Tải bản đầy đủ (.docx) (18 trang)

thảo luận nhóm TMU thực trạng quản lí rủi ro trong lĩnh vực hải quan việt nam giải pháp nâng cao hoạt động quản lý rủi ro của hải quan việt nam

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (217.3 KB, 18 trang )

MỤC LỤC
A. LỜI MỞ ĐẦU..........................................................................................................2
B. NỘI DUNG............................................................................................................... 3
I. Lý thuyết................................................................................................................... 3
1. Khái niệm quản lí rủi ro trong hoạt động hải quan..............................................3
2. Sự cần thiết của quản lí rủi ro trong hoạt động hải quan.....................................3
3. Quy trình thực hiện quản lý rủi ro trong hoạt động hải quan.............................3
II. Thực trạng quản lí rủi ro trong lĩnh vực hải quan Việt Nam..............................9
1. Chủ trương, chính sách của nhà nước và các biện pháp của ngành Hải quan
trong việc nâng cao chất lượng hoạt động của hệ thống quản lí rủi ro....................9
2. Khái quát thực trạng quản lí rủi ro trong lĩnh vực hải quan Việt Nam............10
III. Thành tựu và hạn chế của quản lí rủi ro trong lĩnh vực hải quan Việt Nam..16
1. Thành tựu:.............................................................................................................16
2. Hạn chế:.................................................................................................................16
IV. Giải pháp nâng cao hoạt động quản lý rủi ro của Hải quan Việt Nam............17
C. KẾT LUẬN............................................................................................................19

A. LỜI MỞ ĐẦU
Trong bối cảnh gia tăng các hoạt động thương mại quốc tế, cộng đồng quốc tế
yêu cầu giảm thiểu sự can thiệp từ phía chính phủ khiến hải quan các nước phải đổi
mới phương thức quản lý.
Để tạo điều kiện thuận lợi thương mại nhưng vẫn phải kiểm soát chặt chẽ sự tuân
thủ theo quy định của pháp luật thì quản lý rủi ro là một giải pháp tối ưu nhất. Hải
quan các nước, trong đó có Hải quan Việt Nam dù hoạt động dựa trên hệ thống tự động
hay thủ công, đều có thể áp dụng các nguyên tắc quản lý rủi ro. Đây là giải pháp đóng
vai trò trung tâm trong tiến trình hiện đại hóa ngành Hải quan.
B. NỘI DUNG
I. Lý thuyết
1. Khái niệm quản lí rủi ro trong hoạt động hải quan

1




Theo Tổ chức Hải quan New Zealand định nghĩa: “Quản lý rủi ro là việc áp dụng
một cách hệ thống các chính sách quản lý, quy trình thủ tục nhằm xác định, phân tích,
đánh giá và tiến hành các biện pháp đối phó với rủi ro”.
2. Sự cần thiết của quản lí rủi ro trong hoạt động hải quan


Giúp tổ chức nhận dạng rủi ro và thực hiện các chương trình ngăn chặn, kiểm

soát tổn thất hiệu quả.


Có cơ sở chặt chẽ, minh bạch trong việc lập kế hoạch chiến lược và ra các

quyết định quản lý. Giảm chi phí phát sinh không cần thiết.


Tạo tiền đề thuận lợi cho các khâu nghiệp vụ tiếp theo.

Riêng đối với ngành hải quan, quản lý rủi ro là phương pháp quản lý khoa học
mang tính logic và hệ thống nhằm:


Giảm bớt áp lực về khối lượng công việc, thông qua đánh giá, xác định đối

tượng có rủi ro cao, tập trung nguồn lực quản lý.


Tạo được sự cân bằng giữa tạo thuận lợi thương mại với kiểm soát chặt chẽ


quá trình tuân thủ pháp luật của doanh nghiệp.


Doanh nghiệp được chủ động hơn trong việc lập kế hoạch kinh doanh và

xuất nhập khẩu, tiết kiệm chi phí lưu kho, lưu bãi, giảm giá thành sản phẩm, tăng lợi
thế cạnh tranh và doanh thu.
3. Quy trình thực hiện quản lý rủi ro trong hoạt động hải quan
a. Thiết lập bối cảnh:
Thiết lập bối cảnh trong quản lý rủi ro là việc tổng hợp, phân tích, đánh giá,
những thông tin đã thu được, từ đó biết được thực trạng tình hình liên quan đến việc
thực hiện các mục tiêu đặt ra.
Đây được coi là bước quan trọng nhất trong quy trình quản lý rủi ro vì nó cung
cấp nền tảng hoạt động cho các bước tiếp theo của chu trình và cũng là bước bị nhiều
người bỏ sót khi tiến hành quản lý rủi ro, dẫn đến lập kế hoạch quản lý rủi ro thiếu
hoàn chỉnh và chính xác. Nhiệm vụ của bước này cần phải xác định mục tiêu quản lý
và thiết lập bộ tiêu chí quản lý rủi ro, làm cơ sở để xem xét, đánh giá và triển khai
công tác quản lý rủi ro được thống nhất trong toàn hệ thống tổ chức.
Thông thường, các tiêu chí rủi ro của ngành hải quan được tập trung vào các yếu
tố như thông tin về doanh nghiệp (tình hình tài chính, ý thức chấp hành pháp luật), về
hàng hoá xuất nhập khẩu, nước xuất xứ, cách thức mô tả, phương thức thanh toán,
2


phương tiện vận chuyển, thuế suất thuế xuất nhập khẩu... Mỗi tiêu chí được gắn với
một điểm số nhất định. Kết quả tổng hợp điểm tương ứng với sự tính toán về quy mô,
hậu quả của rủi ro có thể xảy ra.
b. Xác định rủi ro
Nhận dạng rủi ro được coi là bước đơn giản nhất trong quy trình quản lý rủi ro

nhằm tiên lượng các vấn đề có thể gây ảnh hưởng đến mục tiêu của tổ chức, nguyên
nhân và cách thức xảy ra.
Yêu cầu đối với giai đoạn này là thông tin cập nhật đầy đủ, chính xác, toàn diện.
Ngoài ra, can nhận dạng chính xác các rủi ro mang tính tiêu cực đẻ có biện pháp ngăn
ngừa, hạn chế sự xuất hiện của chúng và tận dụng các yếu tố rủi ro tích cực. Đôi khi,
việc không nắm bắt và tận dụng triệt để các cơ hội có thể xem là rủi ro lớn nhất trong
các loại rủi ro.
Bước 1: Thu thập, phân tích thông tin dữ liệu, xác định rủi ro có thể xảy ra trong
từng lĩnh vực rủi ro


