Tải bản đầy đủ

thảo luận nhóm TMU phân tích ảnh hưởng của môi trường pháp luật việt nam đến đầu tư trực tiếp nước ngoài tại việt nam

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI
**************

BÀI THẢO LUẬN
PHÂN TÍCH ẢNH HƯỞNG CỦA MÔI TRƯỜNG
PHÁP LUẬT VIỆT NAM ĐẾN ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP
NƯỚC NGOÀI TẠI VIỆT NAM

Nhóm thực hiện:

04

Lớp học phần:

H2002ITOM1311

Giáo viên hướng dẫn:

Phan Thu Trang


Hà Nội - 07/2020


BẢNG ĐÁNH GIÁ ĐIỂM THAM GIA THẢO LUẬN

ST
T

Họ và tên

31

Nguyễn Tùng Dương

32

Trần Thị Thùy Dương

33

Hoàng Thị Kim Duyên

34

Lê Thị Mỹ Duyên

35

Vũ Thị Hà Giang

36

Vũ Thị Quỳnh Giang

37

Đinh Phương Hà

38


Đỗ Thị Ngọc Hà

39

Mai Thuý Hà

40

Mai Thanh Hải

Điểm tự đánh
giá

Nhóm
trưởng
đánh giá


MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU..............................................................................................1
PHẦN NỘI DUNG..........................................................................................2
I. CƠ SỞ LÝ THUYẾT..................................................................................2
1. Khái quát về đầu tư trực tiếp nước ngoài......................................................2
1.1 Khái niệm về đầu tư trực tiếp nước ngoài...................................................2
1.2 Hình thức và đặc điểm của đầu tư trực tiếp nước ngoài..............................2
2. Môi trường pháp luật.....................................................................................6
2.1. Khái niệm môi trường pháp luật................................................................6
2.2. Hệ thống pháp luật trên thế giới.................................................................6
II. ẢNH HƯỞNG CỦA MÔI TRƯỜNG PHÁP LUẬT VIỆT NAM ĐẾN
ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI TẠI VIỆT NAM............................8
1. Giới thiệu doanh nghiệp PepsiCo..................................................................8
1.1.Lịch sử ra đời của doanh nghiệp PepsiCo...................................................8
1.2. Thực trạng đầu tư trực tiếp vào Việt Nam của Pepsico............................12
2. Ảnh hưởng của môi trường pháp luật Việt Nam đến hoạt động đầu tư trực
tiếp của Pepsi tại Việt Nam.............................................................................14
2.1. Các hình thức đầu tư của Pepsico............................................................14
2.2. Ảnh hưởng của môi trường pháp luật Việt Nam đến hoạt động đầu tư trực
tiếp của Pepsi tại Việt Nam.............................................................................16
III. BÀI HỌC VÀ GIẢI PHÁP.....................................................................20
1. Bài học đầu tư vào Việt Nam của Pepsi......................................................20
2. Giải pháp cho Pepsi trong môi trường kinh doanh Việt Nam.....................21
PHẦN KẾT THÚC........................................................................................22


PHẦN MỞ ĐẦU
Xu thế toàn cầu hóa kinh tế và hội nhập quốc tế hiện nay đang phát triển
cực kì phổ biến và mạnh mẽ, hoạt động kinh doanh quốc tế cũng ngày càng
trở nên đa dạng, phong phú và có ý nghĩa hết sức quan trọng đối với mỗi
quốc gia trong nền kinh tế toàn cầu. Mỗi quốc gia đều tìm cách thâm nhập
vào thị trường nước ngoài nhằm tận dụng lợi thế kinh doanh như giảm chi
phí, tăng doanh thu và mở rộng kinh doanh sản xuất. Hoạt động kinh doanh
quốc tế rất đa dạng và phức tạp, liên quan đến rất nhiều vấn đề như con
người, văn hóa, phong tục tập quán, địa lý, luật pháp... Do vậy, kinh doanh
quốc tế là một hoạt động nhạy cảm đối với mỗi quốc gia, đặc biệt trong bối
cảnh toàn cầu hóa như hiện nay. Nói đến môi trường có ảnh hưởng lớn đến
hoạt động kinh doanh quốc tế của doanh ngiệp ta phải nhắc đến bốn môi
trường chính: Môi trường chính trị, môi trường kinh tế, môi trường luật pháp,
môi trường văn hóa. Người ta nói: "Nhập gia tùy tục" bất kỳ một doanh
nghiệp nào khi muốn xâm nhập vào một thị trường mới trên thế giới đều
phải tìm hiểu thật kĩ các môi trường kinh doanh quốc tế tại nước sở tại để xây
dựng chiến lược phát triển kinh doanh phù hợp nhất. Việt Nam là một đất
nước có điều kiện vô cùng thuận lợi để thu hút vốn đầu tư rất nhiều các quốc
gia muốn xâm nhập vào thị trường nước ta, và nước ta cũng luôn muốn mở
rộng chào đón các hoạt động kinh doanh quốc tế. Tuy nhiên, phải bước đến
một môi trường kinh doanh hoàn toàn mới đặt ra rất nhiều thách thức cho
doanh nghiệp, đòi hỏi cần có sự nghiên cứu thị trường kĩ càng, đảm bảo am
hiểu và phán đoán tốt xu hướng phát triển của các nền kinh tế khác nhau và
các phương thức trao đổi hàng hóa xuyên biên giới mới có thể đứng vững
trong môi trường cạnh tranh khốc liệt, đặc biệt là môi trường pháp luật của
các quốc gia mà doanh nghiệp hướng tới. Chính vì vậy, nhóm 4 đã nghiên cứu
đề tài: “Phân tích ảnh hưởng của môi trường pháp luật Việt Nam đến đầu
tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam” để làm rõ hơn về vấn đề này.

1


PHẦN NỘI DUNG
I.

CƠ SỞ LÝ THUYẾT

1. Khái quát về đầu tư trực tiếp nước ngoài
1.1 Khái niệm về đầu tư trực tiếp nước ngoài
Đầu tư trực tiếp nước ngoài (Foreign Direct Investment, viết tắt là FDI) là
hình thức đầu tư dài hạn của cá nhân hay công ty nước này vào nước khác
bằng cách thiết lập cơ sở sản xuất, kinh doanh. Cá nhân hay công ty nước
ngoài đó sẽ nắm quyền quản lý cơ sở sản xuất kinh doanh này.
1.2 Hình thức và đặc điểm của đầu tư trực tiếp nước ngoài
 Hình thức



Thành Lập Tổ Chức Kinh Tế 100% Vốn Của Nhà Đầu Tư Nước Ngoài

Hình thức doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài là hình thức truyền thống và
phổ biến của FDI. Với hình thức này, các nhà đầu tư, cùng với việc chú trọng
khai thác những lợi thế của địa điểm đầu tư mới, đã nỗ lực tìm cách áp dụng
các tiến bộ khoa học công nghệ, kinh nghiệm quản lý trong hoạt động kinh
doanh để đạt hiệu quả cao nhất. Hình thức này phổ biến ở quy mô đầu tư nhỏ
nhưng cũng rất được các nhà đầu tư ưa thích đối với các dự án quy mô lớn.
Hiện nay, các công ty xuyên quốc gia thường đầu tư theo hình thức doanh
nghiệp 100% vốn nước ngoài và họ thường thành lập một công ty con của
công ty mẹ xuyên quốc gia.
Doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài thuộc sở hữu của nhà đầu tư
nước ngoài nhưng phải chịu sự kiểm soát của pháp luật nước sở tại (nước
nhận đầu tư). Là một pháp nhân kinh tế của nước sở tại, doanh nghiệp phải
được đầu tư, thành lập và chịu sự quản lý nhà nước của nước sở tại. Doanh
nghiệp 100% vốn nước ngoài là doanh nghiệp thuộc quyền sở hữu của nhà
đầu tư nước ngoài tại nước chủ nhà, nhà đầu tư phải tự quản lý, tự chịu trách
nhiệm về kết quả kinh doanh. Về hình thức pháp lý, dưới hình thức này, theo
Luật Doanh nghiệp 2005, có các loại hình công ty trách nhiệm hữu hạn,
doanh nghiệp tư nhân, công ty cổ phần…

