Tải bản đầy đủ

thảo luận nhóm TMU phân tích phương thức tái xuất khẩu hàng hoá nhận xét hoạt động tái xuất khẩu hàng hoá tại việt nam

BẢNG ĐÁNH GIÁ CÁC THÀNH VIÊN NHÓM 8
STT

Họ và tên

Mã sinh
viên

Nhiệm vụ

1

Nguyễn Thuỳ
Linh

17D21007
9

Khái niệm, bản chất và vai
trò của tái xuất khẩu
hàng hóa.


2

Phạm Khánh
Linh

17D10008
0

Word, mở đầu, kết luận

3

Trần Thảo Linh

18D13023
9

Phân loại hoạt động tái xuất
khẩu hàng hóa

4

Trần Thị Linh

18D18026
6

Thực trạng hoạt động tái
xuất khẩu hàng hóa ở
Việt Nam

5

Trần Thị Tâm
Linh

18D13010
0


Gian lận thương mại trong
hoạt động tái xuất
Thuyết trình

6

Trần Thị Thuỳ
Linh

18D13010
1

Thực trạng hoạt động tái
xuất khẩu hàng hóa ở
Việt Nam

7

Vũ Ngọc Anh
Linh

18D26008
7

Đóng góp và tác động của
hoạt động tái xuất

8

Trịnh Xuân Lộc

17D10008
2

Cơ hội và thách thức của
hoạt động tái xuất tại
Việt Nam

9

Đoàn Thị Ly

18D26008
9

Powerpoint

10

Hoàng Thị Hải
Ly

18D26002
9

Ví dụ điển hình: Hoạt động
tái xuất xăng dầu tại Việt
Nam

Đánh
giá


MỤC LỤC
MỞ ĐẦU...................................................................................................................... 2
A.

PHƯƠNG THỨC TÁI XUẤT KHẨU HÀNG HOÁ.........................................3
I. Khái niệm và bản chất......................................................................................3
1.

Khái niệm.....................................................................................................3

2.

Đặc điểm......................................................................................................3

II.

Vai trò.............................................................................................................3

III. Phân loại.........................................................................................................4

B.

1.

Tạm nhập tái xuất (Tái xuất thực nghĩa)...................................................4

2.

Chuyển khẩu...............................................................................................5

3.

Phân biệt tái xuất và kinh doanh quá cảnh................................................6

NHẬN XÉT HOẠT ĐỘNG TÁI XUẤT HÀNG HOÁ TẠI VIỆT NAM.........6
I. Nhận xét chung..................................................................................................6
1.

Thực trạng...................................................................................................6

2.

Đóng góp và tác động của tái xuất đến nền kinh tế Việt Nam..................11

3.

Tiềm năng phát triển.................................................................................12

3.1.

Cơ hội:....................................................................................................12

3.2.

Thách thức:............................................................................................13

II.

Gian lận thương mại lợi dụng tái xuất khẩu hàng hóa tại Việt Nam.......14

III. Ví dụ điển hình.............................................................................................16
C.

KẾT LUẬN........................................................................................................18

Nguồn tài liệu tham khảo:...........................................................................................19

1


MỞ ĐẦU
Hiện nay trong thế kỷ XXI, chúng ta đang chứng kiến nền kinh tế thị trường
phát triển mạnh mẽ. Tại đó, các hoạt động kinh doanh thương mại ngày càng mở rộng
và thu hút nhiều thương nhân tham gia. Tái xuất là một hoạt động kinh doanh "tuy cũ
nhưng mới".
Hiện nay, ở Việt Nam, đây là một hoạt động thương mại quốc tế rất được quan
tâm, đã đem lại nhiều tác động tích cực đến nền kinh tế. Với những cơ hội và thách
thức của hội nhập kinh tế, tái xuất khẩu hàng hóa cũng đã và đang góp phần giúp nền
kinh tế Việt Nam phát triển thêm vững mạnh, tận dùng tốt các lợi thế của tình hình thế
giới, bối cảnh đất nước. Góp phần nâng cao vị thế của hoạt động xuất nhập khẩu nói
riêng và nền kinh tế Việt Nam nói chung trên thị trường thế giới.
Trong khuôn khổ một bài thảo luận, với đề tài "Phân tích phương thức tái xuất
khẩu hàng hoá. Nhận xét hoạt động tái xuất khẩu hàng hoá tại Việt Nam.", nhóm 8 sẽ
có những giới thiệu, phân tích về phương thức tái xuất khẩu hàng hoá, cùng với đó là
các cơ hội và thách thức của hoạt động này đối với nền kinh tế Việt Nam.

2


A. PHƯƠNG THỨC TÁI XUẤT KHẨU HÀNG HOÁ
I.

Khái niệm và bản chất

1. Khái niệm
Tái xuất khẩu – một hoạt động kinh doanh đã có từ rất lâu trên thế giới chỉ là
trước đây nó diễn ra theo một hình thức khác. Theo thời gian, quá trình phát triển của
hoạt động này theo chiều hướng đi lên chứ không hề tụt giảm. Có thể nhận thấy từ
thực tế tái xuất khẩu đã trở nên phố biến ở nhiều quốc gia, nhiều khu vực khác nhau.
Không có một định nghĩa chung nào được đưa ra để giải thích về hoạt động tái
xuất khẩu này mà tùy theo tập quán thương mại của từng vùng có nhiều cách hiểu.
Nhiều nước Tây Âu và Mỹ La-tinh quan niệm tái xuất là xuất khẩu những hàng
nước ngoài từ kho hải quan, chưa qua chế biến ở nước mình. Anh, Mỹ và một số nước
khác lại coi đó là việc xuất khẩu những hàng nước ngoài chưa qua chế biến ở trong
nước dù hàng đó đã qua lưu thông nội địa.
Như vậy, về bản chất, chúng ta có thể hiểu “tái xuất là xuất khẩu ra nước ngoài
những hàng hóa đã nhập khẩu trước đây nhưng chưa qua gia công chế biến ở nước tái
xuất”.
2. Đặc điểm
 Cơ sở pháp lý của hình thức tạm nhập tái xuất là “Hai hợp đồng riêng biệt”.
Hợp đồng mua hàng do thương nhân Việt Nam ký với thương nhân nước xuất khẩu,
và hợp đồng bán hàng do thương nhân Việt Nam ký với thương nhân nước nhập khẩu.
Hợp đồng mua hàng có thể được ký trước hoặc sau hợp đồng bán hàng.
 Hàng hóa không qua chế biến, sản xuất ở nước tái xuất.
 Tái xuất thực chất là hoạt động “mua rẻ, bán đắt”. Mục đích của hoạt động này
là thu về một số ngoại tệ lớn hơn vốn bỏ ra ban đầu, dựa vào sự chênh lệch giá cả
hàng hóa đó ở nước xuất khẩu và nước nhập khẩu.
 Giao dịch này luôn thu hút ba nước: nước xuất khẩu, nước tái xuất, và nước
nhập khẩu. Vì thế giao dịch tái xuất còn gọi là giao dịch ba bên hay giao dịch tam
giác.
3


