Tải bản đầy đủ

Tìm hiểu về hoạt động gia công quốc tế đối với ngành may mặc tại việt nam hiện nay

MỤC LỤC

1


LỜI MỞ ĐẦU
Ngành Dệt may là một ngành có truyền thông từ lâu ở Việt Nam.
Đây là một ngành quan trọng trong nền kinh tế của nước ta vì nó
phục vụ nhu cầu thiết yếu của con người, giải quyết được nhiêu việc
làm cho xã hội. Dệt may Việt Nam đã trở thành một mắt xích trong
chuỗi giá trị toàn cầu ngành dệt may nhưng mới chỉ dừng lại ở khâu
gia công, đặt mình vào vị trí đấy của chuỗi giá trị toàn cầu. Chính vì
thế khi Việt Nam thâm nhập ngày càng sâu vào thị trường thế giới,
sản phẩm dệt may của Việt Nam dù được xuất đi rất nhiều nơi và
Việt Nam có tên trong top 10 nước xuất khẩu dệt may lớn nhất thế
giới nhưng giá trị thu về lại rất thấp.Đứng trước tình hình đó, các
doanh nghiệp dệt may Việt Nam cần định hướng phát triển trong
tương lai như thế nào? Tiếp tục xuất khẩu hàng gia công quốc tế hay
cần tìm con đường mới để thoát khỏi kiếp gia công lâu nay ?
Để tìm hiểu rõ hơn về vấn đề gia công quốc tế nói chung và gia
công


may

mặc



Việt Nam nói riêng, nhóm 6 mình chọn đề tài thảo luận: “ Tìm hiểu
về hoạt động gia công quốc tế đối với ngành may mặc tại Việt Nam
hiện nay”. Để hoàn thành bài thảo luận, nhóm 6 đã nhận được sự
giảng dạy và chỉnh sửa bài nhiệt tình của Thầy Vũ Anh Tuấn. Mặc dù
có nhiều cố gắng song bài không thể tránh được những sai sót,
chúng em rất mong có thêm sự đóng góp của thầy giáo để bài thảo
luận được hoàn chỉnh.

2


I, LÝ THUYẾT CHUNG VỀ GIA CÔNG QUỐC TẾ.
1,KHÁI NIỆM, ĐẶC ĐIỂM .
Gia công quốc tế(GCQT) là phương thức gia công quốc tế trogn
đó bên đặt gia công nước ngoài cung cấp máy móc, thiết bị, nguyên
liệu, phụ kiện hoặc bán thành phẩm để bên nhận gia công trong
nước tiến hành tôt chức quá trình sản xuất thành phẩm theo yêu cầu
của bên đặt gia công.Toàn bộ sản phẩm làm ra bên nhận gia công sẽ
giao lại cho bên đặt gia công để nhận về 1 khoản thù lao theo thỏa
thuận.Gia công quốc tế là hình thức gia công thương mại mà bên gia
công hoặc bên đặt gia công là thương nhân nước ngoài.
2, TÁC DỤNG CỦA PHƯƠNG THỨC GIA CÔNG QUỐC TẾ.
 Tác dụng với bên đặt gia công
 Hạ thấp giá thành sản phẩm, do đó làm tăng sức mạnh cạnh tranh

trên thị trường quốc tế

 Có thể điều chỉnh cơ cấu nghành nghề ở nước sở tại
 Tác dụng với bên gia công
 Giảm tải dư thừa lao động hay thất nghiệp,phát triển nguồn nhân

lực, tăng thu nhập
 Phát triển nguồn lao động, tạo cơ hội việc làm và phát triển kinh tế


Thu hút sự đầu tư kĩ thuật hiện đại và kinh nghiệm quản lý tiên tiến
của nước ngoài, thúc đẩy kinh tế hướng xuất khẩu phát triển
3, CÁC LOẠI GIA CÔNG QUỐC TẾ VÀ HỢP ĐỒNG GIA CÔNG
QUỐC TẾ
 Các loại gia công quốc tế
 Bên đặt gia công theo nguyên liệu hoặc bán thành phẩm cho bên

nhận gia công và sau thời gian sản xuất, chế tạo, sẽ thu hồi thành
phẩm, khi đó quyền sở hữu nguyên liệu chuyển từ bên đặt gia công
sang bên nhận gia công
 Bên đặt gia công bán đứt nguyên liệu cho bên nhận gia công và sau
thời gian sản xuất sẽ thu hồi thành

phẩm, khi đó quyền sở hữu

nguyên liệu chuyển từ bên đặt gia công sang bên nhận gia công

3


 Ngoài ra còn có hình thức kết hợp, bên đặt gia công chỉ giao những

nguyên liệu chính còn bên nhận gia công cung cấp nguyên vật liệu
phụ
 Theo giá thưc tế: bên đặt gia công tính toán toàn bộ chi phí thực thế

của mình với tiền thù lao gia công cho bên nhận gia công
 Theo giá thị trường: xác định giá định mức cho mỗi sản phẩm, bao
gồm chi phí định mức và thù lao định mức
 Hợp đồng gia công quốc tế
 Bản chất là hợp đồng bán sức lao động( nhà máy kí kết với nước

ngoài, công ty xuất nhập khẩu kí kêt hợp đồng…)
 Những nội dung cơ bản của hợp đồng:
o

Mục đích của hợp đồng

o

Quy định về thành phẩm

o

Quy định về nguyên vật liệu

o

Quy định về giá cả gia công

o

Quy định về nghiệm thu

o

Quy định về thanh toán

o

Quy định về giao hàng

o

Quy định về vận chuyển

o

Quy định về bảo hiểm.

