Tải bản đầy đủ

thảo luận nhóm TMU kinh tế chính trị mac lenin một số vấn đề về thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài của việt nam từ sau “đổi mới

NHÓM 9:
Nguyễn Thị Thanh Thúy
Đỗ Thị Thùy
Ngô Thị Thủy
Nguyễn Thủy Tiên
Bùi Huyền Trang
Lê Thiên Hạnh Trang
Đỗ Đức Vượng

Nguyễn Thu Trang
Trần Hà Trang
Nguyễn Thị Anh Trinh
Lương Thị Thu Uyên
Vũ Thị Thanh Uyên
Nguyễn Thị Thảo Vân


MỤC LỤC
A-LÝ LUẬN CỦA LÊNIN VỀ XUẤT KHẨU TƯ BẢN...........................................2
1) Khái niệm về xuất khẩu tư bản:.............................................................................2
2) Nguyên nhân hình thành của xuất khẩu tư bản:..................................................2

3) Các hình thức của xuất khẩu tư bản:.....................................................................3
4) Biểu hiện của xuất khẩu tư bản..............................................................................4
5) Vai trò, ý nghĩa của xuất khẩu tư bản:...................................................................7
B-MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ THU HÚT ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI CỦA
VIỆT NAM TỪ SAU “ĐỔI MỚI”..............................................................................9
1) Thực trạng thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài của Việt Nam từ năm 1986 đến
nay:............................................................................................................................... 9
2) Thuận lợi, ưu điểm của việc đầu tư trực tiếp nước ngoài của Việt Nam từ sau
đổi mới đến nay:.........................................................................................................11
3) Những hạn chế trong thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài của Việt Nam từ sau
“Đổi mới” (1986) đến nay:........................................................................................13
4) Một số giải pháp thu vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam................15
5) Thành tựu về thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài của Việt Nam từ năm
sau “ Đổi Mới” (năm 1986) đến nay:........................................................................16
6) Đánh giá tổng quát về thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài của Việt Nam từ sau
“ Đổi mới” (năm 1986) đến nay:...............................................................................18

1


A- LÝ LUẬN CỦA LÊNIN VỀ XUẤT KHẨU TƯ BẢN
1) Khái niệm về xuất khẩu tư bản:
- Nếu như trong giai đoạn chủ nghĩa tư bản tự do cạnh tranh- giai đoạn cũ thì các
nước tư bản chủ yếu xuất khẩu ra bên ngoài là xuất khẩu hàng hóa nhằm thực hiện giá
trị và giá trị thặng dư đã được tạo ra ở trong nước. Nhưng đến giai đoạn chủ nghĩa tư
bản độc quyền thì họ chủ yếu bên cạnh xuất khẩu hàng hóa còn có xuất khẩu tư bản.
Vậy xuất khẩu tư bản là gì?
Xuất khẩu tư bản là xuất khẩu giá trị ra nước ngoài (đầu tư tư bản ra nước
ngoài) nhằm mục đích chiếm đoạt giá trị thặng dư và các nguồn lợi nhuận khác ở các
nước nhập khẩu tư bản
Ví dụ:
- Xuất khẩu hàng hóa: xuất khẩu mặt hàng thời trang, thực phẩm,… ra nước
ngoài để thu được giá trị và giá trị thặng dư.
- Xuất khẩu tư bản: công ty cử người sang nước ngoài xây dựng công ty con để
làm ăn và thu về lợi nhuận cho công ty trong nước.
2) Nguyên nhân hình thành của xuất khẩu tư bản:
- Lênin khẳng định: “Xuất khẩu tư bản là một quá trình ăn bám bình phương
dựa vào khả năng và tính tất yếu của xuất khẩu tư bản”. Vào cuối thế kỷ XIX đầu thế
kỉ XX, xuất khẩu tư bản trở nên phổ biến là bởi:



Các nước tư bản tích lũy được được khối tư bản lớn dẫn tới “tư bản thừa”

tương đối vì trong nước đầu tư thu lợi thấp buộc họ phải đầu tư ra nước ngoài để thu
được lợi nhuận cao hơn.


Các nước lạc hậu cần vốn để phát triển kinh tế, giá cả ruộng đất thấp, tiền

lương thấp, nguyên liệu rẻ nên lợi nhuận cao  Hấp dẫn đầu tư tư bản.


Chủ nghĩa tư bản càng phát triển thì mâu thuẫn kinh tế- xã hội càng gay gắt.

Xuất khẩu tư bản trở thành biện pháp làm giảm mức gay gắt đó.
 V.I.Lênin đã chỉ rõ tại sao ở các nước thuộc địa, lợi nhuận của tư bản cao hơn
lợi nhuận ở chính quốc Tư bản “thừa” xuất khẩu chủ yếu sang các nước lạc hậu vì ở
đây tư bản còn ít, giá nguyện liệu, giá ruộng đất, giá cả sức lao động thấp. Ngoài ra tư
bản còn được xuất khẩu sang các nước tư bản đang phát triển thiếu vốn hoặc bị tàn phá
trong chiến tranh. Còn có những nước vừa xuất khẩu tư bản vừa nhập khẩu tư abnr
2


như Anh, Tây Đức,... vừa vay tiền của Mỹ, vừa đầu tư tư bản vào Mỹ La-tinh, Châu
Phi, Châu Á.
3) Các hình thức của xuất khẩu tư bản:
- Xét về cách thức đầu tư:


Đầu tư trực tiếp: là hình thức xuất khẩu tư bản để xây dựng những xí nghiệp

mới hoặc mua lại những xí nghiệp đang hoạt động ở nước nhận đầu tư, biến nó thành
một chi nhánh của công ty mẹ. Các xí nghiệp mới được hình thành thường tồn tại dưới
dạng hỗn hợp song phương, nhưng cũng có những xí nghiệp mà toàn bộ số vốn là của
một công ty nước ngoài.
Ví dụ: công ty đa quốc gia quốc tịch Trung Quốc là Lenovo mua bộ phận sản
xuất máy tính xách tay của công ty đa quốc gia mang quốc tịch Mỹ là IBM


Đầu tư gián tiếp: là hình thức xuất khẩu tư bản dưới dạng cho vay thu lãi.