II.

Vai trò

 Các doanh nghiệp thực hiện hoạt động kinh doanh hàng hóa tạm nhập đã biết
tận dụng vị trí địa lý, nhanh nhạy về thông tin kinh tế, thị trường, giá cả, quan hệ bạn
hàng ngoài nước đồng thời phát huy năng lực nghiệp vụ chuyên môn để tạm nhập
khẩu hàng hóa trong nước không có hoặc chưa cần để tái xuất khẩu sang nước khác có
nhu cầu để được hưởng lợi nhuận từ chênh lệch giá, sau khi tính đủ chi phí.
 Hoạt động kinh doanh hàng đông lạnh tạm nhập, tái xuất đã giúp doanh nghiệp
tham gia vào việc luân chuyển dòng hàng hóa quốc tế, nâng cao năng lực giao nhận,
vận tải.
 Góp phần đa dạng hóa nền ngoại thương, tăng thu lợi nhuận từ thương mại
quốc tế.
 Thúc đẩy sự giao lưu buôn bán hàng hóa trên thế giới.
 Tận dụng tốt lợi thế về thông tin, kinh nghiệm thị trường để tăng thu lợi nhuận
cho đất nước.
 Đóng vai trò là cầu nối trong thương mại quốc tế, giúp những nước không có
quan hệ thương mại với nhau có cơ hội tiêu thụ hàng hóa của nhau thông qua nước
thứ 3.
 Giúp kéo dài vòng đời sản phẩm.
III.

Phân loại

Giao dịch tái xuất có thể thực hiện qua hai hình thức:
1. Tạm nhập tái xuất (Tái xuất thực nghĩa)
Đây là giao dịch mà hàng hóa đi từ bên nhập khẩu đến bên tái xuất, rồi lại đi từ
bên tái xuất đến bên nhập khẩu. Ngược chiều với sự vận động của hàng hóa là sự vận
động của đồng tiền: bên tái xuất trả tiền cho bên xuất khẩu và thu tiền của bên nhập
khẩu.

4


Với hình thức này, hàng hóa được làm thủ tục nhập khẩu vào nước tái xuất và
làm thủ tục xuất khẩu ra khỏi nước tái xuất mà không qua chế biến.
2. Chuyển khẩu
 Trong nghiệp vụ chuyển khẩu, hàng hóa đi thẳng từ nước xuất khẩu sang bên
nước nhập khẩu. Người tái xuất trả tiền cho người xuất khẩu và thu tiền của người
nhập khẩu.

 Quy chế về kinh doanh theo hình thức chuyển khẩu của Việt Nam quy định:
chuyển khẩu là mua hàng hóa của một nước để bán cho một nước khác mà không làm
thủ tục nhập khẩu vào Việt Nam và không làm thủ tục xuất khẩu từ Việt Nam.
 Hình thức chuyển khẩu được thực hiện dưới ba dạng sau:
- Hàng hóa được vận chuyển thẳng từ nước xuất khẩu đến nước nhập khẩu
không qua cửa khẩu của Việt Nam.
- Hàng hóa được vận chuyển từ nước xuất khẩu đến nước nhập khẩu có qua cửa
khẩu của Việt Nam, nhưng không làm thủ tục nhập khẩu vào Việt Nam và
không làm thủ tục xuất khẩu rời khỏi Việt Nam.

5


- Hàng hóa được vận chuyển từ nước xuất khẩu đến nước nhập khẩu có qua cửa
khẩu của Việt Nam, và đưa vào kho ngoại quan, không làm thủ tục nhập khẩu
vào Việt Nam cũng không làm thủ tục xuất khẩu rời khỏi Việt Nam.
 Nước tái xuất sẽ là nước đứng ra kí kết hai hợp đồng để thực hiện hình thức
chuyển khẩu này: hợp đồng mua do thương nhân Việt Nam ký với thương nhân nước
xuất khẩu và hợp đồng bán do thương nhân Việt Nam ký với thương nhân nước nhập
khẩu. Hàng hóa được chuyển từ nước xuất khẩu sang nước nhập khẩu theo ba hình
thức trên.
 Trên thực tế phương thức chuyển khẩu thường được thực hiện bằng hai cách:
- Công khai: Các chứng từ hàng hóa từ người bán ban đầu giữ nguyên chỉ thêm
các chứng từ làm thủ tục chuyển khẩu.
- Bí mật: Thay đổi toàn bộ chứng từ hàng hóa kể cả tên và địa chỉ người bán.

