Tải bản đầy đủ

tiểu luận kinh tế vĩ mô 2 các nhân tốc ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế quốc gia bài học tăng trưởng kinh tế đột phát và bền vững của singapore

MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU..................................................................................................................................ii
NỘI DUNG......................................................................................................................................1
1.

2.

Tăng trưởng kinh tế...................................................................................................................1
1.1.

Khái niệm TTKT................................................................................................................1

1.2.

Các nhân tố ảnh hưởng tới TTKT......................................................................................1

1.2.1.

Nhóm nhân tố kinh tế.................................................................................................1

1.2.2.


Nhóm nhân tố phi kinh tế...........................................................................................2

Nền kinh tế Singapore tăng trưởng đột phá và bền vững..........................................................3
2.1.

Nền kinh tế Singapore tăng trưởng đột phá.......................................................................3

2.1.1.

Biểu hiện TTKT đột phá của Singapore (giai đoạn 1960 – 1990)..............................3

2.1.2.

Nhân tố tạo ra TTKT đột phá của Singapore..............................................................4

2.2.

Nền kinh tế Singapore tăng trưởng bền vững (giai đoạn 1990 đến nay)...........................6

2.2.1.

Biểu hiện TTKT bền vững của Singapore..................................................................6

2.2.2.

Nhân tố tạo ra TTKT bền vững của Singapore...........................................................8

3. Những định hướng cho nền kinh tế Việt Nam nhằm thúc đẩy TTKT dựa trên bài học từ
TTKT đột phá và bền vững của Singapore.....................................................................................11
3.1.

Phát triển ngoại ngữ.........................................................................................................11

3.2.

Hạ tầng cơ sở...................................................................................................................11

3.3.


Phát triển và phân bố LLLĐ............................................................................................11

3.4.

Mở cửa thương mại và thu hút đầu tư..............................................................................12

KẾT LUẬN....................................................................................................................................13
TÀI LIỆU THAM KHẢO..............................................................................................................14

1


LỜI MỞ ĐẦU
Tăng trưởng kinh tế không còn là cụm từ xa lạ với mọi người, nó là một trong những
yếu tố ảnh hưởng lớn đến tình hình phát triển kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia và được quan tâm
hàng đầu. Trong đó, bản thân sự tăng trưởng kinh tế lại bị ảnh hưởng bởi các yếu tố kinh tế, chính
trị, xã hội của quốc gia đó. Hiểu được những nhân tố tác động đến tăng trưởng kinh tế không
những giúp chúng ta điều chỉnh các yếu tố để định hướng phát triển kinh tế mà còn biết cách tiếp
thu, học hỏi từ các nước điển hình về kinh tế phát triển mạnh mẽ trong khu vực như Trung Quốc,
Nhật Bản, Singapore, Hàn Quốc, Ấn Độ,… Vì thế chúng tôi đã thực hiện nghiên cứu đề tài “Các
nhân tốc ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế quốc gia. Bài học tăng trưởng kinh tế đột phát và
bền vững của Singapore”. Trong bài tiểu luận này, chúng tôi đề cập đến hai nhóm nhân tố chính
ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế của một quốc gia gồm nhân tố kinh tế và nhân tố phi kinh tế.
Bên cạnh đó, chúng tôi đưa ra một ví dụ điển hình về nền kinh tế phát triển đột phá và bền vững
của đất nước Singapore, từ đó rút ra những định hướng có thể áp dụng cho nền kinh tế Việt Nam
với mục tiêu tăng trưởng kinh tế.


NỘI DUNG
1. Tăng trưởng kinh tế
1.1.
Khái niệm TTKT
Tăng trưởng kinh tế trong kinh tế học được định nghĩa một cách chặt chẽ là sự gia tăng
hay mở rộng quy mô của mức sản lượng tiềm năng của nền kinh tế một quốc gia.
Để đo lường TTKT ta dùng công thức:
Với
Cần phân biệt tăng trưởng kinh tế với phát triển kinh tế (PTKT): TTKT xét đến sự gia
tăng quy mô, tập trung vào sự thay đổi về lượng còn PTKT là khái niệm rộng hơn, bao hàm khái
niệm TTKT, PTKT xét đến sự thay đổi toàn diện của nền kinh tế cả về chất và lượng.
1.2.
Các nhân tố ảnh hưởng tới TTKT
1.2.1. Nhóm nhân tố kinh tế
Nhóm nhân tố kinh tế là những nhân tố có tác động trực tiếp đến các biến số đầu vào và
đầu ra của nền kinh tế. Ta có hàm sản xuất tổng quát: . Trong đó, Y là giá trị đầu ra (phụ thuộc tổng
cầu của nền kinh tế), là giá trị các biến số đầu vào (phụ thuộc tổng cung của nền kinh tế).
1.2.1.1.
Tài nguyên thiên nhiên
Tài nguyên thiên nhiên là những của cải vật chất có sẵn trong tự nhiên mà con người có
thể khai thác, chế biến, sử dụng, phục vụ cuộc sống của con người (VD: rừng cây, các động vật,
thực vật quý hiếm, các mỏ khoáng sản, các nguồn nước, dầu, khí...).
Trong đó, đất đai là một yếu tố sản xuất cổ điển đóng vai trò quan trọng trong sản xuất
nông nghiệp và là yếu tố không thể thiếu được trong việc thực hiện bố trí các cơ sở kinh tế. Đây là
nhân tố ảnh hưởng đến TTKT được con người khám phá ra đầu tiên trong lịch sử. Các nguồn tài
nguyên dồi dào phong phú được khai thác tạo điều kiện tăng sản lượng đầu ra một cách nhanh
chóng, nhất là với các nước đang phát triển.
1.2.1.2.
Vốn tư bản
Vốn là yếu tố vật chất đầu vào quan trọng có tác động trực tiếp đến TTKT, bao gồm:
Vốn cố định (nhà máy, công xưởng, trụ sở cơ quan, trang thiết bị văn phòng, máy móc thiết bị,
phương tiện vận tải) và vốn lưu động (tồn kho của tất cả các loại hàng hóa).
Ngày nay vốn đầu tư và vốn sản xuất được coi là yếu tố quan trọng của quá trính sản
xuất. Vốn sản xuất vừa là yếu tố đầu vào, vừa là sản phẩm đâu ra của quá trình sản xuất. Vốn đầu tư
không chỉ là cơ sở để tạo ra vốn sản xuất, tăng năng lực sản xuất của các doanh nghiệp và của nền
kinh tế, mà còn là điều kiện để nâng cao trình độ khoa học – công nghệ, góp phần đáng kể vào việc
đầu tư theo chiều sâu, hiện đại hoá quá trình sản xuất. Việc tăng vốn đầu tư cũng góp phần vào việc
giải quyết công ăn, việc làm cho người lao động khi mở ra các công trình xây dựng và mở rộng quy
mô sản xuất.
1.2.1.3.
Lực lượng lao động (LLLĐ)
Trước đây chúng ta chỉ quan niệm lao động là yếu tố vật chất đầu vào giống như yếu tố
vốn và được xác định bằng số lượng nguồn lao động cả mỗi quốc gia (tính bằng đầu người hay thời
gian lao động). Tuy nhiên các mô hình tăng trưởng hiện đại gần đây đã nhấn mạnh đến khía cạnh
phi vật chất của lao động hay được hiểu “chất” của lao động, gọi là vốn nhân lực. Đó là các lao động
có kỹ năng sản xuất, lao động có thể vận hành được máy móc thiết bị phức tạp, những lao động có
sáng kiến và phương pháp mới trong hoạt động kinh tế.
1.2.1.4.
Tri thức công nghệ
Yếu tố công nghệ kỹ thuật cần được hiểu đầy đủ theo hai dạng:
• Thứ nhất, đó là những thành tựu kiến thức, tức là nắm bắt kiến thức khoa học, nghiên
cứu đưa ra những nguyên lý, thử nghiệm về cải tiến sản phẩm, quy trình công nghệ hay thiết bị kỹ
thuật.


