Tải bản đầy đủ

Thi hành án phạt tiền từ thực tiễn tỉnh Bắc Ninh (Luận văn thạc sĩ)

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGUYỄN ĐỨC HÀ

THI HÀNH ÁN PHẠT TIỀN
TỪ THỰC TIỄN TỈNH BẮC NINH

LUẬN VĂN THẠC SĨ
LUẬT HÌNH SỰ VÀ TỐ TỤNG HÌNH SỰ

HÀ NỘI, 2020


VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGUYỄN ĐỨC HÀ

THI HÀNH ÁN PHẠT TIỀN
TỪ THỰC TIỄN TỈNH BẮC NINH


Ngành: Luật Hình sự và Tố tụng hình sự
Mã số: 8.38.01.04

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS. NGHIÊM XUÂN MINH

HÀ NỘI, 2020


LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các
kết quả nghiên cứu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình
nào khác. Các số liệu và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin
cậy và trung thực. Tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm nếu có gì sai trái.
Tôi xin chân thành cảm ơn !
NGƯỜI CAM ĐOAN

Nguyễn Đức Hà


MỤC LỤC
MỞ ĐẦU .......................................................................................................... 1
Chương 1:MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT VỀ THI
HÀNH ÁN PHẠT TIỀN ................................................................................. 6
1.1. Những vấn đề lý luận về thi hành án phạt tiền .......................................... 6
1.2. Quy định của pháp luật về thi hành án phạt tiền ........................................ 8
Tiểu kết chương 1............................................................................................ 19
Chương 2: THỰC TIỄN THI HÀNH ÁN PHẠT TIỀN TẠI TỈNH BẮC
NINH .............................................................................................................. 21
2.1. Tổng quan tình hình thi hành án phạt tiền tại tỉnh Bắc Ninh ................... 21
2.2. Thực trạng thi hành án phạt tiền tại tỉnh Bắc Ninh .................................. 29
2.3. Các yếu tố tác động đến kết quả thi hành án phạt tiền tại tỉnh Bắc Ninh 32
2.4. Nhận xét, đánh giá về thi hành án phạt tiền tại tỉnh Bắc Ninh ................ 50
Tiểu kết chương 2............................................................................................ 56
Chương 3: CÁC GIẢI PHÁP BẢO ĐẢM ÁP DỤNG ĐÚNG PHÁP
LUẬT VỀ THI HÀNH ÁN PHẠT TIỀN TẠI TỈNH BẮC NINH ........... 58
3. 1. Hoàn thiện các quy định của pháp luật về thi hành án phạt tiền............. 58
3.2. Nâng cao trách nhiệm của các cơ quan có thẩm quyền thi hành án phạt
tiền và cán bộ tổ chức thi hành án phạt tiền .................................................... 59


3.3. Tăng cường công tác tổng kết thực tiễn thi hành án phạt tiền ................. 64
3.4. Tăng cường công tác phổ biến, tuyên truyền, giáo dục pháp luật có liên
quan đến công tác Thi hành án phạt tiền......................................................... 65
KẾT LUẬN .................................................................................................... 69
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ..................................................... 70


CÁC CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN

BLHS
: Bộ luật hình sự
BLTTHS : Bộ luật tố tụng hình sụ
TAND

: Tòa án nhân dân

XHCN

: Xã hội chủ nghĩa

THADS

: Thi hành án dân sự


MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Với nội dung pháp lý là tước bỏ một phần quyền lợi vật chất của người
phạm tội, hình phạt tiền có khả năng tác động trực tiếp và mạnh mẽ về mặt
kinh tế đến người bị kết án. Vai trò tích cực của hình phạt tiền được thể hiện
thông qua việc chủ động loại trừ khả năng vi phạm đến mức phải xử lýbằng
hình phạt của người bị kết án. Đây cũng chính là ưu điểm nổi bật của loại
hình phạt này, nó tác động trực tiếp vào hoàn cảnh khách quan làm cho người
phạm tội mất đi các điều kiện xã hội có thể để tái phạm, đó là tiền bạc của
người bị kết án.
Hình phạt tiền được quy định từ khá sớm trong pháp luật hình sự Việt
Nam và từng bước được hoàn thiện trong các quy định của pháp luật hình sự
mỗi thời kỳ nhằm đảm bảo sự phù hợp với tình hình phát triển của đất nước.
Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 đã có những sửa
đổi, bổ sung nhất định đối với các quy định về hình phạt tiền. Những quy
phạm này đã tạo điều kiện cho các cơ quan áp dụng pháp luật đấu tranh
phòng, chống tội phạm có hiệu quả. Theo thống kê tại tỉnh Bắc Ninh, trong
năm 2016 có 250 bị cáo bị áp dụng hình phạt tiền trên tống số 2094 bị cáo bị
phải xét xử sơ thẩm, chiếm 11.9%. Trong năm 2017 có 239 bị cáo bị áp dụng
hình phạt tiền trên tống số 2629 bị cáo bị phải xét xử sơ thẩm, chiếm 9.1%.
Trong năm 2018 có 226 bị cáo bị áp dụng hình phạt tiền trên tống số 2330 bị
cáo bị phải xét xử sơ thẩm, chiếm 9.7%. Trong năm 2019 có 273 bị cáo bị áp
dụng hình phạt tiền trên tống số 2194 bị cáo bị phải xét xử sơ thẩm, chiếm
12.4% Nhìn chung, việc áp dụng hình phạt tiền có xu hướng tăng lên qua các
năm.
Hiện nay, khoa học luật hình sự trong và ngoài nước đã có nhiều công
trình khoa học nghiên cứu về hình phạt, nhưng chủ yếu chỉ đề cập một cách
tổng thể và có hệ thống những khía cạnh lý luận chung nhất về hình phạt hoặc
1