 Những vấn đề cần lưu ý khi áp dụng phương thức gia công quốc tế
 Khi phát triển nghiệp vụ thương mại quốc tế phải có quan điểm toàn

cục, chú ý xử lý mối quan hệ xuất khẩu thông thường
 Xác định hợp lý chi phí lao động, tăng cường hạch toán kinh tế, xem

xét chi phí lao động phù hợp, tham khảo mức chi phí lao động của thị
trường nước ngoài để cân nhắc hiệu quả
 Dần dần mở rộng tỷ trọng sử dụng nguyên liệu, linh kiện nước mình

sản xuất ở những khu vực có điều kiện, dần quá độ sang tự kinh
doanh xuất khẩu

4


 Nâng cao năng lực của doanh nghiệp, nâng cao năng suất lao động,

tăng khả năng cạnh tranh về mặt chất lượng, cần kế hoạch nâng cao
trình độ kĩ thuẩn của nghiệp vụ gia công.

5


II, CƠ SỞ THỰC TIỄN
1, THỰC TRẠNG GIA CÔNG QUỐC TẾ NGÀNH DỆT MAY VIỆT
NAM
a, Thực trạng chung
Hiện nay, hoạt động gia công quốc tế đang là hoạt động chính
trong ngành dệt may của Việt Nam trong nhiều năm qua. Từ nhiều
năm qua, hàng dệt may của Việt Nam xuất khẩu chủ yếu theo hình
thức gia công nước ngoài (xuất gia công) và xuất hàng sản xuất từ
nguyên liệu nhập khẩu (xuất sản xuất xuất khẩu).
Dệt may là một trong những ngành xuất khẩu mũi nhọn, đóng
góp khoảng 16% trong tỷ trọng xuất khẩu của cả nước, trở thành
một ngành xuất khẩu chủ lực của cả nước. Năm 2017, kim ngạch
xuất khẩu dệt may của Việt Nam đạt 31 tỷ USD, Nếu trừ đi lượng
nguyên phụ liệu nhập khẩu phục vụ làm hàng nội địa, thì xuất siêu
15,5 tỷ USD – mức cao nhất từ trước tới nay.
Năm 2018, ngành dệt may đặt mục tiêu xuất khẩu đạt 33,5 tỷ
USD; tập trung đầu tư tái cơ cấu nội bộ ngành, áp dụng công nghệ
tiên tiến để tự cân đối dần các khâu, nâng cao năng suất, chất lượng
sản phẩm; chuyển dịch sản xuất theo vùng lãnh thổ; tăng cường hợp
tác, liên doanh, liên kết giữa doanh nghiệp dệt may trong nước với
nhau, doanh nghiệp trong nước với đầu tư nước ngoài; khai thác thị
trường truyền thống song song khai thác thị trường mới; đẩy mạnh
hàng FOB, ODM,…
Ngành dệt may phát triển, đang nằm trong top 5 nước xuất khẩu
nhiều nhất trong ngành dệt may thế giới. Nhiều công ty Ấn Độ đã
đầu tư vào lĩnh vực dệt may Việt Nam. Ngược lại, các DN dệt may
Việt Nam có thể phát triển đầu tư sản xuất hàng may sẵn ngay tại

6


Ấn Độ để cung ứng cho thị trường 1,3 tỷ dân nước này. Điểm nghẽn
của ngành dệt may Việt Nam là nguyên phụ liệu.
Xuất khẩu hàng may mặc của Việt Nam thời gian tới sẽ gặp một
số khó khăn, do Mỹ đang thắt chặt hơn các quy định, quy chuẩn về
an toàn các sản phẩm nhập khẩu nhằm giảm thâm hụt thương mại.
Cùng với đó, mức độ cạnh tranh giữa các nhà cung cấp hàng may
mặc vào thị trường Mỹ cũng sẽ gay gắt hơn, không chỉ về chất lượng
mà còn về khả năng giao hàng, đáp ứng đơn hàng cũng như việc
triển khai các hoạt động sản xuất mang tính bền vững…
Lĩnh vực sản xuất sử dụng nhiều lao động như dệt may thì nguồn
nhân lực chất lượng cao giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong việc
nâng cao năng suất, chất lượng. Nguồn nhân lực chất lượng cao giúp
doanh nghiệp khai thác được các khâu có giá trị gia tăng cao trong
chuỗi giá trị toàn cầu của ngành dệt may. Nhưng thực trạng hiện nay
có đến 75% lao động trong lĩnh vực này chưa qua đào tạo hoặc chỉ
được đào tạo dưới 3 tháng. Cả nước hiện có 19 trường Cao đẳng, 19
trường Đại học và 3 Viện có chương trình đào tạo liên quan chuyên
ngành công nghệ dệt, may hoặc thiết kế thời trang.
Thúc đẩy xuất khẩu hàng dệt may vào thị trường Australia trong
bối cảnh CPTPP. Theo cam kết trong Hiệp định CPTPP, Úc sẽ giảm
thuế nhập khẩu về 5% ngay trong năm đầu tiên và về 0% từ năm thứ
tư kể từ ngày có hiệu lực đối với hầu hết sản phẩm may mặc thuộc
nhóm HS 6203, HS 6204 và HS6206. Hiện nay, Úc có xu hướng
chuyển sang nhập khẩu và đặt gia công tại Việt Nam do giá nhân
công rẻ hơn với Trung Quốc kèm theo mức thuế quan ưu đãi. Việt
Nam phải đối mặt sự cạnh tranh lớn mạnh đền từ “gã khổng lồ”
Trung Quốc khi thị phần may mặc của nước này tại Úc lên tới 60%.
Nguyên nhân chính là, các doanh nghiệp Trung Quốc tiếp cận thị

