướng trọng tâm hoạt động khoa học, công nghệ vào phục vụ công nghiệp hoá, hiện đại hoá, phát
triển theo chiều sâu góp phần tăng nhanh năng suất, chất lượng, hiệu quả và nâng cao sức cạnh
tranh của nền kinh tế.

• Chú trọng phát triển các ngành, lĩnh vực khoa học, công nghệ làm nền tảng cho phát triển kinh tế tri
thức, như: Công nghệ thông tin, công nghệ sinh học, công nghệ vật liệu mới, công nghệ môi
trường... Tập trung phát triển sản phẩm công nghệ cao, có giá trị gia tăng lớn trong một số ngành,
lĩnh vực.

• Tận dụng sự hội nhập quốc tế để tiếp thu khoa học kĩ thuật của các cường quốc, chọn lọc và áp
dụng chúng sao cho phù hợp với điều kiện, mục tiêu tăng trưởng theo chiều sâu của đất nước cho
từng thời kì.
• Tận dụng nguồn vồn đầu tư FDI để được chuyển giao công nghệ tiên tiến trên thế giới và áp dụng
vào quá trình sản xuất một cách hiệu quả.

2.3.5 Về thể chế và thủ tục hành chính
• Chuyển vai trò của Nhà nước từ chủ yếu là cai trị sang vai trò kiến tạo phát triển. - Tháo gỡ khó
khăn về thể chế, phải chuyển từ nền hành chính quản lý truyền thống sang nền hành chính tạo lập
môi trường thuận lợi cho đầu tư sản xuất - kinh doanh.
• Trong nền kinh tế thị trường, hệ thống pháp luật là công cụ đưa chính sách của Nhà nước đi vào
cuộc sống. Do vậy, phải rà soát, tạo đồng bộ, kiểm soát nền kinh tế thị trường bằng pháp luật của
Nhà nước. Nhà nước bảo đảm quyền bình đẳng cho tất cả các doanh nghiệp, không phân biệt loại

17


hình, thành phần kinh tế trong cơ hội tiếp cận các nguồn lực như: vốn, tài nguyên, đất đai... và đầu
tư kinh doanh.

• Nhà nước phải khắc phục những điểm yếu của thị trường, tạo sự phát triển bền vững. Tập trung
hoàn thiện thể chế, nhất là thể chế kinh tế Nhà nước làm kế hoạch để dẫn đường cho nền kinh tế đi
theo. Cần hoàn thiện luật pháp trên từng loại thị trường, như: thị trường bất động sản, thị trường lao
động, thị trường tài chính…

18


DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Bài giảng Các mô hình tăng trưởng kinh tế, < http://timtailieu.vn/tai-lieu/bai-giang-cac-mohinh-tang-truong-kinh-te-15677/> truy cập ngày 05/05/2019.
2. Chiến lược phát triển kinh tế xã hội 2011-2020, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc Đảng
Cộng sản Việt Nam lần thứ XI;
3. Chiến lược phát triển Giáo dục 2011- 2020, ban hành theo Quyết định số 711 ngày 13 tháng
6 năm 2012 của Thủ tướng Chính phủ;
4. Chu Văn Nam, Tóm Tắt Mô Hình Solow, < https://vi.scribd.com/doc/248635490/Tom-T
%E1%BA%AFt-Mo-Hinh-Solow> truy cập ngày 08/05/2019.
5. Công Trí, 16/7/2010, Tăng trưởng theo chiều sâu: Từ cơ hội đến hành động, Báo điện tử
6. Chính phủ Nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam, < http://baochinhphu.vn/Kinhte/Tang-truong-theo-chieu-sau-Tu-co-hoi-den-hanh-dong/33678.vgp>

truy

cập

ngày

09/05/2019.
7. Nguyễn Lê Duy, 03/01/2018, Năng suất yếu tố tổng hợp (TFP), Viện năng suất Việt Nam
VNPI, < http://vnpi.vn/nang-suat-yeu-to-tong-hop-tfp.htm> truy cập ngày 09/05/2019.

8. TS. Đặng Xuân Hoan, Phát triển nguồn nhân lực Việt Nam giai đoạn 2015-2020 đáp ứng
yêu cầu đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế, Tạp chí Cộng sản
điện tử 17/04/2015.
9. TH.S Trịnh Hoàng Lâm, Một số giải pháp nâng cao chất lượng nguồn nhân lực Việt Nam
trong bối cảnh hội nhập
10. VOV, Tăng trưởng kinh tế Việt Nam cần phát triển theo chiều sâu, Website Bộ Ngoại giao
Việt Nam, < http://www.mofahcm.gov.vn/mofa/nr091019080134/ns100624075403> truy
cập ngày 08/05/2019.
11. World Bank, Cập nhật tình hình kinh tế Việt Nam 2018,
truy cập ngày
09/05/2019.
12. World Bank (2013) World development indicator.

19



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×