2


Hình thức 100% vốn đầu tư nước ngoài có ưu điểm là nước chủ nhà không
cần bỏ vốn, tránh được những rủi ro trong kinh doanh, thu ngay được tiền
thuê đất, thuế, giải quyết việc làm cho người lao động. Mặt khác, do độc lập
về quyền sở hữu nên các nhà đầu tư nước ngoài chủ động đầu tư và để cạnh
tranh, họ thường đầu tư công nghệ mới, phương tiện kỹ thuật tiên tiến nhằm
đạt hiệu quả kinh doanh cao, góp phần nâng cao trình độ tay nghề người lao
động. Tuy nhiên, nó có nhược điểm là nước chủ nhà khó tiếp nhận được kinh
nghiệm quản lý và công nghệ, khó kiểm soát được đối tác đầu tư nước ngoài
và không có lợi nhuận.

 Thành Lập Doanh Nghiệp Liên Doanh Giữa Các Nhà Đầu Tư Trong
Nước Và Nhà Đầu Tư Nước Ngoài
Đây là hình thức được sử dụng rộng rãi trên thế giới từ trước tới nay. Hình
thức này cũng rất phát triển ở Việt Nam, nhất là giai đoạn đầu thu hút FDI.
DNLD là doanh nghiệp được thành lập tại nước sở tại trên cơ sở hợp đồng
liên doanh ký giữa Bên hoặc các Bên nước chủ nhà với Bên hoặc các Bên
nước ngoài để đầu tư kinh doanh tại nước sở tại.
Như vậy, hình thức DNLD tạo nên pháp nhân đồng sở hữu nhưng địa điểm
đầu tư phải ở nước sở tại. Hiệu quả hoạt động của DNLD phụ thuộc rất lớn
vào môi trường kinh doanh của nước sở tại, bao gồm các yếu tố kinh tế, chính
trị, mức độ hoàn thiện pháp luật, trình độ của các đối tác liên doanh của nước
sở tại... Hình thức DNLD có những ưu điểm là góp phần giải quyết tình trạng
thiếu vốn, nước sở tại tranh thủ được nguồn vốn lớn để phát triển kinh tế
nhưng lại được chia sẻ rủi ro; có cơ hội để đổi mới công nghệ, đa dạng hóa
sản phẩm; tạo cơ hội cho người lao động có việc làm và học tập kinh nghiệm
quản lý của nước ngoài; Nhà nước của nước sở tại dễ dàng hơn trong việc
kiểm soát được đối tác nước ngoài. Về phía nhà đầu tư, hình thức này là công
cụ để thâm nhập vào thị trường nước ngoài một cách hợp pháp và hiệu quả,
tạo thị trường mới, góp phần tạo điều kiện cho nước sở tại tham gia hội nhập
vào nền kinh tế quốc tế. Tuy nhiên, hình thức này có nhược điểm là thường dễ
xuất hiện mâu thuẫn trong điều hành, quản lý doanh nghiệp do các bên có thể
có sự khác nhau về chế độ chính trị, phong tục tập quán, truyền thống, văn
hóa, ngôn ngữ, luật pháp. Nước sở tại thường rơi vào thế bất lợi do tỷ lệ góp
vốn thấp, năng lực, trình độ quản lý của cán bộ tham gia trong DNLD yếu.
3


4




Đầu Tư Theo Hình Thức Hợp Đồng Hợp Tác Kinh Doanh (BCC)

Hợp đồng hợp tác kinh doanh là hình thức đầu tư được ký giữa các nhà đầu
tư nhằm hợp tác kinh doanh phân chia lợi nhuận, phân chia sản phẩm mà
không thành lập pháp nhân.
Hình thức đầu tư này có ưu điểm là giúp giải quyết tình trạng thiếu vốn,
công nghệ; tạo thị trường mới, bảo đảm được quyền điều hành dự án của nước
sở tại, thu lợi nhuận tương đối ổn định. Tuy nhiên, nó có nhược điểm là nước
sở tại không tiếp nhận được kinh nghiệm quản lý; công nghệ thường lạc hậu;
chỉ thực hiện được đối với một số ít lĩnh vực dễ sinh lời như thăm dò dầu khí.
Hình thức hợp đồng hợp tác kinh doanh không thành lập pháp nhân riêng
và mọi hoạt động BCC phải dựa vào pháp nhân của nước sở tại. Do đó, về
phía nhà đầu tư, họ rất khó kiểm soát hiệu quả các hoạt động BCC. Tuy nhiên,
đây là hình thức đơn giản nhất, không đòi hỏi thủ tục pháp lý rườm rà nên
thường được lựa chọn trong giai đoạn đầu khi các nước đang phát triển bắt
đầu có chính sách thu hút FDI. Khi các hình thức 100% vốn hoặc liên doanh
phát triển, hình thức BCC có xu hướng giảm mạnh.



Hình Thức Hợp Đồng BOT, BTO, BT

BOT là hình thức đầu tư được thực hiện theo hợp đồng ký kết giữa cơ
quan nhà nước có thẩm quyền và nhà đầu tư nước ngoài để xây dựng, kinh
doanh công trình kết cấu hạ tầng trong một thời gian nhất định; hết thời hạn,
nhà đầu tư chuyển giao không bồi hoàn công trình đó cho Nhà nước Việt
Nam.
BTO và BT là các hình thức phái sinh của BOT, theo đó quy trình đầu tư,
khai thác, chuyển giao được đảo lộn trật tự.
Hình thức BOT, BTO, BT có các đặc điểm cơ bản: một bên ký kết phải là
Nhà nước; lĩnh vực đầu tư là các công trình kết cấu hạ tầng như đường xá,
cầu, cảng, sân bay, bệnh viện, nhà máy sản xuất, điện, nước...; bắt buộc đến
thời hạn phải chuyển giao không bồi hoàn cho Nhà nước.
Ưu điểm của hình thức này là thu hút vốn đầu tư vào những dự án kết cấu
hạ tầng, đòi hỏi lượng vốn lớn, thu hồi vốn trong thời gian dài, làm giảm áp
lực vốn cho ngân sách nhà nước. Đồng thời, nước sở tại sau khi chuyển giao
5


có được những công trình hoàn chỉnh, tạo điều kiện phát huy các nguồn lực
khác để phát triển kinh tế. Tuy nhiên, hình thức BOT có nhược điểm là độ rủi
ro cao, đặc biệt là rủi ro chính sách; nước chủ nhà khó tiếp nhận kinh nghiệm
quản lý, công nghệ.