về các hình phạt chính hay hình phạt bổ sung mà mới chỉ có rất ít công trình
nghiên cứu có hệ thống, toàn diện và sâu sắc riêng về hình phạt tiền dưới góc
độ lý luận cũng như thực tiễn áp dụng và thi hành.
Với ý nghĩa quan trọng của hình phạt tiền thì việc thi hành hình phạt tiền
lại càng có ý nghĩa đặc biệt quan trọng hơn. Đó là hoạt động của các cơ quan
thi hành án dân sự nhằm thi hành các bản án, quyết định liên quan đến hình
phạt tiền. Việc nghiên cứu về thi hành hình phạt tiền ở Việt Nam mặc dù đã
được quan tâm và ban hành Luật thi hành án dân sự năm 2008 (được sửa đổi
bổ sung năm 2014) cùng với Nghị định 62/2017/NĐ-CP ngày 18 tháng 7 năm
2017 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của
Luật thi hành án dân sự và các văn bản hướng dẫn khác. Tuy nhiên để luật
thực sự đi vào cuộc sống thì vẫn cần phải có những điều chỉnh từng bước cho
phù hợp với điều kiện thực tế, các văn bản hướng dẫn luật một cách đồng bộ
và cụ thể trong công tác thi hành hình phạt tiền.
Vì lý do trên, em xin lựa chọn đề tài "Thi hành án phạt tiền từ thực tiễn
tỉnh Bắc Ninh” làm luận văn thạc sĩ luật học.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Trong những năm gần đây, công tác thi hành án dân sự nói chung và thi
hành hình phạt tiền nói riêng là nhiệm vụ cấp bách của Đảng, Nhà Nước, các
tổ chức xã hội và tất cả công dân. Thi hành án dân sự là một lĩnh vực tương
đối rộng và phức tạp, vì vậy trước những đòi hỏi khách quan của công tác thi
hành án dân sự đã có một số công trình khoa học nghiên cứu về vấn đề thi
hành án dân sự, cụ thể là: Đề tài nghiên cứu cấp bộ: “ Mô hình quản lý thống
nhất công tác thi hành án” – mã số 96-98-207/ĐT do Cục quản lý thi hành án
dân sự, Bộ Tư pháp chủ trì thực hiện; Đề tài nghiên cứu khoa học cấp nhà
nước: “ Luận cứ khoa học và thực tiễn của việc đổi mới tổ chức và hoạt động
thi hành án ở Việt Nam trong giai đoạn mới” – Do Viện nghiên cứu khoa học
pháp lý thuộc Bộ Tư pháp chủ trì thực hiện năm 2003 và các công trình
2


nghiên cứu khác như: Luận án tiến sỹ luật học của Hoàng Thế Anh (2015) về
“Giám sát thi hành án dân sự” , Khoa luật – Đại học quốc gia Hà Nội; Đề tài
khoa học cấp cơ sở: “Triển khai áp dụng luật thi hành án dân sự trong công
tác đào tạo nghiệp vụ thi hành án” do Tiến sỹ Lê Thu Hà, trưởng khoa đào tạo
Chấp hành viên và các chức danh tư pháp khác làm chủ nhiệm; “Những
vướng mắc từ thực tiễn thi hành luật thi hành án dân sự” của Nguyễn Thị
Khanh, tạp chí dân chủ và pháp luật số 05/2010; “Nguyên nhân của tình trạng
án dân sự tồn đọng” của Hoàng Thế Anh, tạp chí dân chủ và pháp luật số
06/2012; Giáo trình luật thi hành án dân sự Việt Nam của Trường đại học
Luật Hà Nội; Giáo trình kỹ năng thi hành án dân sự của Học Viện Tư pháp và
một số bài viết trên tạp chí dân chủ và pháp luật, Tạp chí luật học, Tạp chí nhà
nước và pháp luật, tin thi hành án dân sự …
Đến nay, chưa có công trình nghiên cứu nào dưới góc độ lý luận và thực
tiễn về công tác thi hành án phạt tiền ở một địa phương cụ thể với những đặc
thù riêng biệt của địa bàn có tốc độ đô thị hóa nhanh như tỉnh Bắc Ninh. Do
vậy, việc lựa chọn đề tài "Thi hành án phạt tiền từ thực tiễn tỉnh Bắc Ninh”
được xem là một trong những công trình nghiên cứu đầu tiên về thực tiễn
công tác thi hành án phạt tiền ở một địa phương cụ thể.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
-

Qua nghiên cứu đưa ra những quan điểm làm rõ một số vấn đề lý luận

về hình phạt tiền và thi hành án phạt tiền trong thực tiễn xã hội;
-

Nghiên cứu, đánh giá thực tiễn áp dụng các quy định của pháp luật về

thi hành án phạt tiền của cơ quan thi hành án dân sự tỉnh Bắc Ninh, đồng thời
phân tích làm rõ những tồn tại, hạn chếvà những nguyên nhân của tồn tại, hạn
chế xung quanh việc áp dụng các quy định về thi hành hình phạt tiền của cơ
quan thi hành án dân sự tỉnh Bắc Ninh;
-