• Thứ hai, là sự áp dụng phổ biến các kết quả nghiên cứu, thử nghiệm vào thực tế nhằm
nâng cao trình độ phát triển chung của sản xuất
Trong suốt lịch sử loài người, TTKT rõ ràng không là việc đơn thuần chỉ tăng thêm lao
động và tư bản, ngược lại, nó là quá trình không ngừng thay đổi công nghệ sản xuất. Công nghệ sản
xuất cho phép cùng một lượng lao động và tư bản có thể tạo ra sản lượng cao hơn, nghĩa là quá trình
sản xuất hiệu quả hơn. Công nghệ phát triển ngày càng nhanh chóng và ngày nay công nghệ thông
tin, công nghệ sinh học, công nghệ vật liệu mới…có những bước tiến như vũ bão góp phần gia tăng
hiệu quả của sản xuất.
1.2.2. Nhóm nhân tố phi kinh tế
Thể chế là các ràng buộc do con người tạo ra nhằm quy định cấu trúc tương tác giữa
người với người. Các thể chế chính trị – xã hội được thừa nhận có tác động đến quá trình phát triển
đất nước, đặc biệt thông qua việc tạo dựng hành lang pháp lý và môi trường đầu tư.
1.2.2.1.
Thể chế chính trị
Ngày nay nhà nước là yếu tố vật chất thực sự cho quá trình tăng trưởng, và mọi quốc gia
không thể coi nhẹ vấn đề này. Nhà nước và khuôn khổ pháp lý không chỉ là yếu tố đầu vào mà còn
là yếu tố của cả đầu ra trong quá trình sản xuất. Rõ ràng cơ chế chính sách (được thể hiện ở năng lực
bộ máy nhà nước và hệ thống pháp lý) có thể có sức mạnh kinh tế thực sự: chính sách đúng có thể
sinh ra vốn, tạo thêm nguồn lực cho tăng trưởng. Ngược lại, nhà nước đưa ra các quyết sách sai,
điều hành kém, cơ chế chính sách không hợp lý sẽ gây tổn hại cho nền kinh tế, kìm hãm tăng trưởng
cả về mặt số lượng và chất lượng.
1.2.2.2.
Văn hóa – xã hội
Trình độ văn hóa cao đồng nghĩa với trình độ văn minh cao và sự phát triển cao của mỗi
quốc gia. Nhìn chung trình độ văn hóa của mỗi dân tộc là nhân tố cơ bản để tạo ra các yếu tố về chất
lượng lao động, kỹ thuật, trình độ quản lý. Xét trên khía cạnh kinh tế hiện đại thì nó là nhân tố cơ
bản của mọi nhân tố dẫn đến quá trình phát triển.
2. Nền kinh tế Singapore tăng trưởng đột phá và bền vững
2.1.
Nền kinh tế Singapore tăng trưởng đột phá
2.1.1. Biểu hiện TTKT đột phá của Singapore (giai đoạn 1960 – 1990)
Trước 1960, Singapore đã phải trải qua nhiều biến động lớn về chính trị, quân sự làm
cho kinh tế sa sút trầm trọng: cơ sở hạ tầng bị phá hủy trong chiến tranh, các công trình khoa học kĩ
thuật chưa có cơ hội phát triển, các chỉ số kinh tế như GDP bình quân đầu người rơi xuống ở mức
rất thấp, nạn thất nghiệp và bất mãn của công nhân lên đến cực độ thể hiện ở một loạt cuộc đình
công vào năm 1947. Tuy nhiên, bắt đầu từ tháng 5/1959, dưới sự lãnh đạo của thủ tướng Lý Quang
Diệu – “người cha lập quốc” của Singapore, nền kinh tế của đất nước này đã có những bước phát
triển đột phá không ngờ, các chỉ số kinh tế có sự chuyển biến mạnh mẽ. Cụ thể:
2.1.1.1.
GDP bình quân đầu người
Chỉ trong 30 năm (từ năm 1960 đến năm 1990), GDP bình quân đầu người của
Singapore đã tăng đáng kể. Với tổng sản phẩm quốc nội GDP tăng từ 704,5 triệu USD năm 1960
đến 36,15 tỷ USD năm 1990 trong khi dân số cả nước chỉ tăng từ 1,646 triệu dân năm 1960 đến
3,047 triệu dân năm 1990, kết quả là GDP bình quân đầu người của Singapore đã tăng từ 427,88
USD/người cho tới gần 12 nghìn USD/người chỉ trong 30 năm này, tăng khoảng 28 lần. Con số này
cao hơn rất nhiều lần so với các cường quốc kinh tế khác trên thế giới như Mỹ (chỉ tăng khoảng 8
lần), Đức (khoảng 11 lần) hay Anh (14 lần). Điều này đã cho thấy rõ tính đột phá trong phát triển
kinh tế của Singapore.


