Tải bản đầy đủ

tiểu luận kinh tế vĩ mô 2 mối quan hệ giữa lạm phát và thất nghiệp ở việt nam giai đoạn năm 2008 đến năm 2018

1

Mục lục

Danh mục các bảng biểu
1. Biểu đồ 1.1. Lạm phát cầu kéo.
2. Biểu đồ 1.2. Lạm phát chi phí đẩy.
3. Biểu đồ 1.3. Đường Phillips trong ngắn hạn.
4. Biểu đồ 1.4. Đường Phillips mở rộng.
5. Biểu đồ 1.5. Đường Phillips trong dài hạn
6. Bảng 2.1. Tình hình lạm phát ở Việt Nam giai đoạn 2008-2018.
7. Bảng 2.2. Tình hình thất nghiệp ở Việt Nam giai đoạn 2008-2018.
8. Biểu đồ 2.1. Lạm phát và thất nghiệp ở Việt Nam giai đoạn 2008-2018.
9. Hình 1A. Mối quan hệ giữa lạm phát và thất nghiệp ở Việt Nam (không có lạm phát kì
vọng).
10. Hình 1B. Mối quan hệ giữa lạm phát và thất nghiệp ở Việt Nam (có lạm phát kì
vọng).


2


CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÍ THUYẾT
1.1. Lạm phát và các vấn đề liên quan
1.1.1. Khái niệm
Trong kinh tế học, lạm phát là sự tăng lên theo thời gian của mức giá chung của nền kinh
tế. Trong một nền kinh tế, lạm phát là sự mất giá trị thị trường hay giảm sức mua của đồng
tiền. Khi so sánh với các nền kinh tế khác thì lạm phát là sự phá giá tiền tệ của một loại tiền tệ so
với các loại tiền tệ khác. Ngược lại với lạm phát là giảm phát.
1.1.2. Nguyên nhân
1.1.2.1. Lạm phát do cầu kéo
Khi nhu cầu của thị trường về một mặt hàng nào đó tăng lên sẽ kéo theo sự tăng lên về
giá cả của mặt hàng đó. Giá cả của các mặt hàng khác cũng theo đó leo thang, dẫn đến sự tăng
giá của hầu hết các loại hàng hóa trên thị trường. Lạm phát do sự tăng lên về cầu (nhu cầu tiêu
dùng của thị trường tăng) được gọi là “lạm phát do cầu kéo”.
P

ASLR

ASSR

P1
Po

AD1
ADo
Y*
Y1

Y

Đồ thị 1.1. Lạm phát cầu kéo


3

1.1.2.2. Lạm phát do chi phí đẩy
Chi phí đẩy của các doanh nghiệp bao gồm tiền lương, giá cả nguyên liệu đầu vào, máy
móc, chi phí bảo hiểm cho công nhân, thuế… Khi giá cả của một hoặc vài yếu tố này tăng lên thì
tổng chi phí sản xuất của các xí nghiệp chắc chắn cũng tăng lên, vì thế mà giá thành sản phẩm
cũng sẽ tăng lên nhằm bảo toàn lợi nhuận và thế là mức giá chung của toàn thể nền kinh tế cũng
sẽ tăng được gọi là “lạm phát do chi phí đẩy”.


AS1
P

ASo

P1
Po
AD
Y1 Yo

Y

Đồ thị 1.2. Lạm phát chi phí đẩy
1.1.3. Giải pháp
- Thực hiện chính sách tiền tệ thắt chặt
- Cắt giảm đầu tư công và chi phí thường xuyên của các cơ quan sử dụng ngân sách, kiểm
soát chặt chẽ đầu tư của các doanh nghiệp nhà nước, cố gắng giảm tỷ lệ thâm hụt ngân sách.
- Tập trung sức phát triển sản xuất công nghiệp, nông nghiệp, khắc phục nhanh hậu quả
của thời tiết và dịch bệnh để tăng sản lượng lương thực, thực phẩm.
- Bảo đảm cân đối cung cầu về hàng hoá, đẩy mạnh xuất khẩu, giảm nhập siêu.
- Triệt để tiết kiệm trong sản xuất và tiêu dùng.
- Tăng cường công tác quản lý thị trường, kiểm soát giá.
1.2. Thất nghiệp và các vấn đề liên quan
1.2.1. Khái niệm
Thất nghiệp là tình trạng những người trong độ tuổi lao động, có sức khỏe, hiện đang
chưa có việc làm nhưng đang tích cực tìm kiếm việc làm hoặc đang chờ đợi trở lại làm việc.
1.2.2. Nguyên nhân
Các học thuyết kinh tế học giải thích thất nghiệp theo các cách khác nhau.


