Tải bản đầy đủ

Báo cáo tốt nghiệp Dân số 3 tháng tại Hà Nội.

Khóa luận tốt nghiệp lớp Dân
số
MỤC LỤC
Tên đề mục:
trang
Lời cảm ơn..............................................................................................
2
Phần I. MỞ ĐẦU...................................................................................
3
1. Lý do chọn đề tài.................................................................................
3
2. Mục tiêu nghiên
5
cứu............................................................................
5
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu.......................................................
5
4. Phương pháp nghiên cứu và nguồn số liệu.........................................
6
5. Hạn chế nghiên cứu.............................................................................
7

Phần II. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU..................................................
7
2.1. Một số khái niệm liên quan đến nội dung nghiên cứu...............
9
2.2 Đặc điểm kinh tế -xã hội tại tỉnh Vĩnh Phúc............................
9
2.2.1. Đặc điểm tự nhiên.......................................................................
10
2.2.2. Đặc điểm kinh tế xã hội...............................................................
11
2.2.3. Các đặc điểm khác........................................................................
11
2.2.3.1. Về giáo dục...............................................................................
12
2.2.3.2. Về Y tế......................................................................................
13
2.2.3.3. Về dân số..................................................................................
14
2.3. Thực trạng chênh lệch tỷ số giới tính khi sinh tại tỉnh Vĩnh
Phúc giai đoạn 2011-2016.
14
2.3.1. Cơ cấu dân số trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc từ năm 2011 - 2016
15
2.3.2. Tỷ số giới tính khi sinh tại tỉnh Vĩnh Phúc
19
2.3.3. Các nguyên nhân dẫn đến chênh lệch tỷ số giới tính khi sinh.
22
2.3.4. Hậu quả do chênh lệch tỷ số giới tính tại tỉnh Vĩnh Phúc
24
2.4. Giải pháp hạn chế chênh lệch tỷ số giới tính khi sinh ở tỉnh
Vĩnh Phúc giai đoạn 2020-2025.
33
Phần III:KẾT LUẬN

Học viên: Hoàng Văn Tâm.

1


Khóa luận tốt nghiệp lớp Dân


số

LỜI CẢM ƠN
Lớp bồi dưỡng nghiệp vụ Dân số - KHHGĐ do Trung tâm đào tạo cán
bộ Dân số-KHHGĐ, được tổ chức tại Tổng cục Dân số - KHHGĐ. Trong thời
gian 3 háng. Sau khóa học, tôi đã được trang bị những kiến thức cơ bản về
Dân số - KHHGĐ, đồng thời đã giúp tôi nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp
vụ.
Để vận dụng nội dung chương trình khóa học nhằm tìm ra các giải pháp
nâng cao chất lượng dân số - xã hội ở tỉnh Vĩnh Phúc, tôi lựa chọn nghiên cứu
đề tài “Giải pháp hạn chế chênh lệch tỷ số giới tinh khi sinh ở tỉnh Vĩnh
Phúc giai đoạn 2020- 2025" làm bài tiểu luận tốt nghiệp.
Tôi xin cảm ơn các thầy giáo, cô giáo của Trung tâm Đào tạo cán bộ
Dân số-KHHGĐ, những người đã trang bị cho tôi những kiến thức và các kỹ
năng chuyên ngành để tôi có thể áp dụng được vào thực tế công việc. Tôi xin
trân trọng cảm ơn Lãnh đạo Sở Y tế, Lãnh đạo Chi cục Dân số - KHHGĐ tỉnh
Vĩnh Phúc, lãnh đạo Trung tâm Y tế huyện Tam Đảo đã quan tâm, tạo điều
kiện cho tôi được tham gia lớp bồi dưỡng nghiệp vụ Dân số. Tôi cũng xin cảm
ơn Ban cán sự lớp học đã tạo mọi điều kiện tốt nhất cho lớp học và cảm ơn các
bạn trong lớp học đã hợp tác giúp đỡ tôi hoàn thành báo cáo này.
Trong khuôn khổ một bài khóa luận cuối khóa, do thời gian có hạn và
kiến thức còn nhiều hạn chế nên tiểu luận không tránh khỏi những khiếm
khuyết, rất mong được sự quan tâm đóng góp ý kiến của các thầy cô giáo và
các bạn.
Xin trân trọng cảm ơn!

Học viên: Hoàng Văn Tâm.

2


Khóa luận tốt nghiệp lớp Dân
số

Phần I: MỞ ĐẦU
1.1.Lý do chọn đề tài :
Vấn đề dân số luôn là mối quan tâm của nhiều quốc gia trên thế giới,
thực tế đã trở thành một trong những “vấn đề toàn cầu”. Các quốc gia ngày
càng xích lại gần nhau và có sự thống nhất về nhận thức, chương trình,
phương pháp giải quyết vấn đề dân số và phát triển.
Sự gia tăng dân số quá nhanh là một trong những nguyên nhân làm cản
trở sự phát triển triển kinh tế- xã hội gây khó khăn lớn cho việc cải thiện đời
sống của nhân dân, làm hạn chế sự phát triển trí tuệ, văn hoá, thể lực, giống
nòi. Thế kỷ 20 thường được gọi là thế kỷ của “ Bùng nổ dân số”, ngày nay dân
số thế giới vẫn đang ở mức tăng cao, mỗi năm tăng thêm khoảng 100 triệu
người nhưng vấn đề đặt ra là sự chênh lêch tỷ số giới tính khi sinh.
Tỷ số giới tính khi sinh dao động trong khoảng 104-106 trẻ em trai trên
100 trẻ em gái được coi là bình thường. Tuy nhiên tại Việt Nam kết quả Tổng
điều tra Dân số ngày 1/4/2009 cho thấy có 45/63 tỉnh, thành phố có tỷ số giới
tính khi sinh mất cân bằng. Trong đó, có những tỉnh, thành phố có tỷ số giới
tính khi sinh cao từ 120-130 thuộc vùng đồng bằng sông Hồng (Tổng cục
thống kê, 2009). Các nghiên cứu hiện có cho thấy mất cân bằng giới tính khi
sinh (MCBGTKS) dẫn tới những ảnh hưởng tiêu cực về sức khoẻ và đời sống
của phụ nữ; phụ nữ phải gánh chịu áp lực nặng nề về thể xác và tinh thần để
sinh được con trai. Mất cân bằng giới tính khi sinh là vấn đề dân số xuất hiện
ở Việt Nam từ những năm đầu của thế kỷ XXI và ngày càng thu hút sự quan
tâm của xã hội. Trong mấy năm gần đây mất cân bằng giới tính khi sinh ở
nước ta diễn ra với tốc độ nhanh, ngày càng lan rộng và đã đến mức nghiêm
trọng. Theo dự báo của Tổng cục Dân số-KHHGĐ Việt Nam, với tình hình
mất cân bằng giới tính khi sinh như hiện nay, đến năm 2050 Việt Nam sẽ thiếu
khoảng 2,3 - 4,3 triệu phụ nữ, tình trạng dư thừa nam giới trong độ tuổi kết

Học viên: Hoàng Văn Tâm.