Hình 1: GDP bình quân đầu người Singapore (1960-1990)

2.1.1.2.
Tỷ lệ thất nghiệp
Cùng với GDP bình quân đầu người tăng cao, tỷ lệ thất nghiệp của Singapore trong giai
đoạn 1960 – 1990 cũng giảm xuống mạnh mẽ. Tỷ lệ thất nghiệm giảm sâu từ 14% năm 1965 xuống
chỉ còn 4,5% năm 1973 và còn 3,5% ở những năm cuối thập kỉ 70, tỉ lệ dân số tham gia vào lực
lượng lao động của Singapore tăng lên rất nhanh chóng (từ khoảng 59,% năm 1960 đến khoảng
66,5% năm 1990).

Hình 2: Tỷ lệ dân số Singapore tham gia vào LLLĐ

2.1.1.3.
Trình độ khoa học – kỹ thuật
So với những thập kỉ trước, trình độ khoa học – kỹ thuật của Singapore trong giai đoạn
1960 – 1990 đã có nhiều tiến bộ trông thấy. Điều này được thể hiện bởi hàng loạt các khu công
nghiệp, công trình đường sá, hải cảng, sân bay vô cùng hiện đại với công nghệ cao được xây dựng
và tu sửa trong thời kỳ này như: khu công nghiệp Jurong (1961), hãng hàng không Singapore
3


Airlines (1972), sân bay quốc tế hàng đầu thế giới Changi (1981), cảng biển lớn thứ hai thế giới
Singapore, hệ thống tuyến giao thông cao cấp đại chúng (1987),... Ngoài ra, từ thập kỉ 70, Singapore
đã trở thành trung tâm lọc dầu và chế tạo, lắp ráp đồ điện tử lớn trong khu vực.
Ngoài ba yếu tố trên, sự phát triển đột phá của Singapore còn được biểu hiện ở các chỉ
số kiềm chế lạm phát, sự phát triển hệ thống tài chính và ngành công nghiệp – dịch vụ. Tất cả thể
hiện một bước ngoặt lớn lao, một phép màu trong lịch sử phát triển kinh tế của đất nước thuộc top
Bốn con rồng châu Á này.
2.1.2. Nhân tố tạo ra TTKT đột phá của Singapore
2.1.2.1.
Vốn tư bản
Vốn tư bản là yếu tố trước tiên quyết định tới sự đột phá trong TTKT của Singapore.
Điều này được biểu hiện ở các chính sách đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng, giao thông vận tải và các
khu công nghiệp, nhà xưởng với máy móc, thiết bị đầy đủ, hiện đại trên toàn đất nước.
Trước nhất, nhận thấy ưu thế của mình về vị trí địa lí – đó là vị trí nằm trong eo biển
Malaca, trên tuyến đường hàng hải huyết mạch từ Đông sang Tây, nối liền Thái Bình Dương,
Singapore đã cực kì chú trọng đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng công cộng gồm có cảng biển, sân bay,
bưu chính viễn thông và các tiện ích khác. Một ví dụ điển hình về thành quả của chính sách này là
sân bay Changi được xây dựng năm 1981 đã trở thành một đầu mối giao thông hàng không, một
trạm trung chuyển quan trọng và hiện đại bậc nhất ở châu Á - Thái Bình Dương. Chỉ riêng sân bay
Changi đã đóng góp không nhỏ vào tổng GDP hàng năm của Singapore (mỗi năm chiếm đến 2-3%
tổng GDP của toàn quốc gia).
Thứ hai, Chính phủ Singapore luôn chú trọng xây dựng một hệ thống giao thông tích
hợp hiệu quả gồm xe buýt - tàu điện ngầm - MRT – taxi, đảm bảo giao thông luôn thông suốt mỗi
ngày, giúp cho quốc gia này tiết kiệm được rất nhiều thời gian và chi phí vận chuyển của nền kinh
tế.
Thứ ba, một trong những yếu tố vốn tư bản tạo nên tăng trưởng đột phá của Singapore
chính là việc chính phủ chú trọng vào xây dựng các khu công nghiệp, nhà xưởng. Năm 1961, Ban
Phát triển kinh tế (EDB) được lập ra, tập trung vào ngành công nghiệp sản xuất rồi sau đó chuyển
dịch dần sang các ngành công nghiệp có hàm lượng kĩ thuật cao như chất bán dẫn, đồ điện tử,...
Chính sách thu hút đầu tư hiệu quả cùng chính sách thuế hấp dẫn đã thu hút hàng loạt tập đoàn, công
ty của nước ngoài ồ ạt đổ đến Singapore làm ăn. Tiêu biểu phải kể đến việc hai đại gia dầu lửa của
thế giới là Shell và Essco đã đến xây dựng nhà máy lọc dầu tại Singapore. Nhờ đó, chỉ đến giữa năm
1970, đất nước này đã trở thành trung tâm lọc dầu lớn thứ ba thế giới.
2.1.2.2.
Lực lượng lao động
Chính phủ Singapore đã đề ra hàng loạt chính sách nhằm phát triển lực lượng lao động
như đầu tư cho xây dựng nhà ở, chăm sóc y tế, đẩy mạnh giáo dục để đảm bảo chất lượng sống của
lao động, đồng thời có các chính sách thu hút nhân tài nước ngoài đến làm việc tại Singapore.
Đầu tiên, chính phủ Singapore quan tâm đẩy mạnh đầu tư xây dựng nhà ở cho người
dân. Chính phủ đã thành lập Ban Phát triển nhà ở (khoảng năm 1960) để thực hiện xây dựng nhiều
nhà cao tầng để phục vụ nhu cầu sinh hoạt cho người dân và cho người lao động nước ngoài với
mức giá bán và cho thuê thấp. Hệ thống y tế cũng được cải thiện đáng kể thông qua việc đầu tư xây
dựng một loạt các bệnh viện uy tín với quy mô lớn và chất lượng tốt như các bệnh viện : Bệnh viện
Đại học Quốc gia (1985), Bệnh viện Đa khoa Singapore, Bệnh viện Đa khoa Changi, Bệnh viện
Alexandra (1938), Viện Sức khỏe Tâm thần….Nhờ vậy mà đời sống sức khỏe của đông đảo lực
lượng lao động được cải thiện rõ rệt, đóng góp được nhiều hơn vào sự tăng trưởng kinh tế
Singapore.
Singapore không chỉ quan tâm đến sức khỏe người lao động mà còn đặc biệt chú trọng
đến chất lượng lao động. Để phát triển vốn nhân lực quốc gia, Singapore đã chú trọng đặc biệt đến
chính sách giáo dục cũng như trọng dụng nhân tài.
Đối với nền giáo dục trong nước, Singapore tập trung xây dựng hệ thống các trường học,
đặc biệt là các trường đại học với chất lượng tốt để đào tạo ra những lứa sinh viên có trình độ ngày