 Như vậy, sự khác nhau cơ bản giữa hai hình thức là việc hàng hóa được nhập
khẩu vào và xuất khẩu ra khỏi nước tái xuất nếu là tạm nhập tái xuất. Còn với
chuyển khẩu thì hàng hóa không được nhập khẩu vào nước tái xuất.
3. Phân biệt tái xuất và kinh doanh quá cảnh
 Kinh doanh quá cảnh là kinh doanh dịch vụ vận tải chở hàng nước ngoài từ cửa
khẩu này sang một cửa khẩu biên giới khác.
 Kinh doanh quá cảnh có đưa hàng hóa qua cửa khẩu của một quốc gia khác rồi
mới đưa đến nước nhập khẩu nhưng quốc gia đó không tham gia vào hợp đồng mua
bán của nước xuất khẩu và nước nhập khẩu.

B. NHẬN XÉT HOẠT ĐỘNG TÁI XUẤT HÀNG HOÁ TẠI VIỆT NAM
I.

Nhận xét chung

1. Thực trạng
Trong nền kinh tế hội nhập toàn cầu, các nước đang dần thực hiện chính sách
mở cửa kinh doanh, đối ngoại, góp phần tích cực cho sự phát triển kinh tế, các hoạt
6


động thương mại quốc tế được chú trọng, đặc biệt là vấn đề mở rộng thị trường xuất
khẩu. Và Việt Nam cũng là một trong những nước đang thực hiện chính sách này
nhằm đẩy mạnh các hoạt động xuất nhập khẩu quốc tế. Trong đó, có hoạt động tạm
xuất khẩu hàng hóa. Đây là một hoạt động rất phổ biến và đang ngày càng phát triển
cùng với sự phát triển của các hoạt động thương mại quốc tế khác tại Việt Nam.
Các loại hình tái xuất phổ biến ở Việt Nam bao gồm tạm nhập tái xuất - thương
nhân Việt Nam mua hàng của một nước để bán cho một nước khác, có làm thủ tục
nhập khẩu hàng hoá vào Việt Nam và làm thủ tục xuất khẩu chính hàng hoá đó ra khỏi
Việt Nam. Hàng hóa được lưu tại cửa khẩu và các khu vực giám sát của hải quan, kho
hỉa quan hoặc ở kho của doanh nghiệp, đảm bảo hàng hóa khi tái xuất giữ nguyên
trạng so với khi tạm nhập. Hình thức thứ hai là chuyển khẩu - thương nhân Việt Nam
mua hàng của một nước để bán cho một nước khác mà không làm thủ tục nhập khẩu
vào Việt Nam và không làm thủ tục xuất khẩu ra khỏi Việt Nam. Hàng hoá trong
trường hợp này sẽ được đưa trực tiếp từ nước xuất khẩu sang nước nhập khẩu, hoặc
đươc đưa qua cửa khẩu của Việt Nam, hoặc sẽ được đưa vào kho ngoại quan ở Việt
Nam trước khi được đưa sang nước nhập khẩu.
Về kim ngạch tái xuất khẩu hàng hóa, theo Tổng cục Hải quan, trong khi tổng
trị giá kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam năm 2019 đạt con số rất ấn tượng là 264,19
tỷ USD thì tổng trị giá tái xuất khẩu ước đạt hơn 7,77 tỷ USD, chiếm tỷ trọng hơn
2,94%.
Các báo cáo của Tổng cục Hải quan đưa ra khoảng hơn 40 nhóm hàng/mặt
hàng tái xuất khẩu chủ yếu của nước ta, trong đấy tiêu biểu nhất có thể kể đến một vài
nhóm/mặt hàng như: Xăng dầu các loại; Hàng rau quả; Máy vi tính, sản phẩm điện tử
và linh kiện; Hạt điều; Phương tiện vận tải và phụ tùng; Máy móc, thiết bị, dụng cụ
phụ tùng khác; Điện thoại các loại và linh kiện; Sắt, thép các loại; Hàng thủy sản;…

S
TT

Nhóm/mặt hàng tái
xuất tiêu biểu
Tổng trị giá (triệu USD)

Trị giá
(triệu USD)
Q

Q

Q

Q

Q


1/2019
1


2/2019
2


3/2019
2,


4/2019
2


1/2020
1

7


1

Hàng thủy sản

2

Hàng rau quả

3

Hạt điều

4

Cà phê

5

Chè

6

Hạt tiêu

Sắn và các sản phẩm
từ sắn
Bánh kẹo và các sản
8
phẩm từ ngũ cốc
Thức ăn gia súc và
9
nguyên liệu
1
Quặng và khoáng sản
khác
1
Clanhke và xi măng
7

0
1

1
2

002,35

4

4

0,72

4,31

2
02,36
1
04,5
3,
72
0,
09
5,
69
4,
39
0,
73
3,
99
0,
15
0,
79

2
54,18
1
24,65
6,
62
0,
03
3,
66
4,
98
0,
47
5,
89
0,
11
0,
09

013,28

163,59

743,41

9

7

53
,66

1,89
54

,81
17
8,66
4,
21
1,
67
5,
91
2,
16
0,
604
7,
54
0,
38
0,
18

Than đá

8,47
7

3
1
4
1
5
1
6
1
7
1
8
1
9
2
0
2

Xăng dầu các loại
Hóa chất
Sản phẩm hóa chất
Phân bón các loại
Chất dẻo nguyên liệu
Sản phẩm từ chất dẻo
Cao su
Sản phẩm từ cao su
Túi xách, ví, vali,
mũ, ô, dù

3

2,58

3,05

1
88,63
1,
29
0,
61
8,
68
3,
66
1,
23
4,
19
0,
12
0,
24
0,
03

1
74,26
5,
51
0,
05
8,
63
6,
57
0,
54
6,
73
0,
15
0,
22
0,

Than các loại
1

1

592,20

04
4
41,88
4,
41
7,
97
6,
07
1
0,47
1
3,54
7,
54
1,
30
0,
73
8

4
46,51
9,
36
7,
82
6,
87
1
5,94
1
4,64
6,
05
1,
12
1,
102

40
6,08
9,
73
6,
89
11
,65
25
,47
16
,60
5,
49
1,
09
1,
06

4
03,18
1
6,06
8,
34
1
1,13
2
7,45
1
8,36
5,
61
1,
33
1,
79

3
55,54
6,
59
1
0,18
8,
71
2
2,89
1
3,88
2,
09
1,
29
1,
01


2
2
2
3
2
4
2
5
2
6
2
7
2
8
2
9
3
0
3
1
3
2
3
3
3
4
3
5
3
6
3
7
3
8
3
9
4
0
4
1
4
2