3


Khóa luận tốt nghiệp lớp Dân
số
hôn có thể dẫn tới tan vỡ cấu trúc gia đình, một bộ phận nam giới sẽ phải kết
hôn muộn, nhiều người trong số họ không có khả năng kết hôn; điều này
không chỉ ảnh hưởng tiêu cực đến cuộc sống của cá nhân, gia đình, các dòng
tộc mà còn trở thành tai họa đối với dân tộc và sự phát triển bền vững của đất
nước (BộY tế, 2012). Vĩnh Phúc là tỉnh có tỷ số giới tính khi sinh cao. Theo
kết quả Tổng điều tra dân số ngày 01/4/2009 tỷ số giới tính khi sinh
(TSGTKS) ở Vĩnh Phúc là 114,9 trẻ em trai/100 trẻ em gái, toàn quốc là 110,8
trẻ em trai/100 trẻ em gái. Theo báo cáo của Chi cục Dân số - KHHGĐ tỉnh
Vĩnh Phúc tỷ số giới tính khi sinh của tỉnh Vĩnh Phúc năm 2010 là 115,37 bé
trai/100 bé gái; năm 2011 là 116,15 bé trai/100 bé gái; năm 2012 là 115,35 bé
trai/100 bé gái; năm 2013 là 114,56 bé trai/100 bé gái; năm 2014 là 112,77 bé
trai/100 bé gái; năm 2015 là 113,5 bé trai/ 100 bé gái; năm 2016 là 111,76 bé
trai/100 bé gái.
Tại tỉnh Vĩnh Phúc thì tỷ số giới tính khi sinh của tỉnh ổn định trong
suốt khoảng 40 năm (từ năm 1960 đến 2000). Từ năm 2000 đến nay tình trạng
mất cân bằng giới tính luôn dao động đặc biệt là từ năm 2005 đến năm 2016.
Qua hệ thống thu thập thông tin của ngành Dân số và kết quả Tổng điều tra
Dân số và nhà ở năm 2009 cho thấy, tỷ số giới tính khi sinh năm 2009 của tỉnh
là 114,9 bé trai/100 bé gái cao hơn rất nhiều so với tỷ số giới tính khi sinh
chuẩn. Mất cân bằng giới tính khi sinh dẫn đến nhiều hậu quả nặng nề: kinh tế
địa phương chậm phát triển, cuộc sống gia đình không được hạnh phúc chọn
vẹn do mâu thuẫn về tư tưởng sinh con giữa các thành viên trong gia đình, sức
khỏe người phụ nữ bị suy giảm nghiêm trọng, nam giới trưởng thành khó có
khả năng tìm vợ,… phát sinh nhiều tệ nạn xã hội.
Thực tế cho thấy điều kiện kinh tế, văn hóa, địa lý ở mỗi địa phương
khác nhau có những đặc thù và nguyên nhân khác nhau dẫn đến tình trạng mất
cân bằng giới tính khi sinh. Vậy câu hỏi đặt ra là nguyên nhân mất cân bằng
giới tính của tỉnh Vĩnh Phúc là gì? Và làm thế nào để kiểm soát được tình
trạng mất cân bằng giới tính khi sinh của tỉnh Vĩnh Phúc hiện nay?
Học viên: Hoàng Văn Tâm.

4


Khóa luận tốt nghiệp lớp Dân
số
Nhận thức rõ những hậu quả trong tương lai của việc gia tăng tỷ số giới
tính khi sinh với mong muốn giảm thiểu mất cân bằng giới tính khi sinh. Để
góp phần vào việc kiểm soát mất cân bằng giới tính khi sinh hiện nay, từ thực
tiễn tại địa phương, em lựa chọn đề tài “Giải pháp hạn chế chênh lệch tỷ số
giới tính khi sinh ở tỉnh Vĩnh Phúc giai đoạn 2020-2025” làm đề tài báo cáo
khóa luận.
1.2.Mục tiêu nghiên cứu :
1.2.1.Đánh giá thực trạng chênh lệch tỷ số giới tính khi sinh tại tỉnh
Vĩnh Phúc giai đoạn 2011-2016.
1.2.2.Đề xuất giải pháp hạn chế chênh lệch tỷ số giới tính khi sinh tại
tỉnh Vĩnh Phúc giai đoạn 2020-2025.
1.3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu :
- Nghiên cứu thực trạng chênh lệch tỷ số giới tính khi sinh tại tỉnh Vĩnh
Phúc giai đoạn 2011-2016.
1.4.Phương pháp nghiên cứu và nguồn số liệu:
1.4.1. Sử dụng phương pháp thống kê phân tích.
1.4.2. Nguồn số liệu báo cáo thống kê, báo cáo công tác truyền thông
của Chi cục DS- KHHGĐ tỉnh Vĩnh Phúc, niên giám thống kê tỉnh Vĩnh Phúc
năm 2011 đến năm 2016.
5. Hạn chế nghiên cứu :
Do thời gian công tác tại phòng Dân số - KHHGĐ trung tâm Y tế huyện
Tam Đảo ít nên hạn chế trong việc nghiên cứ đề tài.

Học viên: Hoàng Văn Tâm.

5


Khóa luận tốt nghiệp lớp Dân
số

Phần II. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU

2.1. Một số khái niệm liên quan đến nội dung nghiên cứu.
2.1.1. Khái niệm giới và giới tính
- Giới là các đặc điểm về mặt xã hội liên quan đến vị trí, tiếng nói, vai
trò, công việc của phụ nữ và nam giới tronh gia đình và xã hội. Đây là những
đặc điểm mà phụ nữ và namgiới có thể hoán đổi cho nhau được (Tổng cục
Dân số-KHHGĐ, 2009)
- Giới tính là chỉ sự khác biệt giữa nam và nữ về mặt sinh học, giới tính
của mỗi người được xác định ngay từ khi tinh trùng với trứng lúc thụ thai, đứa
trẻ được sinh ra là con trai hay con gái (Bộ Y tế, 2009); (Tổng cục Dân sốKHHGĐ, 2009)
Giới tính phản ánh các đặc điểm về cấu tạo cơ thể, liên quan đến chức
năng sinh sản của phụ nữ và nam giới không thể hoán đổi cho nhau được đó
là: Nam giới có tinh trùng, có thể gây có thai, nhưng nam giới không thể
mang thai được. Phụ nữ có dạ con, có hành kinh, có thể mang thai, sinh con
và cho con bú. Giới tính của mỗi người là không thay đổi trong suốt cuộc đời.
Đàn ông đàn bà nói chung về cấu tạo sinh học, giải phẫu đều giống nhau (Bộ
Y tế, 2009); (Tổng cục Dân số-KHHGĐ, 2009)
2.1.2. Khái niệm tỷ số giới tính khi sinh
- Tỷ số giới tính chung là số nam trên 100 nữ trong một khoảng thời
gian xác định, thường là một năm tại một quốc gia hay một vùng, một tỉnh
(Bộ Y tế, 2009); (Tổng cục Dân số-KHHGĐ, 2009)
- Tỷ số giới tính khi sinh là số trẻ em trai được sinh ra còn sống trên 100
trẻ em gái được sinh ra còn sống trong một khoảng thời gian xác định, thường
là một năm tại một quốc gia, một vùng hay một tỉnh. Bình thường, tỷ số này
dao động từ 103-106 (Bộ Y tế, 2009), (Tổng cục Dân số-KHHGĐ, 2009).

Học viên: Hoàng Văn Tâm.

6


Khóa luận tốt nghiệp lớp Dân
số
Vì sao phải quan tâm đến tỷ số giới tính khi sinh? Tỷ số giới tính khi
sinh có ý nghĩa quyết định đến tỷ số giới tính chung của dân số và qua đó ảnh
hưởng đến nhiều vấn đề kinh tế, văn hoá và an sinh xã hội. Thông thường, tỷ
số giới tính chung dao động trong khoảng từ 95 đến 105, có nghĩa là cứ 100
người nữ thì có từ 95-105 người nam. Dân số có tuổi thọ càng cao thì tỷ số
giới tính chung càng có xu hướng giảm do phụ nữ thường sống lâu hơn nam
giới. Trong điều kiện không có chiến tranh và dịch bệnh, tỷ số giới tính chung
của dân số được duy trì ở mức cân bằng đảm bảo cho quá trình tái sản xuất
dân số cũng như giảm thiểu các tác động tiêu cực của tình trạng mất cân bằng
giới tính trong độ tuổi hôn nhân, trong nguồn lao động, trong việc thực thi các
chính sách chế độ chăm sóc sức khoẻ và giáo dục (Học viện báo chí và tuyên
truyền, 2010).
2.1.3. Khái niệm chênh lệch tỷ số giới tính khi sinh hay còn gọi là (mất
cân bằng giới tính khi sinh).
Là số trẻ em trai được sinh ra còn sống vượt trên ngưỡng bình thường
so với 100 trẻ em gái được sinh ra còn sống trong một khoảng thời gian xác
định, thường là một năm tại một quốc gia, một vùng hay một tỉnh. Theo quy
ước nhân khẩu học, khi tỷ số giới tính khi sinh của một quốc gia, một vùng
hoặc một tỉnh/ thành phố từ 110 trở lên là mất cân bằng giới tính khi sinh (Bộ
Y tế, 2009); (Tổng cục Dân số-KHHGĐ, 2009)
2.1.4. Khái niệm dân số
Khái niệm dân số là tập hợp người sinh sống trong một quốc gia, khu
vực, vùng địa lý hoặc một đơn vị hành chính tại một thời điểm nhất định (Bộ
Y tế, 2009); (Tổng cục Dân số-KHHGĐ, 2009)
2.1.5. Khái niệm chất lượng dân số
Chất lượng dân số là sự phản ánh các đặc trưng về thể chất, trí tuệ và tinh
thần của toàn bộ dân số (điều 6). Có rất nhiều đặc trưng phản ánh trạng thái về
thể chất trí tuệ và tinh thần nên việc đo lường, đánh giá chất lượng dân số là
rất phong phú đa dạng và phức tạp. Có thể gộp các đặc trưng thành 5 nhóm:
Học viên: Hoàng Văn Tâm.

