Tải bản đầy đủ (.pdf) (84 trang)

Bảo đảm quyền con người của người bị tạm giữ theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam từ thực tiễn thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh (Luận văn thạc sĩ)

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (718.03 KB, 84 trang )

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

\

LÊ THẾ HƯNG
LÊ THẾ HƯNG

BẢO ĐẢM QUYỀN CON NGƯỜI CỦA NGƯỜI BỊ TẠM GIỮ
THEO PHÁP LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM
TỪ
THỰC
THÀNH
BẮCCỦA
NINH,
TỈNHBỊ
BẮC
NINH
BẢO
ĐẢMTIỄN
QUYỀN
CONPHỐ
NGƯỜI
NGƯỜI
TẠM
GIỮ
THEO PHÁP LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM
TỪ THỰC TIỄN THÀNH PHỐ BẮC NINH, TỈNH BẮC NINH


LUẬN VĂN THẠC SĨ
LUẬT HÌNH SỰ VÀ TỐ TỤNG HÌNH SỰ
LUẬN VĂN THẠC SĨ
LUẬT HÌNH SỰ VÀ TỐ TỤNG HÌNH SỰ

HÀ NỘI, 2020

HÀ NỘI, 2020

1


VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

LÊLÊTHẾ
HƯNG
THẾ
HƯNG

BẢO ĐẢM QUYỀN CON NGƯỜI CỦA NGƯỜI BỊ TẠM GIỮ
THEO PHÁP LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM
TỪ THỰC TIỄN THÀNH PHỐ BẮC NINH, TỈNH BẮC NINH

BẢO ĐẢM QUYỀN CON NGƯỜI CỦA NGƯỜI BỊ TẠM GIỮ
THEO PHÁP LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM
TỪ THỰC TIỄN THÀNH PHỐ BẮC NINH, TỈNH BẮC NINH
Chuyên ngành: Luật Hình sự và tố tụng hình sự

Mã số

: 8380104

Chuyên ngành: Luật Hình sự và tố tụng hình sự
Mã số
: 8380104

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS. NGUYỄN NGỌC HÀ

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS. NGUYỄN NGỌC HÀ

HÀ NỘI, 2020

2


LỜI CAM ĐOAN.
Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi.
Các số liệu và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và
trung thực. Kết quả nghiên cứu nêu trong Luận án chưa từng được ai công
bố trong bất kỳ công trình nào khác.
Người cam đoan

Lê Thế Hưng

3



MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU

1

Chương 1. NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ BẢO ĐẢM QUYỀN
CON NGƯỜI CỦA NGƯỜI BỊ TẠM GIỮ THEO PHÁP LUẬT
TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM

6

1.1. Lý luận về quyền con người và quyền con người của người bị
tạm giữ theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam

6

1.2. Nhận thức về bảo đảm quyền con người của người bị tạm giữ
theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam

23

Chương 2. TÌNH HÌNH, ĐẶC ĐIỂM CÓ LIÊN QUAN VÀ
THỰC TRẠNG BẢO ĐẢM QUYỀN CON NGƯỜI CỦA
NGƯỜI BỊ TẠM GIỮ THEO PHÁP LUẬT TỐ TỤNG HÌNH
SỰ VIỆT NAM TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ BẮC NINH,
TỈNH BẮC NINH

38


2.1. Tình hình đặc điểm có liên quan đến bảo đảm quyền con người
của người bị tạm giữ trên địa bàn thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh

38

2.2. Thực trạng bảo đảm quyền con người của người bị tạm giữ theo
pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam trên địa bàn thành phố Bắc Ninh,
tỉnh Bắc Ninh

43

Chương 3. GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ BẢO ĐẢM
QUYỀN CON NGƯỜI CỦA NGƯỜI BỊ TẠM GIỮ THEO
PHÁP LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM TRÊN ĐỊA BÀN
THÀNH PHỐ BẮC NINH, TỈNH BẮC NINH

55

3.1. Hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam về bảo đảm
quyền con người của người bị tạm giữ

55

3.2. Nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật tố tụng hình sự liên quan
đến người bị tạm giữ và quyền của người bị tạm giữ

4

64



3.3. Hoàn thiện tổ chức, bộ máy, nâng cao ý thức pháp luật, trình độ
nhận thức, chuyên môn nghiệp vụ của các chủ thể tiến hành tố tụng

65

3.4. Tăng cường công tác giám sát, giải quyết khiếu nại tố cáo và
thanh tra, xử lý vi phạm dối với hoạt động tạm giữ

68

3.5. Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục pháp luật về quyền
con người

70

3.6. Tăng cường xây dựng cơ sở vật chất cho nhà tạm giữ, các
phương tiện thông tin, liên lạc phục vụ cho công tác tạm giữ

71

KẾT LUẬN

73

TÀI LIỆU THAM KHẢO

75


5


DANH MỤC BẢNG
Bảng

Trang

Bảng 2.1. Số liệu giải quyết án hình sự trên địa bàn thành phố
Bắc Ninh

47

Bảng 2.2: Bảng thống kê tình hình bắt giữ và phân loại từ năm
2015-2019

48

Bảng 2.3: Bảng thống kê tình hình giải quyết người bị tạm giữ từ
năm 2015 - 2019

51

6


DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

BLHS


:

Bộ luật Hình sự

BLTTHS

:

Bộ luật Tố tụng hình sự

BPNC

:

Biện pháp ngăn chặn

CQĐT

:

Cơ quan điều tra

QCN

:

Quyền con người

THTT


:

Tiến hành tố tụng

TTHS

:

Tố tụng hình sự

VKS

:

Viện kiểm sát

XHCN

:

Xã hội chủ nghĩa

7


MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong các mặt hoạt động của nhà nước, TTHS là quá trình tiếp nhận,
giải quyết nguồn tin về tội phạm, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử vụ án
hình sự. Những hoạt động TTHS của các cơ quan có thẩm quyền THTT

như áp dụng các BPNC, biện pháp cưỡng chế, tiến hành các hoạt động điều
tra nhằm thu thập chứng cứ…có ảnh hưởng lớn và liên quan chặt chẽ với
việc bảo đảm QCN của những người tham gia tố tụng, trong đó có người bị
tạm giữ. Nếu pháp luật TTHS được áp dụng đúng căn cứ, đúng trình tự thủ
tục thì QCN của người tham gia tố tụng nói chung, người bị tạm giữ nói
riêng được bảo đảm và ngược lại.
Thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh là thành phố đang trên đà phát
triển các mặt về kinh tế, chính trị văn hóa xã hội. Thành phố Bắc Ninh là
nơi giao thương kinh tế tương đối tấp nập, kéo theo đó là tình hình tội
phạm trên địa bàn trong những năm vừa qua đã diễn ra tương đối phức tạp.
Trong công tác phòng, chống tội phạm này, biện pháp tạm giữ trong TTHS
thường xuyên được các cơ quan có thẩm quyền THTT trên địa bàn thành
phố Bắc Ninh áp dụng để để kịp thời ngăn chặn tội phạm, ngăn chặn người
phạm tội trốn tránh pháp luật, gây khó khăn, cản trở cho hoạt động TTHS.
Về cơ bản, vấn đề bảo đảm QCN của người bị tạm giữ đã được các cơ quan
có thẩm quyền THTT thực hiện một cách nghiêm túc theo quy định của
pháp luật, QCN của người bị tạm giữ được tôn trọng và bảo vệ, giúp cho họ
thực hiện tốt địa vị pháp lý của mình khi tham gia tố tụng. Tuy nhiên, thực
tiễn thời gian qua trên địa bàn thành phố Bắc Ninh cũng cho thấy một số
QCN của người bị tạm giữ chưa được bảo đảm thực hiện tốt, vẫn còn có
những vi phạm như: không bảo đảm quyền bào chữa cho người bị tạm giữ,
hết thời hạn tạm giữ nhưng không có quyết định gia hạn tạm giữ, giam giữ
chung người bị tạm giữ với người bị tạm giam, điều kiện ăn, ở, cấp tư trang
1


cho người bị tạm giữ còn nhiều thiếu sót…Những vi phạm đó xuất phát từ
nhiều nguyên nhân, trong đó có những bất cập, hạn chế của pháp luật, cơ
chế, nhận thức, thái độ của người THTT, các quy định về chế độ trách
nhiệm của cơ quan, người THTT đối với người tham gia tố tụng…Do đó

việc nghiên cứu một cách toàn diện về vấn đề bảo đảm QCN của người bị
tạm giữ theo pháp luật TTHS Việt Nam trên địa bàn thành phố Bắc Ninh,
tỉnh Bắc Ninh có ý nghĩa quan trọng nhằm góp ý hoàn thiện pháp luật
TTHS có liên quan và nâng cao hiệu quả của hoạt động áp dụng pháp luật
trong bảo đảm QCN của người bị tạm giữ trên địa bàn trong thời gian tới.
Xuất phát từ những lý do trên, tác giả chọn đề tài “Bảo đảm quyền
con người của người bị tạm giữ theo pháp luật TTHS Việt Nam từ thực tiễn
thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh” làm luận văn cao học luật là cấp bách,
thiết thực, mang lại nhiều ý nghĩa cả về lý luận và thực tiễn.
2. Tình hình nghiên cứu
Trong khoa học pháp lý, QCN đã được các tác giả đề cập và tập
trung làm rõ ở những khía cạnh khác nhau. Có thể nói, Đảng và nhà nước
ta rất quan tâm đến vấn đề bảo vệ QCN nói chung và QCN của người bị
tạm giữ nói riêng. Đây là một vấn đề nhạy cảm cần được sự quan tâm và
giải quyết một cách khéo léo của Đảng và nhà nước. Nhiều công trình khoa
học đã tập trung nghiên cứu về QCN và và đảm bảo QCN nói chung, QCN
của người bị tạm giữ nói chung và trong TTHS.
Về bài báo, tham luận, có các bài viết: “Mấy ý kiến về bảo vệ con
người trong TTHS Việt Nam” của PGS. TS Phạm Hồng Hải; “Bảo vệ QCN
trong luật hình sự và TTHS Việt Nam” của Tiến sỹ Trần Quang Tiệp…
Về luận văn thạc sĩ, luận án tiến sĩ có nhiều luận văn nghiên cứu về
vấn đề QCN của người bị buộc tội như: “Bảo đảm quyền của người bị tạm
giữ, bị can, bị cáo trong TTHS Việt Nam” của tác giả Nguyễn Tiến Đạt; Đề
tài luận văn thạc sỹ “Đảm bảo QCN của người bị tạm giữ, bị can trong giai
đoạn điều tra vụ án hình sự của tác giả Đoàn Văn Thuận”; “Một số vấn đề
2


lý luận và thực tiễn về bảo vệ các QCN bằng pháp luật TTHS Việt Nam”
của tác giả Nguyễn Như Hiển; “Bảo đảm QCN của người bị tạm giữ, bị

can, bị cáo trong Luật TTHS Việt Nam (trên cơ sở số liệu thực tiễn địa bàn
tỉnh Đắk Lắk)” của tác giả Nguyễn Phi Long; “Bảo đảm QCN trong TTHS
đối với người bị tạm giữ, tạm giam (cơ sở nghiên cứu thực tiễn địa bàn
thành phố Hà Nội)” của tác giả Đào Thị Mai Phương; Luận án Tiến sĩ “Bảo
đảm QCN của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo trong TTHS Việt Nam” của
tác giả Lại Văn Trình…
Các tác giả nói trên cũng đã phân tích làm rõ QCN của người bị tạm
giữ trong TTHS Việt Nam, có người đi sâu phân tích về việc bảo đảm thực
hiện QCN; có người lại đi sâu nghiên cứu về các nguyên tắc của BLTTHS
liên quan đến QCN và bảo đảm QCN… những kết quả của các công trình
nghiên cứu này cũng là những kiến thức nền tảng quan trọng mà tác giả
luận văn kế thừa có chọn lọc trong quá trình nghiên cứu đề tài của mình.
Mặc dù vậy, có thể nói nghiên cứu về vấn đề bảo đảm QCN của người bị
tạm giữ theo pháp luật TTHS từ thực tiễn một địa bàn nghiên cứu, cụ thể là
tại thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh thì chưa có một công trình nào đề
cập và nghiên cứu một cách sâu sắc, toàn diện.
3. Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu nghiên cứu của luận văn là làm rõ lý luận về bảo đảm QCN
của người bị tạm giữ và thực tiễn bảo đảm QCN của người bị tạm giữ trên
địa bàn thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh, từ đó đề xuất những giải pháp
tăng cường bảo đảm QCN của người bị tạm giữ trên địa bàn thành phố Bắc
Ninh, tỉnh Bắc Ninh trong thời gian tới.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Với mục đích nghiên cứu đó, luận văn tập trung thực hiện các nhiệm
vụ sau:
- Một là, phân tích làm rõ các vấn đề lý luận về bảo đảm QCN của
3



