Tải bản đầy đủ

thảo luận nhóm TMU quan điểm triết học về thế giới

TRƯỜNG ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA QUỐC TẾ
----------o0o----------

BÀI TIỂU LUẬN
MÔN HỌC: TRIẾT HỌC

Giảng viên

: TS. Nguyễn Thái Sơn

Học viên thực hiện : Đỗ Thị Phương Linh
Lớp

: MFM3

Hà Nội, tháng 07 năm 2020


MỤC LỤC


Câu 1 : Quan điểm triết học về thế giới......................................................................1
1) Tổng quan triết học...............................................................................................1
2. Vật chất và ý thức....................................................................................................2
2.1 ) Khái niệm vật chất và ý thức:............................................................................2
2.2 ) Mối quan hệ giữa vật chất và ý thức:.................................................................4
3) Mối quan hệ giũa tư duy và tồn tại........................................................................8


Câu 1 : Quan điểm triết học về thế giới
1) Tổng quan triết học
Thuật ngữ Triết học có nguồn gốc từ tiếng Hy Lạp, có nghĩa là “yêu thích
(philos) sự thông thái (sophia)”. Triết học được xem là hình thái cao nhất của tri thức;
nhà triết học là nhà thông thái có khả năng tiếp cận chân lý, nghĩa là có thể làm sáng tỏ
bản chất của mọi vật. Như vậy thời cổ đại, triết học được coi là toàn bộ tri thức cùa
nhân loại, mọi cái đều là đối tượng nghiên cứu.
Sự phát triển mạnh mẽ của khoa học thế kỷ XV, XVI đã ra đời các chuyên ngành
khoa học thực nghiệm cả tự nhiên và xã hội nên triết học đã phát triển và phân tách
thành 2 dòng chính:
- Triết học duy vật chủ yếu dựa trên cơ sở tri thức của khoa học thực nghiệm
- Triết học duy tâm, tôn giáo
Đối tượng nghiên cứu của triết học dần dần bị thu hẹp lại.
- Heghen là người cuối cùng xem triết học là 1 hệ thống phổ biến của sự nhận
thức, trong đó những ngành khoa học riêng biệt chỉ là những mắt khâu phụ thuộc vào
triết học.
- Mác đoạn tuyệt triệt để với quan niệm “khoa học của các khoa hocj” và coi đối
tượng nghiên cứu Triết học là giải quyết mối quan hệ giữa vật chất và ý thức trên lập
trường duy vật triệt để và nghiên cứu những quy luật chung nhất của tự nhiên, xã hội
và tư duy.
- Tất cả các học thuyết triết học đều có chung đối tượng nghiên cứu là những vấn
đề chung nhất của tự nhiên, xã hội và con người, mối quan hệ của con người và tư duy
của con người đối với thế giới.
Vấn đề cơ bản của triết học là vấn đề về mối quan hệ giữa tồn tại và tư duy,
giữa vật chất và ý thức. Nó là vấn đề cơ bản vì việc giải quyết nó sẽ quyết định cơ sở
để giải quyết những vấn đề khác của triết học, điều đó đã được chứng minh trong lịch
sử phát triển lâu dài và phức tạp của triết học.
Triết học đưa ra các câu hỏi về bản thể, nhận thức, chân lý, đạo đức, thẩm mỹ.
Các vấn đề cơ bản của triết học là:
 Vấn đề về bản thể: vật chất và ý thức là gì? Mối quan hệ giữa chúng như thế
nào?