7


Khóa luận tốt nghiệp lớp Dân
số
Thu nhập và phúc lợi; Sức khoẻ và dinh dưỡng; Giáo dục và phát triển trí tuệ;
Giải trí văn hoá và tinh thần; Môi trường sống (Bộ Y tế, 2009); (Tổng cục
Dân số-KHHGĐ, 2009)

2.2. Đặc điểm tình hình kinh tế xã hội tại tỉnh Vĩnh Phúc.
2.2.1. Đặc điểm tự nhiên :
Vĩnh Phúc là tỉnh được tái lập năm 1997, là cửa ngõ Tây Bắc của Thủ
đô Hà Nội, thuộc vùng châu thổ Sông Hồng, là một trong 7 tỉnh thuộc vùng
kinh tế trọng điểm Bắc Bộ.
Phía Bắc giáp tỉnh Thái Nguyên và tỉnh Tuyên Quang
Phía Đông và phía Nam giáp Thủ đô Hà Nội
Phía Tây giáp tỉnh Phú Thọ
Vĩnh Phúc nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa, nhiệt độ trung bình hàng
năm 24,20C, diện tích tự nhiên 1.235,3Km2, dân số 1.066.000 người, mật độ
dân số 863 người/km2. Sau vài lần thay đổi địa giới hành chính, đến nay tỉnh
có 9 đơn vị hành chính cấp huyện trực thuộc là : Thành phố Vĩnh Yên là trung
tâm kinh tế, chính trị, văn hoá của tỉnh; Thành phố Phúc Yên và 7 huyện là
Bình Xuyên, Yên Lạc, Vĩnh Tường, Tam Dương, Tam Đảo, Lập Thạch và
Sông Lô. 137 đơn vị hành chính cấp xã, phường, thị trấn.
Do đặc điểm vị trí địa lý nêu trên nên nơi đây hình thành 3 vùng sinh
thái rõ rệt là : Đồng bằng, trung du, miền núi hết sức thuận tiện cho phát triển
nông- lâm nghhiệp, thuỷ sản, công nghiệp và du lịch- dịch vụ. Một trong
những ưu thế của Vĩnh Phúc so với các tỉnh xung quanh Hà Nội là có diện tích
đất đồi khá lớn của vùng trung du, có đặc tính cơ lý tốt thuận tiện cho việc xây
dựng và phát triển công nghiệp.
2.2.2 Đặc điểm kinh tế- xã hội :
Là tỉnh có xuất phát điểm của nền kinh tế thấp, năm 1997 thu ngân sách
trên địa bàn tỉnh mới đạt hơn 100 tỷ đồng. Ngay sau khi tái lập tỉnh, dưới sự
lãnh đạo của Tỉnh Uỷ- HĐND-UBND tỉnh kinh tế- xã hội và bộ mặt của Vĩnh
Phúc có nhiều thay đổi theo chiều hướng đi lên, nền kinh tế được phát triển
Học viên: Hoàng Văn Tâm.

8


Khóa luận tốt nghiệp lớp Dân
số
toàn diện, thu hút được đầu tư trong và ngoài nước. Tiềm năng nội lực từ các
thành phần kinh tế được phát huy, tiến bộ khoa học- kỹ thuật được áp dụng
vào sản xuất góp phần làm tăng năng suất cây trồng, vật nuôi và nâng cao chất
lượng sản phẩm, đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân ngày càng được cải
thiện và nâng cao. Với cơ chế mở của, thủ tục hành chính gọn nhẹ, Vĩnh Phúc
đã thu hút được nhiều doanh nghiệp trong và ngoài nước đến đầu tư, vì vậy
Tổng sản phẩm trên địa bàn tỉnh (GRDP) năm 2017 theo giá so sánh ước
đạt 73.038 tỷ đồng, tăng 7,68% so với năm 2016. Trong đó:
- Giá trị tăng thêm ngành nông, lâm nghiệp và thuỷ sản đạt 4.545 tỷ
đồng, tăng 3,48% so với năm 2016, đóng góp vào tăng trưởng chung của tỉnh
là 0,23 điểm %; riêng ngành nông nghiệp đạt 4.215,7 tỷ đồng, tăng 3,46%,
đóng góp vào tăng trưởng chung của tỉnh là 0,21 điểm %. Trong nông nghiệp,
ngành trồng trọt tăng 6,71%, do năng suất, sản lượng các loại cây trồng chủ
yếu đều tăng cao so với năm trước, nguyên nhân chủ yếu là vụ mùa năm 2016
nhiều diện tích lúa, ngô và rau các loại bị ngập sâu, mất trắng không cho thu
hoạch; chăn nuôi, tuy đàn lợn giảm nhưng sản lượng gia cầm, trứng, trâu, bò,
sữa bò tăng khá nên ngành chăn nuôi vẫn tăng 1,57% so với năm 2016.
- Tổng giá trị tăng thêm ngành công nghiệp, xây dựng đạt 35.670 tỷ đồng,
tăng 10,14% so với năm 2016, đóng góp vào tăng trưởng chung của tỉnh là
4,84 điểm %. Trong đó, giá trị tăng thêm ngành công nghiệp đạt 33.084 tỷ
đồng, tăng 10,14%, đóng góp vào tăng trưởng chung của tỉnh là 4,49 điểm %.
- Thu nhập bình quân đầu người năm 2017 đạt 75 triệu đồng/
người/năm. Vĩnh Phúc là tỉnh không những đảm bảo tự cân đối thu- chi ngân
sách mà hàng năm còn đóng góp cho ngân sách Trung ương.
2.2.3. Các đặc điểm khác :
2.2.3.1. Về giáo dục :
Sự nghiệp giáo dục- đào tạo đạt được những kết quả quan trọng. Cơ sở
vật chất như trường, lớp được đầu tư nâng cấp cải thiện đáng kể, đội ngũ giáo
viên ngày càng được chuẩn hoá, bổ xung biên chế giáo viên các cấp học, đảm
Học viên: Hoàng Văn Tâm.

9


Khóa luận tốt nghiệp lớp Dân
số
bảo đủ giáo viên và đồng bộ về cơ cấu bộ môn. Đến nay toàn tỉnh có 163
trường mầm non, 173 trường tiểu học, 144 trường THCS, 39 trường THPT.
Về giáo dục chuyên nghiệp, giáo dục thường xuyên và dạy nghề được
coi trọng và được quan tâm đầu tư. Hiện nay trên địa bàn tỉnh có 4 trường cao
đẳng, đại học, 8 trường cao đẳng - trung học chuyên nghiệp và đào tạo nghề,
công nhân kỹ thuật... từng bước đáp ứng yêu cầu phát triển nguồn nhân lực
cung cấp cho thị trường lao động trong tỉnh và cả nước, đáp ứng công cuộc
công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.
2.2.3.2. Về Y tế :
Sự nghiệp Y tế luôn được cấp uỷ đảng, chính quyền các cấp quan tâm
đầu tư kinh phí xây dựng các bệnh viện tuyến tỉnh và huyện, tỉnh Vĩnh Phúc
có chính sách hỗ trợ, khuyến khích con em của tỉnh theo học tại Đại học Y Hà
Nội và theo học trình độ cao hơn sau khi học xong về công tác tại tỉnh . Ngành
Y tế Vĩnh Phúc luôn chú trọng nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ Y tế, củng
cố mạng lưới y tế cơ sở, đầu tư cải tạo, mở rộng, nâng cấp một số bệnh viện
lớn của ngành, đặc biệt là năm 2008 sau khi có sự giải thể của Uỷ ban dân sốGD&TE tỉnh bàn giao một phần chức năng, nhiệm vụ sang ngành Y tế, Sở Y
tế Vĩnh Phúc đã nhanh chóng củng cố, bố trí đủ nhân lực, nguồn lực cho công
tác Dân số- KHHGĐ. Đến nay 137/137 xã, phường, thị trấn có trạm Y tế, 9/9
huyện, thị thành phố có Trung tâm Y tế huyện đa chức năng, 5 bệnh viện
tuyến tỉnh, 1 bệnh viện đa khoa khu vực, 02 bệnh việnh của Trung ương và
quân đội trên địa bàn tỉnh, ngoài ra còn có trên 100 phòng khám và cơ sở tư
nhân tham gia vào hoạt động khám chữa bệnh cho nhân dân trong tỉnh.
Công tác bảo vệ, chăm sóc sức khoẻ nhân dân, phòng chống các bệnh
xã hội, các dịch bệnh luôn được quan tâm chủ động phòng ngừa, ngăn chặn
không để dịch bệnh xảy ra trên diện rộng.
2.2.3.3. Về dân số :

Học viên: Hoàng Văn Tâm.