người bị tạm giữ theo pháp luật TTHS Việt Nam
- Hai là, phân tích, đánh giá thực trạng về bảo đảm QCN của người
bị tạm giữ theo pháp luật TTHS Việt Nam trên địa bàn thành phố Bắc
Ninh, tỉnh Bắc Ninh.
- Ba là, đề xuất các giải pháp nhằm tăng cường bảo đảm QCN của
người bị tạm giữ theo pháp luật TTHS Việt Nam trên địa bàn thành phố
Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh trong thời gian tới.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Luận văn tập trung nghiên cứu lý luận và thực tiễn về bảo đảm QCN
của người bị tạm giữ theo pháp luật TTHS Việt Nam trên địa bàn thành phố
Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh. Tài liệu số liệu được lấy từ thực tiễn địa bàn
thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
- Về nội dung: Luận văn nghiên cứu lý luận và thực tiễn về bảo đảm
QCN của người bị tạm giữ theo pháp luật TTHS Việt Nam trên địa bàn
thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh. Luận văn không nghiên cứu về bảo
đảm quyền của người bị tạm giữ hành chính.
- Về địa bàn khảo sát: Luận văn khảo sát trên địa bàn thành phố Bắc
Ninh, tỉnh Bắc Ninh.
- Về thời gian khảo sát: Trong thời gian 5 năm (2015 - 2019).
- Về chủ thể bảo đảm quyền: Luận văn nghiên cứu về những chủ thể bảo
đảm QCN của người bị tạm giữ trên địa bàn thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh.
5. Phương pháp luận và các phương pháp nghiên cứu
Luận văn được nghiên cứu dựa trên cơ sở phương pháp luận duy vật
biện chứng của Chủ nghĩa Mác – Lê Nin; dựa trên tư tưởng Hồ Chí Minh;
Đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về đảm bảo QCN
nói chung và QCN của người bị tạm giữ nói riêng. Bên cạnh đó, quá trình
nghiên cứu luận văn còn dựa trên phương pháp luận của khoa học khoa học
4



pháp lý, khoa học điều tra hình sự…
Các phương pháp nghiên cứu cụ thể được sử dụng để nghiên cứu
luận văn:
- Phương pháp so sánh.
- Phương pháp phân tích và tổng hợp.
- Phương pháp chuyên gia.
- Phương pháp thống kê, điều tra xã hội học.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
6.1. Ý nghĩa lý luận
Đề tài góp phần bổ sung hoàn thiện hơn về vấn đề lý luận về quyền
và bảo đảm QCN của người bị tạm giữ, góp phần nâng cao hiệu quả áp
dụng pháp luật trong thực tiễn bảo đảm QCN nói chung và quyền của
người bị tạm giữ nói riêng.
6.2. Ý nghĩa thực tiễn
Đề tài luận văn nghiên cứu về đảm bảo QCN của người bị tạm giữ và
qua đó để nâng cao hiệu quả bảo đảm QCN của người bị tạm giữ trong thời
gian tới. Những quy định này cần được đảm bảo được hiện thực hóa trong
cuộc sống.
7. Cơ cấu của luận văn
Nội dung chính của luận văn được kết cấu làm 3 chương như sau:
Chương 1: Những vấn đề lý luận về bảo đảm quyền con người của
người bị tạm giữ theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam.
Chương 2: Tình hình, đặc điểm có liên quan và thực trạng bảo đảm
quyền con người của người bị tạm giữ theo pháp luật tố tụng hình sự Việt
Nam trên địa bàn thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh.
Chương 3: Giải pháp nâng cao hiệu quả bảo đảm quyền con người
của người bị tạm giữ theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam trên địa bàn
thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh.


5


Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ BẢO ĐẢM QUYỀN
CON NGƯỜI CỦA NGƯỜI BỊ TẠM GIỮ THEO
PHÁP LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM
1.1. Lý luận về quyền con người và quyền con người của người
bị tạm giữ theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam
1.1.1. Lý luận về quyền con người theo pháp luật tố tụng hình sự
1.1.1.1. Khái niệm quyền con người
Vấn đề QCN bắt đầu được chính thức công khai thừa nhận từ sự
thắng lợi của cách mạng tư sản, với nhiều thành tựu của khoa học và những
tư tưởng lớn về QCN. Các bản Tuyên ngôn độc lập của Hoa kỳ, Tuyên
ngôn nhân quyền và dân quyền của Pháp, Luật về các quyền của Anh có
thể nói là những văn bản đầu tiên đã đặt vấn đề về QCN, đặt những viên
gạch lý luận về QCN.
Chủ nghĩa Mác – Lê nin trên cơ sở kế thừa các học thuyết tiến bộ,
khẳng định, đề cao con người và QCN. Những quan điểm của Chủ nghĩa
Mác – Lê nin đã tạo nền tảng để các dân tộc yếu thế vùng lên, qua đó tạo
những đột phá trong cách mạng về QCN.
Về khái niệm, định nghĩa, QCN được hiểu và định nghĩa khác nhau. Theo
thống kê không chính thức, cho đến nay có đến gần 60 định nghĩa về QCN được
công bố. Mỗi định nghĩa tiếp cận ở những góc độ khác nhau về QCN.
Ở cấp bộ quốc tế, văn phòng cao ủy Liên hợp quốc về QCN
(OHCHR) có đưa ra được một định nghĩa về QCN và được sử dụng tương
đối rộng rãi. Văn phòng Cao ủy Liên hợp quốc về QCN cũng cho rằng
QCN là những đảm bảo về mặt pháp luật, pháp lý. Những đảm bảo này có
vai trò đảm bảo cho các các nhân đơn lẻ và các nhóm bảo vệ họ khỏi những