Sản phẩm mây, tre,
cói và thảm
Gỗ và sản phẩm gỗ
Giấy và các sản phẩm
từ giấy
Xơ, sợi dệt các loại
Hàng dệt, may
Vải mành, vải kỹ
thuật khác
Giày dép các loại
Nguyên phụ liệu dệt,
may, da, giày
Sản phẩm gốm, sứ
Thủy tinh và các sản
phẩm từ thủy tinh
Đá quý, kim loại quý
và sản phẩm
Sắt thép các loại
Sản phẩm từ sắt thép

0,
32

0,
103

8,
41

6,
89

1,
53

51

12
2

7,06

3

0,
0,
33

61
5,

55

58
0,

53
4,
695

61
6

5,35
1
2,94
9,
09
47

5,
15

Máy vi tính, sản phẩm
điện tử và linh kiện
Điện thoại các loại và
linh kiện
Máy ảnh, máy quay
phim và linh kiện
Máy móc, thiết bị,
dụng cụ phụ tùng khác
Dây điện và dây cáp
điện
Phương tiện vận tải
và phụ tùng
Sản phẩm nội thất từ
chất liệu khác gỗ

1
97,47
8
0,40
1
4,24
9
8,85
4,
87
9
9,70
0,
13

4
29,72
7
8,94
1
6,12
1
23,84
4,
86
1
25,09
0,
15

9

1

12

6,

1

6,
49
9,94
10
3,14
21
,90
12
7,26
5,
01
15
7,19
0,
69

1
3,96

4,75

48

5
5,52

6,47

,30

Kim loại thường khác
và sản phẩm

7

16

1

1
0,54

8,92

,17

0,10

1

94

1

0,
19

5,05

,39

8,09

0,

6,

7

7,
85

33

16

3,36

1

1,

2,

1,
43

3,35

87

0,
18

1,

9,

0,
46

0,
62

05

2
3,22

40
1,

8,

72

4,62

85

1,

3

0,

1,

51

48

48

2,

2,

33

0,
32

81

99

,56

9,

2,

1,
83

8,47

24

69

14

0,
03

5,

2,

2,
41

0,
07

5,

3,

1,
43

0,
03

1
5,83

1

5,

3,01

22

4
47,90
1
35,47
1
8,10
1
78,47
5,
67
1
45,43
2,
10

3
11,93
1
03,94
2
3,00
1
79,28
6,
99
1
21,06
0,
43


4
3
4
4

Đồ chơi, dụng cụ thể
thao và bộ phận
Hàng hóa khác

1,
52

0,
91

9
1,72

0,
58

9
6,46

11
1,84

3,

1,

21

37

1
60,99

1
10,98

Bảng 1 Trị giá hàng hóa tái xuất tiêu biểu 4 quý 2019 và quý I 2020 của Việt Nam
(Nguồn: Số liệu thống kê – Tổng cục Hải quan)

Nhóm hàng có trị giá tái xuất khẩu lớn nhất là xăng dầu, năm 2019, nhóm hàng
xăng dầu dẫn đầu với tổng trị giá gần 1,7 tỷ USD, đứng thứ 2 là nhóm máy vi tính, sản
phẩm điện tử và linh kiện đạt trị giá 1,575 tỷ USD,... Sau đó là các mặt hàng nông,
lâm, thủy sản cũng là những mặt hàng được các doanh nghiệp tham gia kinh doanh tái
xuất. Giá thành các sản phẩm rẻ hơn so với các nước Châu Âu, Châu Mỹ, do vậy Việt
Nam dựa vào những yếu tố đó cùng với khả năng tiêu thụ cao, các doanh nghiệp đã
tham gia mạnh mẽ vào hoạt động tái xuất những mặt hàng này. Ngoài ra, Việt Nam
còn tái xuất những mặt hàng khác như: máy ảnh, máy quay phim, điện thoại, sản
phẩm linh kiện điện tử,… Rượu, bia, thuốc lá, ô tô du lịch, gỗ nguyên liệu gửi kho
ngoại quan cũng là một trong những mặt hàng tái xuất tiêu biểu, tuy nhiên, chỉ được
tái xuất qua cửa khẩu chính, không được tái xuất qua cửa khẩu phụ, lối mở. Sang đến
quý 1/2020, nhìn chung các mặt hàng tái xuất khẩu có xu hướng giảm do sự ảnh
hưởng của dịch bệnh COVID-19, mặt hàng xăng dầu giảm xong vẫn dẫn đầu với tổng
trị giá là hơn 355 triệu USD. Tổng kết lại ta thấy, từ quý 1 đến quý 4/2019, tổng trị giá
hàng hóa tái xuất khẩu có xu hướng tăng từ 1,592,200,098 USD lên tới 2,163,599,069
USD, sang tới đầu năm 2020 do ảnh hưởng của dịch bệnh mà con số này có sự giảm
mạnh xuống còn 1,743,412,881 USD, tuy nhiên, vẫn cao hơn so với cùng kỳ năm
trước.
Về hoạt động tái xuất tại các tỉnh thành, có thể xem xét thông qua thống kê của
một vài chi cục Hải quan. Qua thống kê của Cục Hải quan Quảng Ninh với các mặt
hàng kinh doanh tái xuất khẩu chủ yếu là than, xăng dầu, xe ô tô đã qua sử dụng, thực
phẩm đông lạnh, thuốc lá điếu, hàng nông sản…, trong năm 2018, tổng số lượng hàng
hóa kinh doanh tạm nhập tái xuất đăng ký tại các chi cục trực thuộc là 326,36 nghìn
tấn, tương đương 87,72% về số lượng; trị giá 188,51 triệu USD, tương đương 12,69%
so với năm 2017 và trong 6 tháng đầu năm 2019, tổng lượng hàng kinh doanh loại
hình này là 451 nghìn tấn, bằng 192,59% về số lượng; trị giá 49,53 triệu USD, bằng
10