10


Khóa luận tốt nghiệp lớp Dân
số
Là tỉnh có quy mô dân số lớn 1.066.000 người, dân số phân bố không
đồng đều, tỷ lệ dân số nông thôn là: 776.449 người ( chiếm 77.6%), dân số
thành thị là: 289.551 người( chiếm 22.4%), nguồn lao động của Vĩnh Phúc
khá dồi dào, chiếm khoảng 61,6% tổng dân số, trong đó chủ yếu là lao động
trẻ, có kiến thức văn hoá và tinh thần sáng tạo để tiếp thu kỹ thuật và công
nghệ tiên tiến. Sự phát triển kinh tế mạnh mẽ trong những năm qua, đặc biệt là
công nghiệp đã trở thành môi trường nâng cao tay nghề cho người lao động.
Cùng với đẩy mạnh phát triển kinh tế- xã hội, công tác Dân sốKHHGĐ luôn được sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng, chính quyền các
cấp, sự chỉ đạo trực tiếp của Tổng cục Dân số- KHHGĐ, Sở Y tế và sự tham
gia, ủng hộ tích cực của các ban ngành, đoàn thể và nhân dân trong tỉnh. Vĩnh
Phúc là tỉnh đã đạt mức sinh thay thế từ năm 2001, kết quả giảm sinh được
duy trì tương đối ổn định trong nhiều năm qua, năm 2010 bình quân một phụ
nữ trong độ tuổi sinh đẻ ở Vĩnh Phúc có 1,98 con. Tuy đã đạt mức sinh đã thay
thế song công tác Dân số - KHHGĐ vẫn tiếp tục đối mặt với nhiều thách thức.
Đến thời điểm hiện tại, Vĩnh Phúc là tỉnh có dân số trẻ, tiềm năng sinh đẻ lớn,
số người bước vào độ tuổi sinh đẻ đang trong giai đoạn cao nhất.
Do
công nghiệp phát triển nhanh dẫn đến thu hút lao động ngoài tỉnh vào làm việc
làm cho tỷ lệ tăng dân số cơ học tăng lên rõ rệt, đặc biệt là số lao động trong
độ tuổi sinh đẻ. Việc phát triển các khu công nghiệp dẫn đến nhiều vấn đề xã
hội cần được quan tâm, cùng với đó là những phức tạp trong quản lý biến
động cơ học về dân số.
Quy mô dân số lớn và phân bố không đồng đều, cơ cấu dân số trẻ, chất
lượng dân số thấp, Tỷ số chênh lệch giới tính giới tính của trẻ khi sinh cao
đang ở mức báo động, đây là khó khăn, thách thức lớn nhất đối với công tác
Dân số- KHHGĐ của tỉnh trong năm năm tiếp theo.

2.3. Thực trạng chênh lệch tỷ số giới tính khi sinh tại tỉnh
Vĩnh Phúc giai đoạn 2011-2016.
Học viên: Hoàng Văn Tâm.

11


Khóa luận tốt nghiệp lớp Dân
số
2.3.1. Cơ cấu dân số trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc từ năm 2011 2016
Bảng 1. Cơ cấu dân số theo giới tính và tỷ lệ giới tính ở tỉnh từ năm
2011 -2016
Năm

Dân số

Nam (Người)

Nữ (Người)

Tỷ số giới
tính (%)
97,58
97,58
97,58
96,76
96,76
96,76

2011
1.014.598
501.082
513.516
2012
1.022.412
504.944
513.468
2013
1.029.412
508.405
521.007
2014
1.041.936
512.384
529.552
2015
1.054.492
518.559
535.933
2016
1.066.021
524.229
541.791
Nguồn: Niên giám thống kê Vĩnh Phúc từ năm 2011-2016
Từ kết quả thể hiện trong bảng 1 cho thấy dân số tỉnh Vĩnh Phúc tăng
dần qua các năm theo xu thế chung tăng dân số của cả nước. Số người nam
giới sinh ra cao hơn nữ giới đã dẫn tới tỷ số giới tính nói chung tăng dần từ
năm 2011-2016 nhưng vẫn dưới 100. Tức là tổng dân số nữ vẫn lớn hơn tổng
dân số nam. Như vậy nhìn chung tỷ số giới tính đến nay vẫn chưa mất cân
bằng.
Nhưng tỷ số giới tính hàng năm đang tăng lên, do sự chênh lệch giữa trẻ
em trai và trẻ em gái mới sinh. Vì thế chỉ nghiên cứu tỷ số giới tính chung thì
chúng ta sẽ không thấy được nguy cơ mất cân bằng giới tính. Để có nhận thức
đúng đắn và đầy đủ về tình trạng mất cân bằng giới tính khi sinh của tỉnh
Vĩnh Phúc thì việc nghiên cứu tỷ số giới tính khi sinh ở nhóm trẻ mới sinh là
hết sức quan trọng.
2.3.2. Tỷ số giới tính khi sinh tại tỉnh Vĩnh Phúc
Tỷ số giới tính khi sinh ở tỉnh Vĩnh Phúc từ năm 2011 đến 2016 đều
cao hơn so với tỷ số giới tính khi sinh của toàn quốc. Tỷ số giới tính có tăng
giảm qua các năm, nhưng xu hướng tăng mạnh vào năm 2011 đạt 116,15
nam/100 nữ và cho đến năm 2016 tuy phần nào đã được khống chế xong vẫn
Học viên: Hoàng Văn Tâm.

12


Khóa luận tốt nghiệp lớp Dân
số
ở mức cao là 111,76 trẻ nam/100 trẻ nữ. Việc tăng nhanh tỷ lệ giới tính khi
sinh trong những năm gần đây cần được quan tâm để tìm hiểu nguyên nhân và
đề ra giải pháp cho phù hợp.
Bảng 2. Tỷ số giới tính khi sinh từ năm 2011 - 2016
TT

Tên đơn vị

Năm
Năm
Năm
Năm
Năm
Năm
2011
2012
2013
2014
2015
2016
1 Thành phố Vĩnh Yên
118,05 105,97 107,10 107,49 108,21 109,3
2 Thành Phố Phúc Yên
112,04 116,08 114,74 121,56 115,33 119,5
3 Huyện Yên Lạc
117,74 118,59 125,44 115,55 108,95 110,5
4 Huyện Vĩnh Tường
116,05 118,87 115,07 105,53 111,61 113,9
5 Huyện Tam Đảo
118,48 109,64 112,18 114,75 113,25 109,6
6 Huyện Tam Dương
120,33 115,23 113,22 112,72 109,21 110,6
7 Huyện Lập Thạch
109,92 116,48 118,05 114,85 111,63 114,7
8 Huyện Sông Lô
110,03 116,88 109,43 120,16 126,24 107,4
9 Huyện Bình Xuyên
121,73 114,96 109,94 107,14 105,26 108,9
Toàn tỉnh
116,15 115,35 114,56 112,77 113,5
111,76
Nguồn: Chi cục Dân số- KHHGĐ tỉnh Vĩnh Phúc năm 2011 - 2016
Nếu trong giai đoạn 2001-2005, tỷ số này ở mức bình thường là 107
bé trai/100 bé gái thì từ năm 2009 đến nay tỷ số này tăng nhanh ở mức báo
động: năm 2009 là 114,9 bé trai/100 bé gái và tỷ lệ này ở các năm như sau:
Năm 2010 là 115,37 bé trai/100 bé gái; năm 2011 là 116,15 bé trai/100 bé gái;
năm 2012 là 115,35 bé trai/100 bé gái; năm 2013 là 114,56 bé trai/100 bé gái ;
Năm 2014 là 112,77 bé trai/100 bé gái, dự báo năm 2015 là 113, 5 bé trai/ 100
bé gái. Tỷ số giới tính khi sinh ở tỉnh Vĩnh Phúc đến nay tuy có giảm nhưng
vẫn còn ở mức cao so với ngưỡng cân bằng, nếu cứ theo số liệu trên mà không
có sự chuyển biến thì sau 20 năm nữa số lượng nam giới trưởng thành sẽ
nhiều hơn so với nữ giới trưởng thành. Sẽ có nhiều đàn ông đến tuổi kết hôn
nhưng không tìm được bạn đời, từ đó gây nhiều hậu quả nghiêm trọng về
kinh tế, chính trị, trật tự an toàn xã hội cụ thể như: tăng tệ nạn mại dâm, tăng
nguy cơ lây nhiễm HIV, tệ nạn buôn bán phụ nữ và trẻ em gái….