sự xâm hại đến nhân phẩm và các quyền tự do cơ bản khác.
Xuất phát từ những quan niệm khoa học và đúng đắn về con người,
C. Mác đã xác định: “Con người là “con người xã hội” là sự “tổng hòa các
6


quan hệ xã hội” cho nên QCN thể hiện sâu sắc giá trị các quan hệ xã hội và
hiển nhiên mang bản chất đó.” [6, tr. 11].
Từ điển Luật học đưa ra định nghĩa như sau: “Quyền của thành viên
trong xã hội loài người – quyền của tất cả mọi người. Đó là nhân phẩm,
nhu cầu, lợi ích và năng lực của con người được thể chế hóa (ghi nhận)
trong pháp luật quốc tế và pháp luật quốc gia” [5, tr. 648].
Có nhiều định nghĩa về QCN đã được các nhà khoa học ở Việt Nam
nêu ra. QCN luôn gắn với pháp luật, phải được pháp luật ghi nhận thừa
nhận trong các văn bản quy phạm pháp luật và QCN được nhà nước bảo vệ.
Bảo vệ QCN là nghĩa vụ của nhà nước để bảo đảm tính bắt buộc chung của
pháp luật được nhà nước ban hành.
Các bản Hiến pháp (Hiến pháp 1946, 1959, 1980, 1992) là những
nấc thang ghi nhận và phát triển các quyền cũng như cơ chế bảo vệ các
QCN ở Việt Nam. Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
năm 2013 đã dành vị trí và nội dung rất quan trọng quy định về QCN. Theo
Điều 14 – Hiến pháp nước Cộng hòa XHCN Việt Nam năm 2013 quy định
rõ: “Ở nước Cộng hòa XHCN Việt Nam, các QCN, quyền công dân về
chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội được công nhận, tôn trọng, bảo
vệ, bảo đảm theo Hiến pháp và pháp luật; QCN, quyền công dân chỉ có thể
bị hạn chế theo quy định của luật trong trường hợp cần thiết vì lý do quốc
phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe
của cộng đồng” [14].
Bên cạnh Hiến pháp, nhà nước ta đã ban hành và quy định nhiều văn
bản luật quan trọng như: Bộ luật Dân sự, Bộ luật Tố tụng dân sự, BLHS,

BLTTHS, Luật hôn nhân – gia đình, Luật khiếu nại tố cáo, Luật báo chí,
Luật quốc tịch…ghi nhận QCN trong lĩnh vực kinh tế, xã hội, văn hóa của
công dân, trong lĩnh vực dân sự, chính trị…đây là công cụ pháp lý quan
trong để bảo vệ QCN ở Việt Nam.
Mặc dù có nhiều quan điểm khác nhau về QCN như vây, nhưng
7


trước hết có thể hiểu QCN là những đặc quyền mà con người sinh ra là tự
nhiên có. QCN ghi nhận rất nhiều QCN của con người. Đó có thể là quyền
được sống. Quyền được sống có thể nói là quyền con người quan trọng
nhất. Bên cạnh đó là quyền được bảo vệ. Và ngoài ra còn là quyền được tự
do phát triển của con người. Những quyền này phải được pháp luật ghi
nhận một cách cụ thể thì mới chính thức là QCN.
1.1.1.2. Khái niệm quyền con người trong tố tụng hình sự
Trong mỗi quốc gia, QCN trong TTHS là có thể nói là nội dung cơ
bản và thể hiện cụ thể của QCN nói chung của quốc gia đó trong lĩnh vực
TTHS. Ở nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam, QCN trong TTHS được
ghi nhận tại Hiến pháp 2013 – đạo luật cao nhất của nhà nước và được cụ
thể hóa trong các quy định của BLTTHS năm 2015 như sau: Điều 8 - Tôn
trọng và bảo vệ QCN, quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân; Điều 9 - Bảo
đảm quyền bình đẳng trước pháp luật; Điều 10 - Bảo đảm quyền bất khả
xâm phạm về thân thể; Điều 11 - Bảo hộ tính mạng, sức khoẻ, danh dự,
nhân phẩm, tài sản của cá nhân; danh dự, uy tín, tài sản của pháp nhân;
Điều 12 - Bảo đảm quyền bất khả xâm phạm về chỗ ở, đời sống riêng tư, bí
mật cá nhân, bí mật gia đình, an toàn và bí mật thư tín, điện thoại, điện tín
của cá nhân; Điều 13 - Suy đoán vô tội; Điều 14 - Không ai bị kết án hai
lần vì một tội phạm; Điều 15 - Xác định sự thật của vụ án; Điều 16 - Bảo
đảm quyền bào chữa của người bị buộc tội, bảo vệ quyền và lợi ích hợp
pháp của bị hại, đương sự…

Những QCN trong TTHS cho thấy những quy định của pháp luật về
QCN trong TTHS thể hiện mối quan hệ pháp lý chặt chẽ giữa nhà nước với
các chủ thể tham gia trong quan hệ pháp luật TTHS mà bản chất của nó là
cả nhà nước và các chủ thể này đều có quyền và nghĩa vụ đối với nhau và
nếu vi phạm thì đều phải chịu trách nhiệm pháp lý như nhau.
Có thể thấy quyền công dân chính là những QCN cụ thể trên tất cả
mọi lĩnh vực được pháp luật quốc gia ghi nhận. Và trong lĩnh vực TTHS thì
8