Thông qua ngân hàng tư nhân hoặc các trung tâm tín dụng quốc tế và quốc gia, tư nhân
hoặc các nhà tư bản cho các nước khác vay vốn theo nhiều hạn định khác nhau để đầu
tư vào các đề án phát triển kinh tế. Ngày nay, hình thức này còn được thực hiện bằng
việc mua trái khoán hay cổ phiếu của các công ty ở nước nhập khẩu tư bản.
Ví dụ: đầu tư gián tiếp thông qua các quỹ đang hoạt động tại Việt Nam, chẳng
hạn các quỹ Vietnam Enterprise Investment Fund (VEIL), Vietnam Growth Fund
(VGF), Vietnam Dragon Fund (VDF), Vietnam Opportunities Fund (VOF)…
- Xét theo chủ sở hữu:


Xuất khẩu tư bản nhà nước là hình thức xuất khẩu tư bản mà nhà nước tư bản

lấy tư bản từ ngân quỹ của mình đầu tư vào nước nhập khẩu tư bản, hoặc viện trợ hoàn
lại hay không hoàn lại để thực hiện mục tiêu về kinh tế, chính trị và quân sự. Về kinh
tế, xuất khẩu tư bản nhà nước thường hương vào các ngành thuộc kết cấu hạ tầng để
tạo môi trường thuận lợi cho đầu tư tư bản tư nhân.
+ Về chính trị, viện trợ các nhà nước tư sản nhằm cứu vãn chế độ chính trị thân
cận đang bị lung lay hoặc tạo ra mối liên hệ phụ thuộc lâu dài.
+ Về quân sự, viện trợ của nhà nước tư sản nhằm lôi kéo các nước phụ thuộc vào
các khối quân sự hoặc buộc các nước nhận viện trợ phải đưa quân tham chiến chống
nước khác, cho nước xuất khẩu lập căn cứ quân sự trên lãnh thổ của mình hoặc đơn
thuần để bán vũ khí.
3




Xuất khẩu tư bản tư nhân là hình thức xuất khẩu tư bản do tư bản tự nhân

thực hiện. Ngày nay, hình thức này chủ yếu do các công ty xuyên quốc gia tiến hành
thông qua hoạt động đầu tư kinh doanh. Hình thức xuất khẩu tư bản tư nhân có đặc
điểm là thường được đầu tư vào các ngành kinh tế có vòng quay tư bản ngắn và thu
được lợi nhận độc quyền cao. Xuất khẩu tư bản tư nhân là hình thức chủ yếu của xuất
khẩu tư bản, có xu hướng tăng nhanh, chiếm tỷ lệ cao trong tổng tư bản xuất khẩu.
Nếu những năm 70 của thế kỉ XX, xuất khẩu tư bản tư nhận đạt trên 50% thì đến
những năng 80 nó đã đạt tỷ lệ 70% trong tổng tư bản xuất khẩu.
- Nếu xét về cách thức hoạt động có các chi nhánh của công ty xuyện quốc gia,
hoạt động tài chính tín dụng của các ngân hàng hay các trung tâm tài chính tín dụng và
chuyển giao công nghệ trong đó hoạt động dưới hình thức chuyển giao công nghệ là
biện pháp chủ yếu mà các nước xuất khẩu tư bản thường sử dụng để khống chế nền
kinh tế các nước nhập khẩu tư bản. Xuất khẩu tư bản về thực chất là mở rộng quan hệ
sản xuất tư bản chủ nghĩa trên phạm vi quốc tế, là sự bành chướng của thế lực tư bản
tài chính nhằm bóc lột nhận dân lao động thế giới, làm cho các nước nhập khẩu tư bản
bị bóc lột giá trị thặng dư, cơ cấu kinh tế què quặt, lệ thuộc vào nền kinh tế tư bản chủ
nghĩa. Từ đó là mâu thuẫn kinh tế - xã hội gia tăng.
- Xuất khẩu tư bản của tư nhân có sớm hơn và chiếm ưu thế trong thời kì trước
chiến tranh thế giới thứ hai, ngày nay nó vẫn chiếm vị trí quan trọng.

-

Xuất khẩu nhà nước được tăng cường sau chiến tranh thế giới thứ hai, nó có đặc điểm
là: nguồn vốn tư bản xuất khẩu lấy từ ngân sách và từ số tiền các tổ chức độc quyền
cho nhà nước vay. Nhà nước phải xuất khẩu để xây dựng các kết cấu hạ tầng phục vụ
cho các tổ chức độc quyền đầu tư ra nước ngoài
- Điều quan trọng là phân tích hậu quả của xuất khẩu tư bản. Lênin nhấn mạnh
rằng xuất khẩu tư bản đẩy nhanh sự phát triển chủ nghĩa tư bản trong các nước thuộc
địa nhưng đồng thời kinh tế của các nước đó mang tính chất què quặt, mất cân đối, các
nước thuộc địa trở thành nơi cung cấp nguyên liệu nông nghiệp cho nước chính quốc.
4) Biểu hiện của xuất khẩu tư bản
- Thứ nhất là hướng xuất khẩu tư bản đã có sự thay đổi cơ bản. Trước kia, luồng
tư bản xuất khẩu chủ yếu từ các nước tư bản phát triển sang các nước kém phát triển
( chiếm tỷ trọng trên 70% ). Nhưng những thấp kỷ gần đây đại bộ phận dòng đầu tư lại
chảy qua lại giữa các nước tư bản phát triển với nhau. Tỷ trọng xuất khẩu tư bản giữa
4


3 trung tâm tư bản chủ nghĩa tăng nhanh, đặc biệt dòng đầu tư chảy mạnh theo hướng
từ Nhật Bản vào Mỹ và Tây Âu, cũng như từ Tây Âu chảy sang Mỹ làm cho luồng
xuất khẩu tư bản vào các nước đang phát triển giảm mạnh, thậm chí chỉ còn còn 16,8%
(1996) và hiện nay khoảng 30%
- Trước tình hình đó, nhiều nhà lý luận tư sản cho rằng xuất khẩu tư bản không
còn là thủ đoạn và phương tiện mà các nước giàu dùng để bóc lột các nước nghèo.
Theo họ, xuất khẩu tư bản đã trút bỏ bản chất cũ của nó và trở thành hình thức hợp tác
cùng có lợi trong mối quan hệ quốc tế. Sự hợp tác này diễn ra chủ yếu giữa các nước
tư bản phát triển khác nhau. Đó là quan niệm hoàn toàn.
- Cuộc cách mạng khoa học công nghệ đã tạo ra những biến đổi nhảy vọt trong
sự phát triển của lực lượng sản xuất. Vào những năm 80 của thế kỉ XX nhiều ngành
công nghiệp mới ra đời và phát triển thành các ngành mũi nhọn như: ngành công nghệ
sinh học, ngành chế tạo vật liệuy mới, ngành bán dẫn và vi điện tử, ngành vũ trụ và đại
dương,... Những ngành này có thiết bị và quy trình công nghệ hiện đại, tiêu tốn ít
nguyên liệu nguyên vật liệu. Trong nền kinh tế giữa các nước tư bản phát triển và diễn
ra sự biến đổi cơ cấu các ngành sản xuất mũi nhọn có hàm lượng khoa học kỹ thuật
cao. Sự xuất hiện của những ngành nghề mới đã tạo ra nhu cầu đầu tuy hấp dẫn vì
trong thời gian đầu nó tạo ra lợi nhuận siêu ngạch rất cao. Việc tiếp nhận kỹ thuật mới
chỉ diễn ra ở các nước tư bản phát triển bởi các nước đang phát triển có hạ tầng kinh tế
xã hội lạc hậu, không phù hợp, tính chính trị kém ổn định, sức mua kém, tỷ suất lợi
nhuận của tư bản đầu tư không còn cao như trước (còn với nước đang phát triển nhưng
đã trở thành Nics thì tỷ trọng của luồng tư bản sản xuất vẫn lớn: chiếm 80% tổng tư
bản xuất khẩu của các nước đang phát triển). Mặt khác thời gian này, xu hướng liên
kết các nền kinh tế ở trung tâm tư bản chủ nghĩa phát triển rất mạnh. Hệ quả của hoạt
động này bao giờ cũng hình thành các khối kinh tế với những đạo luật bảo hộ rất khắt
khe. Để nhanh chống chiếm lĩnh thị trường, các công ty xuyên quốc gia đã biến các
doanh nghiệp chi nhanh của mình thành một bộ phận cấu thành của khối kinh tế mới
nhằm tránh đòn thuế quan nặng của các đạo luật bảo hộ. Nhật và Tây Âu đã tích cực
đầu tư vào thị trường Mỹ bằng các đó. Sự biến động về địa bàn và tỷ trọng đầu tư của
các nước tư bản phát triển không làm cho bản chất của xuất khẩu tư bản thay đổi, mà
chỉ làm cho hình thức và xu hướng của xuất khẩu tư bản thêm phong phú và phức tạp
hơn. Sự xuất hiện của các ngành mới có hàm lượng khoa học- công nghệ cao ở các
5


