Tải bản đầy đủ (.doc) (76 trang)

Các hình phạt chính không tước tự do từ thực tiễn thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương (Luận văn thạc sĩ)

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (383.03 KB, 76 trang )

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

ĐINH THỊ THÚY HẠNH

CÁC HÌNH PHẠT CHÍNH KHÔNG TƯỚC TỰ DO
TỪ THỰC TIỄN THÀNH PHỐ HẢI DƯƠNG,
TỈNH HẢI DƯƠNG

LUẬN VĂN THẠC SĨ
LUẬT HÌNH SỰ VÀ TỐ TỤNG HÌNH SỰ

Hà Nội - 2020


VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

ĐINH THỊ THÚY HẠNH

CÁC HÌNH PHẠT CHÍNH KHÔNG TƯỚC TỰ DO
TỪ THỰC TIỄN THÀNH PHỐ HẢI DƯƠNG,
TỈNH HẢI DƯƠNG

Ngành: Luật hình sự và Tố tụng hình sự
Mã số: 8 38 01 04

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS. ĐẶNG QUANG PHƯƠNG

Hà Nội - 2020




LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan luận văn là công trình khoa học nghiên cứu của riêng tôi. Kết
quả nghiên cứu được nêu trong luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình
nào khác. Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong luận văn đảm bảo trung thực, chính
xác và tin cậy.
TÁC GIẢ LUẬN VĂN


MỤC LỤC

MỞ ĐẦU...........................................................................................................1
Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CÁC HÌNH PHẠT
CHÍNH KHÔNG TƯỚC TỰ DO...................................................................8
1.1. Khái niệm, đặc điểm và vai trò của các hình phạt chính không tước tự
do.................................................................................................................8
1.2. Khái niệm và các yêu cầu đối với áp dụng các hình phạt chính
không tước tự do........................................................................................13
1.3. Các yếu tố tác động đến áp dụng các hình phạt chính không tước
tự do...........................................................................................................16
Chương 2: QUY ĐỊNH CỦA CÁC BỘ LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM
VỀ CÁC HÌNH PHẠT CHÍNH KHÔNG TƯỚC TỰ DO VÀ THỰC
TIỄN ÁP DỤNG TẠI TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI
DƯƠNG, TỈNH HẢI DƯƠNG.....................................................................21
2.1. Quy định của các Bộ luật hình sự Việt Nam về các hình phạt
chính không tước tự do..............................................................................21
2.2. Thực tiễn áp dụng các hình phạt chính không tước tự do tại Tòa
án nhân dân thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương.................................30
Chương 3: CÁC YÊU CẦU VÀ GIẢI PHÁP BẢO ĐẢM ÁP DỤNG

ĐÚNG CÁC HÌNH PHẠT CHÍNH KHÔNG TƯỚC TỰ DO..................48
3.1. Các yêu cầu bảo đảm áp dụng đúng các hình phạt chính không
tước tự do...................................................................................................48
3.2. Các giải pháp đảm bảo áp dụng đúng các hình phạt chính không
tước tự do...................................................................................................50
KẾT LUẬN....................................................................................................61
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO.....................................................63


DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
BLHS
BLTTHS
TAND
HĐXX
VKS

: Bộ luật hình sự
: Bộ luật tố tụng hình sự
: Tòa án nhân dân
: Hội đồng xét xử
: Viện kiểm sát


DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU

Bảng 2.1. Tổng số vụ án và số bị cáo được TAND thành phố Hải Dương
và của toàn tỉnh Hải Dương đưa ra xét xử từ năm 2015 đến năm 2019
Bảng 2.2. Số vụ án và số bị cáo đã được TAND thành phố Hải Dương đưa
ra xét xử từ năm 2015 đến năm 2019
Bảng 2.3. Hình phạt được TAND thành phố Hải Dương áp dụng đối với

các bị cáo phạm tội từ năm 2015 đến năm 2019
Bảng 2.4. Số vụ án và số bị cáo được áp dụng hình phạt chính không tước
tự do, trong các nhóm tội được TAND thành phố Hải Dương đưa ra
xét xử từ năm 2015 đến năm 2019
Bảng 2.5. Phân loại các bị cáo được TAND thành phố Hải Dương đưa ra
xét xử từ năm 2015 đến năm 2019


MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Pháp luật hình sự Việt Nam căn cứ vào tính chất và mức độ nguy hiểm
cho xã hội của hành vi phạm tội được quy định trong Bộ luật hình sự tội phạm
được phân thành tội phạm ít nghiêm trọng, tội phạm nghiêm trọng, tội phạm
rất nghiêm trọng và tội phạm đặc biệt nghiêm trọng, thể hiện nguyên tắc phân
hóa TNHS trong quy định của BLHS và theo đó, đối với từng loại tội phạm
khác nhau, trong các trường hợp khác nhau phải chịu các hình phạt khác
nhau. Để đảm bảo nguyên tắc xử lý đối với người phạm tội Bộ luật hình sự
quy định hệ thống hình phạt chính và hệ thống hình phạt bổ sung. Trong hệ
thống hình phạt chính có các hình phạt chính không tước tự do gồm: cảnh
cáo, phạt tiền, cải tạo không giam giữ và trục xuất. Hệ thống hình phạt này đã
được hoàn thiện qua nhiều giai đoạn, nhiều văn bản pháp luật hình sự. Nếu
như giai đoạn từ sau Cách mạng tháng Tám năm 1945 đến trước khi BLHS
năm 1985 có hiệu lực pháp luật, hình phạt chính không tước tự do được quy
định trong nhiều văn bản pháp luật khác nhau, mà tiêu biểu như: Sắc lệnh số
68-SL ngày 30 tháng 11 năm 1945 ấn định về thể lệ trưng dụng, trưng thu và
trưng tập; Sắc lệnh số 205/SL ngày 18 tháng 8 năm 1948 về ấn định thể lệ
trục xuất ngoài kiều; Pháp lệnh ngày 20 tháng 5 năm 1981 về trừng trị tội hối
lộ;...thì đến BLHS năm 1985, hệ thống hình phạt trong đó có các hình phạt
chính không tước tự do được quy định cụ thể trong một chương riêng của
BLHS với 03 hình phạt chính không tước tự do là cảnh cáo (Điều 22), phạt