35,87% về trị giá so với cùng kỳ năm 2018. Bên cạnh đó, hàng hóa kinh doanh tạm
nhập tái xuất đăng ký tại các chi cục hải quan ngoài địa bàn, năm 2018 có 189,42
nghìn tấn, bằng 38,09% về số lượng; trị giá 279,82 triệu USD, bằng 40,23% về trị giá
so với năm 2017, còn trong 6 tháng đầu năm 2019 có 362,49 nghìn tấn, bằng 326,78%
về số lượng; trị giá 41,35 triệu USD, bằng 24,54% về trị giá so với cùng kỳ năm 2018.
Theo thông tin từ Cục Hải quan Hải Phòng, 6 tháng đầu năm 2019, tổng tờ khai tạm
nhập tại đơn vị là 2.641 tờ khai, giảm 72%, tổng kim ngạch hơn 207 triệu USD, giảm
36%. Trong khi đó, tờ khai tái xuất là 2.969, tổng kim ngạch hơn 91,5 triệu USD,
giảm lần lượt là 72% và 68%. Mặt hàng kinh doanh tạm nhập tái xuất tại Hải quan Hải
Phòng chủ yếu là hàng đông lạnh và nông sản. Tại Cao Bằng, trong một báo cáo mới
đây của Cục Hải quan, 4 tháng đầu năm 2020, kim ngạch hàng kinh doanh tạm nhập
tái xuất, kho ngoại quan qua địa bàn chỉ đạt 54,8 triệu USD, giảm tới 92,9% so với
cùng kỳ năm ngoái với các mặt hàng kinh doanh tạm nhập tái xuất, kho ngoại quan
chủ yếu là thịt, hải sản đông lạnh, hoa quả.
Về mặt các doanh nghiệp tái xuất khẩu thì không thể đưa ra một con số chi tiết
hay cụ thể, nhưng về xu hướng, số doanh nghiệp tham gia vào hoạt động này ngày
càng tăng. Đặc biệt, có rất nhiều doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Việt Nam cũng chọn
phát triển theo hướng này. Lý do là với loại hình xuất nhập khẩu này, doanh nghiệp
không cần quá nhiều vốn, không cần hệ thống quản lý phức tạp, không cần các quy
trình máy móc hiện đại, lại có thể kiếm được lợi nhuận lớn.
Hiện nay, thị trường nhập khẩu hàng tái xuất của Việt Nam nhiều nhất vẫn là
một số nước láng giềng tiếp giáp với ta như: Lào, Campuchia, Thái Lan, Trung Quốc.
Sau đó là các nước như Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan, Singapore,… tiếp tục phát
triển sang các nước Châu Âu, thị trường quốc tế như Mỹ, Nga, Pháp, Đức, Australia,
Các tiểu vương quốc Ả Rập,…các nước đã kí kết hiệp định thương mại tự do (AFTA,
CPTPP, EVFTA...).
Hàng hóa tái xuất được thực hiện kiểm tra theo cơ chế quản lí rủi ro và dựa trên
cơ sở các nguồn thông tin thu thập tại thời điểm làm thủ tục hải quan.
Bên cạnh những kết quả đạt được có đóng góp to lớn cho nền kinh tế nói chung
và hoạt động xuất nhập khẩu nói riêng; tái xuất khẩu hàng hóa vẫn tồn tại một số vấn
11


đề về rủi ro, về chi phí, vận chuyển, đối tắc,…, đặc biệt là gian lận thương mại, khiến
cho hoạt động này chưa thật sự hiệu quả, minh bạch và rõ ràng.
2. Đóng góp và tác động của tái xuất đến nền kinh tế Việt Nam
Tái xuất khẩu là một hoạt động thương mại quốc tế phổ biến tại Việt Nam. Với
việc loại hình giao dịch này ngày càng phát triển đã góp phần giúp phong phú, đa
dạng hóa loại hình kinh doanh xuất nhập khẩu của doanh nghiệp Việt Nam.
Hoạt động tái xuất hướng đến nhiều thị trường, mở rộng thị trường của hoạt
động thương mại quốc tế, tạo ra nhiều cơ hội kinh doanh, nếu tận dụng tốt cơ hội, sẽ
thu được lợi nhuận lớn từ sự chênh lệch giá giữa các thị trường khác nhau.
Có thể nói, tái xuất khẩu là hoạt động đem lại một nguồn doanh thu rất lớn, tính
riêng năm 2019 là hơn 7,771 tỷ USD, đầu năm 2020, quý 1 dù phải chịu ảnh hưởng
nặng nề của đại dịch COVID-19 cũng đã đạt trị giá tái xuất khẩu gần 1,98 tỷ USD.
Góp phần tăng thu ngoại tê, giúp nền kinh tế phát triển vững mạnh hơn, chắc chắn
hơn.
Các mặt hàng tiêu biểu đang ngày càng đem lại nguồn thu lớn cho đất nước
cũng thúc đẩy các doanh nghiệp ngày càng tham gia vào hoạt động tạm nhập tái xuất
giúp người lao động có thêm việc làm mới tăng thu nhập cho họ.
Sự phát triển của hoạt động tái xuất cũng giúp Việt Nam giao thương và buôn
bán nhiều hàng hóa trên thế giới là cầu nối giữa các nước với nhau giúp các nước
chưa có quan hệ thương mại kinh tế có thể có cơ hiệu tiêu thụ sản phẩm của nhau.
Ngoài ra sự phát triển của hoạt động tái xuất cũng giúp Việt Nam đa dạng hóa
về nền ngoại thương và có thể kéo dài vòng đời của sản phẩm. Việc được giao lưu với
kinh tế thế giới có thể giúp tăng cường mối quan hệ ngoại giao với các nước có nền
kinh tế phát triển mạnh như Nhật Bản, Mỹ..., từ đó mà chúng ta có thể học tập và áp
dụng vào nền kinh tế trong nước.
Trong thời kì hội nhập kinh tế như hiện nay với những thuận lợi mà nước ta
đang có chúng ta có thể tham gia vào hoạt động tái xuất khẩu với vai trò là một nước
tái xuất khẩu tiềm năng. Hoạt động tái xuất đã giúp doanh nghiệp Việt tận dụng rất tốt
lợi thế vị trí cửa ngõ Đông Nam Á, là đầu mối giao thương đặc biệt quan trọng giữa
12