Thông tin vi phạm pháp luật hải quan từ hệ thống cơ sở dữ liệu của ngành



Các vụ việc vi phạm pháp luật hải quan được phát hiện và xử lý



Thông tin nghiệp vụ được khai báo, phản hồi từ các đơn vị

Bước 2: Báo cáo, phê duyệt đăng ký vào hồ sơ rủi ro
Công thức làm công tác quản lý rủi ro kiểm tra, đối chiếu rủi ro được xác định
với hồ sơ rủi ro hiện có:


Trường hợp rủi ro này đã được đăng ký trong hồ sơ rủi ro thì đối chiếu các

dấu hiệu và các yếu tố liện quan của rủi ro được xác định với rủi ro đang trong quản lý
để xem xét điều chỉnh, bổ sung hoặc phục hồi hồ sơ đã đăng ký trước đây



Trường hợp rủi ro được xác định là rủi ro mới phát hiện thì báo cáo xác lập

rủi ro theo mẫu MQLRRĐT - 4
Bước 3: Người có thẩm quyền căn cứ vào đề xuất của công thức, xem xét tính
xác thực của thông tin để quyết định việc điều chỉnh, hoặc bổ sung, phục hồi hồ sơ
đăng ký rủi ro hoặc phê duyệt xác lập hồ sơ rủi ro mới
c. Phân tích rủi ro


Lựa chọn các trường dữ liệu từ bảng dữ liệu thu thập nêu trên có liên quan

đến rủi ro cần phân tích.
3




Sử dụng công cụ Excel để thống kê xác định số lần (tần suất) cũng như thiệt

hại (hậu quả) đã hoặc có thể xảy ra.tần suất và hậu quả được xác định theo 03 cấp độ:
Cao, trung bình, thấp.


Kết hợp giữa tần suất và hậu quả để xác định mức độ của rủi ro theo bảng

dưới đây:




Trong thực tế có nhiều trường hợp công chức thực hiện phân tích rủi ro

không có đủ dữ liệu để đưa ra các số liệu chính xác. Trong các trường hợp này, công
chức phân tích có thể vận dụng những kiến thức, kinh nghiệm để phán đoán khả năng
và hậu quả mà rủi ro có thể gây ra; từ đó xác định mức độ của rủi ro. Tuy vậy việc
phán đoán cần phải đảm bảo tính hợp lý, có độ tin cậy và được thực hiện trên những
nhận định khách quan, nghiêm cấm mang tính định kiến cá nhân.


Ví dụ qua thông tin thu thập được cho thấy giá thịt bò nhập khẩu trong nước

thấp hơn giá thịt bò trên thị trường thế giới, một số doanh nghiệp (chưa xác định) đang
tìm cách nhập khẩu mặt hàng thịt bò và chế phẩm từ bò có xuất xứ từ các nước Anh,
Đức có nguy cơ bị bệnh dịch bò điên bằng hình thức chuyển tải qua nước thứ ba
(chẳng hạn như Philipin). Như vậy rủi ro được xác định ở đây là thịt bò và chế phẩm
từ bò có nguy cơ bị bệnh dịch bò điên. Các chỉ số rủi ro giúp cho việc nhận diện ra
tình huống rủi ro đó là: mặt hàng thịt bò, nhập khẩu có xuất xứ từ Anh, Đức hoặc
chuyển tải (nhập khẩu) từ Philipin.
d. Đánh giá rủi ro

4


–Việc đánh giá rủi ro nhằm xác định mức độ ưu tiên cần xử lý đối với rủi ro.Quá
trình đánh giá phải căn cứ vào các yếu tố sau đây:


Mức độ rủi ro được xác định




Yêu cầu cho việc quản lý đối với loại rủi ro này



Các rủi ro đã xử lý trước đó



Khả năng về nguồn nhân lực và các điều kiện cần thiết đảm bảo cho việc

kiểm tra, kiểm soát có hiệu quả đối với rủi ro.
–Lập danh sách thứ tự ưu tiên các loại rủi ro cần xử lý.
–Lựa chọn biện pháp xử lý phù hợp với tính chất, mức độ,đặc điểm của từng loại
rủi ro.
–Ví dụ như mặt hàng tân dược nếu xác định có nguy cơ rủi ro về giấy phép hoặc
gian lận về trị giá thì cần tập trung kiểm tra hồ sơ hoặc kiểm tra sau thông quan.
Nhưng nếu xác định rủi ro liên quan đến chất gây nghiện thì cần phải áp dụng kiểm tra
hồ sơ và hàng hóa ngay thời điểm làm thủ tục nhập khẩu.
e. Xử lý rủi ro:
 Các cấp, đơn vị Hải quan thực hiện:


Cung cấp kịp thời những rủi ro được phát hiện trong quá trình tổng hợp và

phân tích thông tin theo lĩnh vực được phân công;


Phân tích, đánh giá lại rủi ro đã được xác định theo định kỳ và cung cấp kết


quả cho đơn vị quản lý rủi ro cùng cấp; đề xuất biện pháp xử lý,và đưa ra các chỉ dẫn
nghiệp vụ.
 Trên cơ sở nội dung đề xuất của các đơn vị nghiệp vụ và kết quả phân
tích, đánh giá rủi ro của mình, đơn vị quản lý rủi ro tiến hành đánh giá lại:


Cấp độ rủi ro



Mức độ ưu tiên xử lý rủi ro



Tổ hợp dấu hiệu rủi ro



Hiệu quả áp dụng biện pháp xử lý; xem xét yếu tố về nguồn lực với kết quả

đạt được


Tác động ảnh hưởng dây chuyền



Lựa chọn và đề xuất biện pháp xử lý thích hợp đối với những rủi ro được ưu


tiên xử lý


Lựa chọn và đề xuất biện pháp xử lý đối với các rủi ro khác
5




Xây dựng kế hoạch, chuẩn bị các điều kiện xử lý rủi ro

 Kế hoạch xử lý rủi ro được thực hiện tại 2 cấp, đơn vị:


Đơn vị quản lý rủi ro cấp Tổng cục lập kế hoạch xử lý đối với rủi ro áp dụng

tổng thể trong toàn ngành


Đơn vị quản lý rủi ro cấp Chi cục Hải quan điện tử lập kế hoạch xử lý đối với

rủi ro trong phạm vi cấp Chi cục trên cơ sở thống nhất và đảm bảo thực hiện các nội
dung theo kế hoạch của Tổng cục.
 Nội dung kế hoạch xử lý rủi ro:


Danh sách các rủi ro cần xử lý




Biện pháp xử lý rủi ro dự kiến



Các biện pháp, phương án hỗ trợ đảm bảo việc xử lý có hiệu quả



Thời gian thực hiện xử lý rủi ro bao gồm thời gian bắt đầu và kết thúc



Đơn vị hoặc công chức thực hiện



Các điều kiện về phương tiện, trang thiết bị, kinh phí cần thiết



Kế hoạch theo dõi, đánh giá kết quả xử lý và thực hiện báo cáo phản hồi

thông tin.
Lãnh đạo có thẩm quyền tại các cấp, đơn vị căn cứ cứ vào kế hoạch xử lý rủi ro
do cán bộ, công chức báo cáo xem xét tính phù hợp, hiệu quả và yếu tố khả thi của kế
hoạch để quyết định phê duyệt thực hiện.
Trên cơ sở kế hoạch được lãnh đạo có thẩm quyền phê duyệt, đơn vị quản lý rủi
ro chuyển giao yêu cầu, phương án xử lý cho các đơn vị liên quan thực hiện.
 Áp dụng các biện pháp xử lý rủi ro: Triển khai biện pháp phòng ngừa



Xây dựng các chương trình tuyên truyền, phổ biến đối với doanh nghiệp

nhằm nâng cao nhận thức và ý thức chấp hành pháp luật.


Thông báo cho doanh nghiệp những dấu hiệu rủi ro, những nguy cơ đối với

việc tuân thủ của doanh nghiệp, trong trường hợp cần thiết, đơn vị quản lý rủi ro có thể
hướng dẫn, hỗ trợ doanh nghiệp tự xử lý các tình huống rủi ro hoặc tự chấm dứt các
hoạt động có dấu hiệu dẫn tới vi phạm.


Thông qua quy trình quản lý rủi ro, đơn vị quản lý rủi ro cần xác định những

rủi ro đến từ hệ thống chính sách, pháp luật và quy trình thủ tục để đề xuất, kiến nghị
sửa đổi, bổ sung hoặc có biện pháp quản lý phù hợp, kịp thời.
f.

Theo dõi và đánh giá lại:
6




Bước cuối cùng rất quan trọng trong quy trình quản lý rủi ro là theo dõi và

đánh giá kết quả bởi đây là động tác cần thiết nhằm xem xét tính hiệu quả và lợi ích do
quản lý rủi ro mang lại, rà soát lại toàn bộ quy trình, đánh giá, so sánh hiệu quả và mục
đích ban đầu đề ra với kết quả xử lý rủi ro, từ đó, rút ra bài học và tìm giải pháp hoàn

thiện quy trình. Chức năng này cần được thực hiện liên tục, gắn liền với từng bước
trong quy trình quản lý rủi ro và quán triệt đến từng cấp quản lý rủi ro cụ thể.


Kiểm tra hiệu lực áp dụng của tiêu chí tại các chi cục Hải quan. Nếu phát

hiện lô hàng có chỉ số rủi ro tương ứng nhưng không bị điều chỉnh bởi tiêu chí phân
tích thì kiểm tra nguyên nhân của của hiện tượng trên. Nguyên nhân có thể là do các
trường hợp sau:


Việc thiết lập hoặc cập nhật tiêu chí không hợp lệ, do chỉ số không phù hợp

hoặc các thao tác cập nhật không đúng.


Chi cục Hải quan không cập nhật kịp thời phiên bản mới nhất của hệ thống

quản lý rủi ro vào hệ thống nghiệp vụ của chi cục.


Theo dõi, tổng hợp tình hình phân luồng của hệ thống và kết quả kiểm tra đối

với các lô hàng đã được lựa chọn kiểm tra theo tiêu chí đã phân tích, theo các nội dung
sau:


Số lượng lô hàng được lựa chon theo tiêu chí.




Số lượng, tỷ lệ lô hàng phát hiện vi phạm từ lựa chọn theo tiêu chí so với số

lượng các trường hợp được lựa chọn.


Số lượng, tỷ lệ các trường hợp lô hàng được lựa chọn, nhưng chi cục Hải

quan chuyển luồng, làm rõ lý do chuyển luồng.


Những trường hợp sau đây sẽ được đánh giá là việc áp dụng tiêu chí phân

tích không có hiệu quả:


Tiêu chí thiết lập trùng lặp với các tiêu chí khác do cùng một đơn vị cập nhật



Không có lô hàng được lựa chọn đánh giá trong thời gian hiệu lực áp dụng

của tiêu chí.


Số lượng lô hàng bị lựa chọn nhiều nhưng không phát hiện vi phạm hoặc tỷ

lệ vi phạm được phát hiện dưới 20%;



Chi cục Hải quan chuyển luồng nhưng không có lý do chính đáng.