Đầu Tư Mua Cổ Phần Hoặc Sáp Nhập, Mua Lại Doanh Nghiệp

Đây là hình thức thể hiện kênh đầu tư Cross - border M & As đã nêu ở trên.
Khi thị trường chứng khoán phát triển, các kênh đầu tư gián tiếp (FPI) được
khai thông, nhà đầu tư nước ngoài được phép mua cổ phần, mua lại các doanh
nghiệp ở nước sở tại, nhiều nhà đầu tư rất ưa thích hình thức đầu tư này.
Ở đây, về mặt khái niệm, có vấn đề ranh giới tỷ lệ cổ phần mà nhà đầu tư
nước ngoài mua - ranh giới giúp phân định FDI với FPI. Khi nhà đầu tư nước
ngoài tham gia mua cổ phiếu, trái phiếu trên thị trường chứng khoán nước sở
tại, họ tạo nên kênh đầu tư gián tiếp nước ngoài (FPI). Tuy nhiên, khi tỷ lệ sở
hữu cổ phiếu vượt quá giới hạn nào đó cho phép họ có quyền tham gia quản
lý doanh nghiệp thì họ trở thành nhà đầu tư FDI. Luật pháp Hoa Kỳ và nhiều
nước phát triển quy định tỷ lệ ranh giới này là 10%. Đối với Việt Nam trong
giai đoạn hiện nay, tỷ lệ này được quy định là 30%.
Hình thức mua cổ phần hoặc mua lại toàn bộ doanh nghiệp có ưu điểm cơ
bản là để thu hút vốn và có thể thu hút vốn nhanh, giúp phục hồi hoạt động
của những doanh nghiệp bên bờ vực phá sản. Nhược điểm cơ bản là dễ gây
tác động đến sự ổn định của thị trường tài chính. Về phía nhà đầu tư, đây là
hình thức giúp họ đa dạng hoá hoạt động đầu tư tài chính, san sẻ rủi ro nhưng
cũng là hình thức đòi hỏi thủ tục pháp lý rắc rối hơn và thường bị ràng buộc,
hạn chế từ phía nước chủ nhà.
 Đặc điểm
Thứ nhất, gắn liền với việc di chuyển vốn đầu tư, tức là tiền và các loại tài
sản khác giữa các quốc gia, hệ quả là làm tăng lượng tiền và tài sản của nền
kinh tế nước tiếp nhận đầu tư và làm giảm lượng tiền và tài sản nước đi đầu
tư.
Thứ hai, được tiến hành thông qua việc bỏ vốn thành lập các doanh nghiệp
mới (liên doanh hoặc sở hữu 100% vốn), hợp đồng hợp tác kinh doanh, mua
6


lại các chi nhánh hoặc doanh nghiệp hiện có, mua cổ phiếu ở mức khống chế
hoặc tiến hành các hoạt động hợp nhất và chuyển nhượng doanh nghiệp.
Thứ ba, nhà đầu tư nước ngoài là chủ sở hữu hoàn toàn vốn đầu tư hoặc
cùng sở hữu vốn đầu tư với một tỷ lệ nhất định đủ mức tham gia quản lý trực
tiếp hoạt động của doanh nghiệp.
Thứ tư, là hoạt động đầu tư của tư nhân, chịu sự điều tiết của các quan hệ
thị trường trên quy mô toàn cầu, ít bị ảnh hưởng của các mối quan hệ chính trị
giữa các nước, các chính phủ và mục tiêu cơ bản luôn là đạt lợi nhuận cao.
Thứ năm, nhà đầu tư trực tiếp kiểm soát và điều hành quá trình vận động
của dòng vốn đầu tư.
Thứ sáu, FDI bao gồm hoạt động đầu tư từ nước ngoài vào trong nước và
đầu tư từ trong nước ra nước ngoài, do vậy bao gồm cả vốn di chuyển vào
một nước và dòng vốn di chuyển ra khỏi nền kinh tế của nước đó.
Thứ bảy, FDI chủ yếu là do các công ty xuyên quốc gia thực hiện.
Các đặc điểm nêu trên mang tính chất chung cho tất cả các hoạt động FDI
trên toàn thế giới. Đối với Việt Nam, quá trình tiếp nhận FDI diễn ra đã được
20 năm và những đặc điểm nêu trên cũng đã thể hiện rõ nét. Chính những đặc
điểm này đòi hỏi thể chế pháp lý, môi trường và chính sách thu hút FDI phải
chú ý để vừa thực hiện mục tiêu thu hút đầu tư, vừa bảo đảm mối quan hệ cân
đối giữa kênh đầu tư FDI với các kênh đầu tư khác của nền kinh tế.
2. Môi trường pháp luật
2.1. Khái niệm môi trường pháp luật
Hệ thống luật pháp cung cấp một khung pháp chế các quy định và quy tắc
chỉ thị, cho phép hoặc hạn chế các mối quan hệ cụ thể giữa con người và các
tổ chức, đưa ra các hình phạt cho những hành vi vi phạm các quy định và quy
tắc.
2.2. Hệ thống pháp luật trên thế giới
2.2.1. Luật án lệ (tiền lệ pháp)
Tiền lệ pháp về thương mại là các quy tắc pháp luật hình thành từ thực tiễn
xét xử của Toà án và chủ yếu được áp dụng tại các nước theo hệ thống luật
7


Anh – Mỹ. Tòa án thường sử dụng một hay một số phán quyết đã được công
bố để làm khuôn mẫu áp dụng cho việc giải quyết tranh chấp tương tự.
2.2.2. Luật dân sự
Luật dân sự được căn cứ trên hệ thống pháp luật đầy đủ và được hệ thống
hóa – một cách rõ ràng bằng văn bản và có thể tiếp cận. Luật dân sự chia hệ
thống pháp luật thành 3 bộ: luật thương mại, dân sự và hình sự.
2.2.3. Luật tôn giáo (luật thần quyền)
Hệ thống luật tôn giáo dựa trên các đạo luật của Ấn Độ giáo, Do Thái và
Hồi giáo. Phổ biến là hồi giáo bắt nguồn từ những quy định của kinh Koran,
kinh thánh và lời dạy của tiên tri Mohammed. Hầu hết các nước Hồi giáo hiện
nay đang duy trì hệ thống pháp luật kép, nơi tôn giáo và toàn án hiến pháp
cùng tồn tại. Quan điểm của truyền thống của luật Hồi giáo phản đối mọi sự
tự do và hiện đại hóa tại các nước theo đạo Hồi.
2.2.4. Luật xã hội chủ nghĩa
Được dựa trên luật dân sự kết hợp với các yếu tố của nguyên tắc xã hội chủ
nghĩa mà nhấn mạnh quyền sở hữu tài sản của nhà nước. Các nước xã hội chủ
nghĩa có xu hướng coi tài sản và quyền sở hữu trí tuệ chặt chẽ hơn các nước
áp dụng luật dân sự hoặc tiền lệ pháp.
2.2.5. Luật hỗn hợp
Luật hỗn hợp đề cập đến một biến thể của 2 hãy nhiều hệ thống pháp lý
điều hành với nhau. Ở đa số các quốc gia, hệ thống pháp luật tiến hóa theo
thời gian, áp dụng các yếu tố của một hay nhiều hệ thống nhằm đáp ứng nhu
cầu riêng.
2.3. Tác động của môi trường pháp luật đến kinh doanh quốc tế
2.3.1. Tác động thuận chiều
Hệ thống pháp luật giúp cho các hoạt động kinh doanh nói chung và kinh
doanh quốc tế nói riêng được diễn ra theo nguyên tắc, trật tự và đảm bảo lợi
ích về cả kinh tế và xã hội cho doanh nghiệp và cho toàn bộ nền kinh tế.
Chằng hạn những quy định về thủ tục đăng ký kinh doanh, điều kiện kinh
doanh giúp doanh nghiệp hiểu quy trình thủ tục của việc đăng ký kinh doanh
8