Luận chứng, đề xuất những định hướng và giải pháp hoàn thiện các quy

định về thi hành án phạt tiền theo quy định của pháp luật hiện hành và nâng
3


cao hiệu quả thi hành hình phạt này của cơ quan thi hành án dân sự tỉnh Bắc
Ninh nói riêng, cơ quan thi hành án dân sự các tỉnh khác trên cả nước nói
chung trong thực tiễn.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu về những vấn đề lý luận và thực tiễn áp dụng các
quy định của pháp luật về thi hành án phạt tiền từ thực tiễn của cơ quan thi
hành án dân sự tỉnh Bắc Ninh.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi nghiên cứu về đối tượng: Luận văn tập trung nghiên cứu về
thực tiễn áp dụng các quy định của pháp luật về thi hành án phạt tiền của cơ
quan thi hành án dân sự tỉnh Bắc Ninh, không nghiên cứu việc áp dụng quy
định của pháp luật về thi hành án phạt tiền của các cơ quan có thẩm quyền
khác .
- Phạm vi nghiên cứu về chủ thể: Chủ thể là cơ quan thi hành án dân sự
tỉnh Bắc Ninh.
- Phạm vi nghiên cứu về thời gian: Luận văn nghiên cứu thực tiễn thi
hànhán
phạt tiền trên phạm vi tỉnh Bắc Ninh từ tháng 10/2017 đến tháng 9/2019).
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Luận văn được nghiên cứu trên cơ sở phép duy vật biện chứng của chủ
nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước và pháp luật; các
quan điểm, chủ chương, đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước về chính
sách hình sự và cải cách tư pháp.
Trong quá trình nghiên cứu đề tài, tác giả luận văn đã sử dụng các Phương
pháp nghiên cứu khoa học cụ thể và đặc thù như: phương pháp phân tích và

4


tổng hợp; phương pháp so sánh, đối chiếu; phương pháp diễn dịch; phương
pháp quy nạp; phương pháp thống kê để tổng hợp, tọa đàm trao đổi các tri thức
khoa học và luận chứng thực tiễn về thi hành hình phạt tiền của các chuyên gia
để hoàn thiện luận văn.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
- Là tài liệu chuyên sâu đầu tiên được nghiên cứu dưới góc độ Thạc sỹ
Luật học, nghiên cứu, đánh giá làm rõ thực trạng thi hành án phạt tiền của cơ
quan thi hành án dân sự tỉnh Bắc Ninh; những tồn tại, hạn chế của thực tiễn
thi hành án phạt tiền cũng như những nguyên nhân của các tồn tại, hạn chế
đó;
- Trên cơ sở kết quả nghiên cứu lý luận và thực tiễn, luận văn đã đề xuất
các định hướng và giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thi
hành án phạt tiền ở thực tiễn của cơ quan thi hành án dân sự của một tỉnh nói
riêng, các tỉnh khác trên cả nước nói chung, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp
hiện nay ở Việt Nam.
7. Kết cấu của luận văn
Chương 1: Một số vấn đề lý luận về hình phạt tiền và thi hành án phạt
tiềntrong pháp luật Việt Nam
Chương 2: Thực trạng thi hành án phạt tiền tại tỉnh Bắc Ninh
Chương 3: Một số kiến nghị nhằm góp phần nâng cao hiệu quả thi hành
án phạt tiền ở tỉnh Bắc Ninh.

5


Chương 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT
VỀ THI HÀNH ÁN PHẠT TIỀN
1.1. Những vấn đề lý luận về thi hành án phạt tiền
1.1.1. Khái niệm thi hành án phạt tiền
Dưới góc độ nghiên cứu lý luận của khoa học pháp lý, Thi hành án thuộc
lĩnh vực dân sự không nên coi làgiai đoạn của tố tụng, bởi vì thi hành án có
mục đích khác với mục đích của tố tụng. Điều này thể hiện ở chỗ, mục đích
của tố tụng là xác định các chứng cứ để khôi phục lại trạng thái ban đầu của
sự việc. Nói cách khác, tố tụng là quá trình đi tìm sự thật của các vụ việc đã
diễn ra để trên cơ sở đó đưa ra cách giải quyết vụ việc theo đúng các quy định
của pháp luật. Với mục đích đó, toàn bộ quá trình tố tụng diễn ra theo quy
trình hết sức chặt chẽ và phải bảo đảm các nguyên tắc như bình đẳng, công
khai, dân chủ, tôn trọng quyền và lợi ích của người tham gia tố tụng... và khi
có phán quyết của toà án thì quá trình tố tụng kết thúc. Vì vậy, có thể nói một
cách hình ảnh rằng, tố tụng là quá trình đi tìm chân lí để áp dụng công lí
(pháp luật); còn thi hành án là quá trình thực thi chân lí bằng công lí. Ở đây
chân lí đã rõ, có tội hay vô tội, đúng hay sai đã được phân xử rõ ràng, thi hành
án chỉ nhằm thực hiện các bản án và quyết định của toà án đã có hiệu lực
pháp luật.
Từ những phân tích trên, tác giả đưa ra khái niệm Thi hành án dân sự như
sau: “Thi hành án dân sự là hoạt động mang tính chất hành chính – tư pháp,
do các cơ quan Thi hành án có thẩm quyền tiến hành theo một trình tự, thủ
tục chặt chẽ do pháp luật quy định, nhằm đảm bảo thực thi các bản án, quyết
định của cơ quan tài phán, có tính chất bắt buộc đối với các cá nhân, tổ chức,
cơ quan có liên quan”.
Tuy nhiên, trong phạm vi nghiên cứu của luận văn, chỉ nghiên cứu và đề
cập đến khía cạnh thi hành án phạt tiền. Do đó, có thể đưa ra khái niệm Thi
6