II. Thực trạng quản lí rủi ro trong lĩnh vực hải quan Việt Nam

7


1. Chủ trương, chính sách của nhà nước và các biện pháp của ngành Hải
quan trong việc nâng cao chất lượng hoạt động của hệ thống quản lí rủi ro.
a. Hệ thống khuôn khổ pháp lý:
Là cơ quan thực thi pháp luật, với nền tảng là Luật Hải quan ban hành năm 2001,
được sửa đổi, bổ sung năm 2005 với các điều khoản số 29, điều 30, điều 32; Luật thuế
xuất khẩu, nhập khẩu số 45/2005/QH11 ngày 14/06/2005, các Nghị định, Thông tư,
Quyết định và các văn bản hướng dẫn dưới Luật khác có liên quan, chính thức cho
phép Hải quan Việt Nam áp dụng quy trình quản lý rủi ro, coi đó như một phương
pháp quản lý hiện đại cần thiết của cơ quan hải quan.
b. Quy trình thủ tục hải quan:
Luật sửa đổi bổ sung một số điều Luật Hải quan (2005) được ban hành, cùng với
Quyết định số 2148/QĐ-TCHQ ngày 31/12/2005 của Tổng cục trưởng Tổng cục Hải
quan về “Quy chế áp dụng quản lý rủi ro trong quy trình thủ tục hải quan đối với hàng
hoá xuất khẩu, nhập khẩu thương mại”, quản lý rủi ro chính thức được công nhận là
công cụ quản lý của Hải quan Việt Nam kể từ ngày 01/01/2006.
c. Hoạt động kiểm tra sau thông quan:
Nghiệp vụ kiểm tra sau thông quan được hình thành từ năm 2002. Sau 4 năm
triển khai đã chứng tỏ tính hiệu quả và là nghiệp vụ không thể thiếu khi tiến hành hiện
đại hoá ngành hải quan, là nhân tố cốt yếu trong quy trình quản lý rủi ro.
Từ tháng 6/2006, mô hình kiểm tra sau thông quan có sự thay đổi với Cục kiểm
tra sau thông quan được tổ chức quản lý theo hướng chuyên sâu, tham mưu cho lãnh
đạo Tổng cục về hoạch định chính sách, chỉ đạo xây dựng chiến lược và nâng cấp quản
lý phòng kiểm tra sau thông quan tại các địa phương thành Chi cục kiểm tra sau thông

quan, nhằm đảm bảo đúng bản chất về tổ chức, nhiệm vụ chức năng, tạo thuận lợi và
hiệu quả cao, nâng cao tính chủ động cho các đơn vị này.
d. Nguồn nhân lực:
Tổng cục Hải quan luôn chú trọng đầu tư đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, thường
xuyên tổ chức tuyển dụng mới nhằm xây dựng đội ngũ cán bộ công chức năng động,
sáng tạo trong thời đại mới. Do đó, số lượng và chất lượng cán bộ công chức hải quan
đã tăng lên nhiều qua thời gian.
e. Cơ sở vật chất:

8


Được sự hỗ trợ của Ngân hàng Thế giới trong dự án Hiện đại hoá Hải quan, Tổng
cục Hải quan đã tiến hành trang bị thêm các phương tiện, thiết bị hiện đại như hệ
thống máy vi tính đồng bộ có nối mạng Internet, các thiết bị giám sát hàng hiện đại,
phục vụ công tác kiểm soát, thay thế dần các trang thiết bị, phương tiện làm việc cũ,
giảm thao tác thủ công, tiết kiệm thời gian, sức lao động với kết quả kiểm tra chính
xác, kiểm soát hiệu quả.
f.

Hệ thống công nghệ thông tin:

Hiện nay, phần lớn các Cục và Chi cục hải quan địa phương đều đã được trang bị
hệ thống máy tính hiện đại có mạng kết nối khu vực diện rộng (WAN) để kết nối với
cơ quan Tổng cục Hải quan.
Một số chương trình phần mềm ứng dụng nghiệp vụ đa chức năng được triển
khai trên toàn quốc đã phát huy hiệu quả, đơn giản hoá thao tác nghiệp vụ, là cơ sở để
tiến tới thực hiện thông quan điện tử trên toàn quốc.
2. Khái quát thực trạng quản lí rủi ro trong lĩnh vực hải quan Việt Nam.
a. Quá trình tiếp cận quản lý rủi ro của Hải quan Việt Nam

Trước năm 1997, khái niệm quản lý rủi ro nói chung còn rất xa lạ không chỉ với
các công chức trong ngành mà với cả cá nhân, tổ chức có liên quan.
Trong giai đoạn 1997 – 2001, với chủ trương thu hút đầu tư nước ngoài, yêu cầu
đơn giản hoá thủ tục hải quan ngày càng trở nên cấp thiết, Hải quan Việt Nam đã áp
dụng phân luồng hành khách tại các cửa khẩu sân bay quốc tế thành 3 nhóm:16 luồng
xanh, luồng vàng và luồng đỏ, nhưng chỉ mang tính chất sao chép thuần tuý,tự phát và
ở mức sơ khai, chưa thể hiện được các nguyên tắc quản lý rủi ro.
Trong Luật Hải quan (2001) cũng đã quy định về hình thức, căn cứ để tiến hành
kiểm tra thực tế hàng hoá, nhưng chưa chính thức công nhận phương pháp quản lý rủi
ro mà phải đến khi Luật hải quan sửa đổi năm 2005, đặc biệt với Quyết định số
2148/QĐ-TCHQ ngày 31/12/2005 đã bổ sung, cụ thể hoá Luật Hải quan, tạo cơ sở để
ngành Hải quan áp dụng quy trình quản lý rủi ro kể từ ngày 01/01/2006.
Điểm nhấn trong công tác quản lí rủi ro năm 2011, đó là ngày 7-6-2011, Bộ
trưởng Bộ Tài chính kí Quyết định số 1402/QĐ-BTC về việc thành lập Ban quản lí rủi
ro Hải quan. Theo đó, Ban quản lí rủi ro Hải quan có nhiệm vụ phối hợp với Vụ Tổ
chức cán bộ của Tổng cục Hải quan xây dựng mô hình tổ chức quản lí rủi ro độc lập
trực thuộc Tổng cục Hải quan để Tổng cục trưởng Tổng cục Hải quan báo cáo Bộ Tài
9