các với khu vực. Từ đó góp phần thúc đẩy phát triển một ngành nghề tương đối quan
trọng khác là logistics kinh doanh.
Tuy nhiên thì do hoạt động tái xuất vẫn còn tồn tại vấn đề nhức nhối là gian lận
thương mại, đã có phần tác động tiêu cực đến nền kinh tế như thất thu thuế, hàng hóa
trong nước và hàng hóa nhập khẩu chính thống bị cạnh tranh không lành mạnh, thị
trường hàng hóa rối loạn, khó quản lý.
3. Tiềm năng phát triển
3.1.

Cơ hội:

Luận về vị trí địa lý, Việt Nam là quốc gia có vị trí thuận lợi, được xem là một
trọng điểm của kinh tế khu vực Đông Nam Á nói riêng và toàn Châu Á nói chung. Có
lợi thể gần biển, Việt Nam tuy nhỏ bé nhưng có chiều dài đường bờ biển tới hơn 3000
km, lại tiếp giáp với nhiều nước phát triển và nước đang phát triển về kinh tế trên thế
giới. Vị trí này đem lại lợi thế đặc biệt quan trọng khi Việt Nam chính là đầu mối giao
thương của nhiều tuyến đường buôn bán trên biển.
Bên cạnh đó, đường bờ biển dài cùng với các cảng biển lớn, được chú trọng
đầu tư nâng cấp và hoàn thiện, có thể nói, vận tải đường biển Việt Nam rất phát triển,
có thể đáp ứng như cầu của quá trình tái xuất khẩu hàng hóa.
Việt Nam đang trong quá trình hội nhập sâu rộng, nền kinh tế mở cửa đón
nhiều đối tác kinh doanh. Các hiệp định thương mại tự do được đàm phán và ký kết đã
thúc đẩy mối quan hệ hợp tác bền chặt giữa Việt Nam và nhiều thị trường như EU,
Nhật Bản,… Đây sẽ là những thị trường quan trọng và vô cùng tiềm năng cho hoạt
động xuất khẩu nói chung và tái xuất nói riêng của Việt Nam.
Việt Nam đã có quy định rất rõ ràng về các hoạt động tái xuất hàng hóa như
hình thức, quy trình, thủ tục hải quan, mặt hàng được phép tái xuất, mặt hàng bị cấm,
… ở trong các bộ luật như Luật Hải Quan 2014, thông tư 11/2017/TT-BCT, Nghị định
số 69/2018/NĐ-CP,… và nhiều văn bản pháp luật khác. Tạo nên sự rõ ràng, minh
bạch; giúp doanh nghiệp rõ ràng nắm bắt và thực hiện hoạt động tái xuất khẩu.
3.2.

Thách thức:

13


Thách thức phần lớn đến từ tình hình thế giới, khu vực tiếp tục diễn biến nhanh
chóng, phức tạp, khó lường. Căng thẳng thương mại Mỹ-Trung Quốc tiếp tục tác động
đa chiều tới hoạt động thương mại của Việt Nam. Trong đó, tái xuất khẩu hàng hóa
sang thị trường Trung Quốc vẫn còn nhiều khó khăn do kinh tế Trung Quốc tăng
trưởng chậm lại, nhu cầu giảm.
Những diễn biến phức tạp cùng tính chất khó lường của đại dịch COVID-19
được cảnh báo dẫn đến cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới chưa từng thấy trên quy mô
toàn cầu đi kèm với những dự báo ảm đạm hơn về triển vọng kinh tế thế giới và
những rủi ro thì luôn tiềm ẩn rình rập.
Chính sách kinh tế và thương mại của các nền kinh tế lớn, như Hoa Kỳ, EU,...
có thể thay đổi nhanh và có tác động đa chiều; căng thẳng địa - chính trị ở nhiều nơi
có thể ảnh hưởng đến tài chính thế giới, giá cả các mặt hàng nguyên, nhiên, vật liệu
cũng như giảm nhu cầu nhập khẩu các mặt hàng tiêu dùng; nguồn cung toàn cầu tiếp
tục tăng, ngày càng nhiều nước tham gia cung ứng nông sản, trong khi nhiều nước đẩy
mạnh các chương trình, kế hoạch thúc đẩy sản xuất, hướng tới giảm dần phụ thuộc
vào nguồn nhập khẩu; xuất hiện xu hướng bảo hộ trở lại và chống tự do hóa thương
mại và đầu tư ở nhiều nơi,...
Ngoài ra khó khăn còn nằm ở việc gian lận thương mại qua tái xuất khẩu hàng
hóa quá phức tạp, dẫn đến việc khó thống kê, quản lý.
II.