1


 Vấn đề về chân lý: làm thế nào để xác định được một luận cứ đi từ tiền đề đến
kết luận có hiệu lực hay không? Làm thế nào để biết được một phát biểu là đúng sai?
Ta có thể trả lời những loại câu hỏi nào?
 Vấn đề về nhận thức: quá trình nhận thức diễn ra thế nào? Chúng ta có thể nhận
thức chính xác thế giới khách quan hay không? Thực tại là gì? Chúng ta nhận thức
thực tại như thế nào, có nhận thức toàn bộ thực tại hay không?
 Vấn đề về đạo đức: thế nào là "tốt", thế nào là "xấu" (hoặc thế nào là "giá trị",
thế nào là "phi giá trị")? Sự khác biệt giữa tốt và xấu? Hành động như thế nào là đúng?
Các giá trị có tính chất tuyệt đối hay tương đối? Thế nào là các quy tắc tự nhiên? Hạnh
phúc là gì?
 Vấn đề về thẩm mỹ: đẹp là gì, xấu là gì? Nghệ thuật là gì?
Thời kỳ triết học Hy lạp cổ đại, năm vấn đề cơ bản trên tương ứng với năm
nhánh của triết học là siêu hình học, lôgic, nhận thức luận, luân lý học, và mỹ học. Tuy
nhiên đối tượng của triết học còn mở rộng đến chính trị học, vật lý học, địa chất
học, sinh học, khí tượng học, và thiên văn học. Bắt đầu từ Socrates, các nhà triết học
Hy Lạp đã phát triển triết học theo hướng phân tích, tức là, phân chia vật thể thành các
thành phần nhỏ hơn để nghiên cứu. Triết học cổ Hy Lạp thường được coi là cơ sở
của triết học phương Tây.
2. Vật chất và ý thức
2.1 ) Khái niệm vật chất và ý thức:
a. Vật chất:
 Vật chất là phạm trù triết học dùng để chỉ thực tại khách quan mà con người
biết được qua cảm giác, Được cảm giác chụp lại, chép lại, phản ánh, tồn tại không phụ
thuộc cảm giác
 Trước hết, Lê nin trong định nghĩa vật chất đã dùng định nghĩa đặc biệt khác
với thông thường. Nghĩa là đem đối lập giữa vật chất với ý thức để định nghĩa . Nghĩa
là tất cả những gì bên ngoài độc lập với ý thức con người đều là vật chất.
Về nội dung vật chất: có 2 nội dung chính:
Thứ nhất: vật chất là phạm trù triết học dùng để chỉ thực tại khách quan và con
người biết được qua cảm giác.
2


Thứ 2 là: Cảm giác chụp lại, nhắc lại và phản ảnh những tồn tại không phụ thuộc
cảm giác. Nghĩa là vật chất là cái mà con người có thể nhận biết được, chỉ có cái chưa
biết nhưng rồi con người sẽ biết thông qua nhận thức.
b. Ý thức :
Là sự phản ánh thế giới khách quan lên bộ óc con người dựa trên cơ sở hoạt động
thực tiễn, là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan. Đây là phản ánh tích cực chủ
động sáng tạo hình ảnh chủ quan …
Qua đây ta thấy:
Thứ nhất: Bản chất của ý thức là sự phản ánh thực Tại khách quan trên cơ sở hoạt
động Thực tiễn ý thức không phải là huyền bí mà bản chất của nó là sự phản ảnh tức là
có cả cái phản ảnh (Ý thức) và cái được phản ánh (vật chất). Ở đây cái được phản ánh
sẽ quyết định cái phản ánh.
Thứ 2: Hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan: Hình ảnh chủ quan nghĩa là
ý thức là hình ảnh chứ không phải là bản thân sự vật. Nghĩa là bản thân sự vật được di
chuyển vào óc người và được cải biến trong đó. Vì thế nội dung phản ảnh mang tính
khách quan. Mức độ cải biến đến đâu là do chủ thể.
Thứ 3: Đây là phản ánh tích cực chủ động, sáng tạo:
Tích ực chủ động là con người không thụ động chờ đợi hoàn cảnh khách quan
mà chủ động tác động vào khách quan để khách quan bộc lộ thuộc tính. Con người
nhận thức để cải tạo thế giới khách quan theo mục đích của mình. Ví dụ: đổ dấm vào
đá, đá sủi bọt
Tính sáng tạo là ý thức phản ánh sự vật và đi sâu vào bản chất sự vật, dự kiến
được xu hướng phát triển của sự vật để con người chủ động đón trước. Mác nói: con
người tái tạo tự nhiên theo quy luật của cái đẹp. Ví dụ: nước ta đưa ra những mục tiêu
đến năm 2020 nước ta trở thành 1 nước cơ bản là 1 nước công nghiệp. Xây nhà làm
sao cho đẹp.
 Kết cấu:
Ý thức có kết cấu phức tạp bao gồm nhiều thành tố có quan hệ gắn bó chặt chẽ
với nhau. Đó là: Tri thức, tình cảm ý chí… Trong đó, tri thức là quan trọng nhất. Mác
nói: Tri thức là phương thức tồn tại của ý thức.
-> Ý thức có nguồn từ tự nhiên (thế giới quan và bộ óc con người) và xã hội (lao
động và ngôn ngữ). Vì vậy, ý thức và vật chất có mối quan hệ thể hiện như sau:
3