nước tư bản bao giờ cũng dẫn đến cấu tạo hữu cơ của tư bản tăng cao và điều đó tất
yếu dẫn đến tỷ suất lợi nhuận có xu hướng giảm xuống. Hiện tượng thừa tư bản tương
đối, hệ quả của sự phát triển đó là không thể tránh khỏi. Bên cạnh đó, sự phát triển
mạnh mẽ của các thiết bị quy trình công nghệ mới đã dẫn đến sự loại bỏ các thiết bị và
công nghệ lạc hậu ra khỏi quá trình sản xuất trực tiếp (do hao mòn hữu hình và vô
hình). Đối với nền kinh tế thế giới đang phát triển, những tư liệu sản xuất này rất có
ích và vẫn là kỹ thuật mới mẻ. Nhằm mục đích thu lợi nhuận độc quyền cao, các tập
đoàn tư bản độc quyền đưa các thiết bị đó sang các nước đang phát triển dưới hình
thức chuyển giao công nghệ. Rõ ràng, khi chủ nghĩa đế quốc còn tồn tại thì xuất khẩu
tư bản từ các nước tư bản phát triển sang các nước đang phát triển là điều không tránh
khỏi. Xét trong một giai đoạn phát triển nhất định có thể điễn ra sự thay đổi tỷ trọng tư
bản đầu tư vào khu vực nào đó của thế giới, nhưng phân tích 1 thời kỳ dài hơn của quy
mô thế giới cho thấy: xuất khẩu tư bản vẫn là vũ khí chủ yếu mà tư bản độc quyền sử
dụng để bành chướng ra nước ngoài. Tình trạng nợ nần của ác nước đang phát triển ở
châu Á, Phi, My La-tinh là thực tế chứng minh cho kết luận trên.
- Thứ hai là chủ thể xuất khẩu tư bản có sự thay đổi lớn, trong đó vai trò các công
ty xuyên quốc gia trong xuất khẩu tư bản ngày càng to lớn, đặc biệt là FDI. Mặt khác,
đã xuất hiện nhiều chủ thể xuất khẩu tư bản từ các nước đang phát triển mà nổi bật là
các NICs châu Á.
- Thứ ba là hình thức xuất khẩu tư bản rất đa dạng, sự đan quyện giữa xuất khẩu
tư bản và xuất khẩu hàng hóa tăng lên. Chẳng hạn trong đầu tư trực tiếp xuất hiện
những hình thức mới như BOT,BT,... sự kết hợp giữa xuất khẩu tư bản với các hợp
đồng buôn bán hàng hoá, dịch vụ, chất xám không ngừng tăng lên.
- Thứ tư là sự áp đặt mang tính thực dân trong xuất khẩu tư bản đã được gỡ bỏ
dần và nguyên tắc cùng có lợi được đề cao. Ngày nay, xuất khẩu tư bản luôn thể hiện
kết quả 2 mặt. Một mặt nó làm cho các quan hệ tư bản chủ nghĩa được phát triển và
mở rộng ra trên địa bàn quốc tế, góp phần thúc đẩy nhanh chóng quá trình phân công
lao động và quốc tế hóa đời sống kinh tế của nhiều nước; là một trong những nhân tố
cực kì quan trọng tác động từ bên ngoài vào làm cho quá trình công nghiệp hóa và tái
công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở các nước nhập khẩu tư bản phát triển nhanh chóng.
Song mặt khác, xuất khẩu tư bản vẫn để lại cho các quốc gia nhập khẩu tư bản, nhất là
với các nước đang phát triển những hậu quả nặng nề như: nền kinh tế phát triển mất
6


cân đối và lệ thuộc, nợ nần chồng chất do bị bóc lột quá nặng nề. Song điều này tuy
thuộc một phần rất lớn vào vai trò quản lý của nhà nước ở các nước nhập khẩu tư bản.
Lợi dụng mặt tích cực của xuất khẩu tư bản, nhiều nước đã mở rộng việc tiếp nhận đầu
tư để đẩy mạnh quá trình công nghiệp hóa ở nước mình. vấn đề cần đặt ra là phải biết
vận dụng mềm dẻo, linh hoạt, nguyên tắc cùng có lợi, lựa chọn phương án thiết thực,
để khai thác nguồn lực quốc tế hiệu quả.
5) Vai trò, ý nghĩa của xuất khẩu tư bản:
- Vai trò tích cực: Trong quá trình phát triển, chủ nghĩa tư bản có nhiều mặt tích
cực đối với sự phát triển sản xuất xã hội, tiêu biểu trong số đó là:


Thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển nhanh chóng. Quá trình phát triển của

chủ nghĩa tư bản đã làm cho lực lượng sản xuất phát triển mạnh mẽ với trình độ kỹ
thuật và công nghệ ngày càng cao, chuyển từ kỹ thuật lao động thủ công lên kỹ thuật
cơ khí, sang tự động hóa, tin học hóa,... cùng với sự phát triển của kỹ thuật và công
nghệ là quá trình giải phóng sức lao động, nâng cao hiệu quả khám phá và chinh phục
tự nhiên của con người. Ví dụ như: con người tạo ra của cải vật chất, tạo ra giá trị của
hàng hóa từ sự giảo phóng sức lao động của bản thân mình. Chủ nghĩa tư bản có công
lớn thúc đẩy cuộc cách mạng công nghiệp và chuyển nền kinh tế nhân loại bước vào
thời đại mới.


Chuyển nền sản xuất nhỏ thành nền sản xuấ lớn hiện đại. Sự ra đời của chủ

nghĩa tư bản đã đoạt tuyệt với nền kinh tế tự nhiên, chuyển nền kinh tế hàng hóa đơn
giản lên kinh tế hàng hóa tư bản phát triển, chuyển nên sản xuất nhỏ thành nền sản
xuất tập trung quy mô lớn, hiện đại, năng suất cao. Dưới tác động của quy luật giá trị
thặng dư và các quy luật của nền kinh tế thị trường, chủ nghĩa tư bản khích thích, tăng
năng suất lao động, tạo ra khối lượng hàng hóa khổng lồ. Ví dụ như trước kia Việt
Nam chỉ chủ yếu là kinh tế nông nghiệp nhờ xuất khẩu tư bản Việt Nam. Giai đoạn
đầu thế kỉ XXI đã có bước chuyển mình khác đáng kể, tạo ra khối lượng sản phẩm và
tăng năng suất của khối lượng sản phẩm hàng hóa.