xuất hiện những QCN trong lĩnh vực TTHS cần được bảo vệ. Không phải
mọi QCN, quyền công dân đều có thể bị xâm phạm trong hoạt động TTHS,
chỉ có những QCN trong lĩnh vực TTHS mới có thể cần phải được bảo vệ
vì bị xâm phạm. Để phân biệt, giới hạn được phạm vi các QCN cần được
bảo vệ trong TTHS với QCN nói chung và quyền công dân nói riêng cần
xác định được đối tượng của QCN trong TTHS và xác định được lĩnh vực
của QCN trong TTHS. Nhận thức đúng điều này mới có thể tiến hành đúng
đắn, hiệu quả hoạt động bảo vệ QCN trong TTHS.
Trong TTHS, có nhiều chủ thể khác nhau tham gia với vai trò, địa vị
pháp lý tố tụng khác nhau. Có nhóm chủ thể là chủ thể có thẩm quyền tiến
hành tố tụng, có nhóm chủ thể chỉ là chủ thể tham gia. Trong mối tương
quan chung về địa vị pháp lý, có thể thấy có những chủ thể thuộc nhóm yếu
thế, dễ bị tổn thương như người bị buộc tội (người bị bắt, người bị tạm giữ,
bị can, bị cáo) và tiếp theo là quyền của những người tham gia TTHS khác
như: nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người làm chứng, người bị hại,
người bào chữa… Người bị buộc tội (người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can,
bị cáo) mặc dù là những đối tượng có thế phải trách nhiệm hình sự nhưng
họ vẫn được hưởng những QCN cơ bản nhất là: quyền không bị tra tấn,
đánh đập khi bị giam, giữ, được xét xử công bằng, điều tra khách quan,
quyền được tôn trọng về nhân phẩm…

Quyền con người trong TTHS được hiểu như sau: Quyền con người
trong TTHS là các quyền dân sự, chính trị của các chủ thể TTHS, mà chủ
yếu là người tham gia tố tụng về bảo vệ tính mạng, sức khỏe, tôn trọng
danh dự nhân phẩm...của họ trong TTHS, bảo vệ họ khỏi sự lạm quyền và
tùy tiện của những người có thẩm quyền tiến hành tố tụng.
1.1.2. Người bị tạm giữ và quyền con người của người bị tạm giữ
theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam
1.1.2.1. Người bị tạm giữ theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam
Điều 59 BLTTHS năm 2015 quy định về người bị tạm giữ như sau:
9


“Người bị tạm giữ là người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, bị bắt trong
trường hợp phạm tội quả tang, bị bắt theo quyết định truy nã hoặc người
phạm tội tự thú, đầu thú và đối với họ đã có quyết định tạm giữ” [15].
Sau khi một người bị bắt quả tang, bị giữ trong trường hợp khẩn cấp,
người đó tự thú, đầu thú hoặc bị bắt theo quyết định truy nã thì biện pháp
ngăn chặn tiếp theo được áp dụng là biện pháp tạm giữ. Do vậy, trước khi
trở thành người bị tạm giữ, người đó có thể là người bị bắt quả tang, người
đó có thể là người bị bắt truy nã, người đó có thể bị giữ khẩn cấp hoặc tự
thú, đầu thú.
Bên cạnh là người chưa bị khởi tố về hình sự, bị can, bị cáo cũng có
thể trở thành người bị tạm giữ trong trường hợp họ là bị can, bị cáo bỏ trốn
và bị bắt theo quyết định truy nã và sau đó bị tạm giữ.
Những người này khi bị tạm giữ sẽ bị hạn chế, tước bỏ một số quyền
tự do nhất định. Do vậy QCN của họ cần được chú ý đảm bảo, không để
cho các chủ thể có thẩm quyền vi phạm QCN của họ.
Từ quy định của BLTTHS 2015, người bị tạm giữ trong TTHS được
hiểu như sau:
Người bị tạm giữ là người bị cơ quan có thẩm quyền ra quyết định

tạm giữ nhằm hạn chế một số quyền tự do của họ trong một khoảng thời
gian nhất định sau khi người đó tự thú, đầu thú hoặc bị giữ trong trường
hợp khẩn cấp, bị bắt trong trường hợp phạm tội quả tang, bị bắt theo quyết
định truy nã.
Như vậy, một người để trở thành người bị tạm giữ cần đảm bảo hai
vấn đề sau đây:
Thứ nhất, người đó là người đã tự thú, đầu thú hoặc đã bị áp dụng
các BPNC như bị giữ người trong trường hợp khẩn cấp, bị bắt trong
trường hợp phạm tội quả tang, bị bắt theo quyết định truy nã.
Theo Điều 4 BLTTHS năm 2015, người phạm tội tự thú là việc
người phạm tội tự nguyện khai báo với cơ quan, tổ chức về hành vi phạm
10


tội của mình trước khi tội phạm hoặc người phạm tội bị phát hiện. Người
phạm tội đầu thú là việc người phạm tội sau khi bị phát hiện đã tự nguyện
ra trình diện và khai báo với cơ quan có thẩm quyền về hành vi phạm tội
của mình.
Theo Điều 110 BLTTHS năm 2015, người bị giữ trong trường hợp
khẩn cấp được hiểu là người đã bị cơ quan có thẩm quyền ra lệnh giữ người
trong trường hợp khẩn cấp vì có căn cứ để xác định người đó đang chuẩn bị
thực hiện tội phạm rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng, hay vì người
đó đã thực hiện tội phạm mà có dấu hiệu bỏ trốn hoặc tiêu hủy chứng cứ.
Theo quy định tại Điều 110 BLTTHS, có 3 trường hợp giữ người trong
trường hợp khẩn cấp: Trường hợp một người đang chuẩn bị phạm tội rất
nghiêm trọng hoặc tội đặc biệt nghiêm trọng; Trường hợp một người đã
thực hiện tội phạm và có người đã chính mắt trông thấy và xác nhận đúng
là người đó đã phạm tội và cơ quan, người có thẩm quyền xem xét thấy cần
ngăn chặn ngay việc người đó trốn; Trường hợp thấy có dấu vết tội phạm ở
người, tại nơi ở, nơi làm việc, địa điểm của người bị nghi thực hiện tội