2.2 ) Mối quan hệ giữa vật chất và ý thức:
Trong lịch sử, Chủ nghĩa duy tâm cho rằng ý thức có trước vật chất có sau, ý thức
quyết định vật chất
Chủ nghĩa duy vật siêu hình cho rằng vật chất có trước, ý thức có sau, vật chất
quyết định ý thức và sinh ra ý thức. Tuy nhiên quan điểm của họ chưa thấy được vai
trò, tính năng động sáng tạo của ý thức.
Mối quan hệ vật chất và ý thức chủ nghĩa duy vật biện chứng cho rằng:
a) Vai trò của vật chất đối với ý thức
Chủ nghĩa duy vật biện chứng khẳng định: Vật chất có trước, ý thức có sau, vật
chất là nguồn gốc của ý thức, quyết định ý thức vì:
Ý thức là sản phẩm của một dạng vật chất có tổ chức cao là bộ óc người nên chỉ
khi có con người mới có ý thức. Trong mối quan hệ giữa con người với thế giới vật
chất thì con người là kết quả quá trình phát triển lâu dài của thế giới vật chất, là sản
phẩm của thế giới vật chất. Kết luận này đã được chứng minh bởi sự phát triển hết sức
lâu dài của khoa học về giới tự nhiên; nó là một bằng chứng khoa học chứng minh
quan điểm: vật chất có trước, ý thức có sau.
Các yếu tố tạo thành nguồn gốc tự nhiên, nguồn gốc xã hội của ý thức (bộ óc
người, thế giới khách quan tác động đến bộ óc gây ra các hiện tượng phản ánh, lao
động, ngôn ngữ), hoặc là chính bản thân thế giới vật chất (thế giới khách quan), hoặc
là những dạng tồn tại của vật chất (bộ óc người, hiện tượng phản ảnh, lao động, ngôn
ngữ) đã khẳng định vật chất là nguồn gốc của ý thức.
Ý thức là sự phản ánh thế giới vật chất, là hình ảnh chủ quan về thế giới vật chất
nên nội dung của ý thức được quyết định bởi vật chất. Sự vận động và phát triển của ý
thức, hình thức biểu hiện của ý thức bị các quy luật sinh học, các quy luật xã hội và sự
tác động của môi trường sống quyết định. Những yếu tố này thuộc lĩnh vực vật chất
nên vật chất không chỉ quyết định nội dung mà còn quyết định cả hình thức biểu hiện
cũng như mọi sự biến đổi của ý thức.
b) Vai trò của ý thức đối với vật chất
Trong mối quan hệ với vật chất, ý thức có thể tác động trở lại vật chất thông qua
hoạt động thực tiễn của con người.