Thực hiện xã hội hóa sản xuất, thúc đẩy hàng hóa phát triển mạnh và đạt tới

mức điển hình trong lịch sử, cùng với nó là quá trình xã hội hóa sản xuất về cả chiều
rộng và chiều sâu. Đó là sự phát triển của phân công lao động xã hội, sản xuất tập
trung với các quy mô lớn, hợp lí, chuyên môn hóa và hợp tác lao động sâu sắc. Các
mối liên hệ giữa các quốc gia, đơn vị, ngành, các lĩnh vũ cũng ngày càng chặt chẽ hơn.
7


- Vai trò tiêu cực:


Sự mở rông quan hệ sản xuất ra nước ngoài, là công cụ để bành chướng sự

thống trị, bóc lột, nô dịch của tư bản tài chính trên phạm vi toàn thế giới


Thâm nhập thị trường nước ngoài thông qua hình thức xuất khẩu cũng gây

cho các công ty những khó khăn trong việc tiếp xúc với người tiêu dùng cuối cùng nên
không có các biện pháp mạnh để cạnh tranh.


Mặt khác, các công ty cũng không am hiểu sâu sắc về phong tục tập quán,

luật pháp của thị trường nơi công ty thâm nhập nên cũng dễ bị mất thị trường.
- Ảnh hưởng của xuất khẩu tư bản trong giai đoạn mới:
o

Thúc đẩy sản xuất hàng hóa công nghiệp phát triên

o

Làm chuyển biến, thay đổi nền công nghiệp của 1 quốc gia

o

Là nấc thang để phát triển chủ nghĩa tư bản độc quyền

o

Lực lượng sản xuất phát triển kích thích giá trị tiêu hao sức lao động để tạo

ra giá trị hàng hóa tăng lên.

8


B- MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ THU HÚT ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI
CỦA VIỆT NAM TỪ SAU “ĐỔI MỚI”
1) Thực trạng thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài của Việt Nam từ năm
1986 đến nay:
-Với điều kiện địa lý thuận lợi, lý tưởng, vị trí nước ta tiếp giáp với nhiều nước,
có đường bờ biển dài, nhiều hải cảng thuận lợi cho vận chuyển hàng hóa đường biển,
các dịch vụ tàu biển , trung chuyển xuất nhập khẩu, du lịch biển, nghỉ dưỡng, ….. thu
hút được nhiều nhà đầu tư doanh nghiệp nước ngoài rót vốn để phát triển.
- Điều kiện tự nhiên và khí hậu đa dạng từng vùng miền, vì vậy mà thu hút được
đa dạng các ngành nghề đầu tư, lĩnh vực đầu tư như dịch vụ, du lịch , thương mại, thực
phẩm,cơ sở hạ tầng, giao thông vận tải, thời trang, phụ kiện ,… mở rộng thị trường
đầu tư, khai thác hiệu quả nguồn nhân lực, làm giảm tỉ lệ thất nghiệp .
- Sự phát triển của các cơ sở hạ tầng, trình độ xã hội và GDP trung bình hàng
năm của nước ta theo giai đoạn 2000 – 2010 tăng 7,26 %, thu hẹp khoảng cách kinh tế
trong khu vực, thu hút nguồn vốn đầu tư của các doanh nghiệp nước ngoài như : dự án
đường sắt Cát linh Đông anh hà nội, dự án Vinhtex với tổng vốn đầu tư đăng ký 200
triệu USD do Royal Pagoda Private Limited (Singapore) tại Nghệ An để sản xuất vải
và nhuộm vải dệt kim hay dự án Cao ốc phức hợp - Công ty cổ phần đầu tư Golden
Hill (Quần đảo Virgin thuộc Anh ), tổng vốn đầu tư đăng ký 147,5 triệu USD với mục
tiêu xây dựng khu nhà ở cao tầng để bán cho các tổ chức, cá nhân có nhu cầu về nhà ở
tại TP HCM,…
- Các chính sách thu hút FDI của nước ta được thực hiện ngay từ khi Việt Nam cải
cách kinh tế và được thể chế hóa thông qua ban hành Luật đầu tư nước ngoài năm 1987.
Luật đầu tư nước ngoài được sửa đổi theo từng năm 1990, 1992, 1996, 2000, 2005 để
phù hợp và tạo thuận lợi cho các nhà đầu tư, thu hẹp sự khác biệt giữa đầu tư nước ngoài
và đàu tư trong nước , có nhiều chính sách ưu đãi cho các doanh nghiệp đầu tư.
- Theo Báo cáo Tổng kết 25 năm đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) tại Việt Nam
của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, tính đến tháng 2 năm 2013 nước ta đã thu hút được
14,550 dự án có vốn đầu tư trực tiếp từ nước ngoài còn hiệu lực với tổng vốn đăng ký
đặt 211 tỷ USD .
- Trong giai đoạn 2005-2017, Việt Nam đã thu hút được trên 20.000 dự án, vốn
đầu tư bình quân khoảng 7 triệu USD/dự án. Riêng năm 2018, ghi nhận những thành
9


công nổi bật của Việt Nam trong thu hút FDI, với tổng vốn đầu tư cấp mới, tăng thêm
và cả vốn đầu tư qua góp vốn, mua cổ phần là trên 35,46 tỷ USD. Theo Cục Đầu tư
nước ngoài (Bộ Kế hoạch và Đầu tư) (2018), vốn đầu tư nước ngoài giải ngân đã đạt
mức kỷ lục, với 19,1 tỷ USD, tăng 9,1% so với cùng kỳ năm 2017. Trong năm 2018 có
112 quốc gia và vùng lãnh thổ có dự án đầu tư tại Việt Nam. Nhật Bản đứng thứ nhất
với tổng vốn đầu tư là 8,59 tỷ USD, chiếm 24,2% tổng vốn đầu tư; Hàn Quốc đứng thứ
hai với tổng vốn đầu tư đăng ký 7,2 tỷ USD, chiếm 20,3% tổng vốn đầu tư vào Việt
Nam; Singapore đứng thứ 3 với tổng vốn đầu tư đăng ký là 5 tỷ USD, chiếm 14,2%
tổng vốn đầu tư...
- Trong hơn thập kỷ qua, nhiều dự án đầu tư nước ngoài đã chuyển giao công
nghệ, kinh nghiệm quản lý tiên tiến ở một số ngành, lĩnh vực; tác động lan tỏa nhất
định tới khu vực doanh nghiệp trong nước, qua đó góp phần nâng cao trình độ công
nghệ và quản trị của nền kinh tế. Nhiều dự án lớn đã mang lại bước đột phá, đóng góp
vào nguồn thu ngân sách cho nhiều địa phương.Chẳng hạn, theo báo cáo của UBND
TP Hồ Chí Minh, năm 1992, khối doanh nghiệp FDI chỉ đóng góp hơn 15 tỷ đồng vào
ngân sách nhà nước (chiếm 0,6% tổng thu ngân sách) thì đến năm 2016 thu ngân sách
từ khối doanh nghiệp FDI đạt 48.700 tỷ đồng, chiếm 16,3% tổng thu ngân sách của
Thành phố.
- Khu vực đầu tư nước ngoài cũng đã có những đóng góp đáng kể vào phát triển
ngành dịch vụ chất lượng cao ở Việt Nam như tài chính - ngân hàng, bảo hiểm, kiểm
toán, vận tải biển, logistics, giáo dục - đào tạo, y tế, du lịch… Đồng thời, đây còn là
nhân tố góp phần chuyển đổi không gian phát triển, hình thành các khu đô thị mới, các
khu công nghiệp, khu chế xuất, khu kinh tế…