7


trường Úc sớm hơn doanh nghiệp Việt Nam. Ngoài Trung Quốc, Ấn Độ
cũng đang tích cực thâm nhập vào thị trường này.
Việc tham gia CPTPP sẽ tạo lợi thế vượt trội cho Việt Nam mở
rộng và khai thác thị trường với kim ngạch xuất khẩu dự kiến đạt 4,8
tỷ USD trong năm 2018 (tăng trưởng 10,5% so với năm 2017). Các
ngành như dệt may, da giày và sử dụng nhiều lao động của Việt Nam
vẫn được lợi.
b. Một số thực trạng xảy ra trong ngành
 Gian dối gia công: Trong quá trình gia công xuất hiện những sản

phẩm “ca ba” làm thêm ngoài luồng gây tổn hại không nhỏ tới sản
xuất kinh doanh của ngành dệt may. Dù không phải là hàng giả,
hàng nhái nhưng những sản phẩm đó đôi khi đè nén cả hàng chính,
gây ảnh hưởng không nhỏ tới uy tín gia công của nền kinh tế lao
động rẻ như Việt Nam.
 Sâu nở thời tự do: Trong thời đại công nghệ phát triển như hiện nay
thì chẳng khó khăn gì để bắt chước, copy ra những sản phẩm giả ngỡ
như thật. Đây chính là nguyên nhân dẫn đến việc nhiều nhà thầu
phụ gia công thừa ra số lượng hàng đặt từ các hãng lớn để tuồn ra
ngoài kiếm lời. Bỏ mặc những thiệt hại mà công ty chính ngạch phải
hứng chịu từ việc hàng hóa “ca ba” phá giá trên thị trường.
 Tuột mất quyền chủ động: Chính hãng phải sẵn sàng từ bỏ quyền
kiểm soát trong vấn đề sở hữu trí tuệ, bí kíp nhà nghề do vấn nạn ca
ba khiến cho nhiều nhà đầu tư nước ngoài nản lòng.
c, Thuận lợi

 Ngành dệt may Việt Nam được đánh giá là ngành có lợi thế so sánh
cao nhờ các yếu tố:
 Vị trí địa lý là điều kiện giao lưu hàng hóa. Khí hậu thuận lợi cũng

góp phần cho các nghề trồng dâu, nuôi tằm, dệt lụa, cho ra đời các
sản phẩm chất lượng cao.

8


 Khả năng đổi mới thiết bị công nghệ: trang thiết bị ngành may đã có

những thay đổi đáng kể với các thiết bị công nghệ mới của các nước
tiên tiến, có thể sản xuất các mặt hàng chất lượng quốc tế.
 Các chính sách hỗ trợ của chính phủ: ngành dệt may với đặc điểm có

hàm lượng lao động lớn và tỉ lệ sản phẩm sản xuất cao, được xếp
vào lĩnh vực khuyến khích đầu tư phát triển.
 Khả năng cạnh tranh: xuất phát từ những lợi thế trên, mặc dù sản

phẩm dệt may Việt Nam hầu như chưa được biết đến trên thị trường
thế giới nhưng sản phẩm may xuất khẩu Việt Nam được đánh giá cao
ở nhiều phương diện. Chất lượng sản phẩm tốt và ổn định, thời gian
giao hàng được xem vào loại tốt nhất so với các nước châu Á.
 Cuộc chiến thượng mại Mỹ - Trung diễn ra đem lại cơ hội dịch chuyển

đơn hàng từ Trung Quốc sang Việt Nam: Hàng dệt may Việt Nam
đứng thứ 2 thị phần nhập khẩu tại Mỹ, chỉ sau Trung Quốc. Vì vậy,
ngành dệt may Việt nam được kì vọng sẽ hưởng lợi từ sự dịch chuyển
đơn hàng khi hàng dệt may Trung Quốc đang bị áp thuế 25%. Việt
Nam sẽ có lợi thế lớn nhờ chi phí nhân công giá rẻ và năng lực sản
xuất mạnh.
 Từ 2019, Việt Nam bắt đầu thực thi nhiều hiệp định thương mại tự do
(FTA) thế hệ mới như Hiệp định Đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên
Thái Bình Dương (CPTPP), Hiệp định thương mại tự do Việt Nam - EU
(EVFTA),… sẽ giúp ngành dệt may có thêm nhiều cơ hội để tăng
trưởng xuất khẩu. Song, bên cạnh các cơ hội được hưởng ưu đãi về
thuế quan, đa dạng hóa thị trường và sản phẩm xuất khẩu, các DN
cũng phải đối diện với nhiều thách thức khi các sản phẩm hàng hóa
từ các nước nội khối tràn vào ngày càng nhiều, các đối thủ cạnh
tranh có tiềm lực về tài chính, công nghệ, trình độ quản trị nhân lực,

d, Khó khăn
9


 Đại dịch COVID -19 đang làm thay đổi cả chuỗi sản xuất của ngành

dệt may toàn cầu. Những nền công nghiệp gia công và xuất khẩu dệt
may hàng đầu thế giới như Ấn Độ, Bangladesh hay Việt Nam đang
phải chịu những tổn thương liên tiếp khi nguồn cung nguyên phụ liệu
lớn nhất thế giới là Trung Quốc và nguồn cầu lớn nhất thế giới là
châu Âu và Mỹ đang nằm trong tình trạng đóng cửa. Tại Việt Nam,
theo báo cáo của Hiệp hội Dệt may, 100% doanh nghiệp sản xuất
hàng may mặc đều bị ảnh hưởng do đại dịch bệnh COVID-19, trong
đó khoảng 70% doanh nghiệp đã cắt giảm nhân sự trong tháng 3 và
có thể 80% doanh nghiệp sẽ phải cắt giảm nhân sự trong tháng 4 và
tháng 5.
 Các mặt hàng dệt may của Việt Nam phải cạnh tranh trực diện với
các sản phẩm phổ thông khác từ các nước có lợi thế về gia công
nhưng rất mạnh về nguyên phụ liệu như: Trung Quốc, Pakistan,
Srilanca, Ấn Độ...
 Nguyên vật liệu ngành vẫn còn phải nhập khẩu và ngành dệt có tốc
độ tăng trưởng chậm hơn ngành may nên ngành may không có sự
chủ động trong sản xuất kinh doanh. Tình trạng này còn làm ảnh
hưởng tới các đơn đặt hàng về thời gian, chất lượng và hiệu quả kinh
tế tỷ lệ nội địa hóa các sản phẩm ngành may còn thấp và hiệu quả
kinh tế chưa cao.
 Giá lao động rẻ nhưng chất lượng lao động không cao, đặc biệt lao
động có trình độ chuyên môn thấp chiếm 60% nên nâng suất lao
động thấp, so với các nước trong khu vực thì năng suất lao động của
ngành dệt may nước ta chỉ bằng 2/3. Lương thấp gây ra tình trạng di
chuyển lao động trong cùng ngành hoặc ra khỏi ngành làm cho việc
đào tạo chuyên môn gặp nhiều khó khăn. Ngoài ra công ty có khả
năng xuất khẩu hàng may mặc và gia công là chủ yếu chứ không
thực hiện xuất khẩu trực tiếp.
 Khả năng tự thiết kế còn yếu, phần lớn là làm theo mẫu mã đặt hàng
của phía nước ngoài để xuất khẩu