4


Vì ý thức là ý thức của con người nên nói đến vai trò của ý thức là nói đến vai trò
của con người. Bản thân ý thức tự nó không trực tiếp thay đổi được gì trong hiện thực.
Muốn thay đổi hiện thực, con người phải tiến hành những hoạt động vật chất. Song,
mọi hoạt động của con người đều do ý thức chỉ đạo, nên vai trò của ý thức không phải
trực tiếp tạo ra hay thay đổi thế giới vật chất mà nó trang bị cho con người tri thức về
thực tại khách quan, trên cơ sở ấy con người xác định mục tiêu, đề ra phương huớng,
xây dựng kế hoạch, lựa chọn phương pháp, biện pháp, công cụ, phương tiện, v.v. để
thực hiện mục tiêu của mình. Ở đây, ý thức đã thể hiện sự tác động của mình đối với
vật chất thông qua hoạt động thực tiền của con người.
Sự tác động trở lại của ý thức đối với vật chất diễn ra theo hai hướng: tích cực
hoặc tiêu cực. Nếu con người nhận thức đúng, có tri thức khoa học, có tình cảm cách
mạng, có nghị lực, có ý chí thì hành động của con người phù hợp với các quy luật
khách quan, con người có năng lực vượt qua những thách thức trong quá trình thực
hiện mục đích của mình, thế giới được cải tạo - đó là sự tác động tích cực cúa ý thức.
Còn nếu ý thức của con người phản ánh không đúng hiện thực khách quan, bản chất,
quy luật khách quan thì ngay từ đầu, hướng hành động của con người đã đi ngược lại
các quy luật khách quan, hành động ấy sẽ có tác dụng tiêu cực đổi với hoạt động thực
tiễn, đối với hiện thực khách quan.
Như vậy, bằng việc định hướng cho hoạt động của con người, ý thức có thế quyết
định hành động của con người, hoạt động thực tiễn của con người đúng hay sai, thành
công hay thất bại, hiệu quả hay không hiệu quả.
Tìm hiểu về vật chất, về nguồn gốc, bản chất của ý thức, về vai trò của vật chất,
của ý thức có thể thấy: vật chất là nguồn gốc của ý thức, quyết định nội dung và khả
năng sáng tạo ý thức; là điều kiện tiên quyết để thực hiện ý thức; ý thức chỉ có khả
năng tác động trở lại vật chất, sự tác động ấy không phải tự thân mà phải thông qua
hoạt động thực tiễn (hoạt động vật chất) của con người. Sức mạnh của ý thức trong sự
tác động này phụ thuộc vào trình độ phản ánh của ý thức, mức độ thâm nhập của ý
thức vào những người hành động, trình độ tổ chức của con người và những điều kiện
vật chất, hoàn cảnh vật chất, trong đó con người hành động theo định hướng của ý
thức.

5


Chủ nghĩa duy vật biện chứng xuất phát từ con người hiện thực, con người thực
tiễn để xem xét mối quan hệ này. Từ đó khảng định, vật chất có trước, ý thức có sau,
vật chất quyết định ý thức và ý thức tác động trở lại vật chất thông qua hoạt động của
con người
* Vật chất quyết định ý thức: Vật chất có trước, ý thức có sau. Vật chất quyết
định nguồn gốc, bản chất, nội dung sự biến đổi của ý thức.
Ví dụ :Trong đời sống xã hội có câu: thực túc, binh cường, có thực mới vực được
đạo.
+ Vật chất quyết định nguồn gốc ý thức: Nghĩa là não người là dạng vật chất cao
có tính chất của vật chất là cơ quan phản ánh để hoàn thành ý thức.
Ý thức phụ thuộc vào hoạt động thần kinh của bộ não trong quá trình phản ánh
thế giới khách quan.
+ Vật chất quyết định bản chất, nội dung ý thức: Bản chất là hình ảnh chủ quan
của thế giới khách quan: nghĩa là ý thức là sự phản ánh thế giới vật chất và thế giới vật
chất được dịch chuyển vào óc người, được cải biến trong đó. Vì thế, vật chất quyết
định cả bản chất và nội dung. Nội dung là phản ánh thế giới khách quan.
+ Vật chất quyết định Sự biến đổi ý thức: Ý thức là cái phản ánh, vật chất là cái
được phản ánh khi cái được phản ánh biến đổi thì cái phản ánh cũng phải biến đổi
theo.
* Ý thức tác động trở lại vật chất thông qua hoạt động con người cụ thể nó có thể
thúc đẩy hoặc kìm hãm ở một mức độ nhất định, các điều kiện vật chất góp phần cải
tạo hình thức khách quan.
 Nếu phản ánh đúng hiện thực khách quan – nó thúc đẩy ngược lại thì nó cản trở
Ví dụ: Chủ rương đổi mới cơ chế quan liêu bao cấp, cản trở phát triển con người
– khủng hoảng kinh tế xã hội, động lực
Tóm lại: Quan hệ vật chất và ý thức là quan hệ hai chiều tác động biện chứng
qua lại, trong đó vật chất quyết định ý thức còn ý thức tác động trở lại thực tiễn thông
qua hoạt động nhận thức của con người.
c) Ý nghĩa phương pháp luận:
1. Vì vật chất quyết định ý thức, sinh ra ý thức cho nên mọi chủ trương CS hoạt
động nhận thức, hoạt động con người đều phải xuất phát từ hiện thực khách quan và