10


- Trong tổng vốn đầu tư nước ngoài , đầu tư vào lĩnh vực công nghiệp chế biến
chế tạo lớn nhất lên đến 162 tỷ USD lớn hơn nhiều so với lĩnh vực nông lâm ngư
nghiệp cho thấy tỷ trọng đầu tư vào lĩnh vực này còn thấp. Thực tế cho thấy, đầu tư
FDI chủ yếu tập trung vào những lĩnh vực có khả năng thu lợi nhuận cao, thu hồi vốn
nhanh, khai thác thị trường nội địa dễ, các nghành đòi hỏi công nghệ đơn giản như sản
xuất chính phẩm, chế biến nông lâm thủy sản, du lịch, khách sạn nhà hàng,..
- Từ khi ban hành Luật Đầu tư nước ngoài năm 1987, Việt Nam đã chú trọng thu
hút đầu tư nước ngoài vào lĩnh vực công nghiệp – xây dựng. Qua mỗi giai đoạn các
lĩnh vực ưu tiên thu hút đầu tư, các sản phẩm cụ thể được xác định tại Danh mục các
lĩnh vực khuyến khích và đặc biệt khuyến khích đầu tư tạo sự đơn giản hóa cho doanh
nghiệp đầu tư.
2) Thuận lợi, ưu điểm của việc đầu tư trực tiếp nước ngoài của Việt Nam từ
sau đổi mới đến nay:
- FDI không để lại gánh nặng nợ cho Chính phủ nước tiếp nhận đầu tư như ODA
(Hỗ trợ phát triển chính thức) hoặc các hình thức đầu tư nước ngoài khác như vay
thương mại, phát hành trái phiếu ra nước ngoài…
-Các nhà đầu tư nước ngoài tự bỏ vốn ra kinh doanh, trực tiếp điều hành sản xuất
kinh doanh, hoàn toàn chịu trách nhiệm về kết quả đầu tư. Nước tiếp nhận FDI ít phải
chịu những điều kiện ràng buộc kèm theo của người cung ứng vốn như của ODA.
- Thực hiện liên doanh với nước ngoài, việc bỏ vốn đầu tư của các doanh nghiệp
trong nước có thể giảm được rủi ro về tài chính, trong tình huống xấu nhất khi gặp rủi
ro thì các đối tác nước ngoài sẽ là người cùng chia sẻ rủi ro với các công ty của nước
sở tại. Do vậy, FDI là hình thức thu hút và sử dụng vốn đầu tư nước ngoài tương đối ít
rủi ro cho nước tiếp nhận đầu tư.
- FDI không đơn thuần chỉ là vốn, mà kèm theo đó là công nghệ, kỹ thuật,
phương thức quản lý tiên tiến, cho phép tạo ra những sản phẩm mới, mở ra thị
trường mới… cho nước tiếp nhận đầu tư:
+ Đây là điểm hấp dẫn quan trọng của FDI, bởi vì hầu hết các nước đang phát
triển có trình độ khoa học và công nghệ thấp, trong khi phần lớn những kỹ thuật mới
xuất phát chủ yếu từ các nước công nghiệp phát triển, do đó để rút ngắn khoảng cách
và đuổi kịp các nước công nghiệp phát triển, các nước này rất cần nhanh chóng tiếp
cận với các kỹ thuật mới. Tùy theo hoàn cảnh cụ thể của mình, mỗi nước có cách đi
11


riêng để nâng cao trình độ công nghệ, nhưng thông qua FDI là cách tiếp cận nhanh,
trực tiếp và thuận lợi.
+ Thực tế đã cho thâý FDI là 1 kênh quan trọng đối với việc chuyển giao công
nghệ cho các nước đang phát triển như Việt Nam. Đầu tư trực tiếp nước ngoài có tác
động mạnh đến quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế của nước ta, thúc đẩy quá trình
này trên nhiều phương diện: chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế, cơ cấu vùng lãnh thổ,
cơ cấu các thành phần kinh tế, cơ cấu vốn đầu tư, cơ cấu công nghệ, cơ cấu lao
động….
+ Thông qua tiếp nhận FDI, nước ta có điều kiện thuận lợi để gắn kết nền kinh tế
trong nước với hệ thống sản xuất, phân phối, trao đổi quốc tế, thúc đẩy quá trình hội
nhập kinh tế quốc tế của nước này.
+ Thông qua tiếp nhận đầu tư, nước ta có điều kiện thuận lợi để tiếp cận và thâm
nhập thị trường quốc tế, mở rộng thị trường xuất khẩu, thích nghi nhanh hơn với các
thay đổi trên thị trường thế giới… FDI có vai trò làm cầu nối và thúc đẩy quá trình hội
nhập kinh tế quốc tế, một nhân tố đẩy nhanh quá trình toàn cầu hóa kinh tế thế giới.
VD: Thực tế cho thấy, khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài ngày càng
khẳng định vai trò quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội Việt Nam và là
khu vực có tốc độ phát triển năng động nhất. Tỷ trọng vốn FDI trong tổng vốn đầu tư
phát triển toàn xã hội duy trì ở mức khoảng 18 - 25% trong giai đoạn 1991 - 2018. FDI
góp phần quan trọng hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ
nghĩa, hệ thống chính sách, pháp luật về đầu tư kinh doanh, thúc đẩy chuyển dịch cơ
cấu kinh tế, duy trì đà tăng trưởng xuất khẩu, tăng nguồn thu ngân sách, tạo việc làm,
chuyển dịch cơ cấu lao động, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế và nâng cao năng
lực sản xuất công nghiệp; thúc đẩy chuyển giao công nghệ…; tác động tích cực với sự
phát triển của khu vực tư nhân trong nước… nâng cao thế và lực của của Việt Nam
trên thế giới.
FDI có lợi thế là có thể được duy trì sử dụng lâu dài, từ khi một nền kinh tế còn ở
mức phát triển thấp cho đến khi đạt được trình độ phát triển rất cao. Vốn ODA thường
được dành chủ yếu cho những nước kém phát triển, sẽ giảm đi và chấm dứt khi nước
đó trở thành nước công nghiệp, tức là bị giới hạn trong một thời kỳ nhất định. FDI
không phải chịu giới hạn này, nó có thể được sử dụng rất lâu dài trong suốt quá trình
phát triển của mỗi nền kinh tế.
12