10


 Việc xá bỏ hạn ngạch cũng vô hình chung làm cho các doanh nghiệp

Việt Nam phải đối đầu với Trung Quốc, Ấn độ trong việc xuất khẩu
hàng hóa sang các nước WTO
 Do sức ép của quá trình hội nhập tạo nên một hiện tượng tâm lý, vừa

bất an vừa buông xuôi. Bất an do chúng ta không biết nhiều về các
đối thủ cạnh tranh, vì việc kinh doanh quốc tế không được chú trọng
 Hiện nay các chính sách hỗ trợ của nhà nước không còn, các công ty
dệt may phải tự mình đối mặt với các biến động của thì trường trong
và ngoài nước.
 So với cơ hội thì trong xu hướng toàn cầu hoá và tự do hoá thương
mại, gia công quốc tế ngành dệt may Việt Nam cũng gặp không ít
thách thức. Khi mà hoạt động gia công may mặc Việt Nam đang phải
đương đầu với những đối thủ trên sức mình, Việt Nam mất lợi thế
cạnh tranh so với các nước xuất khẩu (cùng trong Top 4) là Ấn Độ và
Banglades hay cả nước láng giềng Trung Quốc.
 Doanh nghiệp dệt may Việt Nam vừa nhỏ về quy mô, vừa thiếu tiềm
lực tài chính, công nghệ và kỹ thuật, nên năng suất lao động bình
quân thấp so với các nước trong khu vực.
 Với thách thức từ cuộc chiến thương mại Mỹ - Trung, đó là khi Mỹ áp

thuế cao đối với hàng dệt may Trung Quốc sẽ xuất hiện xu hướng
chuyển tải bất hợp pháp, gian lận xuất xứ của các doanh nghiệp
Trung Quốc sang Việt Nam. Từ đó càng khiến cho gia công dệt may
Việt Nam càng đối diện với thách thức lớn hơn trong xây dựng
thương hiệu và uy tín tại các thị trường lớn.
 Ngoài ra, nếu không kiểm soát tốt những thiết bị, công nghệ lạc hậu

Trung Quốc có thể di chuyển sang Việt Nam. Từ đó càng khiến cho sự
đuổi kịp về công nghệ tiên tiến so với các đối thủ gia công dệt may
khác càng chậm chạp và có thể làm mất hẳn lợi thế.
 Căng thẳng thương mại Mỹ-Trung cũng ảnh hưởng tới tỷ giá giữa các

đồng tiền, giá hàng hóa gia công tại Việt Nam cao hơn so với một số
nước trong khu vực
11


 Trong quá khứ, lao động trong lĩnh vực dệt may của Việt Nam từng

được đánh giá cao ở ba điểm là sự khéo léo, chi phí và số lượng.
Nhưng hiện nay, nhiều công đoạn đòi hỏi sự khéo léo thì máy móc có
thể làm được, giá lao động Việt Nam đã không còn rẻ trong so sánh
với một số nước khác, lực lượng lao động bổ sung giảm do dân số già
đi. Đây làm một trong những điểm đáng quan ngại.Cùng với đó là
tình trạng người lao động thường xuyên nhảy việc, gây xáo trộn lực
lượng lao động. Tình trạng hay nhảy việc làm cho thách thức về đào
tạo và bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn cho nhân công càng
lớn hơn.
2. LIÊN HỆ TẠI CÔNG TY TNHH SẢN XUẤT THƯƠNG MẠI
DỊCH VỤ T.V.S SÀI GÒN
Mã số thuế: 0312601077
Địa chỉ: 45 Đường TTN08, Khu phố 5, Phường Tân Thới Nhất,
Quận 12, Hồ Chí Minh
Được thành lập 27/12/2013 và chính thức hoạt động từ
1/1/2014 hiện giờ có 250 công nhân, chuyên may gia công và FOB
các loại hàng đồng phục và thời trang cho thị trường Nhật- Hàn
Quốc- Mỹ.
Ngành nghề kinh doanh chủ yếu của công ty là: may xuất khẩu
theo đơn đặt hàng, may xuất khẩu thời trang nữ. T.V.S Sài Gòn là
đơn vị chuyên May gia công & FOB các mặt hàng xuất khẩu bao
gồm: Quần áo đồng phục cao cấp: bệnh viện, nhà máy, văn phòng,
nhà hàng,.. Quần áo thời trang đa dạng: quần short, áo jackets, áo
sơ mi, áo coat,.. Các nhãn hàng đang gia công: Adabat, Rosasen,
EnsuiteVictorian, Duskin, Munsingwear,.
Hoạt động chi tiết đối với mặt hàng được đặt gia công toàn bộ
sẽ bao gồm: bên công ty đặt gia công khi đặt hàng sẽ gửi kiểu mẫu ,
màu sắc, yêu cầu chi tiết đối với từng mặt hàng ( đối với đồng phục
của bệnh viện thì có yêu cầu riêng về áo y tá, áo bác sĩ, quần y tá và
12