tiền (Điều 23), cải tạo không giam giữ hoặc cải tạo ở đơn vị kỷ luật của quân
đội (Điều 24), thể hiện sự kế thừa và phát triển những quy định trong giai
đoạn trước đó nhưng các quy định này còn đơn giản, hạn chế như chưa thể
hiện hình phạt tiền được áp dụng đối với loại tội phạm nào cũng như mức tối
thiểu và mức tối đa của số tiền phạt được áp dụng, chưa quy định thời hạn
tạm giữ được trừ vào thời hạn chấp hành hình phạt cải tạo không giam
1


giữ...những hạn chế này đã được khắc phục một phần trong BLHS năm 1999
với 04 hình phạt chính không tước tự do gồm: cảnh cáo, phạt tiền, cải tạo
không giam giữ, trục xuất với những quy định cụ thể và rõ ràng hơn so với
BLHS năm 1985. Tuy nhiên, trước yêu cầu của công cuộc cải cách tư pháp thì
BLHS năm 1999 vẫn cần tiếp tục được hoàn thiện và bổ sung. Do vậy, BLHS
năm 2015 đã ra đời và có hiệu lực toàn bộ vào ngày 01/01/2018 với nhiều quy
định tiến bộ về các hình phạt chính không tước tự do như: mở rộng hơn phạm
vi áp dụng hình phạt tiền, quy định cụ thể, rõ ràng và chặt chẽ hơn về hình
phạt cải tạo không giam giữ... đã góp phần thể hiện các chủ trương, đường lối
của Đàng và Nhà nước, làm giảm gánh nặng về chi phí đầu tư cho các cơ sở
giam giữ của Nhà nước, giúp cho người bị kết án tái hòa nhập cộng đồng
nhanh và hiệu quả hơn, góp phần thể hiện các nguyên tắc khác nhau của
BLHS như nguyên tắc nhân đạo, nguyên tắc công bằng, nguyên tắc phân hóa
TNHS, bảo vệ tốt hơn các quyền con người, quyền công dân.
Tuy nhiên, thực tiễn áp dụng các hình phạt chính không tước tự do trên
địa bàn thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương cho thấy các quy định của
pháp luật về hình phạt chính không tước tự do vẫn còn bất cập, hạn chế như:
căn cứ xác định ranh giới giữa hình phạt cảnh cáo và miễn hình phạt chưa rõ
ràng; mức tối thiểu hình phạt tiền chưa phù hợp với tình hình thực tiễn…một
số văn bản hướng dẫn các hình phạt chính không tước tự do như Nghị quyết
số 01/2000/NQ-HĐTP ngày 04/8/2000 của Hội đồng thẩm phán hướng dẫn về

hình phạt cải tạo không giam giữ, Nghị định số 54/2001/NĐ-CP ngày
23/8/2001 của Chính phủ, hướng dẫn thi hành hình phạt trục xuất... được ban
hành đã lâu có nhiều điểm không còn phù hợp. Bên cạnh đó, theo thống kê
của TAND thành phố Hải Dương trong thời gian từ năm 2015 đến năm 2019
thì việc áp dụng hình phạt chính không tước tự do còn hạn chế chỉ chiếm tỉ lệ
18,4% tổng số các bị cáo áp dụng hình phạt, việc áp dụng hình phạt chưa phù
hợp với tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, áp
2


dụng chưa đúng quy định của pháp luật về điều kiện, thời hạn áp dụng hình
phạt chính không tước tự do…vẫn còn diễn ra.
Trong khi đó, qua khảo sát các công trình khoa học nghiên cứu giai
đoạn từ năm 2015 đến năm 2019, tác giả thấy các công trình nghiên cứu chủ
yếu đề cập đến chế định hình phạt chính không tước tự do ở góc độ, phạm vi
khác nhau; trong đó có nhiều công trình được nghiên cứu trước khi BLHS
năm 2015 có hiệu lực pháp luật, một số đề tài nghiên cứu sau khi BLHS năm
2015 có hiệu lực nhưng ở phạm vi không gian và thời gian khác. Tính đến
nay, chưa có công trình nghiên cứu nào đề cập đến hình phạt chính không
tước tự do theo pháp luật hình sự Việt Nam, một cách cụ thể, chuyên sâu tại
địa bàn thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương, trong phạm vi từ năm 2015
đến năm 2019.
Xuất phát từ nhận thức và thực tiễn nêu trên, tác giả đã lựa chọn đề tài
"Các hình phạt chính không tước tự do từ thực tiễn thành phố Hải Dương,
tỉnh Hải Dương" làm đề tài luận văn thạc sĩ của mình.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Liên quan đến đề tài trên, có nhiều công trình khoa học đề cập đến như:
(i) Tài liệu là sách tham khảo, sách chuyên khảo: Võ Khánh Vinh
(2014), Luật hình sự Việt Nam phần chung, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội;
Trần Văn Biên và Đinh Thế Hưng (2017), Bình luận khoa học Bộ luật hình sự

hình sự 2015, Nxb. Thế giới, TP. Hồ Chí Minh.
Nhận xét: Các công trình trên tiếp cận và nghiên cứu hình phạt chính
không tước tự do trong tổng thể các quy định về hình phạt nói chung, cùng
với các chế định khác của BLHS, chưa tiếp cận và nghiên cứu một cách
chuyên sâu các hình phạt chính không tước tự do, chưa tiếp cận nghiên cứu
dưới góc độ thực tiễn.