Gian lận thương mại lợi dụng tái xuất khẩu hàng hóa tại Việt Nam
Gian lận thương mại từ xưa đến nay vẫn luôn là vấn đề nhức nhối của toàn nền

kinh tế. Gian lận thương mại là hành vi dối trá, mánh khóe, lừa lọc trong lĩnh vực
thương mại, thông qua các hoạt động mua, bán, kinh doanh, xuất nhập khẩu hàng hóa,
dịch vụ nhằm mục đích thu lợi bất chính.
Năm 2019, tình hình hoạt động buôn lậu, gian lận thương mại và vận chuyển
trái phép hàng hóa qua biên giới trên các tuyến, địa bàn cả nước diễn biến phức tạp.
Các đối tượng hoạt động ngày càng tinh vi, có tổ chức và manh động. Trước tình hình
đó, Bộ Tài chính đã chỉ đạo đơn vị chức năng kịp thời ngăn chặn, qua đó, năm 2019,

14


ngành Tài chính thu trên 481 tỷ vào ngân sách nhà nước từ hoạt động chống buôn lậu,
gian lận thương mại.
Ở Việt Nam, tái xuất là một trong những hoạt động chủ yếu bị các đối tượng lợi
dụng để thực hiện hành vi gian lận thương mại. Sở dĩ như vậy, là do theo quy định ở
Nghị định 134/2016/NĐ-CP và Điều Luật thuế gia tăng, hàng hóa tạm nhập, tái xuất là
đối tượng không phải chịu thuế nhập khẩu, xuất khẩu, thuế GTGT.
Hai mục đích chính của gian lận thương mại qua tái xuất là gian lận thuế và
gian lận thủ tục hành chính. Thực tế thời gian qua, lợi dụng cơ chế thông thoáng về
chính sách đối với hàng quá cảnh, kho ngoại quan, thủ tục hành chính của việc tạm
nhập, tái xuất có phần đơn giản hơn so với các hoạt động xuất nhập khẩu bình thường,
một số trường hợp doanh nghiệp khi làm thủ tục hải quan đã khai sai, không khai
những mặt hàng khác có trong lô hàng, trong đó có thể có hàng cấm nhập khẩu, hoặc
cấm nhập khẩu để tiêu thụ nội địa. Trong quá trình lô hàng chờ tái xuất, doanh nghiệp
còn rút hàng ra hoặc thậm chí là không tái xuất để tiêu thụ tại thị trường Việt Nam. Về
gian luận thuế, doanh nghiệp có thể gian lận trong lúc tái xuất, bằng việc thay đổi một
phần hàng hóa tái xuất bằng hàng hóa khác để trốn thuế xuất khẩu, hay xuất khẩu
khống hàng hóa để được hoàn thuế nhập khẩu.
Các mặt hàng tái xuất tiêu biểu đều có thể là đối tượng để các doanh nghiệp lợi
dụng gian lận thương mại. Ví dụ như xăng dầu, mặt hàng có trị giá tái xuất khẩu lớn
nhất cũng là một trong những mặt hàng khó quản lý nhất. Vấn đề gian lận thương mại
tái xuất xăng dầu đã tồn tại từ rất lâu, trở thành điểm nóng nhức nhối từ năm 2012,
2013; cho đến hiện nay, vẫn tiếp diễn rất phức tạp. Tình trạng tạm nhập nhưng không
tái xuất xăng dầu, kinh doang tạm nhập tái xuất xăng dầu kém chất lượng, rút ruột…
vẫn thường xuyên xảy ra.
Các gian lận thương mại trong tái xuất thường xảy ra với các giao dịch tái xuất
giữa Việt Nam với một số nước trong khu vực Đông Nam Á, đặc biệt là Campuchia,
hay giữa Việt Nam với Trung Quốc,…
Trước tình hình gian lận nghiêm trọng, Chính phủ, các cơ quan ban ngành đã
đưa ra nhiều giải pháp đối phó. Trong đó, một trong những giải pháp cơ bản là quy tắc
15


hoàn thuế được quy định là thông tư 38 của Bộ Công Thương. Hay các quy định, luật
về tái xuất khẩu.
Bên cạnh việc kịp thời hướng dẫn DN thực hiện đúng chính sách pháp luật liên
quan đến hoạt động kinh doanh tạm nhập tái xuất, Tổng cục Hải quan chỉ đạo cục hải
quan các tỉnh, thành phố tăng cường quản lý, kiểm tra, kiểm soát phòng ngừa hành vi
gian lận thương mại. Bên cạnh đó Tổng cục Hải quan cũng đề xuất có cơ quan quản lý
có liên quan sửa đổi, bổ sung các Nghị định về xử phạt vi phạm theo hướng tăng nặng
mức phạt đối với hành vi vi phạm các quy định về quản lý hàng kinh doanh tạm nhập
tái xuất như: Hành vi tự ý tiêu thụ nội địa hàng kinh doanh tạm nhập tái xuất; tái xuất
hàng hóa qua cửa khẩu không đúng quy định... Đặc biệt, Bộ Công Thương cần chủ trì,
phối hợp với các lực lượng chức năng nắm bắt các thông tin thay đổi trong chính sách
biên mậu của phía đối tác Trung Quốc để đưa ra những khuyến cáo cho các doanh
nghiệp để kịp thời điều chỉnh, tránh gây thiệt hại về kinh tế, tạo cơ hội cho hàng thẩm
lậu vào nội địa. UBND các tỉnh biên giới quản lý chặt chẽ các đường mòn, lối mở,
không để hàng kinh doanh tạm nhập tái xuất vận chuyển không đúng tuyến đường,
khu vực quy định hoặc thẩm lậu vào nội địa.

III.