4

- Thất nghiệp tạm thời: bao gồm những người đang đi tìm việc, xuất thân từ người bỏ
việc tìm việc mới, mới gia nhập hoặc quay lại thị trường lao động.
- Thất nghiệp cơ cấu: xảy ra khi có sự mất cân đối về cung hay cầu lao động, gắn với sự
thay đổi của cơ cấu kinh tế và khả năng điều chỉnh cung trên thị trường lao động.
- Thất nghiệp chu kì: xảy ra khi tổng cầu về hàng hóa và dịch vụ giảm, buộc các doanh
nghiệp phải thu hẹp sản xuất.
- Thất nghiệp theo lí thuyết cổ điển: xảy ra do việc ấn định tiền lương tối thiểu, làm cho
cung lao động lớn hơn cầu lao động.
1.2.3. Giải pháp
1.2.3.1. Đối với thất nghiệp chu kì:
- Thực hiện chính sách tài khóa mở rộng và chính sách tiền tệ mở rộng.
- Tăng tổng cầu.
1.2.3.2. Đối với thất nghiệp tự nhiên:
- Phát triển thị trường lao động.
- Tăng cường đào tạo nguồn nhân lực.
- Cắt giảm trợ cấp thất nghiệp, giảm thuế thu nhập.
- Chuyển dịch cơ cấu kinh tế, khuyến khích đầu tư.
1.3. Mối quan hệ giữa lạm phát và thất nghiệp
1.3.1 Trong ngắn hạn
1.3.1.1 Đường cong Phillips ban đầu

Qua kết quả thực nghiệm trên cơ sở hàng loạt số liệu thống kê từ nhiều nền kinh tế
trên thế giới , mối quan hệ tỷ lệ nghịch giữa tỷ lệ thất nghiệp và tỷ lệ lạm phát đã được
kiểm chứng. Điều này có nghĩa là có thể đánh đổi giữa thất nghiệp và lạm phát (chấp
nhận tăng tỷ lệ thất nghiệp để giảm thiểu lạm phát và ngược lại. )

π

Đường Phillips có dạng: π = – β×(u- un )

A

ΠA
ΠB
 uA

Trong đó:
u : Tỷ lệ thất nghiệp thực tế
un: Tỷ lệ thất nghiệp tự nhiên
β : Độ dốc của đường Phillips

B

uB

Đồ thị 1.3 Đường Phillips ban đầu

u


5

Nhận xét :


π = 0 khi thất nghiệp bằng với thất nghiệp tự nhiên



β càng lớn cho thấy lạm phát biến động càng nhiều thì thất nghiệp biến động càng
ít ➝ hi sinh thất nghiệp để kiềm chế lạm phát.

1.3.1.2 Đường cong Phillips mở rộng :

Đường cong Phillips được mở rộng khi có tỷ lệ lạm phát dự kiến. Lúc này đường
cong Phillips có dạng : π = πe – β×(u- un ) ( πe : Tỷ lệ lạm phát dự kiến )
π
PC2
Đồ thị 1.4. Đường Phillips mở rộng

PC1

u
un

Nhận xét : Đường Phillips mở rộng cho thấy :


Khi tỷ lệ thất nghiệp thực tế bằng với tỷ lệ thất nghiệp tự nhiên (u = un) thì tỷ lệ
lạm phát sẽ bằng với tỷ lệ lạm phát dự kiến (π = πe )



Khi xảy ra các cú sốc kinh tế:

- Nếu xảy ra lạm phát do “cầu kéo” : tổng cầu tăng ➝ sản lượng tăng ➝ lạm phát
tăng, thất nghiệp giảm và ngược lại. ➝ Có sự đánh đổi giữa lạm phát và thất nghiệp
- Nếu xảy ra lạm phát do “chi phí đẩy”: CPSX tăng ➝ đẩy giá cả tăng ➝ lạm phát
tăng nhưng sản lượng giảm ➝ việc làm giảm. Ngược lại, cú sốc cung thuận lợi sẽ làm π
giảm. ➝ Không có sự đánh đổi giữa lạm phát và thất nghiệp
1.3.2 Đường cong Phillips dài hạn

Trong dài hạn tỷ lệ lạm phát thực tế bằng tỷ lệ lạm phát dự kiến nên tỷ lệ thất
nghiệp thực tế bằng với tỷ lệ thất nghiệp tự nhiên cho dù tỷ lệ lạm phát có thay đổi như
thế nào. Do đó đồ thị đường Phillips dài hạn là một đường thẳng đứng.
LRPC

π

C

Đồ thị 1.4: Đường Phillips dài hạn

B
PC1
A
u= un

u
PC0


6

Kết luận :
- Trong ngắn hạn có sự đánh đổi tạm thời giữa lạm phát và thất nghiệp trong thời
gian nền kinh tế đang tự điều chỉnh bởi lạm phát do “cầu kéo”, nhưng không có sự đánh
đổi bởi lạm phát do “chi phí đẩy”.
- Trong dài hạn về cơ bản không tồn tại mối quan hệ giữa lạm phát và thất nghiệp.