và thành lập doanh nghiệp, những mặt hàng hay lĩnh vực doanh nghiệp được
phép hay không được phép kinh doanh.
Một môi trường pháp lý minh bạch, khả đoán sẽ có tác động tích cực tới
hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp, giúp cho hoạt động của các
doanh nghiệp thực hiện một cách thuận lợi, dễ dàng. Ví dụ những quy định về
thủ tục hải quan, về thuế xuất nhập khẩu đảm bảo tính rõ ràng, dễ dự đoán sẽ
giúp doanh nghiệp thuận lợi trong quá trình làm thủ tục hải quan cho hàng
hóa.
Ngoài ra, hệ thống pháp luật càng đầy đủ và hoàn thiện, đơn giản, dễ hiểu,
dễ thực hiện sẽ giúp cho hoạt động kinh doanh trở nên hiệu quả hơn.
2.3.2. Tác động nghịch chiều
Hệ thống văn bản pháp luật liên quan điều chỉnh một lĩnh vực cụ thể chưa
đảm bảo tính đầy đủ, tính thống nhất, minh bạch dẫn đến rào cản đáng kể cho
các doanh nghiệp khi thực hiện hoạt động kinh doanh.
Đối với các doanh nghiệp thực hiện hoạt động kinh doanh quốc tế dễ gặp
phải một tác động không tích cực khác từ môi trường pháp luật đó là sự khác
biệt giữa các quốc gia về những quy định pháp lý. Ví dụ, quy định về chống
bán phá giá của Hoa Kỳ có một số khác biệt so với pháp luật của nhiều quốc
gia khác và với ngay cả Hiệp định ADA của WTO, điển hình là quy định cho
phép sử dụng quy tắc zeroing trong việc xác định biên độ phá giá.
Ngoài ra, một hệ thống pháp luật liên tục thay đổi, điều chỉnh cùng là một
trở ngại lớn cho hoạt động kinh doanh quốc tế.
II.
ẢNH HƯỞNG CỦA MÔI TRƯỜNG PHÁP LUẬT VIỆT NAM
ĐẾN ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI TẠI VIỆT NAM
1. Giới thiệu doanh nghiệp PepsiCo
1.1.Lịch sử ra đời của doanh nghiệp PepsiCo
Trong thế kỷ 21, giao thương quốc tế đã trở thành một bộ phận không thể
thiếu của nền kinh tế thế giới. Thế giới đang trở nên phẳng hơn một thế kỷ
trước đó, nhờ đó cũng mở ra nhiều cơ hội và cả thách thức cho các quốc gia
mong muốn hội nhập. Trước tình hình đó, sự ra đời của các tập đoàn đa quốc
gia đã phần nào rút tạo ra nhiều cơ hội cho các nước đang phát triển tiến lên
9


một nền sản xuất cao hơn, đưa đất nước sánh ngang cùng các cường quốc.
PepsiCo là một trong số đó. PepsiCo là nhà sản xuất nước giải khát và thực
phẩm hàng đầu thế giới có doanh thu thuần hơn 65 tỷ Đô la Mỹ và một dãy
các sản phẩm bao gồm 22 nhãn hàng, trong đó mỗi nhãn hàng mang về doanh
thu hằng năm hơn 1 tỷ USD. Những mảng kinh doanh chính của PepsiCo–
Quaker, Tropicana, Gatorade, Frito-Lay và Pepsi-Cola – cung cấp hàng trăm
sản phẩm nước giải khát và thực phẩm mang tới sự vui thích cho người tiêu
dùng trên khắp thế giới. Khoảng đầu thập niên 90, Việt Nam bắt đầu mở cửa
thị trường, PepsiCo ký được hợp đồng thâm nhập thị trường Việt Nam. Với
tiềm lực lớn mạnh của mình PepsiCo nhanh chóng đạt được những thành
công tại thị trường Việt Nam và trở thành một trong số những doanh nghiệp
giải khát hàng đầu tại Việt Nam.
Pepsi - Thương hiệu toàn cầu
Năm 1886, Bradham pha chế ra một loại nước uống dễ tiêu làm từ nước
cacbonat, đường, vani và một chút dầu ăn. Nó được bản trong khu vực dưới
tên “Nước uống của Brad ” nhưng năm 1893 Bradham đổi sang một cái tên
mới “Pepsi - Cola”, nghe thú vị, khoẻ khoắn, mạnh mẽ hơn và chuẩn bị đưa
ra bản một cách rộng rãi hơn. Pepsi làm ăn phát đạt qua hai thập kỉ tiếp theo.
Nhưng do việc vận chuyển, do thiếu đường để sản xuất và một số các khó
khăn khác trong thế chiến thứ nhất đã khiến công ty phá sản. Những người
chủ mới đã phục hồi lại công ty nhưng tới năm 1931, tình hình kinh tế suy
yếu một cách trầm trọng lại một lần nữa khiến công ty phá sản. Năm 1938,
Walter Mack được chọn trở thành chủ tịch mới của Pepsi-Cola và không lâu
sau đó, ông đưa ra quảng cáo mới cho Pepsi 12-ounce với bài hát có nhiều
vần điệu “Nickel, Nickel”. Bài hát này đã nhanh chóng trở nên phổ biến và
được thu âm với 55 ngôn ngữ khác nhau. Sau thế chiến thứ 2 và tới những
năm 50, Alfred Steele chịu trách nhiệm việc mở rộng từng giai đoạn trong
việc phát triển kinh doanh. Với sự biến đổi của kinh tế trong lĩnh vực đồ uống
có gas, Pepsi đã thông qua chính sách giá chuẩn và chiến lược trở thành
thương hiệu toàn cầu. Từ những năm 60 đến 70, Pepsi đã bắt đầu có những
thành công vượt bậc, giảm khoảng cách với các đối thủ cạnh tranh lớn. Công
ty hợp nhất với Frito-Lay và chuyển trụ sở chính tới Purchase, N.Y, một thị
trấn nhỏ ngoại ô thành phố New York. Tới năm 1976, Pepsi-Cola trở thành
10


thương hiệu duy nhất về nước giải khát có gas đạt doanh thu cao nhất ở các
siêu thị Mỹ và tới những những năm đầu tiên của thập niên 80, Pepsi là
thương hiệu nước giải khát hàng đầu được nhiều người mua về nhà uống nhất.
Năm 1998, Pepsi kỉ niệm 100 năm và đưa ra logo mới cho thiên niên kỉ mới –
hình cầu với 3 màu xanh, trắng, đỏ trên nền màu xanh lạnh, điểm thống nhất
của thiết kế biểu tượng Pepsi trên toàn thế giới.
 Sứ mệnh của PepsiCo đề ra:
“Trở thành công ty hàng đầu về sản xuất hàng tiêu dùng, tập trung chủ yếu
vào thực phẩm tiện dụng và nước giải khát. Chúng tôi không ngừng tìm kiếm
và tạo ra các hiệu quả tài chính lành mạnh cho các nhà đầu tư, tạo cơ hội
phát triển và đem lại nhiều lợi ích kinh tế cho nhân viên, các đối tác kinh
doanh và cộng đồng nơi chúng tôi hoạt động. Chúng tôi luôn phấn đấu hoạt
động trên cơ sở trung thực, công bằng và chính trực trong mọi hành động của
mình”.