càng cao như Học Viện Quản Lý Singapore (SIM) (1964) là nơi cung cấp các giải pháp lớn nhất và
toàn diện nhất về đại học tư nhân và cơ sở đào tạo chuyên nghiệp tại Singapore; Đại học Quốc gia
Singapore - NUS (1980) là trường đại học nghiên cứu tiên tiến, toàn diện nhiều chuyên ngành như:
khoa học, y khoa và nha khoa, thiết kế và môi trường, luật, nghệ thuật, khoa học xã hội, kỹ thuật và
âm nhạc; Đại học công nghệ Curtin (1968) là trường đại học công nghệ hàng đầu Singapore;… Điều
đáng chú ý là, tất cả các hệ thống trường học đã có sự chú ý hơn về đào tạo kỹ năng cho học sinh,
sinh viên ngoài những lý thuyết cần có.
Ngoài ra, một hệ thống rất nhiều học bổng đã cho phép những học sinh tốt nhất ở
Singapore được đi học ở một số trường đại học hàng đầu thế giới. Những người nhận học bổng
chính phủ phải làm việc trong lĩnh vực công trong khoảng thời gian ít nhất là gấp đôi số năm học
nhận học bổng. Bởi vậy, họ có thể phục vụ đất nước mình với tất cả những tiến bộ đã thu nạp từ
những quốc gia tiên tiến nhất.
Singapore cũng có những chính sách cụ thể để nâng cao chất lượng giảng dạy. Với mức
lương khởi điểm trên mức trung bình quốc gia, nghề dạy học cũng thu hút, phát triển và giúp giữ
chân một số sinh viên tốt nghiệp tốt nhất trong ngành. Những giáo viên đứng đầu sẽ được giao
nhiệm vụ lãnh đạo mà không cần quá quan tâm đến nhiệm kỳ. Đồng thời, luôn có một sự xoay vòng
nhân sự giữa Bộ Giáo dục, lớp học và đội ngũ quản lý trường học. Giáo viên thường xuyên có thể
trở thành người thực hiện công tác chính sách, nhiều người sau đó lại quay trở lại dạy học.
Singapore còn đặc biệt chú trọng thu hút nhân tài nước ngoài bằng những chính sách rõ
ràng và bài bản. Là quốc gia được tạo dựng nên từ những người nhập cư, lại có dân số quá ít ỏi,
Singapore chào đón tất cả những ai có thể đóng góp phần mình vào công cuộc phát triển kinh tế của
đất nước. Đó là việc hoạch định chính sách sử dụng người nhập cư (hay còn gọi là chính sách tuyển
mộ nhân tài nước ngoài) như đòn bẩy về nhân khẩu học để bù vào sự thiếu hụt lực lượng lao động
bản địa và chiêu mộ nhân tài trên thế giới. Quan điểm của Singapore là tuyển chọn nhân tài dựa trên
năng lực, khả năng đóng góp vào sự phát triển của đất nước này chứ không phân biệt quốc tịch,
chủng tộc của người nhập cư. Singapore quy định rõ ràng, với lao động nước ngoài có kĩ năng, tay
nghề, ngoài việc được hưởng lương theo mức của các nhân tài, họ còn được phép đưa người thân
sang sống cùng và được cấp giấy phép định cư và nhập tịch lâu dài tại Singpapre. Kết quả là,
Singapore đã thu hút được một bản danh sách ấn tượng những nhà khoa học lỗi lạc của thế giới. Nói
đến nhân tài nước ngoài ở Singapore, có lẽ không thể không kể đến những nhà giải phẫu thần kinh
học, các lập trình viên phần mềm, các giám đốc ngân hàng, các các siêu chuyên gia tầm cỡ thế giới
và các giáo sư trong lĩnh vực nghiên cứu và phát triển….
Nhân tài bên ngoài còn được Singapore thu hút bằng chính sách đãi ngộ với du học sinh
tại Singapore. Bên cạnh những trường đại học, trung tâm đào tạo có tiếng, Singapore còn thu hút du
học sinh từ các nước khác bằng chính cho du học sinh được vay tiền để chi trả cho những chi phí
cần thiết về sinh hoạt và học tập. Sau khi tốt nghiệp với kết quả học tập cao, những cử nhân "ngoại"
này phải cam kết làm việc cho một công ty nào đó của Singapore ít nhất là 3 năm để trả nợ.
Hàng loạt những chính sách được đưa ra trên đây đã làm thay đổi hoàn toàn tình hình về
lực lượng lao động của Singapore trong thời kỳ 1960-1990. Nhờ có sự tăng lên về số lượng cũng
như chất lượng người lao động, kinh tế Singapore đã nhảy một bước vọt lớn lao.
2.1.2.3.
Văn hóa – xã hội
Cố thủ tướng Lý Quang Diệu từng chia sẻ: "Nếu chúng tôi học một thứ tiếng mẹ đẻ,
chúng tôi sẽ không thể kiếm sống được". Với tư duy tiến bộ đó, ông đưa ra quyết định quan trọng
nhất cho đất nước Singapore lúc bấy giờ là thúc đẩy và duy trì chính sách song ngữ: đó là kết hợp
tiếng Anh bên cạnh tiếng mẹ đẻ như tiếng Trung, tiếng Malay hoặc tiếng Tamil.
Việc thực hiện chính sách song ngữ mang lại nhiều lợi thế cho quốc đảo sư tử này. Đầu
tiên, phải kể đến việc hội nhập với thế giới dễ dàng hơn do người dân sử dụng tiếng Anh thành thạo:
quá trình tiếp thu những tiến bộ của thế giới bớt khó khăn và nhanh chóng hơn qua sách vở, báo chí
5