CHƯƠNG 2. NGHIÊN CỨU THỰC TRẠNG MỐI QUAN HỆ GIỮA
LẠM PHÁT VÀ THẤT NGHIỆP Ở VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2008-2018
2.1. Thực trạng lạm phát và thất nghiệp giai đoạn 2008-2018
2.1.1. Thực trạng lạm phát
Theo số liệu của tổng cụ thống kê Việt Nam, con số thực về CPI bình quân năm tại Việt
Nam giai đoạn 2008-2018 được tổng hợp tại bảng sau:

Năm

2008

2009

2010

2011

2012

2013

2014

2015

2016

2017

2018

CPI
(%)

22,97

6,88

9,19

18,58

9,21

6,60

4,09

0,63

2,66

3,53

3,54

Bảng 2.1. Chỉ số lạm phát trung bình năm của Việt Nam giai đoạn 2008-2018 (đơn vị:%)
(Nguồn: tổng cục thống kê Việt Nam)
Có thể thấy từ những số liệu trên, lạm phát Việt Nam giai đoạn này không ổn định. Năm
2008, lạm phát Việt Nam đạt con số lỷ lục 22,97%; đến năm 2009 rơi xuống mức 6,88%. Năm
2010,CPI bình quân năm lại tăng và đạt mức 2 con số 18,58% vào năm 2011. Những năm tiếp
theo, CPI bình quân năm tại Việt Nam có xu hướng giảm dần và thấp nhất vào năm 2015 với
mức 0,63%. Những năm gần đây 2016-1018, chỉ số lạm phát tại Việt Nam được kiểm soát khá
tốt ở mức dưới 5% và có xu hướng ổn định hơn những năm trước đó, với con số lần lượt 2,66%,
3,53%, 3,54% tương ứng năm 2016, 2017, 2018.
Giai đoạn 2008-2018, có thể thấy lạm phát trung bình năm của Việt Nam không ổn định,
liên tục tăng giảm. Hai thời điểm chỉ số về lạm phát đạt 2 chữ số cao nhất vào năm 2008 và 2011
và những năm gần đây khá đều đặn ở mức nhỏ hơn 5%. Giai đoạn 2008-2018, dù mức lạm phát
liên tục không ổn định nhưng tăng trưởng kinh tế Việt Nam vẫn khá đều đặn ở mức trong khoảng
5,25% (thấp nhất vào năm 2012) đến 7,08% (cao nhất năm 2018), đạt trung bình 6,1% trong giai
đoạn này. Những năm 2008-2014, lạm phát liên tục tăng giảm và tăng trưởng GDP thời kỹ này
cũng không ổn định với năm 2010, 2011 trên 6% và các năm còn lại khoảng 5,25% đến 5,89%.
Những năm gần đây, khi mức lạm phát ổn định dưới 5%, đi cùng với đó tăng trưởng GDP cũng
đều đặn mức trên 6% và cao nhất năm 2018 với 7,08%. (Số liệu tăng trưởng GDP của tổng cục
thống kê).


7

2.1.2. Thực trạng thất nghiệp

Tỷ
lệ
thất
nghiệp
trong
độ tuổi
lao
động
Tỷ
lệ
thiếu
việc
làm
trong
độ tuổi
lao
động

2008

2009

2010

2011

2012

2013

2014

2015

2016

2017

2018

Chung

2,38

2,9

2,88

2,27

2,74

2,75

2,45

2,33

2,30

2,24

1,46

Thành
thị

4,65

4,64

4,43

3,6

1,56

1,48

1,18

3,37

3,23

3,18

0,69

Nông
thôn

1,53

2,25

2,27

1,71

3,27

3,3

3,01

1,82

1,84

1,78

1,85

Chung

5,1

5,61

4,5

3,34

1,96

2,18

2,08

1,89

1,66

1,63

2,19

Thành
thị

2,3

3,33

2,04

1,82

3,21

3,59

3,43

0,84

0,73

0,85

3,10

Nông
thôn

6,1

6,51

5,47

1,96

1,39

1,54

1,47

2,39

2,12

2,07

1,74

Bảng 2.2. Tỉ lệ thất nghiệp ở Việt Nam giai đoạn 2008-2018 (Đơn vị: %)
(Nguồn: Tổng cục thống kê Việt Nam)