chính trình cấp có thẩm quyền xem xét, quyết định; thực hiện các nhiệm vụ khác theo
phân công của Tổng cục trưởng Tổng cục Hải quan và theo quy định của pháp luật…
Với vai trò là đơn vị thu thập, xử lý thông tin quản lí rủi ro trực thuộc Tổng cục
Hải quan, Ban quản lí rủi ro đã bắt tay vào xây dựng Chiến lược phát triển quản lí rủi
ro giai đoạn 2011-2015 và tầm nhìn đến năm 2020; trong đó, phát triển đội ngũ cán bộ
làm công tác quản lí rủi ro có đủ năng lực, chuyên sâu về nghiệp vụ là nhiệm vụ được
ưu tiên hàng đầu. Một mặt, chú trọng xây dựng, phát triển và tổ chức áp dụng quản lí
rủi ro toàn diện, chuyên sâu trong các khâu hoạt động nghiệp vụ hải quan trên cơ sở
phù hợp với các tiêu chuẩn, thông lệ quốc tế về quản lí rủi ro và thực tiễn hoạt động
của ngành Hải quan. Mặt khác, tiến tới hoàn thiện hành lang pháp lý về thu thập, xử lý

thông tin và quản lí rủi ro, kiện toàn hệ thống đơn vị chuyên trách quản lí rủi ro theo
hướng chuyên nghiệp, chuyên sâu về nghiệp vụ.
Từ đó, đảm bảo các yêu cầu về số lượng, chất lượng và có năng lực trình độ
chuyên sâu nhằm đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới. Cụ thể, luật hóa các
quy định có tính nguyên tắc về thu thập, xử lý thông tin nghiệp vụ hải quan và quản lí
rủi ro. Xây dựng hệ thống đơn vị chuyên trách quản lí rủi ro theo 3 cấp (Tổng cục, cục
và cấp chi cục) theo hướng chuyên nghiệp và chuyên sâu về nghiệp vụ, với tổng số
khoảng 800 cán bộ làm công tác này (hiện nay khoảng trên 600). Trong số này có trên
70% cán bộ đáp ứng được yêu cầu nghiệp vụ, chủ động và độc lập thực hiện nhiệm vụ
công tác được giao.
Cùng với đó, xây dựng, nâng cấp, phát triển hệ thống thông tin hải quan và thông
tin nghiệp vụ hải quan đảm bảo cập nhật, chia sẻ, trao đổi cung cấp thông tin trong và
ngoài Ngành, đáp ứng cơ bản các yêu cầu nghiệp vụ của ngành Hải quan. Phát triển
các ứng dụng công nghệ thông tin trong việc tích hợp và xử lý dữ liệu tự động; nâng
cấp kết cấu hạ tầng mạng đảm bảo việc đồng bộ hóa dữ liệu và thông suốt hệ thống;
tiếp nhận, tổ chức triển khai Hệ thống Thông tin tình báo (VCIS) trong khuôn khổ dự
án hợp tác hỗ trợ xây dựng Hệ thống thông quan tự động và Hải quan một cửa
(VNACCS) do Chính phủ Nhật Bản cam kết tài trợ. Xây dựng và triển khai cơ chế
phối hợp trao đổi thông tin với các bộ, ngành và các tổ chức, đơn vị, cá nhân liên
quan; đẩy mạnh hợp tác quốc tế về trao đổi thông tin nghiệp vụ hải quan, trao đổi chỉ
số đánh giá rủi ro, đặc biệt đối với Hải quan của các nền kinh tế có tác động ảnh
hưởng lớn với Việt Nam như: Mỹ, Trung Quốc, Nhật Bản, các nước EU và các nước
10


ASEAN nhằm hướng đến phục vụ cho các yêu cầu cải cách, hiện đại hóa hải quan
(như: Hải quan một cửa ASEAN). Ký kết các thỏa thuận công nhận lẫn nhau về kết
quả đánh giá rủi ro và kiểm tra hải quan giữa Việt Nam và các quốc gia; hợp tác trong
đấu tranh phòng, chống buôn lậu…
b. Phân cấp quản lý rủi ro:

Ở Việt Nam, quản lý rủi ro được phân thành 3 cấp thực hiện, cụ thể như sau:


Quản lý rủi ro cấp chiến lược (được thực hiện ở cơ quan Tổng cục hải

quan):
Cơ quan Tổng cụ Hải quan phải đảm bảo sự thống nhất trong toàn ngành về xây
dựng, ban hành, sửa đổi bổ sung bộ tiêu chí quản lý rủi ro; ban hành các quy định
hướng dẫn thực hiện quản lý rủi ro; xây dựng, thu thập, cập nhật, quản lý, vận hành và
kiểm soát bảo mật hệ thống thông tin nghiệp vụ hải quan và cơ sở dữ liệu quản lý rủi
ro theo phân cấp; phối hợp với các cơ quan trong và ngoài nước có liên quan để xây
dựng hệ thống cơ sở dữ liệu thông tin nghiệp vụ hải quan phục vụ quản lý rủi ro; và
xây dựng hệ thống tổ chức, đào tạo nguồn nhân lực.


Quản lý rủi ro cấp hoạch định triển khai (thực hiện ở các Cục hải quan địa

phương):
Là cơ quan trung gian trong phân cấp quản lý rủi ro, Cục hải quan địa phương có
nhiệm vụ kết hợp thông tin, dữ liệu thu thập được cung cấp bởi Tổng cục Hải quan,
với thông tin thu thập dựa vào tình hình thực tế trên địa bàn quản lý, cung cấp cơ sở dữ
liệu thông tin một cách đầy đủ nhất, phục vụ các chi cục hải quan cửa khẩu trong việc
phân định mức độ rủi ro và quyết định hình thức kiểm tra thực tế hàng hoá.


Quản lý rủi ro cấp chiến thuật (được thực hiện tại các Chi cục hải quan,

điểm thông quan nội địa và bởi các cán bộ hải quan làm nhiệm vụ trực tiếp tại hiện
trường):
Căn cứ vào tình hình thực tế và các thông tin trong hệ thống cơ sở dữ liệu được

cung cấp, các đơn vị chủ động triển khai lực lượng, trang thiết bị vật chất, bố trí công
việc để đạt được hiệu quả cao nhất và báo cáo ngay Cục Hải quan cấp chủ quản, khi
phát hiện thêm các yếu tố rủi ro mới để cập nhật, bổ sung dữ liệu thông tin, làm cơ sở
xác định rủi ro cho các lô hàng tiếp theo.
c. Quy trình thực hiện quản lý rủi ro của Hải quan Việt Nam:
(1) Thiết lập bộ tiêu chí quản lý rủi ro:
11




Tổng cục Hải quan xây dựng bộ tiêu chí rủi ro của mình gồm 76 tiêu chí,

chia thành 6 nhóm chính như sau:


Nhóm tiêu chí ưu tiên: gồm 6 tiêu chí, tập trung ưu tiên các doanh nghiệp có

kim ngạch xuất nhập khẩu lớn, số thuế thu nộp ngân sách nhà nước hàng năm cao và
có ý thức tốt về chấp hành pháp luật hải quan. Các doanh nghiệp thoả mãn sẽ được
hưởng tiêu chuẩn ưu tiên theo quy định.