3


(ii) Tài liệu là luận án và luận văn thạc sĩ: TS. Nguyễn Sơn (2002), Các
hình phạt chính trong luật hình sự Việt Nam, Luận án tiến sĩ luật học, Viện
Nhà nước và Pháp luật.
Nhận xét: Luận án trên đã nghiên cứu hình phạt chính trong luật hình
sự Việt Nam trong đó có cả những hình phạt chính không tước tự do và tiếp
cận đề tài trên trong phạm vi cả nước. Tuy nhiên, để tài nghiên cứu trong bối
cảnh BLHS năm 2015 chưa ra đời, phạm vi nghiên cứu rộng nên chưa đi sâu
luận giải, phân tích quy định về hình phạt chính không tước tự do.
Phạm Thị Hiền (2007), Hình phạt cải tạo không giam giữ trong Luật
Hình sự Việt Nam, Luận văn thạc sĩ Luật học, Đại học Quốc gia Hà Nội;
Nhận xét: Đề tài trên đã nghiên cứu về các hình phạt chính không tước
tự do trong phạm vi cả nước. Tuy nhiên, đề tài được nghiên cứu trong bối
cảnh BLHS năm 2015 chưa ra đời và trong phạm cả nước, do vậy chưa tiếp
cận hình phạt chính không tước tự do được áp dụng với pháp nhân thương
mại phạm tội và những quy định mới các về hình phạt chính không tước tự
do.
(iii) Tài liệu khác: Nguyễn Minh Khuê (2015), Đảm bảo hiệu quả của các
hình phạt chính không tước tự do trong luật hình sự Việt Nam, Tạp chí Dân chủ
và Pháp luật (số 03), tr.46-47;
Nhận xét: Đề tài trên của tác giả chỉ nghiên cứu một trong khía cạnh của

hình phạt chính không tước tự do là những đảm bảo hiệu quả cho việc áp dụng,
chưa tiếp cận dưới góc độ thực tiễn.
Nhận xét chung: Các công trình nghiên cứu nói trên đã đề cập đến chế
định hình phạt chính không tước tự do ở góc độ, phạm vi khác nhau; trong
đó có nhiều công trình được nghiên cứu trước khi BLHS năm 2015 có hiệu
lực pháp luật, một số đề tài nghiên cứu sau khi BLHS năm 2015 có hiệu lực
nhưng ở phạm vi không gian và thời gian khác. Tính đến nay, chưa có công
trình nghiên cứu nào đề cập đến hình phạt chính không tước tự do theo pháp

4


luật hình sự Việt Nam, một cách cụ thể, chuyên sâu tại địa bàn thành phố Hải
Dương, tỉnh Hải Dương, trong phạm vi từ năm 2015 đến năm 2019.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Kết quả nghiên cứu của luận văn góp phần hoàn thiện những vấn đề lý
luận về áp dụng hình phạt chính không tước tự do. Trên cơ sở kết quả đạt
được và những tồn tại, hạn chế và nguyên nhân từ thực tiễn xét xử các tội
phạm của TAND thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương, luận văn đề xuất
một số giải pháp để hoàn thiện pháp luật về hình phạt chính không tước tự
do và áp dụng đúng quy định của pháp luật về hình phạt chính không tước tự
do.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Tác giả đưa nhà những nhiệm vụ cụ thể:
- Phân tích một số vấn đề lý luận về hình phạt chính không tước tự do như
khái niệm, vai trò, vị trí và nội dung liên quan đến áp dụng hình phạt chính
không tước tự do như khái niệm, các yêu cầu và yếu tố tác động đến việc áp
dụng hình phạt.
- Phân tích quy định của BLHS năm 1985, BLHS năm 1999 và BLHS

năm 2015 về hình phạt chính không tước tự do như cảnh cáo, phạt tiền, cải
tạo không giam giữ và trục xuất. Đồng thời, đánh giá những kết quả đạt được,
những vi phạm, sai lầm và nguyên nhân từ thực tiễn áp dụng hình phạt chính
không tước tự do từ thực tiễn xét xử tại TAND thành phố Hải Dương, tỉnh Hải
Dương giai đoạn năm 2015 đến năm 2019.
- Đề xuất một số giải pháp để hoàn thiện pháp luật và đảm bảo áp dụng
đúng pháp luật về hình phạt chính không tước tự do.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là quan điểm khoa học, quy định
5


của pháp luật hình sự về hình phạt chính không tước tự do và thực tiễn xét
xử của TAND thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Đề tài được nghiên cứu dưới góc độ lý luận và thực tiễn của luật hình
sự mà chủ yếu là Bộ luật hình sự năm 1985, Bộ luật hình sự năm 1999 và
trọng tâm là Bộ luật hình sự năm 2015. Các số liệu được xem xét và cập nhật
từ hoạt động thực tiễn của Tòa án nhân dân thành phố Hải Dương, tỉnh Hải
Dương. Luận văn chỉ nghiên cứu các hình phạt chính không tước tự do đối
với cá nhân (người phạm tội) không nghiên cứu các hình phạt chính đối với
pháp nhân thương mại phạm tội.
Phạm vi không gian: thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương.
Phạm vi thời gian: thời gian từ năm 2015 đến năm 2019.
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
5.1. Cơ sở lý luận
Luận văn được nghiên cứu trên cơ sở sử dụng phương pháp luận duy
vật biện chứng, phương pháp luận duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác – Lênin;
tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước và Pháp luật; quan điểm, định hướng của