Nhìn chung, tỷ lệ thất nghiệp trong độ tuổi lao động ở Việt Nam có sự biến động theo
từng giai đoạn:
Trong giai đoạn 2008 – 2010, do khủng hoảng kinh tế toàn cầu năm 2008 đã ảnh hưởng
tiêu cực đến nền kinh tế nước ta, tốc độ tăng trưởng kinh tế bị giảm sút, điều này làm cho tỷ lệ
thất nghiệp ở nước ta giảm từ 2,38% đến 2,9%.
Trong giai đoạn 2011 – 2014, tỷ lệ thất nghiệp trong độ tuổi lao động ở khu vực thành thị
của nước ta là 1,18%. Đây là tỷ lệ thất nghiệp ở mức thấp nhất trong vòng nhiều năm so với các
giai đoạn trước đây.
Trong giai đoạn 2015 – 2017, tỷ lệ thất nghiệp của lao động trong độ tuổi của Việt Nam
thuộc loại thấp (2,3%), nhưng về số tuyệt đối cũng đã lên tới 1,1 triệu người. Theo số liệu thống
kê, lao động từ 15 tuổi trở lên đang làm việc so với dân số đạt 57,5%, tỷ lệ phụ thuộc là 42,5%.
Như vậy, Việt Nam vẫn còn đang trong thời kỳ có cơ cấu “dân số vàng”, đây vẫn là cơ hội để tận
dụng và khai thác nguồn lao động nếu có sự quan tâm và có chính sách phù hợp để nâng cao chất
lượng nguồn nhân lực đáp ứng nhu cầu thị trường lao động, tăng năng suất lao động, tạo việc
làm cho lực lượng lao động trẻ, bảo đảm an sinh xã hội cho người cao tuổi.
Trong năm 2018, tỷ lệ thất nghiệp chung ước tính là 2,0%, trong đó khu vực thành thị là
2,95%; khu vực nông thôn là 1,55%. Ông Đào Quang Vinh, Viện trưởng Viện nghiên cứu Lao
động Xã hội cho biết, tuy tỷ lệ thất nghiệp của lao động giảm, nhưng theo dõi 3 quý liên tiếp cho
thấy, tỷ lệ thất nghiệp dài hạn có xu hướng gia tăng. Nguyên nhân là do, công việc mới đòi hòi
phải có tay nghề, nên lao động phải đi đào tạo với thời gian dài hơn. Bên cạnh đó, thị trường lao
động có xu hướng ổn định, ít lao động nhảy việc hơn, nên việc tuyển dụng lao động cũng khắt
khe hơn.


8

2.2. Mối quan hệ giữa lạm phát và thất nghiệp ở Việt Nam giai đoạn 2008-2018
2.2.1. Thực trạng

Đồ thị 2.1. Lạm phát và thất nghiệp Việt Nam giai đoạn 2008-2018
Mối quan hệ giữa lạm phát và thất nghiệp ở Việt Nam giai đoạn 2008-2018 thể hiện rõ
chu kì của một nền kinh tế từ suy thoái chuyển sang phục hồi và tăng trưởng.
Trong ngắn hạn, mối quan hệ giữa lạm phát và thất nghiệp ở Việt Nam luôn đúng với lí
thuyết đường cong Phillips cho rằng mối quan hệ giữa lạm phát và thất nghiệp là mối quan hệ
đánh đổi trong ngắn hạn. Minh chứng rõ ràng nhất trong giai đoạn hai 2008-2011. Hai năm
2008-2009 do ảnh hưởng của khủng hoảng kinh tế thế giới, từ mức lạm phát kỉ lục 22,97% giảm
mạnh còn 6,88%, tỉ lệ thất nghiệp tăng mạnh từ 2,38% lên 2,9%. Giai đoạn 2010-2011, khi lạm
phát tăng đột biến từ 9,19% lên 18,58% thì tỉ lệ thất nghiệp cũng giảm mạnh từ 2,88% xuống
2,2%. Các giai đoạn sau tuy sự đánh đổi không rõ ràng, nhưng khi lạm phát tăng thì tỉ lệ thất
nghiệp sẽ giảm và ngược lại.
Nghiên cứu mối quan hệ giữa lạm phát và thất nghiệp ở Việt Nam giai đoạn này, Ths.Lê
Thị Xoan - ĐH Tài nguyên môi trường TPHCM đưa ra mô hình như sau:
TH1: Không có lạm phát kì vọng

Phương trình giữa lạm phát và thất nghiệp là:
TH2: Có lạm phát kì vọng


9

Phương trình mối quan hệ của lạm phát và thất nghiệp như sau:

Dễ thấy, mối quan hệ giữa lạm phát và thất nghiệp nếu không xét tới lạm phát kì vọng là
mối quan hệ tỉ lệ thuận, nghĩa là lạm phát tăng đồng thời thất nghiệp cũng tăng. Tuy nhiên, thực
tế Việt Nam cho thấy tỉ lệ lạm phát luôn dương, nghĩa là có xét đến lạm phát kì vọng.
Phương trình ở TH2 đã thể hiện rõ mối quan hệ đánh đổi (hay quan hệ tỉ lệ nghịch) giữa
lạm phát và thất nghiệp, nói cách khác là khi lạm phát tăng, thất nghiệp sẽ giảm. Như vậy, mối
quan hệ tỉ lệ nghịch chủ yếu là do người dân có kì vọng về lạm phát, họ đều tin rằng mức lạm
phát năm tới sẽ xấp xỉ mức đã xảy ra nên mọi hoạt động đều tính tới yếu tố lạm phát, tạo đà cho
lạm phát tăng.
Xét riêng năm 2018 tại Việt Nam, tỉ lệ thất nghiệp quý I năm 2018 là 1.48% giảm 0.3%
so với cùng kì năm trước trong khi lạm phát bình quân 2018 tăng 1.48% so với năm 2017. Như
vậy có thể thấy, từ sau cuộc khủng hoảng năm 2008-2009, cho tới nay, Việt Nam có dấu hiệu tích
cực trong việc đưa tỉ lệ thất nghiệp ổn định về mức tự nhiên song tỉ lệ lạm phát vẫn tăng đồng
thời biến động khá phức tạp.
Như vậy, ta có thể đi tới kết luận: Trong giai đoạn 2008-2018, xét theo thực tế có tính tới
lạm phát kì vọng, lạm phát và thất nghiệp có mối quan hệ tỉ lệ nghịch, song sự đánh đổi giữa 2 tỉ
lệ này không thực sự rõ rệt.
2.2.2. Đánh giá tổng quan mối quan hệ giữa lạm phát và thất nghiệp
Trong 10 năm 2008-2018, nền kinh tế Việt Nam đã vươn lên mạnh mẽ từ sau cuộc khủng
hoảng tài chính toàn cầu, song song với nó là sự biến động không ngừng của tỉ lệ lạm phát và
thất nghiệp. Dưới đây là biến động cụ thể của từng thời kì:
2.2.2.1. Giai đoạn 2008-2011
Trong giai đoạn này, nền kinh tế Việt Nam lâm vào tình trạng suy thoái trầm trọng do
cuộc khủng hoảng tài chính thế giới. Thời kì này chứng kiến lạm phát đỉnh điểm vào năm 2008
lên tới 22,97% và sự bùng nổ dữ dội một lần nữa của lạm phát năm 2011 đạt 18,58%. Lạm phát
thay đổi rất phức tạp gây khó khăn cho nhà hoạch định chính sách. Đây là những dấu hiệu rõ


10

ràng cho thấy lạm phát là vấn đề hệ trọng của quốc gia trong giai đoạn này. Đồng thời, thực trạng
thất nghiệp cũng rất đáng lo ngại do suy giảm kinh tế nên không ít doanh nghiệp cắt giảm lao
động. Tỉ lệ thất nghiệp cao nhất lên tới 4.66% nhưng có dấu hiệu giảm trong 2 năm 2010-2011
nhờ ổn định một phần kinh tế sau khủng hoảng. Như vậy, giai đoạn 2008-2011, mối quan hệ
đánh đổi giữa lạm phát và thất nghiệp tương đối rõ nét trừ năm 2008-2009.
Đứng trước tình hình lạm phát không ổn định và vẫn duy trì ở mức cao, chính phủ đã có
biện pháp can thiệp bằng thắt chặt chính sách tiền tệ và điều chỉnh tín dụng và cung tiền. Mặc dù
tăng trưởng GDP năm 2009 giảm so với 2008, song con số này đạt được ngoài mong đợi và là
dấu hiệu tích cực cho việc phục hồi nền kinh tế. Cứ như vậy, trong 2 năm tiếp theo, tăng trưởng
kinh tế đã đạt được sự ổn định với mức tăng trưởng GDP đạt tới đầu 6.
2.2.2.2. Giai đoạn 2012-2015
Nền kinh tế Việt Nam giai đoạn này chưa thực sự thoát khỏi ảnh hưởng của cuộc khủng
hoảng. Năm 2012-2013, lạm phát giảm từ 9.21% xuống còn 6.6%, đồng thời thất nghiệp tăng
nhẹ 1%. Có thể thấy lạm phát và thất nghiệp tỉ lệ nghịch rõ nét trong ngắn hạn. Mức tăng trưởng
kinh tế trong năm 2013 đã tăng, dù chưa nhiều nhưng vẫn có tín hiệu phục hồi. Chính phủ vẫn
tiếp tục ưu tiên kiềm chế lạm phát nên mức tăng này khá hợp lí. Tuy nhiên nếu xét cả giai đoạn
thì có thể thấy lạm phát liên tục giảm, duy trì ở mức 1 con số, nhưng tỉ lệ thất nghiệp không thay
đổi nhiều, ổn định từ 2.33% đến 2.75%. Năm 2015, tăng trưởng GDP khá đáng chú ý khi đạt
mức 6.68%, báo hiệu một nền kinh tế đang phục hồi rõ nét do sự đúng đắn, kịp thời trong chính
sách chính phủ. Như vậy, xét trong 4 năm liền thì mối quan hệ đánh đổi của lạm phát và thất
nghiệp lại không thật sự rõ nét, song, điều này không ảnh hưởng nhiều tới tăng trưởng và ổn định
nền kinh tế.
2.2.2.3.Giai đoạn 2016-2018
Giai đoạn này thể hiện rõ nét mối quan hệ tỉ lệ nghịch giữa lạm phát và thất nghiệp trong
10 năm trở lại đây. Trong 3 năm, tỉ lệ lạm phát liên tục tăng nhưng vẫn duy trì ở mức thấp, xét
theo góc nhìn khoa học thì tỉ lệ này khá lí tưởng, dao động từ 2.6%-3.54%. Trong khi đó, tỉ lệ
thất nghiệp cũng giảm đáng kể từ 2.3% -1.46%, xoay quanh mức thất nghiệp tự nhiên. Dễ thấy
khi lạm phát tăng liên tục thì thất nghiệp cũng không ngừng giảm, sự đánh đổi này thể hiện khá
rõ. Cũng trong thời kì này, nên kinh tế đạt mức tăng trưởng mạnh mẽ, khi tăng trưởng GDP ngày
càng cao, lần lượt 3 năm là 6.21%, 6.81% và 7.1%. Tình hình kinh tế dần đi vào ổn định, hàm ý
rằng chính sách chính phủ đang ngày càng có hiệu quả. Cứ như vậy, kinh tế sẽ trên đà phát triển
mạnh mẽ.
Kết luận: Như vậy, mối quan hệ giữa lạm phát và thất nghiệp tại Việt Nam phù hợp với
đường cong Phillips ngắn hạn và dài hạn. Trong ngắn hạn, lạm phát và thất nghiệp thể hiện sự
đánh đổi rõ rệt, nhưng trong dài hạn, lạm phát và thất nghiệp không tác động tới nhau nhiều mà
tỉ lệ thất nghiệp sẽ xoay quanh mức thất nghiệp tự nhiên. Như vậy, chính phủ sẽ phải chú ý điều
chỉnh và kết hợp chính sách tiền tệ, chính sách tài khóa có hiệu quả để ổn định tỉ lệ thất nghiệp
và kiềm chế lạm phát không quá cao.