hành án phạt tiền như sau: “Thi hành án phạt tiền là hoạt động của các cơ
quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền buộc người phải thi hành án phải thi
hành một khoản tiền nhất định theo các bản án, quyết định của cơ quan tài
phán”.
Trên cơ sở đó, có thể thấy việc thi hành án phạt tiền nhằm thể hiện quan
điểm của nhà nước tác động đến người phải thi hành hình phạt tiền, từ đó
khuyến khích người phải thi hành án tự giác thi hành nếu không sẽ bị áp dụng
các biện pháp buộc họ phải thi hành nghĩa vụ đã được xác định trong các bản
án, quyết định của toà án, phải tuân theo các quy định của pháp luật; giáo dục
họ có ý thức tôn trọng pháp luật, tôn trọng lợi ích của cá nhân, tôn trọng kỉ
luật nhà nước và trở thành người lương thiện.
1.1.2. Mục đích, ý nghĩa của thi hành án phạt tiền:
Thi hành án phạt tiền có ý nghĩa và vai trò quan trọng trong hoạt động tư
pháp nói chung và quá trình giải quyết vụ án nói riêng. Hoạt động thi hành án
phạt tiền là công đoạn cuối cùng, đảm bảo cho các bản án có áp dụng hình
phạt tiền được chấp hành, góp phần đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật
và pháp chế Xã hội chủ nghĩa; Đảm bảo quyền, lợi ích hợp pháp của Nhà
nước, góp phần giữ vững ổn định chính trị - xã hội, tăng cường hiệu lực, hiệu
quả của bộ máy Nhà nước.
Thi hành án phạt tiền là giai đoạn tiếp theo của quá trình xét xử, nhằm thi
hành những bản án có áp dụng hình phạt tiền. Các bản án, quyết định của Tòa
án chỉ thực sự có giá trị khi được thi hành trên thực tế. Với ý nghĩa là giai
đoạn cuối cùng của quá trình giải quyết một vụ án, cơ quan thi hành án dân sự
có mối quan hệ hữu cơ với Tòa án. Nếu mục đích của việc thi hành án phạt
tiền không đạt được thì toàn bộ hoạt động tố tụng trước đó cũng trở nên vô
nghĩa. Nếu một bản án, quyết định của Tòa án có áp dụng hình phạt tiền
nhưng không được thi hành hoặc thi hành không nghiêm thì trật tự, kỷ cương
xã hội bị vi phạm, quyền lực Nhà nước bị xem thường.
7


Thông qua việc thi hành án phạt tiền cũng có thể kiểm tra lại quá trình
xét xử trước đó, bản án có thấu tình đạt lý mới có thể dễ dàng thi hành trên
thực tế, trái lại việc xét xử ra một bản án có sai sót, sẽ khó khi hành.
Thông qua việc thi hành án phạt tiền, các tổ chức, cá nhân có hành vi vi
phạm pháp luật phải chấm dứt các hành vi đó và thực hiện các nghĩa vụ của
mình.
1.2. Quy định của pháp luật về thi hành án phạt tiền
1.2.1. Chủ thể có thẩm quyền thi hành án phạt tiền:
Trên cơ sở quy định của Luật Thi hành án dân sự năm 2008, sửa đổi bổ
sung năm 2014, trường hợp hình phạt tiền được áp dụng là hình phạt chính
cũng như trường hợp hình phạt tiền được áp dụng là hình phạt bổ sung thì chủ
thể có thẩm quyền thi hành án phạt tiền và đối tượng phải thi hành án phạt
tiền đều được quy định cụ thể như sau:
Điều 1 Luật Thi hành án dân sự năm 2008, sửa đổi bổ sung năm 2014
quy định phạm vi điều chỉnh. Như vậy, có thể thấy thi hành án phạt tiền nằm
trong phạm vi điều chỉnh của Luật Thi hành án dân sự năm 2008, sửa đổi bổ
sung năm 2014. Theo đó, về nguyên tắc Bản án có áp dụng hình phạt tiền, đã
có hiệu lực thi hành phải được cơ quan, tổ chức và mọi công dân tôn trọng.
Cá nhân, cơ quan, tổ chức có liên quan trong phạm vi trách nhiệm của mình
chấp hành nghiêm chỉnh bản án, quyết định và phải chịu trách nhiệm trước
pháp luật về việc thi hành án (Điều 4 Luật Thi hành án dân sự năm 2008, sửa
đổi bổ sung năm 2014).
Theo quy định tại Điều 13 Luật Thi hành án dân sự năm 2008, sửa đổi
bổ sung năm 2014, quy định về cơ cấu tổ chức của cơ quan thi hành án dân
sự.
Mặc dù nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan thi hành dân sự là thi hành
các bản án, quyết định. Tuy nhiên, người trực tiếp được giao quyền để tổ chức