Ví dụ điển hình

Một trong những mặt hàng có kim ngạch tái xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam
là xăng dầu. Xăng dầu kinh doanh tái xuất bao gồm: xăng động cơ, diesel, mazut, dầu
hỏa, nhiên liệu bay,…
Xăng dầu là một trong những mặt hàng có kim ngạch tái xuất lớn nhất trong
năm 2019 - 2020. Trong đó kim ngạch tái xuất của mặt hàng xăng dầu đạt
441,884,518 USD, chiếm 27,75% vào quý I/2019; 446,506,693USD ở quý II, quý III
đạt 406,077,307 USD và quý IV đạt 403,184,337 USD. Liên tục dẫn đầu trong số các
nhóm hàng/mặt hàng tái xuất chủ yếu. Với kim ngạch từng quý luôn ổn định ở mức
trên 400 triệu USD năm 2019. Tổng kết cả năm, trị giá tái xuất của mặt hàng này lên
tới 1,7 tỷ USD, chiếm 21,9% tổng giá trị tái xuất cả nước, và gần 90% trong tổng số
1,91 tỷ USD kim ngạch xuất khẩu xăng dầu. Cho tới thời điểm hiện nay, vào quý I
16


năm 2020 Việt Nam đã tái xuất khẩu xăng dầu các loại đạt giá trị hơn 355 triệu USD
giảm hơn so với cùng kỳ năm trước, nhưng vẫn là một con số đáng mừng với tình
hình thế giới bị ảnh hưởng nghiêm trọng bởi đại dịch hiện nay.
Lào, Campuchia do không có điều kiện địa lý, điều kiện kinh nghiệm trong
quản lý xăng, dầu nên có yêu cầu chúng ta cung cấp xăng, dầu cho họ. Vì thế hoạt
động tái xuất xăng dầu của các doanh nghiệp Việt Nam có nhiều thuận lợi. Không
những vậy, Việt Nam tái xuất chủ yếu sang các nước Trung Quốc, Lào, Camuchia.
Đây là ba nước láng giềng của Việt Nam nên việc tái xuất thuận lợi hơn về vị trí địa lý
do có chung đường biên giới, mức độ am hiểu về nhu cầu, thị hiếu, giao thông,...
Ngoài ra, thị trường chủ yếu của tái xuất xăng dầu Việt Nam còn có các nước
Đông Nam Á khác và Hàn Quốc.
Hoạt động tái xuất xăng dầu bắt đầu phát triển gần 10 năm trở lại đây. Tháng
11/2013, Bộ Công thương đã đề nghị Chính phủ cho phép tiếp tục thí điểm sử dụng
xăng dầu ở Nhà máy lọc dầu Dung Quất để tái xuất sang thị trường Lào đúng với
chủng loại, số lượng đã tạm nhập khẩu trước đó với thời gian đến hết năm 2015. Hoạt
động này đã được Chính phủ cho phép hai đầu mối kinh doanh xuất nhập khẩu xăng
dầu là Tập đoàn Xăng dầu Việt Nam (Petrolimex) và Tổng công ty Dầu Việt Nam (PV
Oil) triển khai từ tháng 6/2012 đến đến hết năm 2012.
Theo báo cáo của PV Oil, trong thời gian thí điểm, tổng lượng xăng dầu mà
doanh nghiệp đã tạm nhập khẩu là khoảng 24.482 tấn, trị giá 23,56 triệu USD nhưng
cũng chỉ có 6.212 tấn với trị giá hơn 6 triệu USD được tái xuất sang Lào. Số liệu của
PV Oil cũng cho hay, việc thực hiện tái xuất xăng dầu Dung Quất sang Lào này cũng
giúp PV Oil có hiệu quả khoảng 500 triệu đồng/tháng.
Được biết, Petrolimex nhập khẩu xăng dầu từ nước ngoài về khu vực miền
Trung Việt Nam, sau đó vận chuyển sang Lào bằng ô tô. Tuy vậy, Petrolimex cũng có
đề nghị tiếp tục được là đối tượng được kinh doanh thí điểm bởi việc cho phép dùng
xăng dầu của Nhà máy lọc dầu Dung Quất để tái xuất sang Lào, thay thế cho lô hàng
tương đương về chủng loại, số lượng được tạm nhập đã tạo điều kiện cho doanh
nghiệp Việt Nam tiết kiệm chi phí, tăng khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp.
17


Cho đến thời điểm hiện nay việc tạm nhập, tái xuất xăng dầu của Việt Nam
không chỉ do Petrolimex mà còn nhiều doanh nghiệp khác đảm nhận.
Do xăng dầu là mặt hàng thiết yếu, có mức độ tiêu thụ lớn nên khoản tiết kiệm
từ việc miễn thuế nhập khẩu là khá lớn góp phần nâng cao khả năng cạnh tranh của
các doanh nghiệp. Bên cạnh đó việc tạm nhập, tái xuất xăng dầu cũng đang trên đà
tiếp tục phát triển đầy hứa hẹn, tạo điều kiện thuận lợi cho nền kinh tế Việt Nam ngày
càng phồn thịnh và vững mạnh.

18


C. KẾT LUẬN
Tóm lại, từ những phân tích ở trên, có thể thấy rằng, tái xuất khẩu hàng hoá là
một hoạt động kinh doanh quốc tế vô cùng quan trọng đối với nền kinh tế Việt Nam.
Hoạt động này tuy vẫn chứa nhiều thách thức, nhưng đồng thời cũng đem lại nhiều cơ
hội to lớn.
Và nhiệm vụ của chúng ta là cần vượt qua được thách thức đó, tận dụng tốt thời
cơ hội nhập, đưa cơ hội thành lợi thế, nắm bắt tốt để phát triển sâu hơn, mạnh mẽ hơn
hoạt động tái xuất sẽ mở ra rất nhiều tiềm năng để phát triển nền kinh tế đất nước.
Để nắm bắt được những thuận lợi này, cần có sự phân tích kỹ lưỡng, quốc sách
đúng đắn của Đảng và Nhà nước, cùng với đó là sự nắm bắt, hội nhập của các cá
nhân, các tổ chức kinh tế. Đây sẽ là một chặng đường dài cho tất cả chúng ta.

19


Nguồn tài liệu tham khảo:
- Số liệu thống kê - Tổng cục Thống kê
- Số liệu thống kê - Tổng cục Hải quan
- Báo cáo XNK 2019 - Bộ Công thương
- Luật Hải Quan 2014
- Trang web vnlog.vn
- Trang web songanhlogistics.vn

20



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×