Nhóm tiêu chí đánh giá, phân loại doanh nghiệp: gồm 46 tiêu chí



Nhóm tiêu chí phân loại hàng hoá: gồm 11 tiêu chí




Nhóm tiêu chí phân loại xuất xư: gồm 3 tiêu chí



Nhóm tiêu chí phân loại hình thưc thanh toán: gồm 4 tiêu chí



Nhóm tiêu chí đánh giá loại hình xuất nhập khẩu: gồm 6 tiêu chí



Mỗi tiêu chí trong bộ tiêu chí rủi ro trên ứng với một mức điểm rủi ro nhất

định nhằm đánh giá rủi ro của doanh nghiệp và lô hàng xuất nhập khẩu. Tương ứng
với mỗi mức độ rủi ro được đánh giá có hình thức kiểm tra thực tế hàng hoá thích hợp.
Ngoài ra, để phân tích rủi ro được chính xác, Tổng cục Hải quan đã phân loại Bộ tiêu
chí quản lý rủi ro của mình thành các tiêu chí rủi ro động, tiêu chí rủi ro tĩnh để kiểm
tra:


Tiêu chí động: là những tiêu chí có tính chất biến động theo thời gian và

được thu thập dựa trên các thông tin trinh sát, thông tin về doanh nghiệp, hàng hoá có
khả năng và mức độ rủi ro cao và phải kiểm tra hải quan.


Tiêu chí tĩnh: là các tiêu chí có tính chất ổn định trong khoảng thời gian nhất


định. Tiêu chí này xác định khả năng và mức độ rủi ro bằng cách áp dụng các phương
pháp tính toán dựa trên cơ sở thông tin do cơ quan hải quan thu thập, phân tích.
(2) Phân tích và xác định mức độ rủi ro:
Dựa trên công cụ phân tích, ước lượng mức độ rủi ro của từng tiêu chí rủi ro
động và tiêu chí rủi ro tĩnh với các thang điểm cụ thể đã được xây dựng trước, kết quả
tính toán tương ứng mức độ rủi ro tổng thể. Tuỳ thuộc mức điểm rủi ro cao, trung bình
hay thấp mà hàng hoá được xếp tương ứng với các luồng hàng: luồng đỏ, luồng vàng,
luồng xanh.
(3) Xử lý rủi ro:
Hệ thống quản lý rủi ro sẽ trải rộng suốt quy trình thủ tục hải quan. Ngay khi tiếp
nhận hồ sơ, nếu doanh nghiệp được phép mở tờ khai, sau khi nhập các thông tin vào
12


máy tính, thông tin được tự động xử lý theo chương trình hệ thống quản lý rủi ro và
đưa ra “Lệnh hình thức, mức độ kiểm tra” được đánh số trùng với số tờ khai hải quan.
Căn cứ vào Bộ tiêu chí rủi ro mà Lệnh này sẽ đưa ra 3 mức độ khác nhau, tương
ứng với luồng xanh, vàng hay đỏ:


Mưc 1 (luồng xanh): sẽ được miễn kiểm tra chi tiết hồ sơ, miễn kiểm tra thực

tế hàng hóa.


Mưc 2 (luồng vàng): lô hàng phải kiểm tra chi tiết hồ sơ và được miễn kiểm

tra thực tế hàng hóa.



Mưc 3 (luồng đỏ): lại chia làm 3 mức độ kiểm tra thực tế được quy định rõ

tại Thông tư 112/2005/TT-BTC theo nguyên tắc loại trừ dần thông tin:


Thư nhất, cơ quan Hải quan thực hiện kiểm tra toàn bộ lô hàng.



Thư hai, căn cứ thông tin thu thập được về doanh nghiệp, cơ quan Hải quan

thực hiện kiểm tra thực tế 10% lô hàng, nếu không phát hiện vi phạm thì kết thúc kiểm
tra, nếu phát hiện có vi phạm thì tiếp tục kiểm tra cho tới khi kết luận được mức độ vi
phạm.


Thư ba, cơ quan Hải quan kiểm tra thực tế tới 5% lô hàng, nếu không phát

hiện vi phạm thì kết thúc kiểm tra, nếu phát hiện có vi phạm thì tiếp tục kiểm tra cho
tới khi kết luận được mức độ vi phạm.
Tuy nhiên, ngay tại thời điểm làm thủ tục nếu có thông tin cần xác định rõ thì
Lệnh hình thức, mức độ kiểm tra sẽ do Lãnh đạo Chi cục xem xét quyết định. Quy
trình cũng thể hiện rõ nhiệm vụ cụ thể của từng công chức, của từng bước và đường đi
của bộ hồ sơ. Theo đó, đối với một lô hàng bình thường (thực hiện các bước thủ tục
hải quan theo lệnh hình thức, mức độ kiểm tra do máy tính xác định) công chức thực
thi nhiệm vụ ở các bước trong quy trình phải chịu trách nhiệm về việc thực hiện nhiệm
vụ tại bước đó, lãnh đạo Chi cục là người duyệt và ký hồ sơ cuối cùng để hoàn thành
thủ tục hải quan thông quan lô hàng, hồ sơ không phải quay đi quay lại nhiều lần.
Trong quy trình thủ tục hải quan mới không có chức năng và nhiệm vụ của lãnh đạo
cấp Đội là nhằm giảm bớt các khâu trung gian, không cần thiết. Quy định này nhằm

nâng cao vai trò, trách nhiệm của từng công chức thực thi nhiệm vụ, đây là điểm khác
biệt căn bản theo hướng cải cách thủ tục hành chính giữa quy trình cũ và quy trình
mới.
Quản lý rủi ro theo tiêu chí động và tĩnh:
13