8


thi hành án nói chung và thi hành án phạt tiền nói riêng là các Chấp hành
viên. Điều 17 Luật Thi hành án dân sự quy định về chấp hành viên.
Trong quá trình tổ chức thi hành án nói chung và thi hành án phạt tiền
nói riêng, Chấp hành viên có những nhiệm vụ và quyền hạn theo Luật thi
hành án dân sự.
Khi thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình, Chấp hành viên phải tuân
theo pháp luật, chịu trách nhiệm trước pháp luật về việc thi hành án và được
pháp luật bảo vệ tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm và uy tín.
1.2.2. Đối tượng phải thi hành án phạt tiền:
Khoản 3 Điều 3 Luật Thi hành án dân sự năm 2008, sửa đổi bổ sung
năm 2014 định nghĩa Người phải thi hành án là cá nhân, cơ quan, tổ chức phải
thực hiện nghĩa vụ trong bản án, quyết định được thi hành. Căn cứ bản án đã
có hiệu lực pháp luật, có áp dụng hình phạt tiền thì đối tượng phải thi hành án
phạt tiền bao gồm cá nhân và pháp nhân thương mại. Căn cứ Điều 4 Luật Thi
hành án dân sự năm 2008, sửa đổi bổ sung năm 2014, người phải thi hành án
phạt tiền có nghĩa vụ nghiêm chỉnh chấp hành các bản án đã có hiệu lực pháp
luật. Theo đó, người phải thi hành án phạt tiền có nghĩa vụ nộp toàn bộ số tiền
phạt đã tuyên trong bản án trong thời gian tự nguyện (10 ngày kể từ ngày kể
từ ngày người phải thi hành án nhận được quyết định thi hành án hoặc được
thông báo hợp lệ quyết định thi hành án) tại cơ quan thi hành án có thẩm
quyền hoặc bằng các hình thức hợp pháp khác. Hết thời hạn tự nguyện thi
hành án, người phải thi hành án phạt tiền có điều kiện thi hành án nhưng
không tự nguyện thi hành thì bị áp dụng các biện pháp cưỡng chế của cơ quan
thi hành án dân sự.
1.2.3.Trình tự, thủ tục thi hành án phạt tiền
Luật Thi hành án dân sự năm 2008, sửa đổi bổ sung năm 2014 quy định
phạm vi điều chỉnh

9


Theo đó, Điều 2 Luật Thi hành án dân sự năm 2008, sửa đổi bổ sung
năm 2014 quy định những bản án, quyết định được thi hành.
Theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 36Luật Thi hành án dân sự năm
2008, sửa đổi bổ sung năm 2014 thì việc thi hành hình phạt tiền thuộc trường
hợp thi hành án chủ động. Chương 3 Luật Thi hành án dân sự năm 2008, sửa
đổi bổ sung năm 2014 quy định thủ tục thi hành án dân sự như sau:
Khi ra Bản án, Quyết định tòa án phải giải thích cho đương sự về quyền
và nghĩa vụ thi hành án phạt tiền và đồng thời ghi rõ trong bản án về nghĩa vụ
thi hành án. Tòa án đã ra Bản án theo quy định tại điều 2 của Luật này phải
cấp cho đương sự bản án có ghi “ Để thi hành” tòa án đã ra bản án phải
chuyển giao bản án cho cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền trong thời
hạn 30 ngày kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật. Riêng đối với những bản
án áp dụng hình phạt tiền trong đó có quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp
tạm thời thì phải chuyển giao quyết định đó cho cơ quan thi hành án dân sự có
thẩm quyền ngay sau khi ra quyết định.
Khi nhận bản án do Tòa án chuyển giao, cơ quan thi hành án dân sự
phải kiểm tra, vào sổ nhận bản án, quyết định.Sổ nhận bản án, quyết định phải
ghi rõ số thứ tự; ngày, tháng, năm nhận bản án; số, ngày, tháng, năm của bản
án và tên Tòa án đã ra bản án; tên, địa chỉ của đương sự và tài liệu khác có
liên quan.Việc giao, nhận trực tiếp bản án phải có chữ ký của hai bên; trường
hợp nhận được bản án và tài liệu có liên quan bằng đường bưu điện thì cơ
quan thi hành án dân sự phải thông báo bằng văn bản cho Tòa án đã chuyển
giao biết.
Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền chủ động ra
quyết định thi hành án và phân công chấp hành viên tổ chức thi hành án đối
với việc thi hành hình phạt tiền trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày
nhận được bản án.
Quyết định thi hành án phạt tiền phải được gửi cho Viện kiểm sát nhân
10


dân cùng cấp và phải thông báo cho người phải thi hành án, người có quyền,
nghĩa vụ liên quan để họ thực hiện quyền, nghĩa vụ theo nội dung của quyết
định trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày ban hành quyết định.
Thời hạn tự nguyện thi hành án phạt tiền là 10 ngày kể từ ngày người
phải thi hành án nhận được quyết định thi hành án hoặc được thông báo hợp
lệ quyết định thi hành án.Trường hợp cần ngăn chặn người phải thi hành án có
hành vi tẩu tán, hủy hoại tài sản hoặc hành vi khác nhằm trốn tránh việc thi
hành án thì Chấp hành viên áp dụng ngay biện pháp quy định tại Chương IV
(Biện pháp bảo đảm và cưỡng chế thi hành án) của Luật thi hành án dân sự
năm 2008, được sửa đổi, bổ sung năm 2014.
Căn cứ vào kết quả xác minh người phải thi hành án có điều kiện thi
hành án mà không tự nguyện thi hành án thì bị cưỡng chế thi hành án. Các
biện pháp cưỡng chế thi hành án được quy định cụ thể trong luật thi hành án
dân sự.
Căn cứ kết quả xác minh điều kiện thi hành án, Thủ trưởng cơ quan thi
hành án dân sự ra quyết định về việc chưa có điều kiện thi hành án khi thuộc
một trong các trường hợp luật định.
Như vậy, Luật thi hành án dân sự năm 2008, được sửa đổi, bổ sung
năm 2014 và các văn bản hướng dẫn thi hành đã quy định tương đối cụ thể về
trình tự thủ tục thi hành án dân sự nói chung và thi hành án phạt tiền nói
riêng. Đó là cơ sở pháp lý để cơ quan thi hành án dân sự và Chấp hành viên
được phân công tổ chức thi hành án có thể thi hành hình phạt tiền đạt hiệu quả
trên thực tế.
1.2.4. Hình thức thi hành án phạt tiền
Theo quy định tại Điều 30 BLHS năm 1999 quy định: “Tiền phạt có
thể được nộp một lần hoặc nhiều lần trong thời hạn do Tòa án quyết định
trong bản án”. Để khắc phục những hạn chế này, BLHS năm 2015, sửa đổi