Đảng và nhà nước về xây dựng Nhà nước Pháp quyền, về chính sách hình sự,
đường lối đấu tranh phòng chống tội phạm của nhà nước ta, làm kim chỉ nam
xuyên suốt trong toàn bộ cấu trúc nghiên cứu của luận văn.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình nghiên cứu luận văn đã sử dụng các phương pháp cụ
thể của khoa học luật hình sự và tố tụng hình sự như: phương pháp lịch sử,
phân tích và tổng hợp, diễn dịch và quy nạp, cũng như phương pháp so sánh,
khảo sát thực tiễn, đánh giá…để nghiên cứu.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
6.1. Ý nghĩa lý luận
Luận văn góp phần hoàn thiện, làm sâu sắc hơn về mặt lý luận của chế
định hình phạt trong hệ thống pháp luật hình sự Việt Nam. Ngoài ra, kết quả
6


nghiên cứu của luận văn có thể là nguồn tài liệu tham khảo cho những đề tài
liên quan đến hình phạt chính không tước tự do trong nghiên cứu khoa học,
giảng dạy.
6.2. Ý nghĩa thực tiễn
Kết quả nghiên cứu của luận văn có thể là tài liệu tham khảo trong công
tác nghiên cứu khoa học chuyên ngành và tài liệu tham khảo đối với người
làm công tác nghiên cứu, giảng dạy và công tác thực tiễn, đặc biệt là những
công chức cơ quan tố tụng như Tòa án, Viện kiểm sát, Cơ quan điều tra của
tỉnh Hải Dương trong quá trình áp dụng quy định của pháp luật về hình phạt
và hình phạt chính không tước tự do.
7. Kết cấu của luận văn
Chương 1: Những vấn đề lý luận về các hình phạt chính không tước tự
do.
Chương 2: Quy định của các Bộ luật hình sự Việt Nam về các hình phạt
chính không tước tự do và thực tiễn áp dụng tại Tòa án nhân dân thành phố

Hải Dương, tỉnh Hải Dương.
Chương 3: Các yêu cầu và giải pháp bảo đảm áp dụng đúng các hình
phạt chính không tước tự do.

7


Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN
VỀ CÁC HÌNH PHẠT CHÍNH KHÔNG TƯỚC TỰ DO
1.1. Khái niệm, đặc điểm và vai trò của các hình phạt chính không
tước tự do
1.1.1. Khái niệm
Hình phạt là một trong các khái niệm được nhiều học giả nghiên cứu
trong các công trình khoa học khác nhau, mà tiêu biểu như:
Theo GS.TS. Võ Khánh Vinh thì: Hình phạt là biện pháp cưỡng chế do
Tòa án quyết định trong bản án với người có lỗi trong việc thực hiện tội phạm
và được thể hiện ở việc tước đoạt hoặc hạn chế các quyền và lợi ích do pháp
luật quy định đối với người bị kết án. [50, tr.194].
Theo tác giả Uông Chu Lưu, Nguyễn Đức Tuấn cho rằng: Hình phạt là
biện pháp cưỡng chế Nhà nước do Tòa án áp dụng đối với người thực hiện tội
phạm theo quy định của luật hình sự, tước bỏ hoặc hạn chế quyền và lợi ích
nhất định của người bị kết án nhằm mục đích giáo dục cải tạo người phạm tội
nhằm ngăn ngừa họ phạm tội mới. [38, tr.123].
Có thể thấy, các khái niệm trên đều thống nhất với nhau ở nội hàm,
hình phạt là biện pháp cưỡng chế do Tòa án áp dụng có nội dung tước bỏ hoặc
hạn chế quyền và lợi ích của người phạm tội nhằm mục đích giáo dục, cải tạo
và trừng trị người phạm tội và phòng ngừa chung. Điều này là phù hợp với
khái niệm pháp lý về hình phạt được quy định tại Điều 30 BLHS năm 2015.
Kế thừa các quan điểm trên và trên cơ sở khái niệm pháp lý về hình

phạt, có thể hiểu khái niệm hình phạt như sau: Hình phạt là biện pháp cưỡng
chế nghiêm khắc nhất của Nhà nước được quy định trong Bộ luật hình sự, do
Tòa án áp dụng đối với người hoặc pháp nhân thương mại phạm tội nhằm
tước bỏ hoặc hạn chế quyền, lợi ích của người, pháp nhân thương mại đó,
được thể hiện thông qua bản án có hiệu lực pháp luật của Tòa án.

8


Hình phạt được chia thành hình phạt chính và hình phạt bổ sung. Đối
với cá nhân phạm tội hình phạt chính gồm: Cảnh cáo, phạt tiền, cải tạo không
giam giữ, trục xuất, tù có thời hạn, tù chung thân, tử hình; hình phạt bổ sung
bao gồm: Cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm làm nghề hoặc công việc nhất định;
cấm cư trú, quản chế, tước một số quyền công dân, tịch thu tài sản, phạt tiền
(khi không áp dụng là hình phạt chính), trục xuất (khi không áp dụng là hình
phạt chính).
Trong số các hình phạt chính trên, nếu căn cứ vào tính chất của việc
tước bỏ tự do thân thể của hình phạt (thông qua người phạm tội có bị cách ly
khỏi xã hội trong một thời gian không) thì có thể chia hình phạt chính nêu
trên thành 02 nhóm là hình phạt chính tước tự do và hình phạt chính không
tước tự do. Theo đó, hình phạt chính không tước tự do gồm: Cảnh cáo, phạt
tiền, cải tạo không giam giữ và trục xuất, mặc dù vẫn bị hạn chế những quyền
lợi nhất định nhưng người phạm tội không bị hạn chế hoặc bị tước bỏ tự do
thân thể bằng việc cách ly ra khỏi môi trường xã hội như việc phải chấp hành
án tù trong các cơ sở giam giữ hoặc tước bỏ mạng sống vĩnh viễn.
Trên cơ sở phân tích nêu trên và từ khái niệm hình phạt có thể hiểu
hình phạt chính không tước tự do như sau:
Hình phạt chính không tước tự do là biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc
nhất của Nhà nước được quy định trong Bộ luật hình sự, do Tòa án áp dụng
đối với người hoặc pháp nhân thương mại phạm tội, được tuyên một cách độc

lập nhằm tước bỏ hoặc hạn chế quyền, lợi ích của người, pháp nhân thương
mại nhưng họ không bị cách ly khỏi môi trường xã hội được thể hiện thông
qua bản án có hiệu lực pháp luật của Tòa án.
1.1.2. Đặc điểm
Trong hệ thống hình phạt chính áp dụng với cá nhân phạm tội trong
luật hình sự Việt Nam thì hệ thống hình phạt chính không tước tự do có vị trí
rất quan trọng, cùng với hình phạt chính tước tự do thì loại hình phạt này góp
phần làm cho hệ thống hình phạt cân đối, tương xứng và hoàn thiện hơn, đáp
9