phạm và cơ quan, người có thẩm quyền xét thấy cần ngăn chặn ngay việc
người đó trốn hoặc tiêu hủy chứng cứ.
Theo quy định của BLTTHS năm 2015, người bị bắt theo quyết định
truy nã là bị can, bị cáo hoặc người chấp hành án đang bỏ trốn và cơ quan
có thẩm quyền đã có quyết định truy nã để bắt họ.
Như vậy, trước khi trở thành người bị tạm giữ thì người phải có hành
vi tự thú, đầu thú, hoặc đã bị áp dụng các BPNC như trên.
Thứ hai, về hình thức, người đó đã bị cơ quan, người có thẩm quyền
ra quyết định tạm giữ.
Theo quy định của BLTTHS năm 2015, người có thẩm quyền ra
quyết định tạm giữ gồm: Thủ trưởng đơn vị độc lập cấp trung đoàn và
tương đương; Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng CQĐT các cấp; Chỉ huy trưởng
Biên phòng Cửa khẩu cảng, Chỉ huy trưởng Bộ đội biên phòng tỉnh, thành
11


phố trực truộc trung ương; Đồn trưởng Đồn biên phòng; Cục trưởng Cục
phòng, chống ma túy và tội phạm Bộ đội biên phòng; Cục trưởng Cục trinh
sát biên phòng Bộ đội biên phòng; Tư lệnh vùng lực lượng Cảnh sát biển;
Đoàn trưởng Đoàn đặc nhiệm phòng, chống ma túy và tội phạm Bộ đội
biên phòng; Người chỉ huy tàu bay, tàu biển khi tàu bay, tàu biển đã rời
khỏi sân bay, bến cảng; Cục trưởng Cục Nghiệp vụ và pháp luật lực lượng
Cảnh sát biển; Chi cục trưởng Chi cục Kiểm ngư vùng; Đoàn trưởng Đoàn
đặc nhiệm phòng, chống tội phạm ma túy lực lượng Cảnh sát biển.
Tóm lại, phải đảm bảo đồng thời hai vấn đề trên thì một người mới
trở thành người bị tạm giữ trong TTHS. Có nghĩa là không phải tất cả
người phạm tội tự thú, đầu thú hay người bị giữ khẩn cấp, người bị bắt quả
tang, bị bắt truy nã đều trở thành người bị tạm giữ. Những người này chỉ
trở thành người bị tạm giữ nếu cơ quan, người có thẩm quyền xem xét thấy
cần thiết và có thể áp dụng biện pháp tạm giữ theo quy định của BLTTHS.

Có nhiều trường hợp người phạm tội tự thú, đầu thú, người phạm tội
bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, bị bắt quả tang, bắt truy nã nhưng không
bị tạm giữ.
Người tự thú nếu cơ quan có thẩm quyền xét thấy họ phạm tội ít
nghiêm trọng, thành khẩn khai báo, không có ý thức chống đối, gây cản trở
cho hoạt động TTHS thì cũng không cần thiết phải áp dụng BPNC, do đó
không nhất thiết phải tạm giữ.
Người bị bắt trong trường hợp phạm tội quả tang nhưng sau khi lấy
lời khai kiểm tra xác minh thì nếu xét thấy hành vi không cấu thành tội
phạm (ví dụ gây nguy hiểm không đáng kể; do phòng vệ chính đáng, tình
thế cấp thiết, sự kiện bất ngờ; không đủ năng lực trách nhiệm hình sự…) thì
cơ quan có thẩm quyền không được tạm giữ mà phải trả tự do.
Theo quy định của BLTTHS, sau khi bắt người đang bị truy nã, cơ
quan có thẩm quyền phải lấy lời khai ngay, sau khi lấy lời khai thì phải
thông báo để cơ quan có thẩm quyền đến ngay để nhận người bị bắt. Như
12


vậy, người bị bắt theo quyết định truy nã chỉ bị tạm giữ nếu CQĐT đã ra
quyết định truy nã không thể đến nhận ngay người bị bắt, lúc này, CQĐT
đang giữ người mới phải ra quyết định tạm giữ [15].
1.1.2.2. Quyền con người của người bị tạm giữ theo pháp luật tố
tụng hình sự Việt Nam
- Khái niệm quyền con người của người bị tạm giữ
Quyền con người của người bị tạm giữ trong TTHS là tập hợp các
quyền dân sự, chính trị nhằm mục đích khẳng định danh dự nhân phẩm của
con người trong mọi hoàn cảnh, bảo vệ các cá nhân khỏi sự tùy tiện và sự
lạm quyền của các cơ quan và nhân viên nhà nước trong các hoạt động
TTHS. Theo các văn bản pháp lý quốc tế về QCN thì QCN của người bị
tạm giữ về cơ bản là quyền an toàn thân thể, danh dự, nhân phẩm… của cá

nhân khi họ tham gia tố tụng với tư cách người bị tạm giữ.
Từ những phân tích trên, khái niệm QCN trong TTHS đối với người
bị tạm giữ có thể hiểu như sau: QCN trong TTHS của người bị tạm giữ là
tổng hợp các quyền dân sự, chính trị nhằm mục đích khẳng định việc bảo
vệ tính mạng, sức khỏe, tôn trọng danh dự nhân phẩm…của người bị tạm
giữ trong TTHS.
- Phạm vi quyền con người của người bị tạm giữ theo pháp luật
TTHS Việt Nam
Quyền con người của người bị tạm giữ theo pháp luật TTHS Việt
Nam được thể hiện ở 2 phạm vi sau đây:
+ Quyền con người, quyền công dân chung của người bị tạm giữ:
Quyền con người, quyền công dân nói chung của người bị tạm giữ
được ghi nhận trong Hiến pháp và được cụ thể hóa bởi các nguyên tắc
chung của BLTTHS năm 2015. Trong số 27 nguyên tắc cơ bản của luật
TTHS được quy định trong BLTTHS năm 2015 thì những nguyên tắc sau
đây thể hiện rõ nhất QCN nói chung của người bị tạm giữ:
. Nguyên tắc bảo đảm quyền bình đẳng trước pháp luật
13


Theo Điều 9 BLTTHS năm 2015, bình đẳng trước pháp luật có nghĩa
là mọi người khi tham gia quan hệ pháp luật TTHS phải được đối xử bình
đẳng như nhau trước pháp luật. Trong hoạt động khởi tố, điều tra, truy tố,
xét xử, trong áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp ngăn chặn như biện pháp
tạm giữ thì không được phân biệt thành phần, địa vị xã hội, dân tộc, giới
tính…Tương tự như vậy, mọi pháp nhân cũng phải được đối xử bình đẳng
trước pháp luật, không phân biệt pháp nhân này thuộc thành phần này hay
pháp nhân kia thuộc hình thức sở hữu kia. Có như vậy pháp luật mới đảm
bảo tính nghiêm minh, hiệu lực, hiệu quả và được sự tôn trọng của mọi cá
nhân, cơ quan, tổ chức.