bác sĩ ) cho công ty. Rồi sau đó bên T.V.S Sài Gòn sẽ thực hiện đơn
hàng đó với nguyên phụ liệu tất cả từ bên mình và sẽ xuất khẩu sản
phẩm cuối cùng.
Hoạt động đối với việc gia công cho các nhãn hàng Adabat,
Rosasen... thì bên T.V.S chỉ thuần sản xuất với đội ngũ nhân viên
nhân viên của mình, còn từ nguyên phụ liệu để sản xuất thì do bên
đặt gia công cung cấp và dĩ nhiên kiểu dáng, mẫu mã, chất lượng,
yêu cầu vẫn là do bên đặt gia công đề ra phù hợp với tiêu chuẩn của
nhãn hàng. Khâu cuối cùng của quy trình sản xuất của công ty sẽ là
kiểm tra chất lượng rồi ủi sản phẩm. Sau khi hoàn thành đơn hàng
bên T.V.S sẽ giao hàng chủ yếu với điều kiện FOB.
Công ty được biết đến rộng rãi với tiêu chí Chất Lượng Cao –
Giá cả Cạnh Tranh – Giao Hàng Đúng Thời Gian nên rất uy tín trên thị
trường nội địa và quốc tế nói chung.
HỢP ĐỒNG GIA CÔNG ĐẶT HÀNG
(Số: 01/HĐGCĐH)
 Căn cứ luật thương mại số 36/2015/QH11 ngày 14/06/2005 và luật

dân sự số 33/2015/QH11 ngày 14/06/2005 của Quốc hội nước
CHXHCN Việt Nam
 Căn cứ vào khả năng và nhu cầu SXKD của hai bên
Hôm nay ngày 04 tháng 07 năm 2020, chúng tôi gồm có:
Bên A( bên đặt hàng): Công ty TNHH ShinHwa


Địa

chỉ:

220-5-216 namsung-dong

happo-gu

masan-








shi, Gyeongsangnam-do
Email: ltdshinhwa@gmail.com
Số điện thoại: 82- 55- 2343321
Fax: 82- 55- 2343321
Mã số thuế: 0213270206
Tài khoản số: 030214562
Do ông: Lee Jong Suk giữ chức vụ phó giám đốc công ty đại diện
Bên B(bên sản xuất gia công): Công ty TNHH Sản Xuất
Thương Mại Dịch Vụ T.V.S Sài Gòn

13




Địa chỉ: 45 Đường TTN08, Khu phố 5, Phường Tân Thới Nhất, Quận








12, Hồ Chí Minh
Email: letuan.tvssaigon@gmail.com
Số điện thoại: (028) 62558586
Fax: (028) 62558586
Mã số thuế: 0312601077
Tài khoản số: 21510001230255
Do ông: Lê Tuấn giữ chức giám đốc công ty đại diện

14


Hai bên thống nhất thỏa thuận với nội dung hợp đồng như sau:
Điều 1: Đối tương của hợp đồng
Tên sản phẩm hàng hóa cần sản xuất:


Hàng hóa bao gồm đồng phục cho công nhân nhà máy sản xuất của
công ty trách nhiệm hữu hạn ShinHwa, bao gồm:



Hàng hóa

Mã HS

Áo bảo hộ
Quần bảo hộ
tổng

61130090
62103040

Số lượng
Giá FOB
(chiếc)
(USD)
1500
85
1500
100
277,500

Số
tiền( USD)
127,500
150,000

Phẩm chất hàng hóa: các lớp vải phải có bề mặt nhẵn, không bị xù
hay sổ chỉ. Đồ bảo hộ cần đúng tiêu chuẩn, rộng rãi, thoáng mát,
phù hợp với tính chất làm việc trong nhà máy của công nhân.
Điều 2: Nguyên liệu chính và phụ:



Tên nguyên liệu: Vải kaki. Số lượng 10,000m. Chất lượng: vải kaki

Hàn Quốc dày dặn, có độ cứng, dày nhưng vẫn co dãn
Tên phụ liệu: chỉ may : 20,000 cuộn chỉ to
Dây kéo: 3000 dây kéo áo, 3000 dây kéo quần
− Thời gian giao: 3 ngày kể từ ngày kí kết hợp đồng. Tại cảng Hải


Phòng, Việt Nam
− Trách nhiệm bảo quản: Bên B chịu mọi trách nhiệm về số lượng, chất
lượng các nguyên liệu do bên A cung ứng và phải sử dụng đúng loại
nguyên liệu đã giao vào sản xuất sản phẩm
Điều 3: Nghĩa vụ của bên A và bên B
Bên A có nghĩa vụ:


Cung cấp nguyên vật liệu theo đúng số lượng, chất lượng, thời hạn
và địa điểm cho bên B, trừ trường hợp có thỏa thuận khác; cung cấp




các giấy tờ cần thiết liên quan đến gia công
Chỉ dẫn cho bên B thực hiện hợp đồng
Chịu trách nhiệm đối với tính hợp pháp về quyền sở hữu trí tuệ của
hàng hóa gia công, nguyên liệu, vật liệu, máy móc, thiết bị dung để
gia công chuyển cho bên B
Bên B có nghĩa vụ:
15





Bảo quản nguyên vật liệu do bên A cung cấp
Báo cho bên A biết để đổi nguyên vật liệu khác, nếu nguyên vật liệu

không đảm bảo chất lượng;
− Giao sản phẩm cho bên A đúng số lượng, chất lượng, phương thức,
thời hạn và địa điểm đã thỏa thuận
Điều 4: Thời gian sản xuất và giao sản phẩm:


Bên B bắt đầu sản xuất từ ngày: sau 7 ngày bên A giao các nguyên



vật liệu
Trong quá trình sản xuất bên A có quyền kiểm tra và yêu cầu B sản
xuất theo đúng mẫu sản phẩm đa thỏa thuận bắt đầu từ ngày đưa

nguyên liệu vào sản xuất
− Thời gian giao nhận sản phẩm: sau 37 ngày kể từ ngày bên B nhận
được nguyên vật liệu từ A
− Bên B giao hàng cho A trong vòng 10 ngày từ khi phát hành L/C
− Cảng bốc hàng: cảng Hải Phòng, Việt Nam
− Cảng dỡ hàng: cảng Busan, Hàn Quốc
Điều 5: Thanh toán:


Thanh toán bằng L/C không hủy ngang trả ngay 100% trị giá hóa đơn






cho người bán
Người hưởng lợi: Công ty trách nhiệm hữu hạn ShinHwa
Ngân hàng mở L/C: ngân hàng Hàn Quốc
Tài khoản số: 030214562
Địa chỉ: 312-4-112- namdong happo-gu masan-shi, Gyeongsangnam-

do
− Người mở L/C: ông Lee Jong Suk
Điều 6: Trách nhiệm do vi phạm hợp đồng


Vi phạm về chất lượng: bên B phải làm lại, giảm giá, sửa chữa, bồi

thường nguyên vật liệu,...
− vi phạm số lượng: nguyên vật liệu hư hỏng phải bồi thường nguyên
vật liệu theo giá hiện thời
− vi phạm nghĩa vụ thanh toán: Bồi thường theo tỉ lệ lãi suất của ngân
hàng…

16


Điều 7: Thủ tục giải quyết tranh chấp hợp đồng:
Hai bên cần phải chủ động thông báo cho nhau biết tiến độ
thực hiện hợp đồng, nếu có vấn đề bất lợi phát sinh các bên kịp thời
báo cho nhau biết và chủ động bàn bạc giải quyết trên cơ sở thương
lượng đảm bảo hai bên cùng có lợi
trường hợp có vấn đề tranh chấp không tự thương lượng được thì
mới khiếu nại ra Tòa án
Điều 8: Các thỏa thuận khác:
Điều kiện cơ sở giao hàng trong hợp đồng được dẫn chiếu theo
Incoterm 2010 các điều khoản đảm bảo hợp đồng được quy định
trong luật thương mại 2005
Điều 9: Hiệu lực của hợp đồng


Hợp đồng có hiệu lực sau 7 ngày kể từ ngày bên B nhận được các

nguyên vật liệu từ bên A
− Hợp đồng được thành lập 02 bản, mỗi bên giữ 1 bản có giá trị pháp
lý như nhau
ĐAỊ DIỆN BÊN A

ĐẠI DIỆN BÊN B

17


III, GIẢI PHÁP ĐỂ PHÁT TRIỂN HOẠT ĐỘNG GIA CÔNG
QUỐC TẾ CHO NGÀNH DỆT MAY VIỆT NAM
1. NÊU PHƯƠNG HƯỚNG PHÁT TRIỂN CHO NGÀNH TRONG
NHỮNG NĂM TỚI
 Tập trung đầu tư chiều sâu, nâng cao năng lực sản xuất, năng suất

lao động, xây dựng phát triển mạnh thương hiệu, nâng cao chất
lượng sản phẩm của các dự án đã đầu tư. Đồng thời kêu gọi đầu tư
dự án may sản phẩm chất lượng cao. Nâng cao giá trị xuất khẩu
hàng FOB nhằm giảm tỷ lệ gia công đơn giản, tăng giá trị xuất khẩu.
Đồng thời tập trungvào thiết kế mẫu mã, ưu tiên phát triển hàng hóa
thương hiệu Việt:
 Thứ nhất, các DN trong ngành phải chung tay thực hiện những giải
pháp về đầu tư, thị trường, đào tạo phát triển nguồn nhân lực, áp
dụng khoa học công nghệ, giải quyết những khâu yếu, bất cập của
ngành.
 Thứ hai, Hiệp hội Dệt may Việt Nam cần làm tốt hơn nữa vai trò là
cầu nối giữa DN hội viên với thị trường trong và ngoài nước thông
qua các hoạt động xúc tiến thương mại, các hoạt động hợp tác quốc
tế…, nhất là làm cầu nối giữa các DN và các cơ quan quản lý nhà
nước trong việc tiếp nhận, phản ánh của DN để nghiên cứu, kiến
nghị, đề xuất tháo gỡ những khó khăn vướng mắc cho doanh nghiệp.
 Thứ ba, Nhà nước tiếp tục cải cách thủ tục hành chính, kiểm tra
chuyên ngành, tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp, đảm bảo môi
trường đầu tư kinh doanh thông thoáng cho doanh nghiệp. Tạo điều
kiện thu hút và cấp phép các dự án đầu tư lớn, có trình độ thiết bị
công nghệ tiên tiến và quy trình xử lý nước thải đảm bảo thân thiện
với môi trường vào khâu dệt nhuộm để giải quyết điểm “nghẽn’ của
ngành và đáp ứng yêu cầu xuất xứ của các Hiệp định thương mại tự
do như CPTPP và EVFTA… Đồng thời, cần có chính sách phát triển
trong 10-15 năm tới để tận dụng hiệp định này. Hiện nay, một số địa
phương quay lại với dệt may, đặc biệt là dệt nhuộm, nhưng nhiều dự
án của các nhà đầu tư danh tiếng, có đầy đủ yêu cầu thì lại không
18