ứng tốt hơn yêu cầu đấu tranh phòng, chống tội phạm, phù hợp với xu hướng
phát triển chung của hệ thống hình phạt hiện đại.
- Nằm trong hệ thống hình phạt do vậy hình phạt chính không tước tự
do cũng là những biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất trong các biện pháp
cưỡng chế của Nhà nước, được Nhà nước sử dụng như là công cụ hữu hiệu
trong phòng chống tội phạm để bảo vệ lợi ích của Nhà nước, của xã hội và lợi
ích hợp pháp của công dân. Trong quá trình cải tạo người phạm tội không
phải chịu sự quản lý, giám sát chặt chẽ, kỷ luật khắt khe như ở hình phạt
chính tước tự do mà chỉ phải chịu sự quản lý, giám sát ở một mức độ nhất
định.
- Được luật hình sự quy định và do Tòa án áp dụng: Hình phạt trong
BLHS Việt Nam được quy định ở phần chung và cả phần các tội phạm. Phần
chung của BLHS quy định những vấn đề có tính nguyên tắc liên quan đến
hình phạt như mục đích của hình phạt (Điều 31 BLHS), các hình phạt đối về
người phạm tội (Điều 32 BLHS), căn cứ quyết định hình phạt (Điều 50, Điều
83 BLHS), quyết định hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt
được áp dụng (Điều 54 BLHS), quyết định hình phạt trong trường hợp phạm
nhiều tội (Điều 55, Điều 88 BLHS), tổng hợp hình phạt của nhiều bản án
(Điều 56, Điều 87 BLHS), quyết định hình phạt trong trường hợp chuẩn bị

phạm tội, phạm tội chưa đạt (Điều 57 BLHS), miễn chấp hành hình phạt
(Điều 62 BLHS), giảm mức hình phạt đã tuyên (Điều 63 BLHS)... Phần các
tội phạm của BLHS quy định các loại hình phạt và mức hình phạt đối với
từng tội. Và Tòa án là cơ quan duy nhất có quyền áp dụng hình phạt đối với
người phạm tội và chỉ có thể áp dụng đối với người có hành vi phạm tội.
- Nhà nước sử dụng hình phạt như là công cụ sắc bén để bảo vệ lợi ích
của mình, của xã hội.
- So với hình phạt bổ sung thì hình phạt chính (trong đó có hình phạt
chính không tước tự do) được tuyên độc lập và mỗi tội phạm chỉ có thể bị
tuyên một hình phạt chính. Hình phạt bổ sung không thể tuyên độc lập mà chỉ
10


có thể tuyên kèm với hình phạt chính đối với mỗi tội phạm. Trong hệ thống
hình phạt áp dụng đối với người phạm tội thì trục xuất và phạt tiền là hai hình
phạt vừa là hình phạt chính vừa là hình phạt bổ sung.
- So với hình phạt chính tước tự do thì đối với các hình phạt chính
không tước tự do thì người phạm tội không bị cách ly khỏi xã hội, mà được
sống, làm việc, trong môi trường sống bình thường với sự giám sát, giúp đỡ
và giáo dục của cơ quan Nhà nước, tổ chức xã hội, chính quyền địa phương
và gia đình.
1.1.3. Vai trò
- Thứ nhất, vai trò của hình phạt chính không tước tự do được thể hiện
thông qua mục đích của hình phạt.
+ Mục đích phòng ngừa riêng: Mục đích phòng ngừa riêng được thể
hiện - hình phạt áp dụng đối với người phạm tội không chỉ nhằm trừng trị mà
còn giáo dục, ngăn ngừa họ phạm tội mới “...nhưng đó không phải là sự lên
án, sự phạt đơn thuần mà là biện pháp đặc biệt để răn đe (răn đe bằng tác
động cưỡng chế nhà nước) để giáo dục, cải tạo (giáo dục, cải tạo bằng tác
động cưỡng chế nhà nước) người bị kết án, ngăn ngừa họ phạm tội lại. Hình

phạt cũng còn là biện pháp đặc biệt để hạn chế (có thể đến loại trừ) điều kiện
phạm tội lại của người bị kết án". [19]
Có thể thấy, mục đích chủ yếu trong phòng ngừa riêng của hình phạt
chính là giáo dục họ ý thức tuân theo pháp luật và các quy tắc của cuộc sống,
ngăn ngừa họ phạm tội mới. Việc Nhà nước trừng trị người phạm tội một cách
công minh là nội dung chủ yếu và quan trọng tạo cơ sở cho cải tạo, giáo dục
người phạm tội; ngược lại, giáo dục người hoặc pháp nhân thương mại phạm
tội là phát huy tính tích cực của nội dung trừng trị.
+ Mục đích phòng ngừa chung: Nội dung cơ bản của mục đích phòng
ngừa chung thể việc ngăn ngừa người khác phạm tội. Hình phạt có tác dụng
răn đe, ngăn ngừa những người khác phạm tội, giúp họ tuân theo pháp luật, từ
11