hoặc đi học trực tiếp; giao thương mua bán thuận lợi hơn vì không gặp rào cản về bất đồng ngôn
ngữ..., kế đến là sự thúc đẩy du lịch và giao lưu văn hoá.
Với việc phổ cập tiếng Anh như tiếng mẹ đẻ, Singapore nhờ đó mà hoàn thiện hơn các
nhân tố quan trọng của tăng trưởng kinh tế là lực lượng lao động, vốn tư bản, trí thức công nghệ. Từ
đó, tạo động lực quan trọng cho một bước nhảy vọt về tăng trưởng kinh tế cho quốc đảo sư tử này.
2.2.
Nền kinh tế Singapore tăng trưởng bền vững (giai đoạn 1990 đến nay)
2.2.1. Biểu hiện TTKT bền vững của Singapore
2.2.1.1.
GDP bình quân đầu người
Từ một đất nước không hề có tài nguyên thiên nhiên, chỉ sau vài chục năm hòn đảo nhỏ
bé này đã trở thành một cường quốc kinh tế hàng đầu châu Á rồi vươn lên trở thành nền kinh tế cạnh
tranh nhất trên toàn thế giới trong nhiều năm liền, đánh giá này do Ngân hàng Thế giới (World
Bank) phối hợp cùng Tổ chức Tài chính Quốc tế IFC thực hiện dựa trên một số yếu tố như như thời
gian để bắt đầu khởi nghiệp, thời gian nộp thuế và lượng hàng hóa xuất nhập khẩu của từng quốc
gia. Thu nhập bình quân đầu người của Singapore đã tăng mạnh từ 427.88 USD/người vào năm
1960, đến 11,864.28 USD/người vào năm 1990 và đạt ngưỡng 56,029.19 USD/người vào năm 2013,
trở thành nước có GDP bình quân đầu người cao nhất trên toàn thế giới. Năm 2016, Quốc đảo vùng
Đông Nam Á đứng thứ 3 trong danh sách này với mức GDP bình quân đầu người là 52,960.71.

Hình 3: GDP bình quân đầu người Singapore 1990-2016 (Nguồn: The World Bank)

2.2.1.2.
Mức thu hút vốn đầu tư nước ngoài
Mặc dù có nhiều điều kiện khó khăn trong vấn đề đất đai và tài nguyên thiên nhiên,
Singapore vẫn là điểm đến hấp dẫn nhất cho vốn đầu tư nước ngoài trực tiếp (FDI) trong khu vực
châu Á - Thái Bình Dương trong năm 2014.
Theo báo cáo mới nhất về Xu hướng đầu tư toàn cầu được công bố tại Hội nghị Liên
hợp quốc về Thương mại và Phát triển (UNCTAD), mặc dù có sự giảm sút về cam kết đầu tư trực
tiếp (FDI) trong năm 2016, song Singapore vẫn lọt top 5 địa điểm thu hút FDI hàng đầu trên thế giới
sau Mỹ, Anh, Trung Quốc và Hong Kong (Trung Quốc). Do tăng trưởng kinh tế và thương mại suy
yếu nên dòng vốn FDI toàn cầu trong năm 2016 vừa qua đã giảm 13% và hiện ở mức 1,52 nghìn tỷ
USD. Chính sự suy giảm trên toàn cầu đã kéo theo dòng vốn FDI tại Singapore giảm 23%, từ 65 tỷ
USD năm 2015 xuống còn 50 tỷ USD trong năm 2016. Tuy nhiên, đáng chú ý là Singapore vẫn nằm
trong 10 điểm đến FDI hàng đầu và đứng ở vị trí thứ 5 trong bảng xếp hạng FDI toàn cầu, sau khi
trượt xuống thứ 7 trong năm 2015.


Foreign Direct Investment
FDI Inward Flow (million USD)

2014
73,987
1,019,46
2

FDI Stock (million USD)

2015
70,580
1,082,01
4

2016
61,597
1,096,32
0

Number of Greenfield
467
386
391
Investments
FDI Inwards (in % of GFCF)
89.8
91.2
83.4
FDI Stock (in % of GDP)
330.8
364.5
369.2
2.2.1.3.
Cán cân xuất nhập khẩu
Singapore đứng thứ 14 trong lĩnh vực xuất khẩu trên nền kinh tế thế giới. Trong năm
2016, Singapore xuất khẩu 315 tỷ USD và nhập khẩu 259 tỷ USD, kết quả cán cân xuất nhập khẩu
là 55,4 tỷ USD. Kim ngạch xuất khẩu lớn nhất của Singapore là Mạch tích hợp (65,5 tỷ USD), Tinh
Dầu khí (35,5 tỷ USD), Không quy định (15,9 tỷ USD), Máy tính (9,7 tỷ USD) và Thiết bị bán dẫn
(8,68 tỷ USD), theo phiên bản năm 1992 của sự phân loại HS (Hệ Thống Hài Hoà). Nhập khẩu hàng
đầu của mình là Mạch tích hợp (36,4 tỷ USD), Tinh Dầu khí (31,5 tỷ USD), Dầu thô (15,1 tỷ USD),
Tua bin khí (7,37 tỷ USD) và Máy tính (6,24 tỷ USD).

Hình 4: Quá trình xuất - nhập khẩu của Singapore

2.2.2. Nhân tố tạo ra TTKT bền vững của Singapore
2.2.2.1.
Vốn tư bản
Vốn tư bản là một trong nhân tố quan trọng khiến nền kinh tế Singapore tiếp tục duy trì
tăng trưởng bền vững từ năm 1990 cho đến ngày nay. Nhờ có chính sách phát triển kinh tế vĩ mô
hiệu quả mà vốn tư bản của Singapore không ngừng tăng cao.
Thứ nhất, nhờ chính sách mở cửa thương mại và đầu tư nên Singapore thu hút được số
lượng lớn vốn đầu tư nước ngoài.
- Chính sách Thương mại của Singapore phù hợp, thông thoáng: Singapore không sử
dụng hàng rào phi thuế quan, không trợ giá xuất nhập khẩu, thủ tục xuất nhập khẩu thì đơn giản,
nhanh chóng giúp thúc đẩy quá trình giao lưu thương mại giữa các công ty và tạo sự bình đẳng các
công ty trong nước và nước ngoài cũng như thu hút được rất nhiều sự đầu tư từ nước ngoài. Thương
mại của Singapore được củng cố bởi hệ thống 21 hiệp định thương mại tự do song phương và đa
phương (FTAs) với 32 đối tác.
- Singapore ủng hộ hệ thống thương mại đa phương, thúc đẩy tự do hóa thương mại
dựa trên nguyên tắc của WTO. Singapore đã triển khai thuận lợi hóa thương mại và hệ thống rủi ro
hội nhập nơi mà Hải quan chấp thuận các biện pháp thuận lợi hóa thương mại cho doanh nghiệp
theo một chương trình 5 cấp độ (từ đơn giản đến phức tạp).
- Trong chính sách đầu tư của Singapore chỉ có một số hạn chế đầu tư nước ngoài liên
quan đến lĩnh vực ngân hàng bán lẻ, dịch vụ pháp lý, dịch vụ truyền thông và một số công ty có kết
nối với Chính phủ (GLCs).
7