6


hoạt động tuân theo quy luật khách quan, nghĩa là chúng ta phải có quan điểm khách
quan trong nhận thức hoạt động thực tiễn.
2. Xuất phát từ hiện thực khách quan, không phải từ những cái lẻ tẻ của hiện thực
khách quan, phải xuất phát từ cái chung là quy luật khách quan.
Nghị quyết 6 của Đảng là bài học kinh nghiệm là phải nắm vững hiện thực
khách quan.
+ Hoạt động tuân theo quy luật (quan điểm khách quan) là nhận thức sự vật phải
tôn trọng chính nó có, phải phản ánh đúng quy luật vận động phát triển của sự vật và
chống chủ nghĩa khách quan, đồng thời chống chủ quan duy ý chí.
3. Vì ý thức có tính độc lập tương đối, có tính năng động sáng tạo có thể tác động
trở lại vật chất thông qua hoạt động con người, cho nên cùng với xuất phát từ cái hiện
thực khách quan thì phải phát huy tính năng động chủ quan , tức là phát huy mặt tích
cực ý thức, hạn chế mặt tiêu cực của ý thức.
Ví dụ: Trước một trận đánh làm quyết tâm thư, tự phê bình và phê bình, rut ra
những nhược điểm để tiến bộ, khắc phục những mặt tiêu cực.
Giáo dục nhận thức thông qua phong trào, thực tiễn tư tưởng cục bộ đ phong, đạo
đức giả
4. Giữa vật chất và ý thức chỉ có đối lập tuyệt đối trong phạm vi nhận thức luận.
Ngoài lĩnh vực đó ra, sự phân biệt chỉ là tương đối (Câu của Lê Nin)
Vì thế một chính sách đúng đắn là cơ sở liên kết hợp hai yếu tố này.
Ví dụ: giáo dục chính trị, tư tưởng gắn liền với khuyến khích lợi ích vật chất như
đạt danh hiệu thi đua, được phần thưởng.
+ Công tác tư tưởng phải gắn liền với công tác tổ chức nếu tuyệt đối hóa yếu tố
vật chất, yếu tố kinh tế mà coi nhẹ ý thức của con người, coi nhẹ tính năng động , sáng
tạo của con người sẽ rơi vào chủ nghĩa duy vật tầm thường, ngược lại nếu tuyệt đối
hóa yếu tố ý thức và coi nhẹ điều kiện vật chất nhất định thì sẽ rơi vào chủ nghĩa chủ
quan duy ý chí.
Ví dụ: một thời kỳ đề ra vấn đề công hữu , xây dựng quan hệ sản xuất không dựa
trên lực lượng sản xuất.
Mối quan hệ giữa vật chất và ý thức là mối quan hệ biện chứng. Trong mối quan
hệ này, vật chất có trước, ý thức có sau, vật chất là nguồn gốc của ý thức, quyết định ý
thức, song ý thức không hoàn toàn thụ động mà nó có thể tác động trở lại vật chất.