. Nguyên tắc bảo đảm quyền bất khả xâm phạm về thân thể
Trong hệ thống pháp luật Việt Nam nói chung, luật hình sự, luật
TTHS nói riêng nguyên tắc nhân đạo XHCN luôn luôn được thể hiện rõ nét
trong chính sách hình sự của Nhà nước qua mọi giai đoạn phát triển. Đó là
vấn đề có tính nhất quán của pháp luật nước ta, được thể hiện trực tiếp tại
Điều 10 BLTTHS năm 2015 với những nội dung cơ bản sau: Mọi người có
quyền bất khả xâm phạm về thân thể. Không ai bị bắt nếu không có quyết
định của Tòa án, quyết định hoặc phê chuẩn của VKS, trừ trường hợp phạm
tội quả tang; Việc giữ người trong trường hợp khẩn cấp, việc bắt, tạm giữ,
tạm giam người phải theo quy định của BLTTHS; Nghiêm cấm tra tấn, bức
cung, dùng nhục hình hay bất kỳ hình thức đối xử nào khác xâm phạm thân
thể, tính mạng, sức khỏe của con người.
. Bảo hộ tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, tài sản của cá
nhân; danh dự, uy tín, tài sản của pháp nhân
Trên cơ sở những quyền cơ bản, mang tính Hiến định đó, trong lĩnh
vực tố tụng nguyên tắc bảo hộ tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, tài
sản của cá nhân; danh dự, uy tín, tài sản của pháp nhân được quy định tại
Điều 11 BLTTHS năm 2015. Nội dung cụ thể của nguyên tắc này thể hiện ở
những điểm sau: Mọi người có quyền được pháp luật bảo hộ về tính mạng,
14


sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, tài sản; Mọi hành vi xâm phạm trái pháp luật
tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, tài sản của cá nhân; xâm phạm
danh dự, uy tín, tài sản của pháp nhân đều bị xử lý theo pháp luật.
. Bảo đảm quyền bất khả xâm phạm về chỗ ở, đời sống riêng tư, bí
mật cá nhân, bí mật gia đình, an toàn và bí mật thư tín, điện thoại, điện tín
của cá nhân
Với những quyền cơ bản nêu trên, trong hoạt động tố tụng phải được
tiến hành theo nguyên tắc bảo đảm quyền bất khả xâm phạm về chỗ ở, đời

sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình, an toàn và bí mật thư tín,
điện thoại, điện tín của cá nhân. Theo quy định tại Điều 12 BLTTHS năm
2015, đời sống riêng tư, bí mật cá nhân…được pháp luật bảo vệ. Theo quy
định của pháp luật, không ai được xâm phạm trái pháp luật đến những vấn
đề trên. Mặc dù vậy, đây không phải là quyền tự do tuyệt đối, đời sống
riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình, an toàn và bí mật thư tín, điện
thoại, điện tín không còn là tuyệt đối nếu như những bí mật này có liên
quan đến hành vi vi phạm pháp luật. Chỗ ở, nơi làm việc, địa điểm của
người phạm tội hoàn toàn có thể bị khám xét. Thư tín, điện tín, bưu kiện,
bưu phẩm hoàn toàn có thể bị thu giữ, tạm giữ…Những hoạt động khám
xét, thu giữ đó phải được thực hiện theo đúng trình tự, thủ tục mà BLTTHS
quy định.
. Nguyên tắc suy đoán vô tội
Đây là một trong những nguyên tắc mới được quy định một cách
chính thức trong BLTTHS năm 2015. Đây là một trong những tiến bộ về
mặt lập pháp của Việt Nam. Theo nguyên tắc này, người bị buộc tội được
coi là không có tội trong quá trình khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử. Họ chỉ
bị coi là có tội khi có bản án kết tội của Tòa án có hiệu lực pháp luật, và
quá trình chứng minh đó phải được thực hiện theo quy định của BLTTHS
năm 2015. Bên cạnh đó, nếu không đủ chứng cứ để kết tội người bị buộc
tội thì phải xác định họ là người vô tội. Có nghĩa là một người chỉ có hai
15


khả năng xảy ra: một là có tội, hai là vô tội. Nguyên tắc này phải được quán
triệt và thực hiện một cách nghiêm túc trong quá trình chứng minh vụ án.
. Nguyên tắc xác định sự thật của vụ án
BLTTHS Việt Nam đã ghi nhận nội dung của nguyên tắc xác định sự
thật của vụ án với những nội dung sau: Xác định chủ thể có nghĩa vụ chứng
minh vụ án hình sự thuộc về các cơ quan có thẩm quyền THTT. Các cơ