Khi thực hiện quy trình thủ tục hải quan cho hàng hoá xuất nhập khẩu dựa trên
phương pháp quản lý rủi ro, cơ quan Hải quan không bị sức ép về thời gian, không
gian trong việc xác định lô hàng phải kiểm tra do hệ thống quản lý rủi ro xác định.
Đồng thời việc thực hiện quy trình mới cũng giải toả được ách tắc tại khâu đăng ký tờ
khai do các thông tin về nợ thuế, về chủ hàng sẽ được hệ thống máy tính xác định.
Quản lý theo phương pháp rủi ro sẽ đảm bảo khách quan trong việc quyết định
hình thức mức độ kiểm tra cũng như việc lựa chọn ngẫu nhiên lô hàng phải kiểm tra.
Để thực hiện quy trình thủ tục hải quan mới, Tổng cục Hải quan cũng có quy chế áp
dụng quản lý rủi ro. Bộ tiêu chí rủi ro gồm các nhóm tiêu chí ưu tiên, đánh giá phân
loại doanh nghiệp, phân loại hàng hoá, phân loại xuất xứ, phân loại hình thức thanh
toán, đánh giá loại hình xuất nhập khẩu và các tiêu chí khác.
Quản lý rủi ro được tiến hành theo 3 cấp: cấp Tổng cục Hải quan, cấp Cục Hải
quan địa phương và cấp Chi cục. Quy chế cũng quy định cụ thể tiêu chí rủi ro động,
tiêu chí rủi ro tĩnh và tiêu chí lựa chọn kiểm tra xác suất. Theo đó:


Bước 1: xác định mức độ rủi ro theo tiêu chí động. Đây là các tiêu chí có tính

chất biến động theo thời gian và được áp dụng ngay tại thời điểm phát hiện có dấu
hiệu vi phạm pháp luật hải quan. Các tiêu chí này dựa trên các thông tin trinh sát,
thông tin về doanh nghiệp, hàng hóa có khả năng và mức độ rủi ro cao và phải kiểm
tra hải quan. Những lô hàng không được lựa chọn tại bước 1 phải chuyển sang lựa
chọn tại bước 2.



Bước 2: xác định rủi ro theo tiêu chí tĩnh. Tại bước này cơ quan Hải quan sẽ

đối chiếu dữ liệu khai báo về lô hàng với cơ sở dữ liệu quản lý rủi ro để lựa chọn lô
hàng phải kiểm tra thực tế trên cơ sở tính toán các nhóm tiêu chí được quy định theo 3
mức: mức 1 là lô hàng thuộc diện kiểm tra thực tế hàng hóa, mức 2 là lô hàng thuộc
diện kiểm tra chi tiết hồ sơ và mức 3 là chuyển qua bước 3 để xác định lô hàng kiểm
tra ngẫu nhiên không quá 5%.


Bước 3: là những lô hàng không phải kiểm tra thực tế đã được xác định tại

bước 2. Kết quả bước này nhằm lựa chọn lô hàng để kiểm tra xác suất theo tỷ lệ không
quá 5% tổng số tờ khai hải quan.
(4) Giám sát và đánh giá :

14


Bước này có nhiệm vụ thu thập thông tin phản hồi kết quả xử lý rủi ro từ các
bước trên, giám sát và đánh giá lại quá trình phân tích rủi ro nhằm hoàn thiện quy trình
quản lý rủi ro.
III. Thành tựu và hạn chế của quản lí rủi ro trong lĩnh vực hải quan Việt
Nam
1. Thành tựu:
– Quy trình thủ tục hải quan mới được đánh giá là hiện đại, phù hợp với quy
định, chuẩn mực trong các công ước quốc tế nhằm hướng tới một môi trường lành
mạnh, đơn giản hóa các thủ tục hành chính, là điểm đến hấp dẫn đối với các nhà đầu tư
và du khách nước ngoài.

– Tăng hiệu suất làm việc của cơ quan hải quan. Mặc dù khối lượng công việc
không ngừng tăng lên, ngành hải quan phải thực hiện nhiều công việc cùng một lúc
theo các cam kết quốc tế, nhưng nhờ hoạt động quản lý rủi ro và quy trình thủ tục hiệu
quả, hiệu suất công việc không ngừng tăng lên.
– Tăng tính cạnh tranh của các doanh nghiệp Việt Nam nhờ giảm thời gian
thông quan hàng hóa, khuyến khích các doanh nghiệp tham gia xuất nhập khẩu tuân
thủ các quy định của pháp luật.
– Hệ thống trao đổi thông tin giữa các cấp quản lý được chú trọng, giải đáp kịp
thời các vướng mắc nghiệp vụ, tạo sự thống nhất cao trong toàn ngành. Hệ thống cơ
sở dữ liệu đang được hình thành và hoàn chỉnh theo yêu cầu thực tế.
– Nâng cao tinh thần trách nhiệm của từng cá nhân cán bộ công chức.
– Công tác đào tạo cán bộ và luân chuyển cán bộ quản lí rủi ro hợp lý. Cơ cấu
cán bộ phù hợp và có trình độ cao và bước đầu đáp ứng yêu cầu công việc.
2. Hạn chế:


Các văn bản hướng dẫn luật còn nhiều, chồng chéo, thường xuyên thay đổi

khiến các địa phương hiểu không thống nhất, làm mất thời gian giải đáp vướng mắc và
gây phiền phức cho doanh nghiệp.


Một số quy định trong luật và các văn bản hướng dẫn quy trình thủ tục hải

quan cứng nhắc, phụ thuộc nhiều vào kết quả tính toán, phân luồng của hệ thống máy
tính, chưa phù hợp với thực tế.


Luật hải quan chưa có quy định cụ thể về nguyên tắc, mối quan hệ, vai trò, vị


trí, tác động điều chỉnh đối với các hoạt động hải quan, các biện pháp thực hiện; trách
nhiệm và giải trừ trách nhiệm trong áp dụng QLRR, đây được coi là cơ sở pháp lý cho
việc áp dụng quản lí rủi ro.