được cấp phép. Chính phủ cần quy hoạch các khu công nghiệp, xử lý
nước thải để tạo điều kiện cho các doanh nghiệp. Các địa phương
liền kề cần phối hợp để địa điểm các khu công nghiệp thu hút nhiều
lao động không cùng đặt tại các vùng giáp ranh.Nhà nước và DN
cùng đầu tư mạnh mẽ hơn cho việc phát triển khoa học công nghệ.
Cụ thể, xây dựng nền tảng thiết kế 3D để đáp ứng được diễn biến
nhanh của thị trường; Xây dựng - đào tạo nguồn nhân lực có chất
lượng, tầm nhìn thời trang, ngoại ngữ để cập nhật xu thế thời trang
thế giới. Đồng thời, DN sản xuất phải có ý thức, chịu trách nhiệm đến
cùng cho sản phẩm làm ra để người tiêu dùng yên tâm, tin tưởng.
Bên cạnh đó, nhà nước cần xây dựng các khu công nghiệp có xử lý
nước thải, phải kêu gọi đầu tư nhà máy về sợi - dệt - nhuộm hoàn tất,
cũng như đưa ra giải pháp quyết liệt hơn để phát triển thị trường nội
địa, gắn với Cuộc vận động “Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt
Nam”.

 Thứ tư, Hiệp hội Dệt may Việt Nam và các DN sản xuất phải nâng

cao giá trị chuỗi cung ứng của mình. Việc lách qua các rào cản như
De Minimis chỉ là một biện pháp mang tính tạm thời, vì trong tương
lai, chúng ta còn có tham vọng nâng tầm vị thế xuất khẩu sang
nhiều quốc gia khác, đặc biệt trong bối cảnh thương mại toàn cầu
đang gặp bất ổn, Trung Quốc cũng đang phải gồng mình để giữ vững
vị thế số 1 về xuất khẩu hàng dệt may và may mặc. Nguồn vốn đầu
tư trực tiếp nước ngoài vào các DN dệt may, may mặc hiện nay cần
phải gia tăng vào nguồn nguyên liệu thượng nguồn như sợi, vải, các
khâu cắt may.

 Thứ năm, ngành Dệt may cần hướng tới phát triển bền vững, đáp

ứng yêu cầu của các thị trường lớn trên thế giới, giải pháp về khoa
học - công nghệ nhằm xanh hóa ngành dệt may đóng vai trò quan
trọng trong chiến lược phát triển.

 Cuối cùng ,. Tập trung đầu tư chiều sâu, nâng cao năng lực sản xuất,

năng suất lao động, xây dựng phát triển mạnh thương hiệu, nâng
cao chất lượng sản phẩm của các dự án đã đầu tư. Đồng thời kêu gọi
19


đầu tư dự án may sản phẩm chất lượng cao. Nâng cao giá trị xuất
khẩu hàng FOB nhằm giảm tỷ lệ gia công đơn giản, tăng giá trị xuất
khẩu. Đồng thời tập trungvào thiết kế mẫu mã, ưu tiên phát triển
hàng hóa thương hiệu Việt.
2. ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP ĐỂ PHÁT TRIỂN HOẠT ĐỘNG GIA
CÔNG QUỐC TẾ NGÀNH DỆT MAY VIỆT NAM
a. Nhóm giải pháp đối với các công ty gia công quốc tế
ngành may mặc
Trong thời gian tới có lẽ hoạt động gia công quốc tế ngành may
mặc ở Việt Nam còn tiếp tục được áp dụng. Bởi ngoài lợi ích về kinh
tế, hoạt động gia công còn giải quyết được việc làm cho rất nhiều lao
động cả ở thành phố và nông thôn. Vì vậy, hơn bao giờ hết cần phải
thúc đẩy và không ngừng hoàn thiện hoạt động gia công quốc tế
ngành may mặc để đáp ứng được các yêu cầu của thị trường. Một số
giải pháp được đề xuất với các công ty gia công đó là:
Thứ nhất, Nâng cáo khả năng cạnh tranh trong hoạt động
gia công ngành dệt may bằng cách:
 Đổi mới trang thiết bị: Để vươn lên trong bối cảnh khó khăn, các

doanh nghiệp ngành dệt may Việt Nam lúc này chỉ có cách là đầu tư
đổi mới công nghệ, thiết bị theo hướng hiện đại tiên tiến (công nghệ
4.0), đào tạo nâng cao tay nghề cho nguồn nhân lực để tăng năng
suất lao động.
 Lập kế hoạch, tổ chức dây chuyền gia công hợp lý: Ngoài việc đổi

mới thì cũng cần có một dây chuyền sản xuất hợp lý, hiệu quả. Các
công ty phải lập kế hoạch triệt để hơn để sử dụng và khai thác được
tối đa máy móc, công nghệ giúp tăng năng suất và giảm giá thành
gia công.
 Nâng cao tay nghề cho người lao động và có chế độ đãi ngỗ hợp lý:
Các công ty cần chuẩn bị là nguồn nhân lực có khả năng hấp thụ
thành quả của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0, từng bước tự động
hoá các công đoạn sản xuất
 Tìm kiếm các nguồn có thể cung cấp nguyên phụ liệu uy tín: Hiện thì
các công ty phần lớn vẫn là gia công đơn thuẩn nhưng đôi khi phía
20


đối tác vẫn uỷ thác cho công ty nhập một số nguyên phụ liệu để sản
xuất. Cũng là một cơ hội để công ty có thêm lợi nhuận. Nhưng hơn
hết cần có một nguồn cung cấp ổn định và độ tin cậy cao để chứng
tỏ được uy tín của công ty với khách hàng và từ đó tạo điều kiện để
xúc tiến gia công theo phương thức mua đứt bán đoạn.
Thứ hai, đẩy mạnh hoạt động marketing nghiên cứu và
tiếp cận thị trường:
 Không ngừng mở rộng thị trường xuất khẩu để tìm kiếm khách hàng