Học viên: Hoàng Văn Tâm.

13


Khóa luận tốt nghiệp lớp Dân
số
Theo số liệu thống kê của Chi cục Dân số-KHHGĐ tỉnh Vĩnh Phúc,
năm 2016, tỷ số giới tính khi sinh toàn tỉnh là 111,76/100, sự chênh lệch giới
tính lại diễn ra không đồng đều ở một số huyện, điển hình như Thành phố
Phúc Yên là 115,3/100, huyện Lập Thạch là 114,7/100, huyện Vĩnh Tường
113,9/100. Bên cạnh đó, còn một số huyện vẫn giữ được mức cân bằng như
huyện Bình Xuyên 108,9/100;
Như vậy, qua bảng số liệu trên cho thấy, từ năm 2011 đến năm 2016
toàn tỉnh có 09 huyện, thành phố thì cả 9 huyện, thành phố đều có tỷ số giới
tính khi sinh lớn hơn 100, điều này cho thấy tình trạng chênh lệch tỷ số giới
tính khi sinh của tỉnh được thể hiện một cách rõ rệt ở hầu hết các huyện. Trong
mấy năm trở lại đây có một số huyện có tỷ số giới tính ở mức cân bằng.
Việc sinh con thứ 3 không những ảnh hưởng trực tiếp đến vấn đề tăng
sinh nó còn ảnh hưởng trục tiếp đến gia tăng tỷ số giới tính khi sinh, sự thiếu
hụt về nữ giới so với nam giới, các vấn đề tệ nạn xã hội gia tăng... mà nó còn
ảnh hưởng lớn đến kinh tế của các hộ gia đình. Việc sinh nhiều con sẽ là gánh
nặng về mặt kinh tế với các hộ gia đình, cuộc sống trở nên khó khăn hơn trong
điều kiện mức thu nhập hạn chế.
Bảng 3. Tỷ số giới tính theo thứ tự lần sinh 6 tháng đầu năm 2011 của
một số huyện trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc.
Tên đơn vị

Số
TE
sinh
ra

Tổng
số

Lần 1
Nam Nữ

Tỷ số
giới
tính

Tổng
số

Lần 2
Nam Nữ

Tam Dương

907

451 243

208 116,8

369

216

Tam Đảo

684

358 188

170 110,5

260

157

TP. Phúc
Yên

727

379 203

176 115,3

296

148

Bình Xuyên

104

510 250

260

408

211

Học viên: Hoàng Văn Tâm.

96,1

14

Tỷ số
giới
tính

15 141,1
3
10 152,4
3
14
100
8
19 107,1

Tổng
số

Lần 3 trở lên
Nam
Nữ
Tỷ số
giới
tính

87

62

25 248,0

66

42

24 175,0

52

37

15 246,6

128

80

48 166,6


Khóa luận tốt nghiệp lớp Dân
số
6
Tổng cộng

3364

7
1698

884

814

108,59

1333

732

601

121,79

333

221

112

Nguồn: Chi cục Dân số-KHHGĐ tỉnh Vĩnh Phúc, 2011
Phân tích số liệu sinh qua các lần sinh của một số huyện, thị, thành phố
trong tỉnh cho thấy ở lần sinh thứ nhất là tỷ số giới tính khi sinh là108,59; lần
sinh thứ hai là 121,79; lần sinh thứ 3 là 197,3. Như vậy ngay từ lần sinh thứ
nhất đã cao hơn mức chuẩn sinh học một cách đáng kể. Nhiều chuyên gia
nghiên cứu nhân khẩu học khi xem xét tỷ số GTKS qua các lần sinh ở VN cho
rằng một số cặp vợ chồng có thể đã thực hiện lựa chọn giới tính trước sinh
ngay trong lần mang thai thứ nhất
So sánh giữa các huyện cho thấy tỷ số giới tính khi sinh ở lần sinh thứ 3
cao nhất là huyện Tam Dương có tỷ số giới tính ở lần sinh thứ 3 này là tương
đối cao. Điều này cho thấy việc các cặp vợ chồng vẫn quyết định sinh con lần
thứ 3 và đáp ứng được nhu cầu sinh con trai ở lần sinh thứ 3 này là rất cao.
Qua bảng số liệu trên cũng cho thấy khi khoa học và kỹ thuật ngày càng phát
triển, trình độ người dân ngày càng cao, kinh tế phát triển, kết hợp việc thực
hiện chính sách dân số gia đình một hoặc hai con, nên nhiều cặp vợ chồng đã
có nhu cầu, mong muốn sinh con trai ngay từ lần sinh đầu tiên, kết quả tỷ số
giới tính khi sinh đã cao ngay ở lần sinh đầu và cao nhất ở lần sinh thứ 3 trở
lên.
2.3.3. Các nguyên nhân dẫn đến chênh lệch tỷ số giới tính khi sinh.
Thực trạng mất cân đối về giới tính ở trẻ sơ sinh theo hướng các cháu
trai nhiều hơn các cháu gái là do nhiều nguyên nhân.
2.3.3.1. Nguyên nhân trọng nam khinh nữ
Tư tưởng trọng nam khinh nữ ở nước ta được lý giải dựa trên ảnh
hưởng của tư tưởng Nho giáo và nhận thức của người dân về thực tiễn cuộc
sống: Người đàn ông có trách nhiệm nối dõng dòng họ, sẽ trông nom chăm
sóc mồ mả tổ tiên; không có con trai là một điều bất kính với tổ tiên dòng họ.
Nam giới là nguồn lao động chính, kế thừa tài sản của gia đình và có trách

Học viên: Hoàng Văn Tâm.

15

197,3


Khóa luận tốt nghiệp lớp Dân
số
nhiệm chăm sóc cha mẹ lúc về già. Khi hệ thống phúc lợi xã hội đối với người
già còn chưa phát triển, nhất là tại các vùng nông thôn, nơi trên 70% dân số
đang sinh sống, con cái chăm sóc cha mẹ già vẫn là hết sức quan trọng. Người
già vẫn đa phần phải dựa vào sự hỗ trợ trong gia đình. Mặc dù công tác dân số
trong thời gian qua đã rất chú trọng đến việc tuyên truyền, giáo dục để dần
loại bỏ tư tưởng trọng nam khinh nữ, tuy nhiên ảnh hưởng vẫn còn rất nặng nề
đến việc thực hiện các mục tiêu dân số. Thực tế cho thấy, tư tưởng trọng nam,
khinh nữ còn gây những thách thức đối với công tác Dân số-KHHGĐ. Hệ
thống an sinh xã hội cho người cao tuổi chưa phát triển, nhất là các khu vực
nông thôn, nơi có trên 70% dân số đang sinh sống. Người cao tuổi hầu hết
không có lương hưu, hay trợ cấp xã hội, họ cần chăm sóc về y tế và lo cho
cuộc sống. Tất cả phụ thuộc vào khả năng phụng dưỡng của con cái, mà theo
quan niệm của gia đình truyền thống, trách nhiệm đó chủ yếu thuộc về con
trai. Người già vì thế sẽ cảm thấy lo lắng cho tương lai và bất an khi về già
nếu không có con trai.
2.3.3.2. Nguyên nhân về kinh tế
Trong nền sản xuất nông nghiệp, thủ công, sự vượt trội về cơ bắp của
con trai trở thành một ưu điểm. Năng suất lao động thấp nên cha mẹ thường
không có tích lũy để dành cho tuổi già nên khi hết khả năng lao động cuộc
sống hoàn toàn phải dựa vào con, chủ yếu là con trai, vì con gái đã đi lấy
chồng, bảo hiểm xã hội hầu như chưa có. Tuy nhiên, hiện nay vấn đề thích con
trai để có nguồn lực lao động chỉ còn ở một số khu vực kinh tế như: nghề đi
biển, khai thác mỏ, khai thác gỗ... Hiện nay tại tỉnh Vĩnh Phúc chưa có số liệu
báo cáo thống kê, nhưng qua phản ánh của cán bộ Cộng tác viên dân số cho
thấy nhiều cặp vợ chồng là cán bộ, công chức, viên chức, lực lượng vũ
trang .... và những cặp vợ chống có kinh tế khá giả đã mang thai, đẻ nhiều hơn
trước đây và phổ biến ở các địa phương.
2.3.3.3 Do tâm lý ứng xử tại cộng đồng

Học viên: Hoàng Văn Tâm.