Thứ hai, cũng nhờ chính sách ưu đãi về thuế mà Singapore không ngừng thu hút các nhà
đầu tư, tập đoàn từ khắp nơi trên thế giới. Theo luật thuế thu nhập, từ năm 2001, chính phủ
singapore giảm thuế doanh nghiệp từ 26% xuống 25,5%. Để tăng cường thu hút đầu tư trong và
ngoài nước cũng như thu hút và giữ chân nhân tài, năm 2005 thuế doanh nghiệp tiếp tục giảm xuống
còn 17% từ 2010 cho đến nay (mức thuế thấp nhất thế giới). Bên cạnh đó, Singapore đã kí kết hiệp
định tránh đánh thuế hai lần (DTA) với hơn 70 quốc gia trên thế giới, qua đó góp phần quan trọng
giảm gánh thuế cho doanh nghiệp nước ngoài. Mạng lưới DTA mở rộng, cùng với thuế tăng vốn và
thu nhập cổ tức bằng 0, đã biến Singapore thành nơi hấp dẫn cho đầu tư kinh doanh thông qua hình
thức liên danh.

Hơn nữa, Singapore có nhiều chương trình ưu đãi thuế và phi thuế như: Tín dụng ưu đãi
cho sản xuất và đổi mới (PIC), ưu đãi cho nghiên cứu và phát triển hoặc thành lập trụ sở tại
Singapore cũng như các chương trình được thiết kế cho các hoạt động hoặc lĩnh vực đặt biệt như
dịch vụ tài chính và hàng hải.
Thứ ba, đó là do chính sách tiền tệ hiệu quả về kiểm soát tỷ giá hối đoái. Chính sách tiền
tệ của Singapore được xây dựng bởi Cơ quan tiền tệ Singapore (MAS) với mục tiêu chủ yếu là coi
ổn định giá là cơ sở cho phát triển bền vững. Theo hệ thống này, MAS quản lý giá trị đồng đô la
Singapore so với một rổ ngoại tệ có trọng lượng thương mại được dấu kín (tỷ giá hối đoái hiệu quả
danh nghĩa S$NEER). S$NEER được phép dao động trong một biên độ mục tiêu. Vì vậy, Singapore
có cơ chế tỷ giá hối đoái thả nổi có quản lý. Khi cần thiết, MAS can thiệp vào thị trường ngoại hối
so với đồng đô la Mỹ để duy trì S$NEER trong khoảng giao động có biên độ của tỷ giá hối đoái.
Trước tình hình suy giảm lạm phát, MAS đã nới lỏng chính sách tiền tệ vào tháng 1/2015 sau khi
thắt chặt chính sách tiền tệ năm 2014, bằng cách giảm giá trị của biên độ chính sách S$NEER. MAS
tiếp tục giảm nhẹ giá trị S$NEER vào tháng 10/2015 khi đánh giá triển vọng tăng trưởng có chiều
hướng yếu đi. Theo IMF, chính sách tiền tệ/cơ chế tỷ giá đối đoái của Singapore sẽ tiếp tục phục vụ
tốt cho nền kinh tế. Hệ thống tỷ giá hối đoái không hạn chế thanh toán và chuyển đổi giao dịch tiền
tệ quốc tế. Do vậy đây chính là chính sách hiệu quả để quản lý tỷ lệ lạm phát và lãi suất từ đó
khuyến khích giá cả hàng hoá và dịch vụ ổn định và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.
Thứ tư, đó là hành lang pháp lý trong lĩnh vực tài chính và thương mại quốc tế của
Singapore cũng thu hút các nguồn vốn đầu từ cả trong nước và nước ngoài.
- Khung pháp lý và chính sách công của Singapore là thuận lợi đối với các nhà đầu tư
nước ngoài. Các nhà đầu tư nước ngoài không bắt buộc phải liên doanh hoặc chuyển quyền kiểm
soát quản lý đến lợi ích địa phương (phải tuân theo luật cơ bản). Singapore không có hạn chế về tái


đầu tư hoặc hồi hương thu nhập hoặc vốn. Hệ thống tư pháp bao gồm các trung tâm trọng tài quốc tế
và trung gian hòa giải và một tòa án thương mại đảm bảo các hợp đồng và các quyết định được thực
thi rõ ràng và có hiệu quả.
- Về dịch vụ tài chính, luật của Singapore không phân biệt giữa ngân hàng trong nước
và nước ngoài, trừ ngân hàng bán lẻ. Ngân hàng bán lẻ nước ngoài phải chịu sự hạn chế về số lượng
cơ sở kinh doanh (chi nhánh và ATMs) mà họ muốn mở. Những ngân hàng bán lẻ nước ngoài hưởng
lợi ích từ ưu đãi của Ngân hàng đáp ứng đủ tiêu chuẩn (QFB) được cho phép mở tổng số 25 cơ sở
kinh doanh và có thể tham gia vào thỏa thuận chung để chia sẻ một mạng lưới ATM. 10 ngân hàng
nước ngoài đã được giải thưởng của QFB.
- Trong lĩnh vực dịch vụ pháp lý, khuôn khổ quy định đã được hiện đại hóa và đã
thành lập Cơ quan quản lý dịch vụ pháp lý và Tòa án thương mại quốc tế. Singapore có một cơ chế
tự do cho thực hành luật quốc tế và nước ngoài.
2.2.2.2.
Lực lượng lao động
(1) Đầu tư phát triển nguồn nhân lực
Với mục tiêu tạo ra nguồn nhân lực chất lượng cao, chính phủ Singapore đã tập trung
ngân sách rất lớn cho hệ thống giáo dục, đặc biệt là giáo dục sau đại học. Chương trình giáo dục ở
Singapore là bắt buộc và miễn phí trong vòng 10 năm (từ 6 đến 16 tuổi). Hai ngôn ngữ chính được
dạy trong trường học ở là tiếng Anh và tiếng mẹ đẻ. Học sinh sau khi học hết trung học sẽ được vào
học ở đại học hoặc các trường nghề. Chính phủ Singapore dành ngân sách lớn cho giáo dục sau đại
học. Cụ thể có 2 nội dung chính:
- Lựa chọn người đi học, đặc biệt là học đại học dựa trên năng lực và mang tính cạnh
tranh cao, và nhà nước sẽ chi trả toàn bộ chi phí đào tạo cho những nhân tài.
- Chính phủ lồng ghép việc phát triển hệ thống giáo dục và đào tạo vào trong các chính
sách công nghiệp hoá, bao gồm việc đưa nguồn nhân lực vào các khu vực sản xuất công nghệ cao,
các tập đoàn đa quốc gia nước ngoài. Đây được xem là một chiến lược quan trọng nhằm học hỏi và
chuyển giao công nghệ từ các nước phương Tây cho nguồn nhân lực của đất nước Singapore.
(2) Các chính sách về lực lượng lao động
Chính phủ Singapore đã xây dựng khu vực việc làm cho lao động phổ thông thông qua
việc thu hút đầu tư và mở rộng các hoạt động sản xuất nhằm giải quyết tình trạng thất nghiệp. Đồng
thời, chính phủ cũng áp đặt mức lương tối thiểu cao nhằm duy trì mức cạnh tranh.
Ngoài ra, chính phủ Singapore cũng cung cấp thông tin và định hướng việc làm phù hợp
cho các đối tượng khác nhau để đảm bảo cơ hội tìm việc cho mọi người trong độ tuổi lao động và cả
những người sau độ tuổi lao động nếu họ muốn tiếp tục cống hiến. VD: phần lớn các lái xe taxi đều
có độ tuổi từ 50 trở lên, rất ít các lái xe taxi trẻ, người trẻ sẽ được định hướng làm các công việc
dùng sức hoặc cần tính sáng tạo cao hơn.
Siết chặt tuyển dụng lao động ngoại trong một số năm gần đây để giảm tỉ lệ thất nghiệp.
2.2.2.3.
Tri thức công nghệ
(1) Đầu tư phát triển công nghệ
Khan hiếm tài nguyên thiên nhiên và cạnh tranh gay gắt về xuất nhập khẩu với nước
làng giềng, Singapore quyết tâm tập trung phát triển tri thức công nghệ. Vào những năm 2000, chính
phủ Singapore đã tuyên bố khoa học và công nghệ là trụ cột chính của nền kinh tế của quốc đảo này.
Trong vòng 10 năm qua, Singapore đã chi hơn 22 triệu USD cho các dự án nghiên cứu, phát triển và
thử nghiệm những công nghệ hoặc sản phẩm mới. Kể từ năm 2011, mảng đầu tư tư nhân đã chi
khoảng 8,6 tỷ USD cho các nghiên cứu phát triển công nghệ, hỗ trợ khoảng 400 startup và xin cấp
800 bằng sáng chế. Mới đây, chính phủ Singapore đã phê duyệt khoản ngân sách 13,8 tỷ USD cho
kế hoạch 5 năm nhằm phát triển công nghệ, hỗ trợ các công ty kỹ thuật và hỗ trợ đưa những sản
phẩm đang nghiên cứu ra ngoài thực tế.
9