bỏ ý định phạm tội hoặc thận trọng hơn trong xử sự để tránh xử sự của mình
trở thành xử sự phạm tội. Ngoài ra, còn có mục đích nâng cao ý thức chấp
hành và tuần thủ pháp luật, khuyến khích đông đảo quần chúng nhân dân tích
cực tham gia vào cuộc đấu tranh chống tội phạm. [19, tr.11].
Mục đích phòng ngừa riêng và phòng ngừa chung là hai mặt của thể thống
nhất (hình phạt) thể hiện vai trò to lớn của hình phạt đối với việc phòng chống
tội phạm.
- Ngoài ra, vai trò của hình phạt chính không tước tự do còn được thể
hiện dưới hai góc độ sau:
+ Về mặt xã hội: Việc quy định các hình phạt chính không tước tự do
trong đó có việc mở rộng phạm vi, điều kiện áp dụng là góp phần thể hiện các
chủ trương, đường lối của Đảng và Nhà nước ta thể hiện trong các Nghị quyết
và Hiến pháp, đó là giảm hình phạt tù, mở rộng áp dụng hình phạt tiền, hình
phạt cải tạo không giam giữ đối với một số loại tội phạm.
Việc quy định các hình phạt chính không tước tự do giúp Nhà nước
giảm gánh nặng về chi phí đầu tư cho các cơ sở giam giữ, chi phí cho cán bộ

trông coi…với việc áp dụng hình phạt này người bị kết án vẫn có thể tiếp tục
làm việc, lao động trong môi trường xã hội bình thường. Qua đó, người bị kết
án vẫn có thể chăm lo cho gia đình, đóng góp giá trị vật chất cho xã hội, giúp
họ tái hòa nhập cộng đồng nhanh và hiệu quả hơn.
+ Về mặt pháp lý: Là điều kiện bảo đảm cho việc xét xử được công
bằng bởi sự đa dạng hóa của các loại hình phạt, bảo đảm cho Tòa án lựa chọn
được hình phạt với từng hành vi phạm tội, trong các điều kiện thực tiễn khác
nhau, một cách chính xác, phù hợp với tích chất, mức độ nguy hiểm cho xã
hội của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ TNHS và nhân thân
người phạm tội. Đồng thời, góp phần làm tăng hiệu quả của hình phạt, khắc phục
được những hạn chế của hình phạt chính tước tự do quá phụ thuộc vào các cơ sở

12


giam giữ, nhân lực của Nhà nước và chi phí cho việc tái hòa nhập cộng đồng của
người phạm tội sau khi chấp hành xong bản án.
+ Góp phần thể hiện các nguyên tắc khác nhau của BLHS như nguyên
tắc nhân đạo, nguyên tắc công bằng, nguyên tắc phân hóa TNHS. Tính nhân
đạo trong pháp luật hình sự thể hiện ở việc áp dụng hình phạt đối với
người phạm tội với mục đích chủ yếu nhằm: cải tạo, giáo dục họ trở thành
người có ích cho xã hội và giúp cho công tác phòng ngừa tội phạm trong xã
hội nói chung. Tính công bằng và phân hóa TNHS thể hiện việc người phạm
tội sẽ được tuyên hình phạt phù hợp với tính nguy hiểm cho xã hội của hành
vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ TNHS tương ứng.
1.2. Khái niệm và các yêu cầu đối với áp dụng các hình phạt chính
không tước tự do
1.2.1. Khái niệm áp dụng các hình phạt chính không tước tự do
Pháp luật hình sự Việt Nam không đưa ra khái niệm về áp dụng hình
phạt và áp dụng hình phạt chính không tước tự do. Tuy nhiên, áp dụng hình

phạt là một trường hợp đặc biệt của áp dụng pháp luật hình sự, "là một hoạt
động thực tiễn pháp lý, là quá trình nhằm cá biệt hóa những quy phạm PLHS
vào các trường hợp cụ thể đối với người đã thực hiện hành vi mà Nhà nước
coi là tội phạm, mang tính tổ chức – quyền lực nhà nước và được thực hiện
theo một trình tự đặc biệt do pháp luật tố tụng hình sự quy định". [53, tr.33].
Áp dụng hình phạt là một trường hợp đặc thù của hoạt động áp dụng
pháp luật với đặc trưng cơ bản là việc Tòa án, chủ thể duy nhất có quyền áp
dụng hình phạt với người phạm tội. Theo đó, Tòa án trên cơ sở trình tự, thủ
tục do pháp luật tố tụng hình sự quy định tiến hành lựa chọn loại và mức hình
phạt cụ thể quy định trong pháp luật hình sự để áp dụng đối với người có hành
vi phạm tội được tiến hành ở giai đoạn xét xử vụ án hình sự.

13


Trên cơ sở phân tích trên, có thể hiểu áp dụng hình phạt là một hoạt động
thực tiễn pháp lý, là quá trình nhằm cá biệt hóa những quy phạm PLHS về
hình phạt vào các trường hợp cụ thể đối với người đã thực hiện hành vi
mà Nhà nước coi là tội phạm, mang tính tổ chức – quyền lực nhà nước, do
Tòa án áp dụng theo một trình tự đặc biệt do pháp luật tố tụng hình sự quy
định.
Như đã phân tích trên thì "Hình phạt chính không tước tự do là hình phạt
chính do Tòa án quyết định áp dụng đối với người phạm tội nhằm tước bỏ
hoặc hạn chế quyền, lợi ích của người đó, nhưng người phạm tội không bị
cách ly khỏi môi trường xã hội đang sinh sống, được thể hiện thông qua
bản án có hiệu lực pháp luật của Tòa án".
Qua các khái niệm trên có thể hiểu, áp dụng hình phạt chính không tước
tự do như sau: là một hoạt động thực tiễn pháp lý, là quá trình nhằm cá
biệt hóa những quy phạm pháp luật hình sự về hình phạt chính không tước
tự do gồm cảnh cáo, phạt tiền, cải tạo không giam giữ hoặc trục xuất vào các

trường hợp cụ thể đối với người đã thực hiện hành vi mà Nhà nước coi là tội
phạm, mang tính tổ chức – quyền lực nhà nước; do Tòa án áp dụng theo một
trình tự đặc biệt do pháp luật tố tụng hình sự quy định, với việc không buộc
người đó phải cách ly khỏi môi trường xã hội đang sinh sống, được thể hiện
thông qua bản án có hiệu lực pháp luật của Tòa án.
1.2.2. Các yêu cầu đối với áp dụng các hình phạt chính không tước tự
do
1.2.2.1. Bảo đảm đúng nguyên tắc xử lý
Việc áp dụng hình phạt nói chung và hình phạt không tước tự do nói
riêng cần phải tuân thủ đúng các nguyên tắc xử lý quy định trong BLHS năm
2015 như việc xử lý hành vi phạm tội phải nhanh chóng, kịp thời, đảm bảo
nguyên tắc bình đẳng, công minh, nguyên tắc cá thể hóa trách nhiệm hình sự
đối với từng người đồng phạm...trong pháp luật hình sự.
14