11


bổ sung năm 2017 đã bãi bỏ quy định trên. Theo đó, về nguyên tắc, người bị
áp dụng hình phạt tiền với tư cách là hình phạt chính cũng như là hình phạt bổ
sung phải thi hành theo quy định của Luật Thi hành án dân sự năm 2008, sửa
đổi bổ sung năm 2014.
Như vậy, về nguyên tắc người phải thi hành án (bao gồm cá nhân và
pháp nhân thương mại) phải nghiêm túc chấp hành hình phạt tiền được quy
định trong Bản án, quyết định của Tòa án. Tuy nhiên, Luật Thi hành án dân
sự năm 2008, sửa đổi bổ sung năm 2014 không quy định cụ thể về hình thức
nộp tiền phạt. Trên cơ sở các quy định của pháp luật có liên quan, kết hợp với
thực tiễn thi hành án phạt tiền cho thấy hình thức thi hành án phạt tiền được
xác định là:
- Nộp trực tiếp bằng tiền mặt tại cơ quan Thi hành án:
Hình thức này được xác lập khi người phải thi hành án phạt tiền tự
nguyện thi hành án, được áp dụng chủ yếu đối với các tội mà hình phạt tiền
được áp dụng là hình phạt chính. Khi đó người phải thi hành án không phải
chấp hành hình phạt tù, có thể tự mình đến cơ quan Thi hành án để nộp tiền
phạt. Trong trường hợp hình phạt tiền được áp dụng là hình phạt bổ sung, tức
là khi đó người phải Thi hành án đang chấp hành hình phạt tù thì người khác
có thể nộp thay khoản tiền phạt cho người phải Thi hành án. Khi đó, trong
Biên lai thu tiền phải ghi rõ do ai nộp thay.
- Chuyển đổi thay bằng hiện vật:
Đây là hình thức thi hành án phạt tiền thứ hai. Hình thức nộp tiền này
thường được áp dụng đối với các tội mà hình phạt tiền được áp dụng là hình
phạt chính. Khi đó người phải thi hành án không phải chấp hành hình phạt tù,
nhưng không có tiền mặt để đảm bảo Thi hành án. Khi đó, người phải Thi
hành án tự nguyện dùng tài sản của mình hoặc tài sản đã bị tạm giữ để đảm
bảo Thi hành án. Cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền phải tiến hành
xác minh tài sản đó có thuộc quyền sở hữu của người phải thi hành án hay
12


không. Sau đó, tiến hành kê biên, thẩm định giá, bán đấu giá tài sản. Số tiền
thu về từ việc bán đấu giá, sau khi trừ tất cả các chi phí theo quy định của
pháp luật sẽ được đối trừ vào khoản tiền phải thi hành của người phải thi hành
án.
- Nộp tiền vào tài khoản của cơ quan thi hành án dân sự mở tại Kho
bạc Nhà nước:
Đây là hình thức thi hành án phạt tiền thứ ba, là hình thức nộp tiền gián
tiếp. Hình thức nộp tiền này thường được áp dụng đối với các tội mà hình
phạt tiền được áp dụng là hình phạt chính. Khi đó người phải thi hành án
không phải chấp hành hình phạt tù, đồng thời không có điều kiện nộp trực
tiếp tại cơ quan thi hành án. Khi đó, người phải thi hành án phạt tiền có đơn
gửi cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền nêu rõ lý do không đến nộp
tiền trực tiếp được và đề nghị cơ quan thi hành án dân sự cung cấp số tài
khoản mở tại Kho bạc Nhà nước. Trên cơ sở đơn đề nghị, cơ quan thi hành án
dân sự cung cấp số tài khoản mở tại Kho bạc Nhà nước cho người phải thi
hành án phạt tiền. Sau khi người phải thi hành án phạt tiền nộp tiền vào tài
khoản của cơ quan thi hành án dân sự, Kho bạc Nhà nước sẽ cung cấp cho cơ
quan thi hành án dân sự “Lệnh chuyển có”, đó là căn cứ để chứng minh người
phải thi hành án phạt tiền đã hoàn thành nghĩa vụ nộp tiền phạt theo bản án.
- Nộp tiền tại trại giam:
Hình thức nộp tiền này thường được áp dụng đối với những người phải
thi hành án đang chấp hành hình phạt tù. Sau khi người phải thi hành án nộp
tiền phạt, Trại giam nơi người phải thi hành án đang chấp hành hình phạt tù
có trách nhiệm thông báo bằng văn bản về cơ quan Thi hành án dân sự có
thẩm quyền về việc phạm nhân (người phải thi hành án) đã nộp tiền. Khi nhận
được Thông báo của trại giam nơi người phải Thi hành án đang thi hành hình
phạt tù, cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền phải có công văn phúc đáp,
cung cấp Quyết định thi hành án, Bản sao y Bản án, số tài khoản của cơ quan
13