Theo số liệu của Tổng cục Thống kê (Bộ Kế hoạch và Đầu tư), trong quý I/2019
(tạm tính đến ngày 20/3/2019) đã có 18 quốc gia, vùng lãnh thổ nhận đầu tư của vốn
đầu tư Việt Nam ra nước ngoài cấp mới và tăng thêm đạt
120 triệu USD. Trong đó, có 24 dự án được cấp giấy chứng nhận đăng ký đầu tư
mới với tổng vốn đầu tư bên Việt Nam là 80,4 triệu USD; Có 8 dự án điều chỉnh vốn
đầu tư với vốn đầu tư Việt Nam tăng thêm là 39,6 triệu USD.Với những ưu thế quan
trọng như trên ngày càng có nhiều nước coi trọng FDI hoặc ưu tiên, khuyến khích tiếp
nhận FDI hơn các hình thức đầu tư nước ngoài.
3) Những hạn chế trong thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài của Việt Nam từ
sau “Đổi mới” (1986) đến nay:
- Mức độ kết nối, lan tỏa của khu vực đầu tư nước ngoài đến khu vực đầu tư
trong nước còn thấp, thu hút và chuyển giao công nghệ từ khu vực đầu tư nước ngoài
đến khu vực đầu tư trong nước còn chưa đạt được như kỳ vọng, chủ yếu là gia công
lắp ráp, tỷ lệ nội địa hóa trong một số ngành thấp, giá trị gia tăng trên một đơn vị sản
phẩm chưa cao. Nhiều bất cập khác cũng đã được giới nghiên cứu đề cập tới, trong đó
đáng chú ý như: Liên kết của khu vực FDI đến khu vực trong nước chưa chặt chẽ và
hiệu ứng lan tỏa năng suất chưa cao. Dự án FDI chủ yếu tập trung ở các ngành sử dụng
nhiều lao động, công nghệ trung bình. Phần lớn phụ tùng, nguyên vật liệu và dịch vụ
đi kèm cho sản xuất được nhập khẩu, thay vì được cung ứng bởi các DN trong nước.
Mục tiêu tiếp thu công nghệ mới, tiên tiến từ các nước công nghiệp phát triển hàng đầu
rất khó khăn và gần như không đạt được.
- Chưa có nhiều tập đoàn đa quốc gia trong các lĩnh vực sử dụng công nghệ cao,
công nghệ nguồn, tỷ lệ doanh nghiệp đầu tư cho nghiên cứu và phát triển còn ít. Thu
hút đầu tư nước ngoài vào một số ngành, lĩnh vực ưu tiên và từ các tập đoàn đa quốc
gia còn hạn chế. Các doanh nghiệp đầu tư nước ngoài đang đầu tư, kinh doanh tại Việt
Nam về cơ bản sử dụng công nghệ trung bình hoặc trung bình tiên tiến so với khu vực.
- Một số dự án còn tiêu tốn năng lượng, thâu dụng tài nguyên, gây ô nhiễm môi
trường... Thống kê cho thấy, chỉ khoảng 5% DN FDI sử dụng công nghệ cao, hiện đại.
Máy móc, thiết bị, dây chuyền sản xuất ở khu vực FDI không quá vượt trội so với các
DN trong nước, phần lớn ở mức độ trung bình, hoặc trung bình tiên tiến của khu vực.
Việc cập nhật công nghệ, tỷ lệ DN đầu tư hoạt động nghiên cứu và phát triển còn hạn
chế, chủ yếu là mua hơn là phát triển nâng cao và đổi mới công nghệ. Thu hút FDI vào
13


một số ngành, lĩnh vực ưu tiên và từ các tập đoàn xuyên quốc gia còn hạn chế. Chủ
trương thu hút FDI từ các tập đoàn xuyên quốc gia vào công nghệ cao, dịch vụ hiện
đại, chưa đạt yêu cầu và chậm được cải thiện. Đến nay, mới có hơn 100 tập đoàn
xuyên quốc gia trong số 500 tập đoàn xuyên quốc gia hàng đầu thế giới hoạt động tại
Việt Nam. Theo số liệu của Bộ Kế hoạch - Đầu tư, 80% DN FDI có công nghệ trung
bình, 14% công nghệ thấp và lạc hậu, 6% là công nghệ cao. Bên cạnh đó, các DN FDI
đầu tư công nghệ thấp, sai địa điểm, sai mục đích, công suất sử dụng thấp so với mức
tối đa cho phép, trình độ người lao động thấp, không có khả năng tiếp thu và vận hành
công nghệ hiện đại.
- Nhà đầu tư nước ngoài đầu tư vào Việt Nam trước hết là vì mục tiêu lợi nhuận.
Hầu hết họ mong muốn làm ăn nghiêm túc, hợp tác với nước chủ nhà để cùng chia sẻ
thành công và lợi ích nhưng cũng có một bộ phận nhà đầu tư thiếu năng lực, thiếu
thiện chí. Hiện tượng doanh nghiệp chuyển giá, trốn thuế hoặc chưa nghiêm túc thực
hiện các quy định về bảo vệ môi trường vẫn còn phổ biến.
Dư luận đang đặt vấn đề khi một số DN FDI có hành vi chuyển giá như: “Khai
sai giá trị máy móc, thiết bị nhập khẩu góp vốn dẫn đến thất thu ngân sách nhà nước,
tăng nhập siêu, ảnh hưởng môi trường đầu tư”. Cụ thể, tại tỉnh Long An, với 576 dự
án FDI đang hoạt động, trung bình mỗi năm có 59,2% đến 73,5% các DN FDI kinh
doanh hòa và lỗ vốn. Qua đó, số thuế DN FDI nộp ngân sách nhà nước chỉ chiếm từ
6% đến 22% tổng số thu nội địa. Theo Cục Thuế Long An, việc kiểm soát chuyển giá
của DN còn nhiều khó khăn, phức tạp do thiếu nhiều thông tin, dữ liệu để nhận định
đối tượng có chuyển giá hay không; nguồn thông tin, dữ liệu từ các giao dịch độc lập
để so sánh, ấn định giá trong giao dịch liên kết rất hạn chế, chưa đáp ứng được yêu cầu
thanh tra, kiểm tra giá chuyển nhượng…
- Chất lượng nguồn nhân lực, kết cấu hạ tầng còn nhiều bất cập, công tác quản lý
nhà nước về đầu tư nước ngoài còn thiếu sự phối hợp từ Trung ương đến địa phương;
Hiệu quả sử dụng đất của nhiều dự án đầu tư nước ngoài chưa cao…
- Có những doanh nghiệp FDI chưa bảo đảm quyền, lợi ích chính đáng của người
lao động Việt Nam, tuyển dụng lao động nước ngoài, trong đó có lao động phổ thông,
không đúng quy định của pháp luật… Thực trạng này cũng khiến cho quan hệ lao
động trong nhiều thời điểm trở nên căng thẳng, gây bất ổn chính trị, kinh tế xã hội địa
phương, ảnh hưởng không tốt đến môi trường kinh doanh, đầu tư tại Việt Nam.
14