1.2.2.2. Bảo đảm đúng, đầy đủ các nguyên tắc quyết định hình phạt
Có thể hiểu nguyên tắc quyết định hình phạt là những tư tưởng chỉ đạo
trong quá trình Tòa án vận dụng các quy định của pháp luật, các căn cứ quyết
định hình phạt để đưa ra một hình phạt phù hợp với hành vi của người phạm
tội. Một số nguyên tắc phổ biến có liên quan mật thiết đến việc quyết định
hình phạt trong đó có quyết định hình phạt chính không tước tự do như:
- Nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa: Tòa án phải tuân thủ quy định của
pháp luật hình sự về căn cứ quyết định hình phạt. Tòa án phải tuân theo trình tự và
các điều kiện áp dụng các loại hình phạt cụ thể và chỉ có thể tuyên những hình
phạt, mức hình phạt được quy định trong Bộ luật hình sự, tuân thủ các quy định
của Bộ luật hình sự về nội dung, phạm vi, điều kiện áp dụng các loại hình phạt, về
tổng hợp hình phạt.
- Nguyên tắc nhân đạo xã hội chủ nghĩa: Tòa án trong quá trình quyết
định hình phạt cần xem xét các yếu tố nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm

nhẹ... để quyết định việc khoan hồng, đảm bảo mục đích giáo dục, cải tạo
người phạm tội.
- Nguyên tắc cá thể hóa hình phạt: Tòa án khi xem xét quyết định hình
phạt cần quyết định loại, mức hình phạt phù hợp với nhân thân, tích nguy
hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội.
1.2.2.3. Bảo đảm đúng, đầy đủ các căn cứ quyết định hình phạt
Theo quy định tại khoản 1 Điều 50 BLHS khi quyết định hình phạt Tòa án
cần xem xét, áp dụng đúng và đầy đủ 04 căn cứ sau:
Thứ nhất, các quy định của Bộ luật hình sự.
Đó là những quy định tại phần chung và phần cụ thể quy định hình phạt
đối với tội phạm cụ thể trong phần các tội phạm của BLHS.
Thứ hai, tính nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội.
Trong thực tiễn để xác định được tính chất và mức độ nguy hiểm cho
xã hội của hành vi phạm tội cần căn cứ vào mặt khách quan của tội phạm để
15


đánh giá như hành vi, đối tượng tác động, công cụ sử dụng...
Ngoài ra, cần kết hợp xem xét các yếu tố về mặt chủ quan như tính
chất, mức độ lỗi, cũng như động cơ, mục đích của người phạm tội khi thực
hiện hành vi phạm tội đó như thế nào.
Thứ ba, về nhân thân người phạm tội.
Khi xem xét nhân thân người phạm tội Tòa án chỉ xem xét những đặc
điểm nhất định có liên quan đến mục đích của hình phạt, đó là những đặc
điểm ảnh hưởng đến mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội,
phản ánh khả năng giáo dục và cải tạo người phạm tội, hoàn cảnh của người
phạm tội.
Thứ tư, các tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng TNHS của người phạm tội.
Các tình tiết giảm nhẹ được quy định trong BLHS hoặc do Tòa án xác
định nhưng phải nêu rõ lý do trong bản án, các tình tiết tăng nặng TNHS được

quy định trong BLHS.
1.2.2.4. Bảo đảm các điều kiện áp dụng mỗi một loại hình phạt cụ thể
Các quy định của BLHS năm 2015 chia làm 02 loại. Đó là nhóm những
quy định có tính nguyên tắc chung cho từng loại hình phạt (quy định về hệ
thống hình phạt, về nội dung, phạm vi và điều kiện áp dụng của từng loại hình
phạt), những quy định có tính nguyên tắc chung cho việc miễn TNHS, miễn
hình phạt, miễn chấp hành hình phạt tù có điều kiện và những quy định về tội
phạm cụ thể. Bên cạnh đó thì mỗi loại hình phạt đều có những quy định cụ thể
về điều kiện áp dụng về loại tội, thời hạn áp dụng, mức áp dụng...
Ngoải ra, để áp dụng loại hình phạt cụ thể thì khung hình phạt quy định
tại điều luật về tội phạm cụ thể phải quy định về loại hình phạt này.
1.3. Các yếu tố tác động đến áp dụng các hình phạt chính không
tước tự do