Hàng loạt các trung tâm nghiên cứu khoa học của Singapore ra đời và thể hiện rõ hiệu
quả trong quá trình phát triển công nghệ cho đất nước.
(2) Một số dự án thành công nổi bật:
• Truyền tải dữ liệu cảm biến không dây vào bệnh nhân (y tế)
• Giám sát căn hộ có người lớn tuổi sinh sống (dân số)
• Xây dựng tuyến đường giao thông thông minh
• Một trong những chính phủ đầu tiên ứng dụng e-goverment
3. Những định hướng cho nền kinh tế Việt Nam nhằm thúc đẩy TTKT dựa trên bài học từ
TTKT đột phá và bền vững của Singapore
3.1.
Phát triển ngoại ngữ
Trong bối cảnh hiện nay, nền kinh tế Việt Nam từng bước phát triển, hướng tới mục tiêu
hội nhập quốc tế, tạo đà tăng trưởng bền vững. Hàng loạt các hiệp ước kinh tế khu vực và thế giới
được Chính phủ đàm phán, kí kết. Do đó, việc phát triển ngoại ngữ, đặc biết là tiếng Anh là hướng
đi thiết yếu để đưa nền kinh tế mỗi quốc gia hội nhập, phát triển.
Nhà nước những năm gần đây cũng đã và đang đầu tư mạnh cho giảng dạy ngoại ngữ tại
các trường học. Tiếng Anh đã trở thành môn học chính khóa tại các nhà trường và nằm trong những
môn thi bắt buộc của Bộ giáo dục.
Ttrong tình hình kinh tế đất nước đang từng bước hội nhập quốc tế hiện nay, việc định
hướng đúng đắn trong chính sách giáo dục và đầu tư các nguồn lực nâng cao ngoại ngữ cho người
dân, đặc biệt thế hệ trẻ, là vô cùng cần thiết. Đây sẽ là nền móng kỹ năng quan trọng giúp nước ta có
một nguồn lao động đủ khả năng lĩnh hội, sẵn sàng học hỏi, tiếp nhận kiến thức khoa học công nghệ,
kinh nghiệm phát triển kinh tế từ các nước phát triển và ứng dụng nó vào Việt Nam. Không những
vậy, ngoại ngữ là cầu nối giúp chúng ta giao tiếp, đáp ứng nhu cầu tuyển dụng của các doanh nghiệp
nước ngoài. Từ đó, cơ hội việc làm của người dân sẽ rộng mở, GDP tăng, thu hút FDI,… góp phần
thúc đẩy tăng trưởng kinh tế trong nước.
3.2.
Hạ tầng cơ sở
Đầu tư cho phát triển hạ tầng cơ sở là nền tảng quan trọng thúc đẩy thương mại, du lịch
và hướng tới tăng trưởng kinh tế bền vững. Tuy nhiên, nhìn thẳng vào thực trạng hiện nay, nước ta
còn nhiều lạc hậu về cả hạ tầng kĩ thuật: hệ thống các công trình giao thông, chiếu sáng công cộng,
thông tin liên lạc,.. và hạ tầng xã hội: các công trình y tế, văn hóa, giáo dục, dịch vụ công cộng,…
Đó là một trong những nguyên nhân khiến vốn đầu tư FDI vào Việt Nam còn hạn chế. Do thực tế,
bên cạnh nguồn lao động giá rẻ, các doanh nghiệp nước ngoài luôn tìm kiếm các quốc gia có hệ
thống hạ tầng cơ sở tiên tiến để thuận lợi cho đầu tư phát triển.
Bởi vậy, để thu hút vốn, tạo đà tăng trưởng kinh tế, nước ta cần khắc phục những hạn
chế về ngân sách, mạnh dạn đầu tư cho hiện đại hóa cơ sở vật chất, mạng lưới giao thông, cải thiện
chất lượng các dịch vụ công cộng,.. Bên cạnh đó, việc phát triển hạ tầng cơ sở còn là nhân tố quan
trọng giúp cải thiện đời sống, nâng cao chất lượng cuộc sống cho người lao động, từ đó góp làm
phần tăng năng suất lao động xã hội – yếu tố cốt lõi cho tăng trưởng của bất kỳ nền kinh tế nào trên
thế giới.
3.3.
Phát triển và phân bố LLLĐ
Con người là một nhân tố quan trọng trong mọi lĩnh vực: chính trị, văn hóa - xã hội và
kinh tế và đặc biệt trong kinh tế, LLLĐ góp một phần không nhỏ vào quá trình TTKT. Đề cập tới
LLLĐ, đầu tiên ta xét tới nguồn lao động - người dân mỗi quốc gia. Dân số Việt Nam hiện lên tới
trên 95,5 triệu người trong đó có đến gần 70% dân số trong độ tuổi lao động và hơn 25% dân số
dưới 15 tuổi, độ tuổi trung bình ước tính là khoảng 31 tuổi. Có thể thấy đây là thời kỳ dân số vàng
của Việt Nam và là một trong những ưu điểm của Việt Nam so với các nước phát triển đang đối mặt
với tình trạng già hóa dân số. Dù vậy, Việt Nam lại chưa tận dụng tối đa lợi thế này.
Giá thuê lao động ở Việt Nam được đánh giá là rẻ so với mặt bằng chung trong khu vực,
một phần do nguồn cung dồi dào nhưng ta cũng cần nhìn một cách đa chiều hơn để thấy một lý do