11

2.2.3. Các nhân tố ảnh hưởng đến mối quan hệ giữa lạm phát và thất nghiệp ở Việt Nam
2.3.1. Ảnh hưởng từ môi trường quốc tế
- Khủng hoảng nền kinh tế toàn cầu
Cuộc khủng hoảng kinh tế Mỹ bùng phát vào năm 2008 ảnh hưởng mạnh đến việc kiềm
chế lạm phát đồng thời tạo ra công ăn việc làm cho thị trường Việt Nam.
Do phải nhập khẩu nguyên vật liệu trên thị trường thế giới nên khi giá cả nguyên vật liệu
tăng sẽ tác động trực tiếp khiến giá cả hàng hóa trong nước tăng theo. Việc chi phí tăng này ảnh
hưởng đến việc sản xuất kinh doanh khiến giảm tăng trưởng, tăng tỉ lệ thất nghiệp. Cùng với giá
cả tăng chính là việc lạm phát tăng theo ( chính là lạm phát do chi phí đẩy).
- Xu hướng toàn cầu hóa, quốc tế hóa nền kinh tế thế giới
Việt Nam ngày càng tham gia vào nhiều tổ chức, hiệp ước trên thế giới khiến cho nền kinh tế
trong nước bị ảnh hưởng rất lớn bởi các cuộc khủng hoảng và lạm phát của các nước trên thế
giới.
2.3.2. Ảnh hưởng đến từ môi trường trong nước
- Năng lực quản lý và điều hành vĩ mô của Chính phủ
Các chính sách mà Nhà nước đưa ra chính là công cụ điều hành đồng thời cũng là những yếu tố
quan trong nhất ảnh hưởng đến mối quan hệ của lạm phát và thất nghiệp: Chính sách tiền tệ có
tác động nhanh, mạnh và hiệu quả hơn trong việc kiềm chế lạm phát; Chính sách tài khóa tác
động trực tiếp đến vấn đề tăng trưởng và việc làm tuy nhiên tác động của chính sách tài khóa thắt
chặt và mở rộng có những mặt lợi và hạn chế riêng nên phải áp dụng theo từng thời kì.
- Các kì vọng của người dân và doanh nghiệp
Lạm phát kì vọng hay lạm phát dự kiến của người dân và doanh nghiệp nếu cao sẽ dẫn
đến lạm phát năm tiếp theo cao và ngược lại.
-Giá cả của các mặt hàng nguyên vật liệu, lương thực, thực phẩm
Lương thực, thực phẩm là hai mặt hàng thiết yếu trong giỏ hàng hóa do đó có tác động trực tiếp
đến lạm phát. Cùng với đó do ảnh hưởng bởi sự biến đổi của hàng hóa mà VN nhập khẩu trên thị
trường thế giới cũng khiến cho chi phí của một loạt ngành sản xuất và sản phẩm phải tăng lên.