16


Khóa luận tốt nghiệp lớp Dân
số
+ Trong xã hội cũ việc phân biệt đối xử, coi trọng nam, coi khinh nữ đã
tạo nên một tâm lý thích con trai đến tận ngày nay, thậm chí còn có trường
hợp biểu hiện “cay cú” khi không sinh được con trai. Trong cái xã hội mà việc
sinh nhiều con gái vẫn coi như chưa có con, nhưng chỉ có một người con trai
thì đã được coi là có con “nhất nam viết hữu, thập nữ viết vô” hay luật tam
tòng đối với người phụ nữ “Tại gia tòng phụ, xuất giá tòng phu, phu tử tòng
tử” thì rõ ràng người phụ nữ thực sự chưa được coi là “con người”. Chỉ có
người đàn ông mới có thể trở thành “chính nhân quân tử”, còn phụ nữ luôn là
kẻ “tiểu nhân”. Hay đàn ông thì có thể “năm thê bẩy thiếp” nhưng người phụ
nữ “chính chuyên thì chỉ có một chồng”. Chính những ứng xử nghiệt ngã đối
với người phụ nữ trong xã hội cũ làm cho tính cố hữu khó biến chuyển trong
nhận thức mặc dù trong xã hội mới địa vị người phụ nữ đã được đối xử bình
đẳng.
+ Hiện nay ở một số dòng họ, gia đình vẫn còn cách ứng xử trọng nam
hơn nữ như: con trai được chăm sóc tốt hơn con gái, con trai được tạo điều
kiện học tập tốt hơn con gái, con gái phải lao động sớm và nặng nhọc hơn con
trai...
2.3.3.4. Cơ hội tham gia quản lý xã hội, việc làm, thu nhập đối với
nam giới dễ dàng hơn nữ giới.
Mặc dù luật pháp đã có qui định mọi công dân nữ và nam có quyền
ngang nhau về mọi mặt chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội và gia đình; nhưng
phụ nữ tham gia quản lý xã hội, tham gia trong các cơ quan Nhà nước ít hơn
nam giới, một số đơn vị kinh tế vẫn đưa ra khuyến cáo chỉ tuyển lao động nam
(mặc dù ngành nghề đó phụ nữ vẫn có thể làm được). Trong đó dân số nữ
chiếm 1/2, vì thế phụ nữ thường phải lao động ở khu vực thủ công, nông
nghiệp, hay lao động giản đơn trong các khu vực công nghiệp (nghề may, giầy
da …) và thu nhập thường thấp hơn nhiều so với nam giới.
2.3.3.5. Nguyên nhân về kỹ thuật
Học viên: Hoàng Văn Tâm.

17


Khóa luận tốt nghiệp lớp Dân
số
Nếu như tâm lý thích sinh con trai là nguyên nhân sâu xa dẫn đến tình
trạng mất cân bằng giới tính khi sinh thì nguyên nhân trực tiếp để có thể đạt
được ý định sinh con trai chính là các biện pháp kỹ thuật lựa chọn giới tính.
Tỷ số giới tính tăng lên không phải ý thức thích sinh con trai ngày nay lớn hơn
trước đây mà chính là do sự phát triển của khoa học, kỹ thuật cho phép cung
cấp dịch vụ tư vấn và nhiều phương pháp kỹ thuật vừa rẻ tiền vừa sinh được
con theo ý muốn. Siêu âm cụ thể chẩn đoán được từ sớm giới tính thai nhi và
phá thai nếu giới tính của đứa con tương lai không đáp ứng được mong muốn
của cha mẹ, theo nhiều nhà nghiên cứu, là nguyên nhân kỹthuật chủ yếu dẫn
đến mất cân bằng giới của trẻ sơ sinh. Theo thống kê của khoa sản một số đơn
vị Y tế tỉnh Vĩnh Phúc cho thấy 100% phụ nữ mang thai đều khám siêu âm ít
nhất 1 lần để biết tình trạng sức khoẻ thai nhi. Tất cảc các bà mẹ siêu âm thai
đều muốn biêt giới tính của thai nhi. Tuy nhiên để biết được giới tính thường
các bà mẹ mang thai phải siêu âm tại các cơ sở dịch vụ siêu âm tư nhân để dễ
dàng có được kết quả giới tính thai nhi.
2.3.4. Hậu quả do chênh lệch tỷ số giới tính tại tỉnh Vĩnh Phúc
2.3.4.1. Đối với gia đình
Hạnh phúc của gia đình sẽ không được trọn vẹn nếu có nam giới ở độ
tuổi trưởng thành khó có cơ hội lấy được người vợ mong muốn, phải sống
độc thân. Điều này gây ra những lo lắng, căng thẳng về tâm lý, mất nhiều thời
gian hơn trong việc tìm vợ đối với các thành viên trong gia đình, ảnh hưởng
đến hạnh phúc và sự phát triển bền vững kinh tế gia đình. Người vợ phải cố
sinh thêm con trai do bị sức ép từ phía gia đình và người chồng hoặc phải nạo
phá thai vì lý do lựa chọn giới tính thai nhi sẽ ảnh hưởng rất xấu đến sức khỏe
của người phụ nữ và sự phát triển bền vững kinh tế gia đình vì:
- Cố đẻ để có con trai, nghĩa là người phụ nữ phải sinh đẻ nhiều lần, dẫn
đến sức khỏe của người phụ nữ sẽ bị suy giảm dần. Ngoài ra mỗi lần sinh đẻ
có thể gây ra những rủi ro khó lường đối với sức khỏe của cả mẹ và con.

Học viên: Hoàng Văn Tâm.

18


Khóa luận tốt nghiệp lớp Dân
số
- Mỗi lần nạo phá thai đều gây ra những lo lắng sợ hãi đối với người
phụ nữ. Ngoài ra nạo phá thai có thể gây ra những tai biến như băng huyết, tổn
thương cổ tử cung, nhiễm trùng, sót nhau,…và có thể dẫn đến vô sinh.
- Nạo phá thai và cố đẻ để có con trai đều ảnh hưởng đến sự phát triển
bền vững kinh tế gia đình do phải tăng thêm chi phí để chăm sóc sức khỏe cho
người phụ nữ, giảm thu nhập của các thành viên trong gia đình vì phải dành
nhiều thời gian để chăm sóc sức khỏe cho người phụ nữ.
2.3.4.2 Đối với xã hội
Mất cân bằng giới tính khi sinh sẽ gây ra những khó khăn thách thức
mới đối với công tác dân số như phải tốn thêm nhiều nguồn lực cho các
nghiên cứu để nắm được thực trạng tỷ số giới tính khi sinh tăng cao ở những
tỉnh/thành phố, huyện và xã/phường nào, nguyên nhân của thực trạng này để
làm căn cứ đề xuất các biện pháp can thiệp. Việc giải quyết vấn đề mất cân
bằng giới tính khi sinh đòi hỏi chương trình Dân số-KHHGĐ phải quan tâm
giải quyết trong thời gian dài, làm tăng đáng kể nguồn lực để giải quyết vấn đề
này. Nhóm nam giới gặp khó khăn trong việc tìm vợ hoặc không thể lấy được
vợ, phải duy trì cuộc sống độc thân có thể gây ra những bất ổn về trật tự an
toàn ở cộng đồng, làm gia tăng tệ nạn mại dâm, buôn bán trẻ em gái, phụ nữ
và các loại tội phạm xã hội khác do nhu cầu tình dục của họ không được đáp
ứng. Thay đổi cơ cấu dân số trong tương lai, thay đổi tỷ số giới tính ở các
nhóm kéo theo sự thay đổi cơ cấu nghề; Thiếu hụt phụ nữ ở độ tuổi lập gia
đình dẫn đến tình trạng một tỷ lệ nam giới còn tồn thừa ở độ tuổi cao hơn sẽ
phải trì hoãn cưới xin; Tình trạng khan hiếm phụ nữ sẽ cản trở việc nâng cao
địa vị của họ trong xã hội từ nhiều lý do: tăng áp lực cuới xin dẫn đến xây
dựng gia đình sớm, áp lực của tệ nạn buôn bán phụ nữ dưới hình thức hôn
nhân v.v…
2.4. Giải pháp hạn chế chênh lệch tỷ số giới tính khi sinh tại tỉnh
Vĩnh Phúc giai đoạn 2020-2025.
2.4.1. Định hướng.
Học viên: Hoàng Văn Tâm.