16


1.3.1. Quy định của Bộ luật hình sự về các hình phạt chính không tước
tự do
Bộ luật Hình sự năm 2015 có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, đóng vai trò thể
chế hóa Hiến pháp năm 2013, tinh thần của Cải cách tư pháp trong Nghị
quyết 08 và Nghị quyết 49 của Bộ Chính trị. Có thể nói, sự hoàn thiện của
Bộ luật hình sự có vai trò tiên quyết, hàng đầu cho việc áp dụng đúng quy
định về hình phạt không tước tự do, đảm bảo được mục đích của hình
phạt.
Quy định của BLHS cũng là căn cứ đầu tiên khi thực hiện việc quyết định
hình phạt nói chung và hình phạt không tước tự do nói riêng của Tòa án.
Vì vậy, trong thời gian tới BLHS năm 2015 cần tiếp tục hoàn thiện quy
định phần chung, phần tội phạm quy định về loại và mức hình phạt chính
không tước tự do, nhằm tạo ra khung pháp lý mạnh bảo vệ tốt hơn các

quyền con người, quyền công dân; động viên khuyến khích mọi tầng lớp
nhân dân yên tâm tham gia đấu tranh phòng, chống tội phạm.
Ngược lại, nếu BLHS chưa hoàn thiện, chưa thể chế hoá được những
quan điểm, chủ trương mới của Đảng về cải cách tư pháp với tinh thần coi
trọng việc hoàn thiện chính sách hình sự và thủ tục tố tụng tư pháp, đề cao
hiệu quả phòng ngừa và tính hướng thiện trong việc xử lý người phạm tội.
Mở rộng áp dụng hình không tước tự do.
Quy định là tội phạm đối với những hành vi nguy hiểm cho xã hội mới
xuất hiện trong quá trình phát triển các lĩnh vực khác nhau và phù hợp với
hợp tác quốc tế.
1.3.2. Chất lượng điều tra, truy tố

17


Điều tra, truy tố là hai giai đoạn có quan hệ mật thiết với nhau và tác động
rất lớn đến hoạt động định tội danh và quyết định hình phạt của Tòa án.
Nếu hoạt động điều tra, truy tố luôn tuân thủ đúng quy định của pháp luật,
việc giải quyết vụ án một cách khách quan, toàn diện thì việc áp dụng
hình phạt nói chung và hình phạt chính không tước tự do của Tòa án được
thuận lợi, có căn cứ và đúng pháp luật, hình phạt tuyên phù hợp với tích
chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân của
họ thì sẽ đạt được sự tự nguyện chấp hành, từ phía người bị kết án, đạt
được sự đồng thuận của những người khác trong xã hội. Ngược lại, việc
điều tra, truy tố thiếu sót, không toàn diện buộc Tòa án phải tuyên trả hồ
sơ điều tra bổ sung hoặc tuyên hủy án...do Tòa án xét thấy chưa đủ căn cứ
chứng minh tội phạm, có dấu hiệu bỏ lọt tội phạm hoặc làm oan sai dẫn
đến vụ án bị kéo dài ảnh hưởng đến quyền lợi của những người tham gia
tố tụng. Thực tế có những vụ án do chất lượng điều tra, truy tố không đảm
bảo trong khi năng lực, trách nhiệm của Thẩm phán, Hội thẩm còn hạn

chế, còn tình trạng nể nang nhau...dẫn đến việc áp dụng hình phạt không
chính xác, dẫn đến oan sai.
1.3.3. Năng lực và trách nhiệm của Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân
Thẩm quyền quyết định hình phạt thuộc về Tòa án và được thể hiện
thông qua vai trò của Hội đồng xét xử tại phiên tòa mà cụ thể là vai trò của
các Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, những người "cầm cân nảy mực", xem
xét, đánh giá hành vi trên thực tế với các quy định của pháp luật hình sự về
các căn cứ, điều kiện áp dụng hình phạt. Do vậy, nếu Thẩm phán và Hội thẩm
nhân dân có năng lực hạn chế, làm việc không trách nhiệm thì không thể có
hình phạt tuyên tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của
hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ TNHS và nhân thân của
người phạm tội được. Thực tiễn xét xử thời gian qua cho thấy, nhiều vụ án bị
sửa, hủy là do Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân đã không làm hết trách nhiệm
18


của mình trong việc nghiên cứu áp dụng pháp luật, trong đó có pháp luật về
hình phạt.
- Có thể nói Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân giữ vị trí quan trọng
trong việc xét xử - giai đoạn trung tâm của hoạt động tố tụng, vì thế số lượng,
chất lượng của đội ngũ Thẩm phán, Hội thẩm cũng như cách thức tổ chức, cơ
chế vận hành đối với đội ngũ này là yếu tố mang tính quyết định đến hiệu quả
quá trình giải quyết vụ án, hiệu quả áp dụng hình phạt của các cơ quan tiến
hành tố tụng. Hiến pháp năm 2013, Luật tổ chức Tòa án nhân dân năm 2014
quy định điều kiện, tiêu chuẩn Thẩm phán, cũng như quyền hạn, nghĩa vụ của
họ khi tiến hành tố tụng ... đã góp phần nâng cao một bước chất lượng của đội
ngũ này trong những năm vừa qua. Tuy nhiên, đội ngũ Thẩm phán, Hội thẩm
nhân dân còn thiếu về số lượng, yếu về trình độ năng lực nghiệp vụ, một bộ
phận tiêu cực, thiếu trách nhiệm, thiếu bản lĩnh, sa sút phẩm chất đạo đức.
Đây là vấn đề nghiêm trọng làm ảnh hưởng đến việc áp dụng hình phạt của

Tòa án.
1.3.4. Chất lượng tranh tụng tại phiên tòa
Tranh tụng hiện nay được xem là nguyên tắc quan trọng nhằm bảo đảm
tốt quyền con người, quyền công dân, bởi khi tranh tụng các chủ thể buộc tội,
gỡ tội có điều kiện thực hiện tốt hơn nữa nhiệm vụ, quyền hạn của mình, kết
quả tranh tụng là cơ sở để Tòa án ra phán quyết về vụ việc.
Đây thực chất là quá trình vận động tác động qua lại giữa hai chức năng
cơ bản của tố tụng hình sự: chức năng buộc tội và chức năng bào chữa với vai
trò trung gian thuộc về Tòa án. Với vai trò là trung gian xét xử, nếu chất
lượng tranh tụng được nâng cao, các tình tiết gỡ tội, buộc tội được xem xét
một cách toàn diện, khách quan tại phiên tòa thì Tòa án sẽ có cơ sở quan trọng
để ra bản án với hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo.
1.3.5. Yêu cầu đấu tranh, phòng chống tội phạm

19


Xem Thêm

×