CHƯƠNG 3. LỰA CHỌN CHÍNH SÁCH CHO VIỆT NAM TỪ MỐI
QUAN HỆ GIỮA LẠM PHÁT VÀ THẤT NGHIỆP
3.1. Giai đoạn 2008-2015: ưu tiên kiềm chế lạm phát
Xét trong hoàn cảnh giai đoạn 2008-2010, nền kinh tế đang nóng lên hàng ngày và trong
điều kiện những gì hiện đã diễn ra ở Việt Nam, khi lạm phát ở mức đỉnh điểm (22,97%) thì
không có giải pháp nào tốt hơn là ưu tiên chống lạm phát cao. Sau khi thực hiện chính sách tiền
tệ thắt chặt, trong 2 năm 2009 và 2010, lạm phát xuống mức một con số (lần lượt là 6,88% và
9,19%). Tuy nhiên, đến năm 2011, lạm phát lại tăng vọt lên mức 18,58%. Có thể thấy, tình trạng
lạm phát nước ta giai đoạn này đang có diễn biến hết sức phức tạp, việc kiềm chế lạm phát được
đặt lên làm mục tiêu kinh tế hàng đầu vì lạm phát cao và kéo dài không những triệt tiêu tăng
trưởng, mà nguy hiểm hơn, nó còn là tác nhân chính bơm căng, xé rách và cuối cùng làm nổ tung
cái “bong bóng kinh tế” hiện đang ngày càng phồng to, gây tác hại nhiều mặt về kinh tế - xã hội
không chỉ trong ngắn hạn, mà cả trung và dài hạn. Muốn tăng trưởng cao và bền vững thì điều
kiện tiên quyết là không thể để lạm phát tiếp tục kéo dài và ngày càng trầm trọng.


12

Để giảm tốc độ lạm phát trong giai đoạn này, một loạt các biện pháp được áp dụng:
Một là, thực hiện chính sách tiền tệ thắt chặt.
Hai là, cắt giảm đầu tư công và chi phí thường xuyên của các cơ quan sử dụng ngân sách,
kiểm soát chặt chẽ đầu tư của các doanh nghiệp nhà nước, cố gắng giảm tỷ lệ thâm hụt ngân
sách.
Ba là, tập trung sức phát triển sản xuất công nghiệp, nông nghiệp, khắc phục nhanh hậu
quả của thời tiết và dịch bệnh để tăng sản lượng lương thực, thực phẩm.
Bốn là, bảo đảm cân đối cung cầu về hàng hoá, đẩy mạnh xuất khẩu, giảm nhập siêu.
Năm là, triệt để tiết kiệm trong sản xuất và tiêu dùng.
Sáu là, tăng cường công tác quản lý thị trường, kiểm soát việc chấp hành pháp luật nhà
nước về giá
Bảy là, mở rộng việc thực hiện các chính sách về an sinh xã hội.
Sau một loạt các nỗ lực bằng việc thực hiện chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ thắt
chặt, tỷ lệ lạm phát từ mức 18,13% năm 2011 giảm xuống còn 6,81% năm 2012; đạt mức 6,04%
năm 2013. Tỷ lệ này giảm mạnh ở mức 1,84% vào năm 2014 và năm 2015 được kiểm soát ở
mức 0,63%. Giai đoạn 2011-2015 ghi nhận thời kì lạm phát duy trì ở mức ổn định và thấp nhất.
3.2. Giai đoạn 2016-2018: ưu tiên giảm thất nghiệp và duy trì ổn định tỉ lệ lạm phát
Sau một thời gian dài thực hiện các biện pháp nhằm kiểm soát lạm phát, đưa lạm phát về
con số thấp nhất trong vòng nhiều năm trở lại đây vào năm 2015 (0,63%), nền kinh tế Việt Nam
đã có sự đánh đổi rõ rệt khi tăng trưởng kinh tế giai đoạn 2011-2015 trung bình chỉ đạt 5,91%,
thấp hơn con số 6,32% của giai đoạn 2006-2010, khi nên kinh tế trải qua khủng hoảng. Tỉ lệ thất
nghiệp trong giai đoạn có xu hướng giảm nhưng số người thất nghiệp hằng năm vẫn tăng và có
giá trị tuyệt đối lớn. Ước tính hằng năm ở nước ta có tới khoảng 1,1 triệu người thất nghiệp, một
con số tương đối lớn so với một nước phát triển và có nhiều ngành nghề sử dụng lực lượng lao
động lớn như ở nước ta. Đặc biệt, tỉ lệ thanh niên thất nghiệp tương đối cao (7%), tỉ lệ lao động
thành thị và lao động có bằng cấp thất nghiệp cao. Việc lao động chủ yếu làm việc trong khu vực
nông nghiệp là một hạn chế do GDP ở khu vực này làm ra thấp. Chất lượng lao động ở Việt Nam
thấp, chưa đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế. Chất lượng việc làm thấp, lao động tự làm việc,
lao động gia đình không hưởng lương và lao động làm việc trong các cơ sở sản xuất kinh doanh
không chính thức, vẫn là ba nhóm lao động chủ đạo của nền kinh tế. Điều này gây ảnh hưởng
không nhỏ đến tăng trưởng kinh tế nước taTrong bối cảnh toàn cầu hóa, khi Việt Nam gia nhập
các tổ chức và hiệp ước quốc tế, thị trường nói chung và thị trường lao động nói riêng ngày càng
mở cửa, lao động Việt Nam ngày càng có nhiều lựa chọn đồng thời cũng gặp phải sự cạnh tranh
gay gắt hơn thì vấn đề ưu tiên giảm tỉ lệ thất nghiệp, nâng cao chất lượng lao động được đặt lên
trên.