19


Khóa luận tốt nghiệp lớp Dân
số
Mặc dù còn nhiều khó khăn, thách thức trong công tác kiểm soát mất
cân bằng giới tính như: Tỷ lệ sinh con thứ 3+ còn cao trên 10%. Vẫn còn cán
bộ, đảng viên sinh con thứ 3 trở lên. Tỷ số giới tính khi sinh tuy đã giảm
nhưng vẫn còn cao trên 110 bé trai/100 bé gái. Một số huyện có tỷ số giới tính
khi sinh rất cao trên 115 bé trai/100 bé gái. Số người mới áp dụng BPTT hiện
đại như đình sản, cấy tránh thai còn thấp không đạt được chỉ tiêu giao.
Cán bộ làm công tác Dân số- KHHGĐ xã cơ bản là mới, năng lực và
trình độ chuyên môn còn chưa đáp ứng kịp được yêu cầu nên gặp không ít
khó khăn trong việc thực hiện nhiệm vụ chuyên môn, công tác tham mưu,
triển khai thực hiện còn hạn chế.
Tổ chức bộ máy làm công tác dân số tuyến cơ sở thiếu ổn định, cán bộ
dân số chưa thật sự yên tâm công tác.
Chất lượng đội ngũ Cộng tác viên Dân số-KHHGĐ chưa đồng đều, một
số kỹ năng tuyên truyền, vận động còn hạn chế. Cộng tác viên Dân sốKHHGĐ luôn có sự biến động (10%/năm) do thù lao quá thấp
(150.000đ/tháng) chưa tương xứng với mức độ công việc nên chưa khuyến
khích họ phát huy khả năng, sự nhiệt tình và trách nhiệm trong công việc.
Công tác truyền thông tại cơ sở gặp nhiều khó khăn vì đối với những
nhóm đối tượng cần truyền thông, tư vấn phần nhiều đi làm tại các khu công
nghiệp, nhà máy, công ty do vậy việc tham dự các buổi truyền thông còn chưa
thu hút được nhiều đối tượng tham gia.
Nhưng việc khống chế có hiệu quả tốc độ gia tăng tỷ số giới tính khi
sinh, tiến tới đưa tỷ số giới tính khi sinh trở lại mức cân bằng tự nhiên góp
phần nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, phục vụ sự nghiệp công nghiệp
hóa, hiện đại hóa tỉnh Vĩnh Phúc là việc cần làm và có mục tiêu rõ ràng. Đến
năm 2020:
- Khống chế tốc độ tăng tỷ số giới tính khi sinh ở mức 0,3 Điểm phần
trăm/năm, để tỷ số này ở mức 110 vào năm 2025.

Học viên: Hoàng Văn Tâm.

20


Khóa luận tốt nghiệp lớp Dân
số
- Giảm tốc độ gia tăng tỷ số giới tính khi sinh, tạo cơ sở thuận lợi để
đưa tỷ số này đạt khoảng 107 sau năm 2025, đưa tỷ số giới tính khi sinh về
mức cân bằng tự nhiên.
2.4.2. Giải pháp hạn chế chênh lệch tỷ số giới tính khi sinh.
2.4.2.1. Truyền thông giáo dục và vận động thay đổi hành vi.
- Cung cấp đầy đủ, thường xuyên các thông tin về tình trạng mất cân
bằng giới tính khi sinh; nguyên nhân và hệ lụy của tình trạng mất câng bằng
giới tính khi sinh; tình hình triển khai, kết quả thực hiện và các yếu tố cản trở
thực hiện Đề án Kiểm soát mất cân bằng giới tính khi sinh giai đoạn 20162025 của tỉnh bằng các hình thức phù hợp cho cán bộ lãnh đạo các cấp ủy
Đảng, chính quyền, các đoàn thể chính trị - xã hội và người có uy tín trong
cộng đồng để nâng cao nhận thức và huy động sự tham gia lãnh đạo, chỉ đạo
của cấp ủy đảng, chính quyền từ tỉnh đến cơ sở.
- Tổ chức các cuộc nói chuyện chuyên đề, các chiến dịch, sự kiện
truyền thông về mất cân bằng giới tính khi sinh với các nhóm đối tượng trong
cộng đồng: Các cặp vợ chồng, những người đứng đầu dòng họ và gia đình,
nam nữ thanh niên chuẩn bị kết hôn, người cao tuổi và những người cung cấp
dịch vụ có liên quan đến lựa chọn giới tính thai nhi với những nội dung, thông
điệp phù hợp.
- Phổ biến, tuyên truyền, giáo dục pháp luật về nghiêm cấm tuyên
truyền, phổ biến, chẩn đoán, lựa chọn giới tính thai nhi tới các đơn vị, cá nhân
cung cấp dịch vụ y tế, văn hóa phẩm trên địa bàn tỉnh.
- Vận động trực tiếp đối tượng có nguy cơ cao (sinh con một bề) không
lựa chọn giới tính thai nhi, tránh hậu quả của mất cân bằng giới tính khi sinh.
- Thực hiện giáo dục về giới, bình đẳng giới với nội dung, hình thức
thích hợp cho từng cấp học nhằm cung cấp kiến thức, kỹ năng thực hành bình
đẳng giới cho thế hệ trẻ.
2.4.2.2.Có các chính sách khuyến khích, hỗ trợ

Học viên: Hoàng Văn Tâm.

21


Khóa luận tốt nghiệp lớp Dân
số
Xây dựng, thử nghiệm và thực hiện các chính sách nhằm hỗ trợ, nâng
cao vai trò, vị thế của phụ nữ và trẻ em gái trong gia đình, cộng đồng và xã
hội.
Nghiên cứu, xây dựng chính sách hỗ trợ về vật chất, tinh thần cho các
cặp vợ chồng sinh con một bề là gái thuộc hộ nghèo, cận nghèo, đồng bào dân
tộc thiểu số thuộc vùng khó khăn; cho cha mẹ sinh con một bề là gái khi hết
tuổi lao động nhưng không có lương hưu, các học sinh giỏi thuộc gia đình sinh
con một bề là gái theo quy định hiện hành của nhà nước
2.4.2.3. Nâng cao hiệu lực thực thi những quy định của pháp luật về
kiểm soát mất cân bằng giới tính khi sinh
- Hàng năm, các ngành chức năng cùng cấp tổ chức các đợt thanh tra,
kiểm tra định kỳ, đột xuất việc thực hiện các quy định của pháp luật về
nghiêm cấm lựa chọn giới tính thai nhi dưới mọi hình thức; xử lý nghiêm các
trường hợp vi phạm theo quy định của pháp luật; thông báo công khai, rộng
rãi các đơn vị, cá nhân vi phạm và kết quả xử lý.
- Tổ chức các hoạt động đào tạo, tập huấn, bồi dưỡng chuyên môn,
nghiệp vụ về kiểm soát mất cân bằng giới tính khi sinh cho cán bộ công chức
y tế - dân số, người cung cấp dịch vụ y tế có liên quan.
- Tổ chức ký cam kết không thực hiện hành vi liên quan đến lựa chọn
giới tính thai nhi đối với cán bộ y tế làm việc tại các đơn vị trong ngành Y tế,
cán bộ làm việc ở các cơ sở cung cấp dịch vụ sản khoa, siêu âm, nạo phá thai,
cơ sở khám chữa bệnh y học cổ truyền, kinh doanh thuốc đông y.
2.4.2.4. Tăng cường sự vào cuộc của các Sở, ban ngành đoàn thể và
toàn xã hội
* Sở Y tế
- Chủ trì, phối hợp với các Sở, ban, ngành, đoàn thể chính trị - xã hội,
UBND cấp huyện hướng dẫn, đôn đốc, kiểm tra, giám sát tổ chức triển khai
thực hiện Kế hoạch của UBND tỉnh và chịu trách nhiệm trước UBND tỉnh về
kết quả thực hiện kế hoạch trên phạm vi toàn tỉnh;
Học viên: Hoàng Văn Tâm.