Thi hành án mở tại Kho bạc Nhà nước. Trên cơ sở Công văn của cơ quan Thi
hành án dân sự, trại giam nơi người phải thi hành án đang chấp hành hình
phạt tù có trách nhiệm chuyển số tiền mà người phải thi hành án đã nộp vào
tài khoản của cơ quan Thi hành án có thẩm quyền.
- Cưỡng chế thi hành án:
Trường hợp này thường được áp dụng đối với những cá nhân, tổ chức
có điều kiện thi hành án phạt tiền nhưng cố tình không thi hành. Luật Thi
hành án dân sự năm 2008, sửa đổi bổ sung năm 2014 cũng có quy định rất
chặt chẽ về trình tự, thủ tục thi hành án phạt tiền trong trường hợp người phải
Thi hành án không tự nguyện thi hành. Cụ thể, trong thời hạn 10 ngày kể từ
ngày hết thời hạn tự nguyện thi hành án mà người phải thi hành án phạt tiền
không tự nguyện thi hành thì chấp hành viên tiến hành xác minh điều kiện thi
hành án của người phải thi hành án. Căn cứ vào kết quả xác minh người phải
thi hành án phạt tiền có điều kiện thi hành án mà không tự nguyện thi hành án
thì bị áp dụng các biện pháp cưỡng chế thi hành án.
1.2.5. Phân công, phân cấp và quan hệ phối hợp trong thi hành án phạt
tiền
1.2.5.1. Phân công, phân cấp trong thi hành án phạt tiền
Điều 13 Luật Thi hành án dân sự năm 2008, sửa đổi bổ sung năm 2014
quy định về hệ thống tổ chức thi hành án dân sự.
Như vậy, cơ quan có thẩm quyền thi hành án phạt tiền bao gồm: Cơ
quan thi hành án dân sự cấp tỉnh; Cơ quan thi hành án dân sự cấp huyện;Cơ
quan thi hành án cấp quân khu.
Theo đó, thẩm quyền tổ chức thi hành án phạt tiền theo phân cấp được
quy định tại Điều 35 Luật Thi hành án dân sự năm 2008, sửa đổi bổ sung năm
2014.

14


Đồng thời, khoản 1 Điều 17 lại quy định: “Chấp hành viên là người
được Nhà nước giao nhiệm vụ thi hành các bản án, quyết định theo quy định
tại Điều 2 của Luật này…”
Từ các quy định trên, cho thấy các cơ quan có thẩm quyền thi hành án
đối với người phải thi hành án phạt tiền là Cơ quan thi hành án dân sự cấp
tỉnh; Cơ quan thi hành án dân sự cấp huyện;Cơ quan thi hành án cấp quân
khu, người có thẩm quyền thi hành án đối với người phải thi hành án phạt tiền
là Chấp hành viên thuộc các cơ quan có thẩm quyền thi hành án phạt tiền. Tuy
nhiên theo phạm vi nghiên cứu của luận văn, luận văn chỉ nghiên cứu về thi
hành án phạt tiền của cơ quan thi hành án dân sự tỉnh Bắc Ninh và các cơ
quan thi hành dân sự cấp huyện trực thuộc tỉnh Bắc Ninh.
1.2.5.2. Quan hệ phối hợp trong thi hành án phạt tiền:
Trong hoạt động chuyên môn, cơ quan thi hành án dân sự - Chấp hành
viên thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình để bảo vệ quyền, lợi ích hợp
pháp của đương sự và bảo đảm hiệu lực thi hành bản án, quyết định của tòa
án. Một nguyên tắc hiến định “ Các bản án và quyết định của tòa án nhân
dân đã có hiệu lực pháp luật phải được các cơ quan nhà nước, tổ chức kinh
tế, tổ chức xã hội, các đơn vị vũ trang nhân dân và mọi công dân tôn trọng;
Những người và đơn vị hữu quan phải nghiêm chỉnh chấp hành”. Điều 4 Luật
Thi hành án dân sự năm 2008, sửa đổi năm 2014 cũng quy định: “ Bản án,
quyết định quy định tại Điều 2 của Luật này phải được cơ quan, tổ chức và
mọi công dân tôn trọng.Cá nhân, cơ quan, tổ chức có liên quan trong phạm vi
trách nhiệm của mình chấp hành nghiêm chỉnh bản án, quyết định và phải
chịu trách nhiệm trước pháp luật về việc thi hành án ”.
Mặc dù pháp luật đã quy định như vậy nhưng trên thực tế việc đưa ra
thi hành những bản án, quyết định của Tòa án không phải lúc nào cũng diễn
ra dễ dàng, thuận lợi. Thực tế là Cơ quan thi hành án – Chấp hành viên phải
thực hiện nhiều hoạt động tác nghiệp và cần đến sự phối hợp, hỗ trợ của các
15