PepsiCo Việt Nam

 Lịch sử hình thành:
o 24/12/1991: Công ty nước giải khát quốc tế (IBC) được thành lập do
liên doanh giữa SP.Co và Marcondray - Singapore với tỉ lệ vốn góp 50%
-50%.
o 1994: Mỹ bỏ cấm vận với Việt Nam.
o 1998: PI mua 97 % cổ phần, SP.Co 3% tăng vốn đầu tư lên 110 triệu
USD.
o 2003: PepsiCola Global Investment mua 3% còn lại, đổi tên thành
Công ty nước giải khát quốc tế PepsiCo Việt Nam. Có thêm nhãn hiệu:
Aquafina, Sting, Twister, Lipton - Ice Tea .
o 2005: Chính thức trở thành công ty có thị phần về nước giải khát lớn
nhất Việt Nam.
o 2006: Tung ra sản phẩm Foods đầu tiên (Snack Poca).
o 2007: Phát triển ngành hàng sữa đậu nành.
11


o 2008: Khánh thành nhà máy sản xuất thực phẩm đóng gói tại Bình
Dương.
 Tung ra sản phẩm Snack Poca khoai tây cao cấp.
o 2008-2009: sau khi khánh thành thêm nhà máy thực phẩm ở Bình
Dương (sau này đã tách riêng thành Công ty Thực phẩm Pepsico Việt Nam),
công ty mở rộng thêm vùng nguyên liệu tại Lâm Đồng. Nhiều sản phẩm thuộc
mảng nước giải khát mới cũng được ra đời như: 7Up Revive, Trà xanh
Lipton, Twister dứa.
o 2010: đánh dấu một cột mốc quan trọng đối với PepsiCo Việt Nam
thông qua việc PepsiCo tuyên bố tiếp tục đầu tư vào Việt Nam 250 triệu USD
cho ba năm tiếp theo.
o 2/2010: nhà máy mới tại Cần Thơ chính thức đi vào hoạt động
o 2012: trong năm này xảy ra sự kiện mua bán sáp nhập nhà máy San
Miguel tại Đồng Nai vào thẳng 3 năm 2012 và nhà máy PepsiCo có quy mô
lớn nhất khu vực Đông Nam đã được khánh thành tại Bắc Ninh vào tháng 10
năm 2012.
o 4/2013: liên minh nước giải khát chiến lược Suntory PepsiCo Việt Nam
đã được thành lập giữa Suntory Holdings Limited và PepsiCo, Inc. Trong đó
Suntory chiếm 51% và PepsiCo chiếm 49% với sự ra mắt của các sản phẩm
mới trà olong Tea + Plus và Moutain Dew.
 Tầm nhìn của doanh nghiệp PepsiCo:


Tiếp tục cải thiện vị thế của PepsiCo Việt Nam.



Tạo điều kiện tốt cho Suntory thâm nhập thị trường tăng trưởng ưu tiên.



Phát triển thêm mối quan hệ đối tác toàn cầu thành công giữa Suntory

và Pepsico.
 Mục tiêu chiến lược của công ty Suntory PepsiCo Việt Nam:


Tạo sự “vui thích” cho người tiêu dùng trên khắp thế giới bằng việc

cung cấp đa dạng các sản phẩm nước giải pháp, thực phẩm hướng đến sức
khỏe của người tiêu dùng với các sáng kiến thân thiện, giảm thiểu các ảnh
12


hưởng đến môi trường bằng cách tiết kiệm năng lượng điện, nước tiêu thụ,
giảm thiểu lượng bao bì đóng gói.


Tạo sự thân thiện với khách hàng với các hoạt động hưởng tới xã hội,

bảo vệ môi trường, tôn trọng khách hàng.
1.2. Thực trạng đầu tư trực tiếp vào Việt Nam của Pepsico.
1.2.1. Hoạt động đầu tư kinh doanh của Pepsi tại thị trường Việt Nam.
Ngày 24/12/1991, PepsiCo Vietnam được thành lập, tiền thân là một công
ty liên doanh giữa SP.Co và Công ty Macondray – Singapore (Công ty IBC).
Ngay từ năm 1992, Pepsico đã xây dựng và khánh thành nhà máy Hooc-môn.
Và đến năm 1994 lệnh cấm vận của Mỹ đối với Việt Nam mới được dỡ bỏ,
PepsiCo chính thức gia nhập thị trường Việt Nam khi liên doanh với công ty
Nước giải khát Quốc tế IBC và Marcondray - Singapore với tỷ lệ vốn góp
50% - 50%. Ra mắt với giá quá rẻ, cộng thêm uy tín chất lượng hàng đầu thế
giới, Pepsi đã ngay lập tức đè bẹp các đối thủ tại VN và thống lĩnh thị
trường nước giải khát Việt Nam. PepsiCo Vietnam sau khi vượt qua nhiều
thị trường khác trên toàn thế giới với các chỉ số thực hiện rất đáng tự hào
trong vòng 3 năm qua như sản lượng tăng bình quân 21.5% mỗi năm, thị phần
tăng gần 6% trong 3 năm 2001-2004 đối với nước giải khát có gas và trở
thành công ty nước giải khát đứng đầu về thị phần tại Việt Nam với tổng số
lợi nhuận tăng nhanh vượt kế hoạch.
Năm 2004, công ty mua lại nhà máy Điện Bàn, và mở rộng sản xuất kinh
doanh tại Quảng Nam. Cũng trong năm 2004 này, Công ty Pepsico Việt Nam
đã cùng Công ty cổ phần Kinh Đô ký kết thỏa thuận hợp tác kinh doanh. Sự
kết hợp này đã mang lại cho Pepsico những thị phần mới và đồng thời giúp
Pepsico khẳng định tiềm lực của mình lúc bấy giờ. Năm 2006, công ty mở
rộng kinh doanh sang mảng thực phẩm. Snack Poca đã được giới thiệu và
nhận được sự quan tâm từ người tiêu dùng và giới trẻ. Trong khoảng thời gian
2004-2006, công ty cũng đầu tư vào cải tiến quy trình sản xuất và quản lý, kết
quả là đã giảm chi phí trên đầu két gần 43% tong vòng 3 năm.
Năm 2008-2009, công ty khánh thành thêm nhà máy thực phẩm ở Bình
Dương, mở rộng thêm vùng nguyên liệu ở Lâm Đồng và cho ra đời nhiều sản
phẩm nước giải khát mới. Năm 2010, Pepsico tuyên bố tiếp tục đầu tư 250
13