4) Một số giải pháp thu vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam
-Phát triển kinh tế vẫn luôn là một yêu cầu khẩn thiết mang tính toàn cầu. Toàn
cầu hoá nối làm nổi bật tầm quan trọng đang tăng lên của nền kinh tế quốc tế đối với
các nước đang phát triển. Các luồng tài chính, thông tin, kỹ năng, công nghệ, hàng hoá
và dịch vụ giữa các nước đang tăng lên một cách nhanh chóng. FDI là một trong
những yếu tố năng động nhất trong luồng các nguồn lực quốc tế đang tăng lên đối với
các nước đang phát triển.Luồng đầu tư vào châu á đang trên đà phục hồi. Cuộc khủng
hoảng tài chính tiền tệ ở châu á tuy đã tạm thời cản trở luồng đầu tư vào khu vực này
và liên khu vực, tuy nhiên tự do hoá đầu tư đã trở thành một xu thế lớn trong khu vực
và trên thế giới mà cuộc khủng hoảng này không này không thể đảo ngược, mà trái lại
còn trở thành một nhân tố thúc đẩy nó. Các nước đều coi FDI là một nguồn vốn ổn
định hơn so vốn ngắn hạn và có vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế, đồng thời là
nguồn chuyển giao công nghệ chính yếu cho nước tiếp nhận.
- Xét về mặt lâu dài, luồng FDI vào châu Á nói chung và vào Việt Nam nói riêng
chịu ảnh hưởng của hai yếu tố: sự cạnh tranh của khu vực với bên ngoài và sự cạnh
tranh 30 giữa các nước trong khu vực. Các nền kinh tế lớn của thế giới là Mỹ, Nhật
Bản, Tây Âu vẫn sẽ là những nơi chiếm khoảng 70% tổng vốn đầu tư. Phần còn lại sẽ
được phân định bằng sự cạnh tranh của các nước đang phát triển mà gay gắt nhất là
khu vực Đông Nam Á, Trung Quốc, Ấn Độ, Mỹ Latinh.
- Tuy nhiên theo diễn biến thực tế của FDI trong những năm qua có thể dự báo
khả năng thu hút FDI của Việt Nam trong những năm đầu thế kỷ 21 mức khả quan
cũng chỉ đạt được 3-4 tỷ USD mỗi năm. Triển vọng của FDI vào Việt Nam phụ thuộc
vào xu hướng chung của FDI trên thế giới và FDI vào khu vực châu á và Đông Nam á,
đồng thời phụ thuộc vào những chính sách của Việt Nam trong thu hút đầu tư nước
ngoài. Nhật Bản đã đặt nền tảng để đầu tư mạnh mẽ vào Việt Nam. Trên thực tế, Việt
Nam đã thu hút được sự chú ý của các nhà đầu tư Nhật Bản do bên cạnh những lợi thế
so sánh còn bởi vì đầu tư vào Việt Nam phù hợp với chiến lược đầu tư của Nhật Bản
cụ thể là tìm nơi đầu tư để thực hiện tiêu thụ sản phẩm tại nước sở tại hoặc xuất khẩu
sang nước thứ ba hoặc thậm chí xuất khẩu trở lại chính nước Nhật. Nhật Bản xem Việt
Nam là thị trường có chi phí lao động thấp, có lợi thế trong sản xuất các sản phẩm sử
dụng nhiều lao động tiêu thụ ngay tại Việt Nam và các nước trong khu vực.Chính phủ
Nhật đã và đang có những hỗ trợ tài chính giúp Việt Nam cải thiện cơ sở hạ tầng thông
15


qua các dự án ODA. Như vậy có thể thấy rằng Nhật Bản đã có những chiến lược nhất
định để xâm nhập mạnh hơn vào thị trường Việt Nam. Các công ty của Nhật đang tích
cực đầu tư vào cơ sở hạ tầng và công nghiệp Việt Nam trong vài năm tới họ sẽ chuyển
từ chỗ coi Việt Nam là thị trường tiêu thụ( xuất khẩu) sang là thị trường sản xuất.
- Dòng đầu tư của các nước Tây Âu và Mỹ dự báo sẽ tăng trong tương lai. Do bị
trói buộc bởi lệnh cấm vận nên các nhà đầu tư Mỹ đến thị trường Việt nam muộn hơn
so với các công ty của quốc gia khác. Mặc dù vậy cho đến nay Mỹ đã có 54 dự án đầu
tư vào Việt Nam , 280 văn phòng đại diện của các công ty cũng đang hoạt động tại
Việt Nam. Khủng hoảng của các nước trong khu vực và kèm theo đó là dòng FDI từ
các nước này vào Việt Nam giảm sút tạo cơ hội cho các công ty của Mỹ và Tây Âu đầu
tư vào Việt Nam.Hiện nay cả hai chính phủ Việt Nam và Mỹ đã tiến hành ký kết hiệp
định Việt – Mỹ. Hiệp định này sẽ là một bước phát triển mới trong quan hệ thương mại
Việt – Mỹ và mở ra những cơ hội kinh doanh cho cả hai bên, có tác dụng tích cực
trong thúc đẩy các nhà đầu tư Mỹ vào Việt Nam.
- Trong những năm qua, với sự tăng trưởng kinh tế cao và tương đối ổn định, với
môi trường đầu tư đã được cải thiện đáng kể, Việt Nam đã thu hút được nhiều nhà đầu
tư nước ngoài. Tuy nhiên hoạt động đầu tư nước ngoài trong những năm qua cũng còn
nhiều trở ngại do sự hạn chế của cơ sở hạ tầng, hệ thống luật pháp, chính sách kinh tế.
Đó cũng là điều không thể tránh khỏi đối với một nước đang phát triển, đang trong quá
trình chuyển đổi từ cơ chế kế hoạch hoá tập trung sang cơ chế thị trường, đó cũng là
những thách thức mà Việt Nam phải vượt qua
5) Thành tựu về thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài của Việt Nam từ
năm sau “ Đổi Mới” (năm 1986) đến nay:
- Việc mở cửa thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) là một chủ trương
lớn, đúng đắn của Đảng và Nhà nước, góp phần thực hiện nhiều mục tiêu phát triển
kinh tế - xã hội quan trọng của đất nước trong suốt chặng đường 30 năm qua. Trong
hơn 30 năm qua, thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài của Việt Nam đạt được một số
thành tựu nổi bật như sau:
- Thứ nhất, dòng vốn đầu tư nước ngoài vào Việt Nam ngày càng gia tăng, góp
phần bổ sung nguồn vốn đầu tư phát triển kinh tế-xã hội. Tính từ năm 1988 đến hết
năm 2018, Việt Nam đã thu hút 29792 dự án với tổng số vốn đăng ký lũy kế khoảng

16


400 tỷ USD. Riêng năm 2018, vốn FDI ước thực hiện đạt 19,1 tỷ USD, tăng 9,1% so
với năm 2017.