13

Đồng thời phối hợp giữa chính sách tiền tệ với chính sách tài khoá và một số chính sách
kinh tế vĩ mô khác. Hiện nay trong bối cảnh kinh tế thế giới sụt giảm, thì việc điều hành chính
sách tiền tệ trong quan hệ phối hợp chính sách tài khoá nhằm mục tiêu góp phần ngăn chặn nguy
cơ sụt giảm nền kinh tế trong nước, nhưng đồng thời kiểm soát được lạm phát. Mục tiêu nước ra
duy trì lạm phát dưới 4% vẫn đang được nhà nước nỗ lực thực hiện
Các biện pháp giảm thất nghiệp ở nước ta có thể kể đến:
Một là, tiếp tục hoàn thiện thể chế thị trường lao động, tạo khung pháp lý phù hợp, bảo
đảm đối xử bình đẳng giữa người sử dụng lao động và người lao động.
Hai là, phê chuẩn và thực hiện các công ước của Tổ chức Lao động quốc tế (ILO) liên
quan đến thị trường lao động nước ta, đặc biệt là nước ta hiện nay đã là thành viên chính thức
của Tổ chức Thương mại quốc tế.
Ba là, phát triển mạnh khu vực dân doanh, trước hết là phát triển các doanh nghiệp vừa
và nhỏ để nhanh chóng tạo ra việc làm và khả năng thu hút lao động vào sản suất.
Bốn là, Nhà nước cùng các doanh nghiệp quan tâm đào tạo công nhân có trình độ cao,
trình độ lành nghề, trình độ văn hóa đối với lao động trẻ, nhất là ở khu vực nông thôn để cung
ứng cho các vùng kinh tế trọng điểm, các khu công nghiệp, khu du lịch, dịch vụ và xuất khẩu lao
động đang có nhu cầu thu hút mạnh.
Năm là, mở rộng và phát triển thị trường lao động ngoài nước.
Sáu là, mở rộng và nâng cấp hệ thống dạy nghề cho người lao động ở 3 cấp trình độ (sơ
cấp nghề, trung cấp nghề và cao đẳng nghề).
Bảy là, đa dạng hóa các loại hình thị trường, các lớp dạy nghề của Nhà nước, của tư nhân
và quốc tế. Áp dụng cơ chế thị trường trong dạy nghề, dần dần hình thành thị trường phù hợp với
pháp luật.

Danh mục tài liệu tham khảo
1. Chính phủ, 2008, Nghị quyết số 10/2008/NQ-CP về các biện pháp kiềm chế lạm phát,
ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm an sinh xã hội và tăng trưởng bền vững.
2. Chính phủ, 2011, Nghị quyết số 11/NQ-CP về những giải pháp chủ yếu tập trung kiềm
chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm an sinh xã hội.
3. PGS.TS Nguyễn Văn Công, 2008, Bài giảng và thực hành lý thuyết kinh tế, NXB Lao
động, 236-243.


14

4. TS. Đặng Văn Dân và Vũ Đức Bình, 2015, "Mối quan hệ giữa lạm phát và thất nghiệp
ở Việt Nam", Tạp chí Vĩ mô, số 10, 3-7.
5. Phạm Sỹ An, 2008, "Mối quan hệ giữa lạm phát và thất nghiệp ở Việt Nam", tạp chí
Quản lí kinh tế.
6. Lê Thị Xoan, 2018, "Mối quan hệ giữa lạm phát với thất nghiệp và thực tế nghiên cứu
tại Việt Nam", 10/5/2019, http://tapchitaichinh.vn.
7. http://kinhtevadubao.vn, "Tỷ lệ thất nghiệp cao nhất vẫn ở nhóm có trình độ cao đẳng",
11/5/2019, http://kinhtevadubao.vn/chi-tiet/2-13794-quy-iv2018---ty-le-that-nghiep-cao-nhatvan-o-nhom-co-trinh-do-cao-dang.html.
8. https://www.gso.gov.vn, "Tình hình kinh tế-xã hội năm 2008", 11/5/2019,
https://www.gso.gov.vn/Modules/Doc_Download.aspx?DocID=23829.
9. https://www.gso.gov.vn, "Tình hình kinh tế-xã hội năm 2018", 12/5/2019,
https://www.gso.gov.vn/default.aspx?tabid=621&ItemID=19037.


15



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×