triệu đô la Mỹ vào thị trường Việt Nam trong 3 năm tới. Trong đó, Pepsico sẽ
đầu tư vào các dự án như mở thêm nhà máy mới, nâng cao năng lực sản xuất
các nhà máy, gia tăng các trang thiết bị tại điểm bán, tăng cường sức mạnh
của các thương hiệu và mở rộng danh mục sản phẩm. Cùng với đó năm 2010
nhà máy Cần Thơ chính thức đi vào hoạt động và cũng khởi công xây dựng
nhà máy nước giải khát và thực phẩm tại khu đô thị - công nghiệp và dịch vụ
Việt Nam - Singapore ở thành phố Bắc Ninh. Nhân dịp này, công ty đã công
bố đóng góp 1,2 tỷ đồng cho các chương trình hỗ trợ phát triển giáo dục, phát
triển tài năng trẻ, xây dựng nhà tình nghĩa,.. tại khu vực miền Bắc.
Năm 2012, Pepsico mua lại San Miguel tại Đồng Nai. Cùng năm đó, công
ty công bố liên doanh với công ty Suntory Holdings Ltd Nhật Bản, qua việc
bán cổ phần Pepsico Việt Nam cho công ty. Trong đó, Suntory chiếm 51% và
Pepsico chiếm 49%. Sự kiện đánh dấu một sự phát triển mới của của liên
minh đồ uống.
1.2.2. Kết quả của hoạt động đầu tư.
Hiện nay, Pepsico đang là thương hiệu dẫn đầu trong lĩnh vực nước giải
khát tại thị trường Việt Nam. Trong khoảng 10 năm trở lại đây, ước tính
Pepsico đã đầu tư vào Việt Nam hơn 500 triệu USD. SPVB từng vào Top 100
doanh nghiệp đóng thuế thu nhập doanh nghiệp lớn nhất Việt Nam các năm
2016, 2017, 2018; Top 5 công ty đa quốc gia hàng tiêu dùng nhanh có môi
trường làm việc tốt nhất Việt Nam năm 2017, 2018; Top 3 doanh nghiệp uy
tín ngành đồ uống tại Việt Nam năm 2017, 2018, 2019. Quy mô của liên minh
ngày càng mở rộng với 5 nhà máy, 5 văn phòng đại diện, 2.800 lao động
chính thức và hàng nghìn lao động gián tiếp khắp cả nước.
Từ khi thành lập đến năm 2007 thì doanh nghiệp liên tục báo lỗ, tuy
nhiên những năm gần đây doanh thu của Pepsico đã có phần khởi sắc thậm
chí tăng mạnh. Cụ thể:

14


2. Ảnh hưởng của môi trường pháp luật Việt Nam đến hoạt động đầu
tư trực tiếp của Pepsi tại Việt Nam
2.1. Các hình thức đầu tư của Pepsico.
Cùng với sự phát triển của nền kinh tế đất nước thì hệ thống pháp luật của
Việt Nam ngày càng hoàn thiện hơn, với ngày càng nhiều các rào cản với
những nguyên tắc ngày càng gắt gao hơn. Điều đó đặt ra cho các nhà lãnh đạo
của Pepsico Việt Nam phải có các hình thức đầu tư phải phù hợp, đúng đắn
với pháp luật cũng như các lĩnh khác trong xã hội.


Hình thức đầu tư liên doanh:

Pepsi Việt Nam là một trong các công ty giải khát có vốn nước ngoài đầu
tiên đặt chân tới Việt Nam. Cũng như nhiều công ty khác, Pepsi phải hoạt
động dưới danh nghĩa liên doanh.
Ngày 24/12/1991, công ty nước giải khát quốc tế (IBC) được thành lập do
liên doanh giữa SP. Co và Marcondray-Singapore với tỷ lệ vốn góp 50%50%. Năm 1994, Pepsico chính thức gia nhập thị trường Việt Nam khi liên
doanh với công ty nước giải khát quốc tế IBC cùng với sự ra đời của hai sản

15


phẩm đầu tiên là Pepsi và 7 Up từ những năm đầu khi Mỹ bỏ cấm vận với
Việt Nam năm 1994.
Với liên doanh mới này, đã mang tới cho thị trường Việt Nam những sản
phẩm thế mạnh của mình cùng với kinh nghiệm phát triển các loại nước giải
khát cho thị trường Châu Á, còn PepsiCo sẽ tiếp tục phát triển các thương
hiệu nước giải khát đã thành công tại thị trường Việt Nam như Pepsi-Cola, 7UP, Sting, Aquafina,… Đến thị trường Việt Nam vào năm 1994, PepsiCo đã
thực hiện chiến lược đầu tư mạnh mẽ với hàng trăm triệu USD để xây dựng
nhà máy và thương hiệu, hiện nay công ty đã có năm nhà máy sản xuất nước
giải khát ở Việt Nam, đây được xem là một thị trường ưu tiên và đang phát
triển vượt bậc của PepsiCo.


Hình thức 100% vốn đầu tư nước ngoài:

Năm 1994 có thêm một thành viên mới gia nhập vào công ty đó là Công ty
Pepsico Global Investment. Tỉ lệ vốn bây giờ là: Công ty SP. Co. 40%,
Macondray Company Inc 30% và Pepsi Cola International 30%. Năm 1998,
do yêu cầu đầu tư vốn và phát triển kinh doanh, cổ phần công ty lại thay đổi
một lần nữa: Pepsi Cola International mua 97% và SP.Co 3% theo như quyết
định số 291/GPDC7 ngày 28 tháng 12 năm 1998. Vốn đầu tư là 110 triệu đô
la, vốn pháp định là 70 triệu đô la. Ngày 28/4/2003, Pepsico Global
Investment đã mua 3% cổ phần còn lại của Việt Nam, Công ty nước giải khát
Quốc tế đã trở thành doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài và đổi tên là Công
Ty Nước Giải Khát Quốc Tế Pepsico Việt Nam.
Số cổ phần trên trị giá 2,4 triệu USD, chiếm 3,44% tổng vốn pháp định của
liên doanh Pepsi – IBC (70 triệu USD), đã được Pepsi mua lại với giá 4,8
triệu USD.
→ Như vậy Pepsico đầu tư trực tiếp vào thị trường Việt Nam bằng cả hình
thức liên doanh và đầu tư trực tiếp 100%. Từ năm 1991 đến 2003, công ty đầu
tư dưới hình thức liên doanh. Từ năm 2003 đến 2013 công ty đầu tư trực tiếp
100% và từ 2013 đến nay lại trở lại với hình thức liên doanh.

16


2.2. Ảnh hưởng của môi trường pháp luật Việt Nam đến hoạt động đầu
tư trực tiếp của Pepsi tại Việt Nam
2.2.1. Sự thay đổi chung trong môi trường pháp luật đối với hoạt động
đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam
Trong quá trình toàn cầu hoá, Việt Nam đã thực hiện chính sách mở cửa
nền kinh tế và theo đó hệ thống luật pháp không ngừng hoàn thiện và cải tiến.
Trước đây:
Thời kỳ gia nhập WTO: Nếu dự án đầu tư tại Việt Nam, bất kể tỷ lệ từ 1%
hay 100%, doanh nghiệp đều phải thực hiện thủ tục đăng ký đầu tư hoặc thẩm
tra dự án đầu tư theo quy định tại khoản 1 Điều 50 Luật Đầu tư và khoản 3
Điều 56 Nghị định 108/2006/NĐ-CP hướng dẫn thi hành Luật Đầu tư. Quy
định này được coi là một cải cách quan trọng trong việc quản lý dòng vốn đầu
tư FDI vào Việt Nam và phù hợp với nội dung của Hiệp định thương mại
quốc tế WTO mà Việt Nam mới gia nhập tại thời điểm này, đặc biệt đối với
những lĩnh vực có cam kết về lộ trình hạn chế đầu tư.
Tuy nhiên việc vận dụng quy định này trong nhiều năm đã bộc lộ vô vàn
bất cập do không nhất quán, mâu thuẫn giữa quy định tại Khoản 1 Điều 50
Luật Đầu tư và Nghị định hướng dẫn luật doanh nghiệp 2005 (cho phép Nhà
đầu tư nước ngoài chiếm giữ không quá 49% vốn điều lệ thì không cần phải
thực hiện thủ tục đăng ký đầu tư, được áp dụng điều kiện kinh doanh như với
doanh nghiệp trong nước). Tại nhiều tỉnh, thành, cơ quan quản lý đầu tư đã
lúng túng trước quy định này và có sự vận dụng không thống nhất trên toàn
quốc gây mất thời gian thực hiện thủ tục, làm ảnh hưởng tới việc đầu tư trực
tiếp nước ngoài tại Việt Nam.
Hơn nữa, hình thức đầu tư và loại hình doanh nghiệp có vốn đầu tư nước
ngoài chưa đa dạng và chưa đáp ứng yêu cầu mở rộng các phương thức huy
động vốn đầu tư nước ngoài. Theo Luật Đầu tư nước ngoài, chỉ có ba hình
thức đầu tư, đó là: hình thức liên doanh; hình thức 100% vốn đầu tư nước
ngoài; hợp đồng hợp tác kinh doanh. Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài
chỉ được phép thành lập và tổ chức hoạt động theo hình thức công ty trách
nhiệm hữu hạn chứ chưa được thành lập theo hình thức công ty cổ phần, công
ty hợp danh như các doanh nghiệp trong nước
17