7


3) Mối quan hệ giũa tư duy và tồn tại
“Ngay từ thời hết sức xa xưa, khi con người hoàn toàn chưa biết gì về cấu tạo
thân thể của họ và chưa biết giải thích những điều thấy trong mơ, họ đã đi đến chỗ
quan niệm rằng tư duy và cảm giác của họ không phải là hoạt động của chính thân thể
họ mà là hoạt động của một linh hồn đặc biệt nào đó cư trú trong thân thể và rời bỏ
thân thể họ khi họ chết, ngay từ thuở đó, họ đã phải suy nghĩ về quan hệ giữa linh hồn
ấy với thế giới bên ngoài"... Do đó, vấn đề quan hệ giữa tư duy và tồn tại, giữa tinh
thần với tự nhiên, một vấn đề tối cao của toàn bộ triết học một vấn đề đã đóng một vai
trò lớn lao trong triết học kinh viện thời trung cổ, vấn đề xem cái nào có trước, tinh
thần hay tự nhiên? vấn đề đó bất chấp giáo hội, lại mang một hình thức gay gắt: thế
giới do Chúa Trời sáng tạo ra, hay nó vẫn tồn tại từ trước đến nay
Cách giải đáp vấn đề ấy đá chia các nhà triết học thành hai phe lớn. Những người
quả quyết rằng tinh thần có trước tự nhiên, và do đó rút cục lại thừa nhận rằng thế giới
được sáng tạo ra bằng cách nào đó... những người đó là thuộc phe chủ nghĩa duy tâm.
Còn những người cho rằng tự nhiên là cái có được thì thuộc các học phái khác nhau
của chủ nghĩa duy vật.
Như vậy, trong quan hệ "giữa tư duy và tồn tại, giữa tinh thần với tự nhiên" thì
khái niệm tư duy, tinh thần mà Ph.Ăngghen sử dụng nên giải thích như thế nào cho rõ?
Có nên không khi chúng ta cho rằng: "... một là những hiện tượng vật chất (tồn tại, tự
nhiên), hai là những hiện tượng tinh thần (ý thức, tư duy)", hoặc "... mối quan hệ giữa
tư duy và tồn tại hay ý thức và vật chất được gọi là vấn đề cơ bản... của triết học". Mặc
dù phần nói về chủ nghĩa duy tâm khách quan có giải thích về khái niệm tinh chần,
nhưng ngay từ đầu, cách trình bày trên đã làm cho người tìm hiểu vấn đề cơ bản của
triết học và cơ sở để phân biệt chủ nghĩa duy vật với chủ nghĩa duy tâm đồng nhất nội
dung khái niệm tư duy, tinh thần với nội dung khái niệm ý thức, tinh thần mà xã hội
đang sử đụng (ý thức, tinh thần là ý thức, tinh thần của con người). Sự đồng nhất này
không đúng, vì khái niệm tư duy, tinh thần mà Ph.Ăngghen sử dụng ở đây chỉ muốn đề
cập đến cái phi vật chất, cái không phải là vật chất.
Chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm đều thừa nhận sự tồn tại của cái phi vật
chất. Với chủ nghĩa duy vật, đấy là ý thức, tinh thần, sản phẩm của vật chất, cái phản
ánh vật chất, cái bị vật chất quyết định cả về nội dung lẫn hình thức biểu hiện. Với chủ