Các quy định về kiểm tra hải quan vẫn còn bộc lộ nhiều hạn chế.
15




Cơ cấu tổ chức của tổng cục Hải quan còn cồng kềnh và trải qua nhiều cấp

quản lý, khiến việc truyền, nhận thông tin chưa kịp thời, ảnh hưởng đến kết quả kiểm
soát rủi ro. Một số cán bộ công chức chưa thực sự thay đổi cách làm việc, vẫn duy trì
tư duy ngăn chặn rủi ro, chưa có thói quen quản lý rủi ro. Đồng thời, tính đến thời
điểm hiện tại, Tổng cục Hải quan chưa tổ chức lớp tập huấn chính thức về phân tích,
xử lý rủi ro cho các công chức thực hành.


Hệ thống phần mềm máy tính hoạt động chưa ổn định, còn mắc lỗi nên có

lúc gây chênh lệch số liệu, dẫn đến kết quả phân tích không chính xác, ảnh hưởng đến
quá trình thông quan hàng hóa. Việc nối mạng tra cứu thông tin doanh nghiệp từ các
cơ quan hữu quan hiện nay thực hiện chưa đồng bộ nên lượng thông tin phục vụ công
tác phân tích, đánh giá rủi ro còn nghèo nàn.


Trình độ doanh nghiệp không đồng đều và chưa cao cũng làm hạn chế hiệu


quả của phương pháp quản lý mới.


Sự thông thoáng của Luật quản lý mới tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh

nghiệp làm ăn chân chính nhưng cũng tạo kẽ hở cho doanh nghiệp lợi dụng để thực
hiện các hành vi buôn lậu, gian lận thương mại.
IV. Giải pháp nâng cao hoạt động quản lý rủi ro của Hải quan Việt Nam


Thay đổi và thống nhất các văn bản hướng dẫn sao cho đơn giản, dễ hiểu, dễ

tiếp cận đối với các doanh nghiệp ở mọi trình độ.


Nên đưa ra những quy định cụ thể về nguyên tắc, mối quan hệ, vai trò, vị trí,

tác động điều chỉnh đối với các hoạt động hải quan, các biện pháp thực hiện nhằm có
cơ sở pháp lý trong việc quản lý rủi ro.


Tinh gọn quá trình giao nhận thông tin trong Tổng cục Hải quan thông qua

công nghệ thông tin hoặc cơ cấu tổ chức, nhằm đáp ứng kịp thời hơn với nhu cầu thực
tế, tăng khả năng và tốc độ xử lý, kiểm soát rủi ro.


Tổ chức các lớp tập huấn chính thức về phân tích, xử lý rủi ro cho công chức

trong tổng cục Hải quan thực hành, nhằm thay đổi lối tư duy từ ngăn chặn rủi ro thành

quản lý rủi ro.


Luôn nâng cấp, chỉnh sửa hệ thống phần mềm máy tính quản lý dữ liệu trong

cơ quan Hải quan, nhằm tránh mắc lỗi, chênh lệch số liệu,… giúp tăng độ chính xác
của kết quả phân tích, đồng thời phát triển lượng thông tin phục vụ công tác phân tích,
đánh giá rủi ro của cơ quan Hải quan.
16




Tăng cường hợp tác quốc tế:



Tăng cường hỗ trợ, hợp tác với hải quan các quốc gia có hoạt động thương

mại chính đang diễn ra, phát triển các mối quan hệ ngoại giao biên giới, hướng tới các
thỏa thuận thực hiện quy chế thủ tục kiểm tra hải quan đơn giản, thuận lợi hơn như
phối hợp kiểm tra một lần đối với hàng hóa xuất nhập khẩu của các nước láng giềng,
tránh kiểm tra trùng lặp 2 lần tại 2 quốc gia.


Tích cực hợp tác và học hỏi kinh nghiệm của các quốc gia đã áp dụng thành

công phương pháp quản lý rủi ro như Mỹ, EU, Singapore...



Về phía cộng đồng doanh nghiệp:



Chủ động cập nhật kịp thời, thường xuyên các văn bản pháp quy



Nghiêm túc tuân thủ các quy định của pháp luật: doanh nghiệp chấp hành tốt

pháp luật giúp tiết kiệm chi phí thủ tục và hậu cần, nhất là các chi phí bất hợp lý có thể
phát sinh do thời gian thông quan bị kéo dài. Doanh nghiệp có thể chủ động thực hiện
kinh doanh “kịp thời”, không cần phải tốn chi phí để lưu trữ hàng tồn kho, tăng cơ hội
quay vòng vốn, thu lợi nhuận do chi phí giảm.
C. KẾT LUẬN


Quản lý rủi ro là công cụ then chốt giúp cơ quan Hải quan đáp ứng tốt nhất

những yêu cầu của môi trường thương mại quốc tế.


Cơ quan Hải quan phải luôn nỗ lực chủ động phát hiện, xử lý những rủi ro

tiềm ẩn trong từng công đoạn, từng mắt xích trọng yếu, dễ bị xâm hại trong dây
chuyền cung ứng vận tải thương mại quốc tế.


Do vậy ngành Hải quan Việt Nam xây dựng lực lượng làm công tác quản lí


chuyên nghiệp hóa - chuyên sâu về nghiệp vụ, đó là nguyên tắc dẫn đường trong hoạt
động của cơ quan Hải quan hiện đại.

17


BẢNG ĐÁNH GIÁ THÀNH VIÊN NHÓM 8

ST

Họ và tên

Mã SV

Lớp HC

T
1

Phan Thị Thu Trang 17D130111 K53E2

Phân công,

2

(NT)
Trần Thu Trang

17D13025


K53E4

tổng hợp word
Tìm tài liệu

3

Lê Duy Trung

1
17D13004

K53E1

Tìm tài liệu +

4

Nguyễn Thị Uyên

3
17D13018

K53E3

thuyết trình
Tìm tài liệu

5


Vũ Thị Uyên

4
17D13032

K53E5

Tìm tài liệu

6

Nguyễn Phương Vi

4
17D130115 K53E2

Làm powerpoint

7

Hoàng Hải Yến

17D130116 K53E2

Tìm tài liệu

18

Nhiệm vụ


Điểm

Ký tên



Xem Thêm

×