Sau này:
Luật đầu tư 2014 xoá bỏ các rào cản trong thủ tục đầu tư thông qua hàng
loạt các quy định mới về hình thức đầu tư theo hình hình thức góp vốn, mua
cổ phần, phần vốn góp vào doanh nghiệp, tổ chức kinh tế. Theo quy định mới,
nhà đầu tư nước ngoài chỉ phải thực hiện đăng ký đầu tư nếu rơi vào các
trường hợp sau:
Góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp vào doanh nghiệp, tổ chức kinh tế
hoạt động trong lĩnh vực, ngành nghề kinh doanh có điều kiện áp dụng với
nhà đầu tư nước ngoài; Nắm giữ từ 51% vốn điểu lệ trở lên tại tổ chức kinh
tế.
Như vậy, nếu nhà đầu tư nước ngoài góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp tại
doanh nghiệp Việt Nam mà tỷ lệ nắm giữ dưới 51% và không thuộc ngành
nghề, lĩnh vực kinh doanh có điều kiện thì được áp dụng thủ tục đầu tư như
đối với nhà đầu tư trong nước, chỉ cần thực hiện thủ tục thay đổi cổ đông,
thành viên theo quy định pháp luật doanh nghiệp. Quy định này được đánh
giá là cải cách đột phá của Luật đầu tư 2014, phù hợp với thời kỳ mà hầu như
toàn bộ các hạn chế của cam kết WTO đã hết, mang lại kỳ vọng cho hàng loạt
các nhà đầu tư nước ngoài đang có ý định đầu tư vốn, tài chính vào Việt Nam.
Hơn nữa, luật đầu tư mới không phân chia hình thức đầu tư thành đầu tư
trực tiếp và đầu tư gián tiếp mà quy định 4 hình thức đầu tư, bao gồm: đầu tư
thành lập tổ chức kinh tế, đầu tư theo hình thức góp vốn, mua cổ phần, phần
vốn góp vào tổ chức kinh tế, đầu tư theo hình thức hợp đồng PPP, đầu tư theo
hình thức hợp đồng BCC
2.2.2. Ảnh hưởng của môi trường pháp luật Việt Nam đối với Pepsi
Vào đầu những năm 1990, PepsiCo đã bắt đầu thâm nhập thị trường Việt
Nam. Ban đầu, với mục tiêu là nhằm cải thiện tính cạnh tranh của các công ty
trong nước, chính phủ Việt Nam lúc này yêu cầu các công ty nước ngoài phải
chia sẻ quyền sở hữu với các công ty trong nước. Điều này đã làm PepsiCo
phải liên doanh với Công ty IBC (công ty liên doanh giữa SP.Co và Công ty
Macondray – Singapore).
Tuy nhiên, sau khi có sự ảnh hưởng mạnh mẽ của xu hướng toàn cầu hóa
cùng nhu cầu phát triển đầu tư nước ngoài, từ việc chính phủ yêu cầu các
18


công ty nước ngoài cần phải chia sẻ quyền sở hữu với các doanh nghiệp trong
nước thì chuyển sang khuyến khích các tổ chức, cá nhân nước ngoài được
thành lập tại Việt Nam xí nghiệp 100% vốn nước ngoài, tự mình quản lý xí
nghiệp, chịu sự kiểm soát của cơ quan Nhà nước quản lý đầu tư nước ngoài,
được hưởng các quyền lợi và phải thực hiện các nghĩa vụ ghi trong giấy phép
đầu tư. Xí nghiệp 100% vốn nước ngoài có tư cách pháp nhân theo pháp luật
Việt Nam. Việc này đã tạo điều kiện tốt cho việc thay đổi phương thức thâm
nhập mới của PepsiCo Nắm bắt được cơ hội này để doanh nghiệp ký được
hợp đồng thâm nhập vào thị trường Việt Nam. Ngày 28 tháng 4 năm 2003
Pepsico Global Investment đã mua lại 3% cổ phần của Việt Nam, Công ty
nước giải khát Quốc tế đã trở thành doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài và
đổi tên là Công Ty Nước Giải Khát Quốc Tế PEPSICO Việt Nam.
Ngoài ra, hiện nay Bộ Tài chính đang cân nhắc tăng thuế giá trị gia tăng từ
10% lên 12% và áp thuế tiêu thụ đặc biệt 10% đối với mặt hàng nước ngọt do
ảnh hưởng xấu của nó đến sức khỏe. Điều này cũng có tác động tiêu cực đối
với các nhà đầu tư trong ngành công nghiệp nước giải khát trong đó có Pepsi
do ảnh hưởng hưởng tới lợi nhuận của doanh nghiệp.
Tóm lại, các văn bản được ban hành, trên diện rộng đã tạo hành lang pháp
lý tương đối toàn diện cho các thành phần kinh tế, giải phóng mọi năng lực
sản xuất, thu hút đầu tư nước ngoài, mở rộng hợp tác kinh tế đối ngoại,
khuyến khích đầu tư trong nước, chuyển mạnh sang quản lý nền kinh tế quốc
dân bằng pháp luật. Có thể đánh giá một cách khái quát rằng, trong vòng 28
năm qua (từ 1992 - đến nay) chúng ta đã xây dựng được một hệ thống văn
bản pháp luật về kinh tế tương đối đầy đủ. Mặc dù còn nhiều khiếm khuyết
nhưng về cơ bản đã tích cực cho việc chuyển đổi cơ chế quản lý kinh tế, thúc
đẩy sản xuất phát triển, huy động và sử dụng có hiệu quả các nguồn nhân lực,
tạo tích luỹ nguồn vốn cho đầu tư. Tuy nhiên, các luật thuế thay đổi liên tục
và quá nhanh, khiến doanh nghiệp trở tay không kịp, thủ tục hải quan tuy đã
cải tiến, nhưng vẫn còn mất khá nhiều thời gian so với các nước trong cùng
khu vực là điểm trừ trong môi trường pháp luật ở Việt Nam. Việc thay đổi
chính sách cần phải đảm bảo tính công bằng, minh bạch, ổn định, có độ trễ
nhất định về thời gian thi hành để nhà đầu tư và doanh nghiệp chủ động trong
điều hành chiến lược kinh doanh. Việc xây dựng hệ thống văn bản pháp quy
19


từ luật, nghị định của Chính phủ, đến thông tư hướng dẫn của các bộ phải
đồng nhất, có thống nhất tiếp thu góp ý của các đối tượng trực tiếp chịu sự
điều chỉnh để đảm bảo có thể thực thi, đồng thời các văn bản pháp lý cần
được ban hành một thời gian đủ dài để doanh nghiệp chuẩn bị điều kiện thi
hành.
2.2.3 Về cơ hội/thách thức đối với doanh nghiệp