8


nghĩa duy tâm, đấy là thực thể siêu tự nhiên (không có nguồn gốc từ tự nhiên, không
phải là cái phản ánh tự nhiên), thế giới vật chất là sản phẩm thuần trí của thực thể siêu
tự nhiên này nên thế giới vật chất không có thực chất của nó.
Theo quan điểm truyền thống, chủ nghĩa duy tâm chia thành hai phái, chủ nghĩa
duy tâm khách quan và chủ nghĩa duy tâm chủ quan, trong đó chủ nghĩa duy tâm chủ
quan gắn liền với tên tuổi của triết gia - Giáo sĩ người Anh Giogiơ Béccơly (George
Berkeley). Chúng ta biết rằng, vào thế kỷ XVII, Giogiơ Béccơly đã biện minh cho chủ
nghĩa duy tâm dưới hình thức mới bằng cách dựa trên những tiền đề hơi khác so với
các quan điểm của chủ nghĩa duy tâm truyền thống. Đấy là vạn vật quanh ta là các
khái niệm trong ý thức của ta (Béccơly và những người sau ông nói nhiều và nhấn
mạnh ý này) song tất cả (cả ta và ý thức của ta) đều có nguồn gốc từ cái thuần trí của
giới siêu tự nhiên, bị cái thuần trí của giới siêu tự nhiên quyết định. (Cuộc đối thoại
thứ nhất và cuộc đối thoại thứ hai đặc biệt là đoạn kết trong cuộc đối thoại thứ hai giữa
Philông ( Philonnus) và Hylaxơ (Hylas) của Béccơly phản ánh rất rõ tư tưởng này).
Vì vậy nếu chỉ dừng lại ở quan niệm chủ nghĩa duy tâm nhủ quan cho rằng ý
thức của con người của chủ thể là cái tồn cài sẵn trong con người, là cái có trước, còn
các sự vật bên ngoài chỉ là phức hợp các cảm giác, chỉ là cái phụ thuộc vào ý thức chủ
thể thì chưa đủ. Chúng tôi cho rằng khi tuyệt đối hoá vai trò của ý thức con người (ý
thức của chủ thể), coi sự vật là ,,phức hợp các cảm giũa, thì không có nghĩa chủ nghĩa
duy tâm chủ quan phủ nhận sự tồn tại do nguồn gốc này hay nguồn gốc khác, dưới
hình thức này hay hình thức khác của sự vật, mà ở đây chủ nghĩa duy tâm chủ quan đã
tuyệt đối hoá vai trò của cảm giác, của ý thức ở góc độ nhận thức luận. Hơn nữa, sự ra
đời của chủ nghĩa duy tâm chủ quan là một trong những biểu hiện sự bế tắc, sự truy
tìm lối thoát về mặt lý luận của chủ nghĩa duy tâm. Về bản chất, chủ nghĩa duy tâm
chủ quan không phủ nhận sự tồn tại của thế giới siêu tự nhiên, phi vật chất, vì vậy, có
thể được không khi hiểu: chủ nghĩa duy tâm không chia thành hai phái, mà chủ nghĩa
duy tâm chủ quan hay chủ nghĩa duy tâm khách quan chỉ là những biểu hiện khác nhau
của chủ nghĩa duy tâm.
Những vấn đề trên không phải được rút ra từ câu chữ, từ lý luận thuần tuý, mà
quan trọng hơn, từ nhu cầu của cuộc sống hiện thực. Cho đến nay, không phải chỉ
những người thuộc chủ nghĩa duy vật hay những người có học vấn cao mới hiểu tinh

9


thần, ý thức là của con người, mà đấy thuộc loại kiến thức phổ thông, bất cứ ai cũng
biết. Chính vì vậy không ít người, đặc biệt đặc biệt là giáo dân của các tôn giáo hữu
thần, tuy không thừa nhận "tinh thần", "ý thức" kể cả cái gọi là "ý thức khách quan" là
cái có trước, là cái quyết định giới tự nhiên, song họ lại rất tin tưởng ở một thế giới
siêu tự nhiên, phi vật chất tồn tại với tư cách là lực lượng sáng tạo . Ngay cả các nhà
duy vật, thậm chí các nhà khoa học duy vật, cũng có lúc này, lúc khác rơi vào quan
điểm của chủ nghĩa duy tâm (thường là duy tâm chủ quan), thì, kể cả những lúc duy
tâm nhất cũng không ai quan niệm "tinh thần", "ý thức" của con người có trước tự
nhiên, không ai quan niệm sự vật là "phức hợp các cảm giác" xét dưới góc độ bản thể
luận.

10



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×