cơ quan, tổ chức khác trong bộ máy nhà nước cũng như những cơ quan, tổ
chức và cá nhân không nằm trong bộ máy nhà nước. Cơ sở của các mối quan
hệ phối hợp, hỗ trợ này được thiết lập dựa trên các quy định của pháp luật và
được pháp luật điều chỉnh. Điều 11 Luật Thi hành án dân sự năm 2008, sửa
đổi năm 2014 cũng quy định về trách nhiệm phối hợp của cơ quan, tổ chức, cá
nhân với cơ quan thi hành án dân sự, Chấp hành viên như sau: “Trong phạm
vi nhiệm vụ, quyền hạn, nghĩa vụ của mình cơ quan, tổ chức và cá nhân có
trách nhiệm phối hợp với cơ quan thi hành án dân sự trong việc thi hành án.
Cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan có trách nhiệm thực hiện yêu cầu của
cơ quan thi hành án dân sự, Chấp hành viên theo quy định của Luật này. Mọi
hành vi cản trở, can thiệp trái pháp luật đối với hoạt động của cơ quan thi
hành án dân sự, Chấp hành viên đều bị xử lý theo quy định của pháp luật”.
Bên cạnh đó, để nâng cao trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức, cá
nhân trong việc phối hợp thi hành án dân sự, Điều 10 Luật Thi hành án dân sự
năm 2008, sửa đổi năm 2014 quy định trách nhiệm bồi thường thiệt hại: “ Cơ
quan, tổ chức và cá nhân vi phạm quy định của Luật này mà gây thiệt hại thì
phải bồi thường theo quy định của pháp luật”.Khoản 6 Điều 162 Luật Thi
hành án dân sự năm 2008, sửa đổi năm 2014 quy định về hành vi vi phạm
hành chính: “ Không thực hiện yêu cầu của Chấp hành viên về việc cung cấp
thông tin, giao giấy tờ liên quan đến tài sản bị xử lý để thi hành án mà không
có lý do chính đáng”.
Đặc biệt Luật thi hành án dân sự dành hẳn 01 chương (chương VIII)
quy định nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ quan, tổ chức có trách nhiệm phối
hợp trong thi hành án nói chung và thi hành án phạt tiền nói riêng, cụ thể,
nhiệm vụ quyền hạn của các cơ quan ở trung ương như: Chính phủ, Bộ tư
pháp, Bộ quốc phòng, Bộ công an ( từ Điều 166 đến Điều 169); nhiệm vụ,
quyền hạn của Tòa án (Điều 170); nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát
(Điều 171); nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ quan, tổ chức ở địa phương như:

16


UBND cấp tỉnh, cấp huyện, cấp xã (từ Điều 173 đến Điều 175) và nhiệm vụ,
quyền hạn của các cơ quan, tổ chức khác như Kho bạc nhà nước, ngân hàng
và tổ chức tín dụng khác, Bảo hiểm xã hội, cơ quan đăng ký tài sản, đăng ký
giao dịch bảo đảm, cơ quan, tổ chức được giao theo dõi, quản lý người đang
chấp hành án hình sự…(từ Điều 176 đến Điều 180). Những quy định trên ít
nhiều đều được kế thừa và phát triển từ các quy định của pháp lệnh thi hành
án năm 1989, 1993 và pháp lệnh thi hành án dân sự năm 2004. Điều đó cho
thấy, ngay từ những ngày đầu thành lập cơ quan thi hành án dân sự, chúng ta
đã nhận thức rõ và khẳng định sự cần thiết phải có mối quan hệ phối hợp của
các cá nhân, cơ quan và tổ chức có liên quan trong hoạt động thi hành án dân
sự và các mối quan hệ này phải được luật hóa.
Như vậy, có thể thấy mối quan hệ phối hợp giữa cơ quan thi hành án
dân sự với các cơ quan hữu quan trong thi hành án dân sự là mối quan hệ
mang tính pháp lý. Nó được hình thành dựa trên các quy định của pháp luật.
Các quy định này đóng vai trò là hành lang pháp lý mà các chủ thể khi tham
gia dù muốn hay không đều phải hành xử theo các quy định đó, nếu không sẽ
bị áp dụng các chế tài hoặc sẽ dẫn đến sự vi phạm về trình tự thủ tục giải
quyết việc thi hành án, điều này sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến quyền và lợi ích
hợp pháp của các bên đương sự.

17


18


Tiểu kết chương 1
Trong Chương 1 luận văn đã xây dựng và đưa ra được một số vấn đề lý
luận về hình phạt tiền và thi hành án phạt tiền, trình tự, thủ tục, thẩm quyền
thi hành án phạt tiền; Nội dung, hình thức thi hành án phạt tiền; Phân công,
phân cấp, chủ thể và mối quan hệ phối hợp trong thi hành án phạt tiền. Thi
hành án phạt tiền là hoạt động của Nhà nước để thực thi các bản, quyết định
có tuyên về hình phạt tiền của Tòa án nhân dân các cấp. Giúp các bản án,
quyết định nói chung được tôn trọng và thực hiện trên thực tế nhằm bảo vệ lợi
ích của Nhà nước, góp phần giữ vững kỷ cương, tăng cường pháp chế Xã hội
chủ nghĩa.
Những vấn đề lý luận đã được trình bày là cơ sở để xem xét, đánh giá
thực tiễn hoạt động thi hành án phạt tiền ở tỉnh Bắc Ninh nói riêng và trong
toàn ngành Thi hành án nói chung. Đồng thời đây là cơ sở để tác giả thực hiện
kết quả khảo sát ở chương 2.

19


20


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×