đồng thời tăng sự lựa chọn khách hàng. Bởi khi mở rộng thị trường,
khách hàng nhiều hơn cầu tăng thì mới kéo theo cung tăng và giá
cũng tăng lên.
Thứ ba, quan hệ trực tiếp được với các đối tác gia công
 Tức là bỏ qua khâu trung gian và tiếp cận trực tiếp với đối tác nước

ngoài để tăng thêm lợi nhuận khi không phải chia sẻ bớt cho khâu
trung gian. Muốn tiếp cận trực tiếp được thì cần phải:

 Tạo ra được những mặt hàng có mẫu mã, phù hợp với thị trường. Vì

đây chính là cơ sở để các bên nước ngoài đặt gia công căn cứ vào để
đánh giá trình độ sản xuất, chất lượng có đáp ứng được yêu cầu hay
không.
 Mở rộng quan hệ với khách hàng mới.
Thứ tư, Nâng cao tỷ trọng gia công theo phương thức
mua đứt, bán đoạn
 Gia công đơn thuẩn chỉ nên được xem là hoạt động kinh doanh tạm

thời của công ty. Bởi vì, gia công theo phương thức mua đứt, bán
đoạn sẽ giúp nâng cao được lợi nhuận. Đồng thời làm cho công ty
tăng được khả năng thích ứng nhiều hơn, nâng coa trình độ kinh
doanh và tạo tiền đề hướng tới xuất khẩu trực tiếp khi đã tìm được
các nguồn cung cấp nguyên phụ liệu uy tín.
b. Nhóm giải pháp kiến nghị đối với nhà nước
 Nhà nước cần có những chính sách nhằm thúc đẩy các hoạt động gia

công:
 Hỗ trợ các công ty trong đầu tư đổi mới công nghệ, máy móc. Để đầu
tư thì cho đổi mới đòi hỏi một lượng vốn rất lớn. Vì vậy, đôi khi một
21


mình công ty không thể đủ sức để chi trả và cần đến sự hỗ trợ của
nhà nước qua các khoản vay vốn ngân hàng.

 Đào tạo và hỗ trợ đào tạo phát triển nhân lực:nhà nước cần đẩy

mạnh công tác giáo dục và đào tạo, chú trọng đến đào tạo đội ngũ
thiết kế bằng việc đầu tư cho các trường đại học, cao đẳng, trường
nghề đào tạo về lĩnh vực thiết kế thời trang.
 Giúp đỡ các công ty trong việc nghiên cứu thị trường, xúc tiến và
quảng bá sản phẩm. Bộ Thương Mại nên tăng cường tổ chức hoặc
liên hệ cho các công ty dệt may tham gia và hỗ chợ cho các công ty
chi phí tham gia hội chợ chuyên ngành dệt may để họ học hỏi, để
quảng bá sản phẩm, để tăng cơ hội thu hút các đơn đặt hàng gia
công. Các cơ quan Chính Phủ nhất là Hiệp hội Dệt may Việt Nam cần
làm tốt hơn nữa vai trò là cầu nối giữa công ty dệt may với thị trường
trong và ngoài nước thông qua các hoạt động xúc tiến thương mại,
các hoạt động hợp tác quốc tế.

 Nhà nước cần cải cách các thủ tục Hải quan theo hướng đơn giản,

phù hợp với quá trình phát triển của thị trường. Nên có sự thống nhất
từ cơ quan quản lý trong việc ghi mã số HS trước tên hàng trong các
hồ sơ chứng từ liên quan để tạo ra một sự đồng nhất trong xác định
hàng hoá làm cơ sở cho việc khai báo, tính, nộp thuế và việc quản lý
gia công cho nước ngoài. Từ đó tiết kiệm thời gian và tạo thuận lợi
cho các công ty gia công dệt may khi xuất khẩu, nhập khẩu.

22


KẾT LUẬN
Ngành dệt may trong những năm qua đã có những bước tiến
đáng kể cho đến nay, sản phẩm của ngành dệt may Việt Nam đã có
mặt ở trên 100 nước và vùng lãnh thổ tại hầu hết các Châu lục. Liên
tiếp trong nhiều năm qua, doanh thu xuất khẩu của ngành dệt may
liên tục tăng, kim ngạch xuất khẩu của ngành dệt may luôn đứng thứ
hai về giá trị chỉ sau dầu thô. Đó là những thành tựu rất lớn của
ngành dệt may Việt Nam. Trong đó có đóng góp rất lớn của hoạt
động gia công hàng dệt may, hiện nay, hàng dệt may đa phần là sản
phẩm gia công thơng mại (chiếm khoảng 80% hàng dệt may xuất
khẩu ). Tuy vậy, ngành dệt may nói chung và gia công hàng dệt may
nói riêng vẫn còn bộc lộ nhiều hạn chế, một số những hạn chế đó là:
nguyên phụ liệu không đáp ứng đủ nhu cầu của ngành may .Chi phí
về lao động không còn là một thế mạnh của Việt Nam, bên cạnh đó
hiệu năng làm việc của ngời lao động cũng không cao làm cho khả
năng cạnh tranh của ngành dệt may nói chung và gia công nói riêng
không cao; Và tuy là một nớc có lợng lao động trẻ dồi dào nhng trong
những năm gần đây thì ngành dệt may Việt Nam lại thiếu lao động
rất nhiều, đặc biệt là vào thời vụ đặt hàng dẫn tới mất nhiều hợp
đồng sản xuất với bạn hàng. Việc phân tích toàn diện thực trạng
ngành dệt may nói chung và lĩnh vực gia công hàng dệt may nói
riêng của Việt Nam để từ đó tìm ra giải pháp tăng giá trị hàng dệt
may xuất khẩu trong những năm tới là một vấn đề thực sự cần thiết,
đó chính là một điều thực tế đang đòi hỏi.

23



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×