khác đáng báo động hơn đó là năng suất lao động chưa đáp ứng tốt nhu cầu nhà tuyển dụng khiến
cho các công ty thiếu nhân công và vẫn liên tục săn đón người tài trong khi cảnh thất nghiệp vẫn tiếp
diễn và ngày càng nghiêm trọng.
Tuy nhiên, nếu LLLĐ đáp ứng được yêu cầu nhưng cầu lao động không đủ thì vẫn chưa
phải là tối ưu. Để giải quyết tình trạng này, chính phủ cần quan tâm hơn tới việc phân bố LLLĐ sao
cho hợp lý. Phân bố LLLĐ hợp lý không những làm giảm thất nghiệp mà còn tạo ra sản lượng cao
hơn do khả năng của người lao động thích hợp với công việc họ làm hơn thì năng suất sẽ cao hơn.
3.4.
Mở cửa thương mại và thu hút đầu tư
Thế giới ngày càng phát triển và đi kèm với đó là những yêu cầu cao hơn của thời đại về
mọi mặt buộc mỗi quốc gia, mỗi nền kinh tế phải vận động theo sự đi lên đó. Nếu không chịu tiến
bộ mà dậm chân tại chỗ thì nền kinh tế đó thực ra đang thụt lùi so với nhân loại. Do đó, một nền
kinh tế đóng dù sớm hay muộn cũng phải tiến tới mở cửa thương mại.
Mở cửa thương mại giúp cho quá trình chuyển giao khoa học - kỹ thuật diễn ra nhanh
hơn tạo ra bước tiến chung về công nghệ dùng trong sản xuất và kinh doanh. Ngoài ra, việc giao
thương buôn bán giữa các quốc gia hay thậm chí là mở chi nhánh, thành lập công ty ở nước ngoài
tạo ra cơ hội cho doanh nghiệp, nguồn lao động Việt Nam học hỏi phương thức kinh doanh, quản lý
và làm việc của nước bạn. Hơn thế nữa, thị trường tiêu thụ của các sản phẩm sản xuất ra trong nước
được mở rộng và người tiêu dùng trong nước cũng có thêm nhiều sự lựa chọn cho mỗi quyết định
mua sắm khi hàng ngoại tràn vào.
Như vậy, mở cửa thương mại đem lại thặng dư cao hơn cho cả nhà sản xuất và người
tiêu dùng. Nhưng sẽ còn cao hơn nữa nếu mở cửa kèm theo các chính sách nhằm thu hút vốn đầu tư
nước ngoài. Điều này không những làm tăng đầu tư tại Việt Nam tạo ra TTKT mà còn thúc đẩy
nhanh hơn quá trình chuyển giao công nghệ giúp nước ta tiếp cận với các tiến bộ khoa học - kỹ thuật
của thế giới sớm và sâu sắc hơn.
Trên thực tế, chính phủ Việt Nam đã và đang rất chú trọng đến mở cửa thương mại và
thu hút đầu tư. Hàng loạt các hiệp định được ký kết, mới đây nhất là Hiệp định Đối tác Toàn diện và
Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP) với 11 nước thành viên sau khi Mỹ rút khỏi vòng đàm
phán. Có thể thấy, những nỗ lực tham gia vào các tổ chức quốc tế của chính phủ ta đã tạo ra không ít
kết tích cực và sẽ còn nhiều điều đáng mừng hơn nữa trong tương lai.

11


KẾT LUẬN
Như vậy, nhóm nhân tố quan trọng nhất tác động đến tăng trưởng đến kinh tế của một
quốc gia là bốn nhân tố kinh tế: tài nguyên thiên nhiên, vốn tư bản, lực lượng lao động, tri thức công
nghệ. Ngoài ra, những nhân tố phi kinh tế như thể chế chính trị, đặc điểm văn hóa – xã hội cũng
đóng góp không nhỏ vào sự thay đổi của tăng trưởng kinh tế. Tất cả những nhân tố này có biểu hiện
khác nhau cũng như có mức độ ảnh hưởng không giống nhau tại mỗi đất nước. Tại Singapore, thế
giới đã chứng kiến một đất nước đi từ một quốc gia thiếu thốn về dân số, nghèo nàn về tài nguyên
thiên nhiên đến một trong bốn con rồng châu Á. Hi vọng những nhân tố tạo nên sự phát triển đột phá
và bền vững của Singapore sẽ là một bài học lớn để Việt Nam học hỏi và vận dụng để đưa nền kinh
tế nước nhà tăng trưởng mạnh mẽ hơn nữa.


TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1] Nguyễn Văn Công (2008), Bài giảng và thực hành lý thuyết kinh tế vĩ mô, Nhà xuất bản Lao
động, Hà Nội.
[2] Department of statistic Singapore, Statistics, Browse by theme

[3] Global Urban Development. Singapore's Economic Transformation.

[4] Singapore Acadamy of Law, Laws of Singapore, Commercial Law

[5] Nguyễn Thế Tân, CafeF, Lý Quang Diệu
[6] The World Bank, Data by country, Singapore view=chart>
[7] Trang web The Straits Times (International Edition)
[8] Trading Economics, Indicators, Countries, Singapore

[9] Wikipedia, Lịch sử Singapore

13



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×