22


Khóa luận tốt nghiệp lớp Dân
số
- Chỉ đạo các đơn vị trong ngành thực hiện tốt các nội dung, mục đích,
yêu cầu theo Kế hoạch của UBND tỉnh và các quy định của pháp luật; đảm
bảo từng bước hạn chế tốc độ gia tăng mất cân bằng giới tính khi sinh tiến tới
đưa về mức chỉ số giới tính tự nhiên.
- Định kỳ hàng năm tổng hợp, báo cáo kết quả thực hiện với UBND tỉnh
và Bộ Y tế theo quy định.
* Sở Văn hoá, Thể thao và Du lịch: Chủ trì, phối hợp với Sở Y tế và
các cơ quan liên quan trong việc rà soát các hương ước, quy ước… Chỉ đạo,
hướng dẫn các địa phương đưa nội dung bình đẳng giới; không phân biệt vai
trò con trai trong chăm sóc bố mẹ già, trong công việc gia đình, họ tộc; không
lựa chọn giới tính thai nhi vào hương ước, quy ước tại địa phương; tổng hợp
các cơ sở kinh doanh văn hoá phẩm. Kiểm tra, thanh tra các cơ sở kinh doanh
văn hoá phẩm có nội dung tuyên truyền về lựa chọn giới tính khi sinh và triển
khai các nhiệm vụ khác thuộc phạm vi trách nhiệm của ngành.
* Sở Giáo dục - Đào tạo: Chủ trì, phối hợp với Sở Y tế và các sở,
ngành liên quan lồng ghép đưa nội dung giáo dục về giới, giới tính, dân số,
sức khỏe sinh sản, bình đẳng giới vào trong chương trình giáo dục trong và
ngoài nhà trường.
* Sở Lao động - Thương binh và Xã hội:
- Chủ trì, phối hợp với các sở, ngành liên quan tiếp tục tổ chức triển khai
Chiến lược quốc gia về bình đẳng giới giai đoạn 2011-2020; xây dựng chính
sách về đào tạo nghề, tạo việc làm cho lao động nữ; hướng dẫn đưa nội dung
giáo dục về giới, giới tính, dân số, sức khỏe sinh sản, bình đẳng giới vào trong
chương trình đào tạo của các cơ sở dạy nghề.
- Chủ trì, phối hợp với Sở Y tế đề xuất giải pháp về cơ chế, chính sách liên
quan đến thúc đẩy bình đẳng giới nhằm kiểm soát mất cân bằng giới tính khi
sinh. Thực hiện truyền thông, giáo dục nâng cao nhận thức, thực hành về bình
đẳng giới nhằm giải quyết mất cân bằng giới tính khi sinh.

Học viên: Hoàng Văn Tâm.

23


Khóa luận tốt nghiệp lớp Dân
số
* Sở Thông tin và Truyền thông: Chỉ đạo các cơ quan báo chí, phát
thanh, truyền hình, thông tin điện tử phối hợp với Sở Y tế và các cơ quan liên
quan đẩy mạnh công tác thông tin, giáo dục, tuyên truyền về giới, mất cân
bằng giới tính khi sinh, hậu quả của mất cân bằng giới tính khi sinh. Chú trọng
tuyên truyền những gương điển hình trong việc thực hiện tốt chính sách Dân
số - KHHGĐ, phê phán những hành vi vi phạm pháp luật về lựa chọn giới tính
thai nhi.
* Sở Tài chính
- Tham mưu, đề xuất bố trí kinh phí cho các Sở, ngành, địa phương để
đảm bảo thực hiện Kế hoạch theo quy định của Luật ngân sách Nhà nước.
- Hướng dẫn, đôn đốc, kiểm tra việc sử dụng kinh phí thực hiện Kế
hoạch theo quy định của Luật ngân sách nhà nước và các quy định khác liên
quan.
* Sở Kế hoạch và Đầu tư
- Tham mưu, đề xuất đưa các chỉ tiêu, mục tiêu về tỷ số giới tính khi
sinh vào kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh và các địa phương hàng
năm và 5 năm; lồng ghép các hoạt động của các chương trình kinh tế - xã hội
với công tác bình đẳng giới.
- Phối hợp với Sở Tài chính cân đối nguồn ngân sách đảm bảo chi cho
các hoạt động của Kế hoạch.
* Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy: Chủ trì, phối hợp với các cơ quan liên quan
chỉ đạo công tác tuyên truyền về kiểm soát mất cân bằng giới tính khi sinh.
* Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh Vĩnh Phúc
và các tổ chức thành viên: Phối hợp với các Sở, ngành địa phương thực hiện
tuyên truyền, vận động đoàn viên, hội viên và các tầng lớp nhân dân thực hiện
chính sách, pháp luật về kiểm soát mất cân bằng giới tính khi sinh; giám sát
việc thực hiện Đề án.
* Ủy ban nhân dân các huyện, thành phố:
Học viên: Hoàng Văn Tâm.

24


Khóa luận tốt nghiệp lớp Dân
số
- Căn cứ đặc điểm, tình hình cụ thể và kế hoạch phát triển kinh tế - xã
hội của từng địa phương, kế hoạch của UBND tỉnh và hướng dẫn của Sở Y tế,
có trách nhiệm xây dựng kế hoạch, đề ra các biện pháp cụ thể trong việc kiểm
soát tình trạng mất cân bằng giới tính khi sinh tại địa phương.
- Đưa chỉ tiêu về tỷ số giới tính khi sinh vào kế hoạch phát triển kinh tế
- xã hội hàng năm của địa phương.
- Chủ động tích cực huy động bổ sung nguồn lực cho các hoạt động
kiểm soát mất cân bằng giới tính khi sinh.
- Chỉ đạo UBND các xã, phường, thị trấn phối hợp với các phòng, ban
chức năng xây dựng kế hoạch triển khai thực hiện trên địa bàn. Đồng thời tăng
cường công tác tuyên truyền vận động và đẩy mạnh việc thực hiện các giải
pháp góp phần giảm thiểu mất cân bằng giới tính khi sinh. Đưa nội dung bình
đẳng giới; không phân biệt vai trò con trai trong chăm sóc bố mẹ già, trong
công việc gia đình, họ tộc; không lựa chọn giới tính thai nhi vào hương ước,
quy ước tại địa phương.
2.4.2.5. Đưa nội dung giáo dục giới tính vào chương trình giáo dục
trong nhà trường phổ thông.
Theo chỉ đạo của Phó Thủ tướng, Bộ Giáo dục và Đào tạo nghiên cứu
đưa nội dung mất cân bằng giới tính khi sinh, giáo dục giới tính, sức khỏe
sinh sản vào chương trình giáo dục trong nhà trường phổ thông để học sinh có
nhận thức và hành vi đúng đắn về bình đẳng giới, giới tính, sức khỏe sinh sản
và trách nhiệm trong đời sống gia đình. Sở Y tế phối kết hợp với Sở Giáo dục
đưa thông tin, tài liệu về dân số và sức khỏe sinh sản phục vụ công tác giáo
dục trong hệ thống giáo dục phổ thông để cung cấp cho thế hệ trẻ kiến thức cơ
bản về dân số, sức khỏe sinh sản, nhằm định hướng hành động cho các em sau
này.
2.4.2.6. Hoàn thiện, bổ sung các văn bản quy phạm pháp luật về Dân
số-KHHGĐ phù hợp với cuộc sống.

Học viên: Hoàng Văn Tâm.

25


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×