quan này phải có nhiệm vụ phát hiện và thu thập các chứng cứ của vụ án
bao gồm cả chứng cứ xác định có tội và chứng cứ xác định vô tội; chứng
cứ xác định tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của người bị
tạm giữ để xác định sự thật khách quan của vụ án hình sự; Người bị buộc
tội có quyền nhưng không buộc phải chứng minh là mình vô tội. Nhưng
trong quá trình giải quyết vụ án, người bị tạm giữ có quyền đưa ra chứng
cứ để chứng minh là mình không có tội hoặc người bị tạm giữ có quyền
không buộc phải đưa ra lời khai chống lại chính mình hoặc không buộc
phải nhận mình có tội.
. Nguyên tắc bảo đảm quyền bào chữa của người bị tạm giữ, bảo vệ
quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại, đương sự
Trong TTHS Việt Nam, chủ thể có thẩm quyền THTT là các cơ quan
nhà nước có thẩm quyền, người bị buộc tội, trong đó có người bị tạm giữ
chỉ là những người “tham gia tố tụng”. Có nghĩa là người bị buộc tội chỉ là
chủ thể tham gia, chủ có thể hiểu là chủ thể bị động. Do vậy, để tăng địa vị
pháp lý cho người bị buộc tội, đảm bảo cho họ chủ động hơn trong việc tự
bảo vệ mình thì vấn đề đảm bảo quyền bào chữa cho người bị buộc tội,
trong đó có người bị tạm giữ phải được ngày càng coi trọng. Những quy
định này giúp bảo vệ được quyền và lợi ích hợp pháp của chủ thể yếu thế
trong TTHS, đồng thời qua đó xây dựng được hệ thống TTHS trong sạch,
khách quan và chính xác và ngày càng hoàn thiện.
Nguyên tắc này có thể nói là nguyên tắc cực kỳ quan trọng. Để tự
bảo vệ mình, người bị tạm giữ có quyền tự bào chữa, tức là tự đưa ra các
16


chứng cứ gỡ tội cho mình, nghi ngờ các chứng cứ buộc tội mà phía cơ quan
có thẩm quyền THTT đưa ra. Bên cạnh đó, người bị tạm giữ cũng có quyền
mời người khác bào chữa cho mình. Người bào chữa có thể là luật sư,
người đại diện hợp pháp, bào chữa viên nhân dân hoặc trợ giúp viên pháp

lý. Đây là những người có hiểu biết pháp luật tham gia tố tụng để bảo vệ
cho quyền và lợi ích hợp pháp của người bị tạm giữ. Về phía cơ quan có
thẩm quyền THTT, những cơ quan này có trách nhiệm phải tư vấn, thông
báo rõ cho người bị buộc tội, người bị tạm giữ biết về quyền bào chữa và
cơ chế thực hiện quyền đó cho người bị tạm giữ biết.
. Nguyên tắc bảo đảm quyền được bồi thường của người bị thiệt hại
trong hoạt động tố tụng
Người bị oan do người có thẩm quyền trong hoạt động TTHS gây ra
được bồi thường thiệt hại là người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, người
bị bắt, bị tạm giữ, tạm giam, người bị khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử, thi
hành án mà có bản án, quyết định của cơ quan có thẩm quyền trong hoạt
động TTHS xác định người đó không thực hiện hành vi phạm tội. Những
hoạt động và quyết định tố tụng của các cơ quan có thẩm quyền trong hoạt
động TTHS đã mang lại những hậu quả bất lợi đối với họ, các quyền cơ
bản của công dân được Hiến pháp và pháp luật quy định bị vi phạm nên họ
có quyền được bồi thường thiệt hại và khôi phục danh dự.
+ Các quyền cụ thể của người bị tạm giữ theo pháp luật TTHS Việt Nam
Quyền của người bị tạm giữ theo pháp luật TTHS là những quy định
của pháp luật TTHS về những điều mà người bị tạm giữ được hưởng, được
làm, được đòi hỏi khi tham gia vào các hoạt động tố tụng hình sự mà
không ai được ngăn cản, hạn chế.
Việc bảo đảm dân chủ, công bằng xã hội, an ninh trật tự có sự đóng
góp không nhỏ từ các hoạt động của cơ quan tiến hành TTHS. Trong số
những người tham gia tố tụng thì người bị tạm giữ đóng vai trò quan trọng.
Vì nhiệm vụ là xác định xem hành vi vi phạm của người bị tạm giữ có phải
17


là hành vi phạm tội hay không phụ thuộc vào các hoạt động và các hành vi
tố tụng của các cơ quan và người tham gia TTHS đối với người bị tạm giữ,

từ đó có BPNC kịp thời đối với hành vi phạm tội và có đường lối xử lý phù
hợp đối với người bị tạm giữ không có hành vi phạm tội. Đồng thời, đảm
bảo tốt nhất quyền và lợi ích hợp pháp của công dân trong quá trình tham
gia tố tụng. Mặt khác, nhằm xác định rõ hơn về quyền và nghĩa vụ của
những người tham gia tố tụng, tạo điều kiện để người bào chữatham gia
vào quá trình tố tụng, nhằm bảo đảm thực hiện đầy đủ hơn các quyền của
người tham gia tố tụng trong TTHS, góp phần nâng cao trách nhiệm của
các cơ quan THTT, BLTTHS năm 2015 đã bổ sung đầy đủ và thể hiện một
cách rõ ràng, cụ thể những quy định về người bị tạm giữ trong TTHS Việt
Nam.
Từ những quy định của BLTTHS, ta có thể thấy bản chất của việc
tạm giữ là cách ly người bị nghi thực hiện tội phạm một cách cấp thiết
trong một thời gian ngắn, từ đó nhận ra được địa vị pháp lý của người bị
tạm giữ.
Trước tiên, phải có quy định về các quyền để bảo vệ người bị tạm
giữ khỏi việc tạm giữ thiếu căn cứ. Người bị tạm giữ phải biết lý do mình
bị tạm giữ.
Người bị tạm giữ có quyền bảo vệ mình khỏi việc tạm giữ bất hợp
pháp. Do đó, người bị tạm giữ nếu phải chịu những quyết định, những hành
vi sai trái của người có thẩm quyền trong các hoạt động TTHS thì có quyền
khiếu nại về những vi phạm, những sai trái đó.
. Quyền được biết lý do mình bị tạm giữ
Đây là quyền đầu tiên của người bị tạm giữ được pháp luật quy định.
Một người bị nghi ngờ phạm tội như người bị tạm giữ cần phải biết mình bị
cơ quan có thẩm quyền tạm giữ về hành vi gì, quy định tại điều luật tội
phạm nào của BLHS. Bởi vậy, để người bị nghi ngờ phạm tội có thể tự bào
chữa để gỡ tội cho mình thì họ cần phải biết rằng mình bị tạm giữ về hành
18



Xem Thêm

×