CƠ HỘI

Việc đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam của Pepsico được thực hiện
trong khuôn khổ pháp lý xác định, chịu sự điều chỉnh của luật pháp quốc gia
và quốc tế. Vì vậy, môi trường pháp luật có tác động trực tiếp tới việc thu hút
đầu tư.
Các hoạt động kinh doanh nói chung và đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt
Nam nói riêng được diễn ra theo nguyên tắc, trật tự, đảm bảo lợi ích về cả
kinh tế và xã hội cho doanh nghiệp và cho toàn bộ nền kinh tế nhờ có hệ
thống pháp luật nghiêm minh. Đó là những quy định về thủ tục đăng kí kinh
doanh khi PepsiCo mới vào thị trường Việt Nam, điều kiện kinh doanh giúp
doanh nghiệp hiểu quy trình thủ tục của việc đăng kí kinh doanh và thành lập
doanh nghiệp, những mặt hàng hay lĩnh vực mà PepsiCo được phép và không
được phép kinh doanh. Hay những quy định về vệ sinh dịch tễ giúp công ty
thực hiện việc kinh doanh những sản phẩm được đảm bảo về mặt về sinh,
thông qua đó vừa đảm bảo uy tín cho công ty vừa đảm bảo lợi ích cho người
tiêu dùng.
Một môi trường luật pháp minh bạch, khách quan sẽ có tác động tích cực
tới hoạt động kinh doanh của công ty, giúp cho các hoạt động của công ty
được thực hiện một cách thuận lợi, dễ dàng. Pepsico được ưu đãi rất nhiều về
thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế xuất nhập khẩu được đảm bảo rõ ràng, giúp
cho công ty thuận lợi trong quá trình làm thủ tục hải quan cho hàng hóa.
Ngoài ra, hệ thống pháp luật càng đầy đủ và hoàn thiện, đơn giản, dễ hiểu,
dễ thực hiện sẽ giúp cho hoạt động kinh danh của Pepsico trở nên hiệu quả
hơn.

20




THÁCH THỨC

Bên cạnh những cơ hội, Pepsico có thể phải đương đầu với nhiều thách
thức đặt ra. Đó là khi hệ thống chính sách, luật pháp Việt Nam liên quan đến
đầu tư còn chưa hoàn chỉnh, thiếu đồng bộ, thiếu thống nhất làm các cơ quan
quản lý có thể hiểu theo các cách khác nhau, gây nhiều khó khăn cho việc
xem xét cấp giấy chứng nhận đầu tư, cho việc hướng dẫn các doanh nghiệp
xử lý các vấn đế phát sinh trong quá trình triển khai dự án. Đây là rảo cản
đáng kể cho công ty Pepsico thực hiện hoạt động sản xuất kinh doanh tại Việt
Nam.
Về quy trình, thủ tục hành chính bị đánh giá còn phức tạp và gây tốn kém
đối với các nhà đầu tư nước ngoài tại Việt Nam. Các thủ tục như đăng ký kinh
doanh, các thủ tục thuế và hải quan, cấp giấy chứng nhận đầu tư, giấy phép
mở chi nhánh hay mua bán cổ phần sáp nhập với doanh nghiệp trong nước,
thủ tục cấp phép rườm rà, quy trình trả lời thẩm tra không thống nhất của các
cơ quan cấp phép khiến doanh nghiệp phải chờ đợi trong thời gian rất lâu đôi
khi mất cả cơ hội kinh doanh. Ngoài ra, chính sách miễn thuế thực hiện không
thống nhất giữa các địa phương cũng tạo ra khó khăn đáng kể cho doanh
nghiệp trong việc lập kế hoạch sản xuất, kinh doanh…Điều này khiến cho
các nhà đầu tư quan ngại khi so sánh với các quốc gia cạnh tranh khác, Việt
Nam được đánh giá là kém bất lợi hơn về gánh nặng thủ tục hành chính, về
các quy định về chi phí không chính thức gia tăng hay về sự chồng chéo trong
quy định của các luật đối với các doanh nghiệp nước ngoài đầu tư vào Việt
Nam.
III.

BÀI HỌC VÀ GIẢI PHÁP

1. Bài học đầu tư vào Việt Nam của Pepsi.
Trước sự vận động thay đổi của môi trường pháp luật Việt Nam, Pepsi đã
có những thay đổi chiến lược kinh doanh kịp thời, linh động, điển hình là việc
thay đổi hình thức đầu tư. Giai đoạn đầu thâm nhập thị trường Việt Nam do
những hạn chế của pháp luật đối với doanh nghiệp đầu tư nước ngoài, Pepsi
thực hiện đầu tư dưới hình thức công ty liên doanh. Sau đó, năm 2003, khi
luật pháp đã cho phép doanh nghiệp có vốn đầu tư 100% nước ngoài hoạt
động tại thị trường Việt Nam, Pepsi đã mua lại 3% cổ phần của Việt Nam và
21


trở thành doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. Đây là “bước đi” sáng suốt
của Pepsi bởi trong giai đoạn đầu cấp phép cho các doanh nghiệp FDI hoạt
động, Việt Nam có rất nhiều chính sách ưu đãi, khuyến khích đối với loại hình
doanh nghiệp này, trong đó có Pepsi.
2. Giải pháp cho Pepsi trong môi trường kinh doanh Việt Nam.
2.1.Về phía Chính phủ Việt Nam.


Do các chính sách của Chính phủ luôn thay đổi nên Pepsi nói riêng và

các doanh nghiệp FDI nói chung không thể lập được kế hoạch phát triển dài
hạn. Vì vậy, chính phủ cần cân nhắc sao cho có sự ổn định nhất định trong hệ
thống chính sách của mình.


Nên có sự lắng nghe ý kiến của các nhà nghiên cứu có chuyên môn và

đặc biệt là những chủ thể là các đối tượng liên quan đến vấn đề điều chỉnh
trong luật.


Những quyết định điều chỉnh cần phải được xem xét trên một chiến

lược phát triển tổng thể.


Cần có các chiến lược bảo vệ quyền lợi của doanh nghiệp nước ngoài

như: chống bán phá giá, hai giá, làm hàng giả, hàng nhái, kém chất lượng,...


Khi có những quyết định, chính sách hay thay đổi về luật pháp cần kịp

thời phổ biến đến các doanh nghiệp, hỗ trợ doanh nghiệp trong tìm hiểu luật
mới, và cho các doanh nghiệp “đủ” thời gian “thích ứng” với những thay đổi
mới.
2.2.Về phía công ty PepsiCo Việt Nam


Cần có những ý kiến kịp thời trình lên chính phủ với những vấn đề

công ty bị ảnh hưởng với tư cách là người trong cuộc để chính phủ có những
xem xét điều chỉnh hợp lý.


Thiết lập những chiến lược phát triển lâu dài nhưng có độ linh hoạt cao

vì để đáp ứng được thực tế là PepsiCo đang kinh doanh tại một môi trường
kinh tế cũng như luật pháp Việt Nam – một môi trường vẫn đang trên đường
hoàn thiện nên chưa có sự ổn định.


Có tổ pháp lý riêng đảm bảo cập nhật đầy đủ, chính xác những thông

tin pháp luật thông qua các phương tiện truyền thông.
22


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×