- Thứ hai, quá trình thu hút đầu tư nước ngoài đóng góp tích cực vào thành công
của công cuộc đổi mới trong những năm qua. Trong ba thập kỷ qua, khu vực FDI đóng
vai trò ngày càng quan trọng trong nền kinh tế Việt Nam. Năm 2018, khu vực FDI
chiếm 23,4% tổng vốn đầu tư của cả nước. Kim ngạch hàng hóa xuất khẩu năm 2018
ước tính đạt 244,7 tỷ USD, tăng 13,8% so với năm 2017, trong đó, khu vực FDI (kể cả
dầu thô) đạt 175,5 tỷ USD, tăng 12,9% so với 2017.

17


-Thứ ba, thu hút đầu tư nước ngoài đã góp phần tích cực thúc đẩy sự chuyển dịch
cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động theo hướng công nghiệp hóa - hiện đại hóa. Về cơ cấu,
khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài chiếm khoảng 37% giá trị sản xuất công
nghiệp của cả nước. Về cơ cấu vùng, đầu tư nước ngoài tập trung chủ yếu ở các vùng
kinh tế trọng điểm đã góp phần làm cho các vùng này thực sự là vùng kinh tế động lực
để lôi kéo sự phát triển chung và các vùng phụ cận.
- Thứ tư, đầu tư nước ngoài là cầu nối quan trọng giữa kinh tế Việt Nam với nền
kinh tế thế giới, thúc đẩy phát triển thương mại, du lịch và tạo điều kiện quan trọng để
Việt Nam hội nhập ngày càng chủ động và sâu hơn vào đời sống kinh tế thế giới.
- Thứ năm, đầu tư nước ngoài có tác động đến kinh tế trong nước, thúc đẩy các
doanh nghiệp nâng cao khả năng cạnh tranh, đổi mới phương thức quản trị doanh
nghiệp cũng như phương thức kinh doanh; đồng thời nâng cao sức cạnh tranh của nền
kinh tế.
=>Tóm lại, thông qua thu hút đầu tư nước ngoài, nhiều nguồn lực trong nước như
lao động, đất đai, lợi thế địa kinh tế, tài nguyên được khai thác và sử dụng có hiệu quả
hơn.
6) Đánh giá tổng quát về thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài của Việt Nam
từ sau “ Đổi mới” (năm 1986) đến nay:
- Việt Nam đang trong quá trình chuyển từ nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung
sang nền kinh tế thị trường có sự điều tiết của nhà nước. Trong những năm qua, Việt
Nam đã đạt được những kết quả đáng khích lệ trong phát triển kinh tế: tốc độ tăng
trưởng kinh tế cao trong nhiều năm, giải quyết tốt vấn đề lương thực, tăng nhanh kim
ngạch xuất khẩu... Tuy nhiên, Việt Nam cũng còn đang phải đối phó với những thách
thức to lớn trong quá trình phát triển. Cũng như các nước đang phát triển khác, Việt
Nam thiếu vốn, thị trường, công nghệ và những kinh nghiệm trong quản lý để xây
dựng và phát triển kinh tế.
- Đầu tư trực tiếp nước ngoài (Foreign Direct Investment – FDI) là một hình thức
của đầu tư nước ngoài đóng vai trò quan trọng đối với tăng trưởng và phát triển kinh tế
của các nước đang phát triển. Đầu tư trực tiếp nước ngoài và đi kèm với nó là sự
chuyển giao về vốn, công nghệ, thị trường và các kinh nghiệm trong quản lý đáp ứng
nhu cầu của các nước đang phát triển, đồng thời góp phần tạo việc làm cho người lao
động. Với việc thực hiện chính sách khuyến khích đầu tư nước ngoài, trong hơn 10
18


năm qua Việt Nam đã thu hút được lượng vốn đầu tư đăng ký đạt hơn 36 tỷ USD. Đây
là nguồn lực quý báu để xây dựng và phát triển kinh tế Việt Nam. Đầu tư trực tiếp
nước ngoài đã tạo việc làm cho hàng vạn lao động, góp phần vào tăng GDP và kim
ngạch xuất khẩu.
- Nước ta đã và đang tiến hành từng bước hội nhập nền kinh tế khu vực và thế
giới. Bên cạnh việc tiếp tục thúc đẩy quan hệ song phương về các mặt thương mại, đầu
tư và trao đổi trên nhiều lĩnh vực khác theo hướng đa dạng hoá, đa phương hoá, từng
bước đảm bảo thực hiện quyền tự do hợp tác kinh doanh với nước ngoài đối với mọi
doanh nghiệp, nước ta tham gia đầy đủ hơn vào cơ chế đa phương nhằm thu hút tối đa
nguồn lực bên ngoài cho
phát triển, thúc đẩy cải cách thể chế kinh tế thị trường. Vì thế, trong bối cảnh tự
do hoá thương mại và toàn cầu hoá nền kinh tế thế giới tạo nhiều cơ hội cho Việt Nam
phát triển. Để có thể tận dụng được các cơ hội, chúng ta phải chủ động hội nhập, xây
dựng chiến lược cơ cấu thích ứng vào nền kinh tế thế giới để nền kinh tế nước ta gắn
kết ngày càng mạnh hơn,dần trở thành một thực thể hữu cơ của kinh tế khu vực và
kinh tế thế giới.
- Trong hơn một thập kỷ trở lại đây, quá trình toàn cầu hoá kinh tế đã được thúc
đẩy với một tốc độ nhanh và ngày càng toàn diện hơn, vừa tạo cơ hội vừa đặt ra thách
thức đối với mọi quốc gia, nhất là các nước đang phát triển như Việt Nam. Trong bối
cảnh tự do hoá thương mại và toàn cầu hoá nền kinh tế thế giới đang trong quá trìnhh
cơ cấu lại có thể tạo nhiều cơ hội cho Việt Nam phát triển.Việt Nam cần có chiến lược
kinh tế đối ngoại rộng
mở, nhất quán, thực hiện chính sách kinh tế linh hoạt, thích ứng nhanh với môi
trường thế giới đang thay đổi nhanh chóng và có thể tận dụng kịp thời các cơ hội.
- Trong quá trình toàn cầu hoá, vai trò của các công ty đa và xuyên quốc gia ngày
càng to lớn, vì một mặt là động lực thúc đẩy sự phát triển nền kinh tế thế giới, thúc đẩy
phát triển nền công nghệ, kỹ thuật hiện đại, mặt khác ảnh hưởng tới tính ổn định của
nền kinh tế thế giới và đặt yêu cầu về sự thay đổi cách nhìn nhận đối với chủ quyền
quốc gia, khi hiệp định đầu tư đa phương chính thức phê chuẩn. Việc thu hút các công
ty xuyên quốc gia vào đầu tư tại Việt Nam là rất cần thiết, nhưng thách thức đặt ra cho
Việt Nam là phải có lực lượng, nhất là nguồn lực con người thật tốt và có sách lược
khôn khéo để tiếp nhận công nghệ hiện đại từ các công ty này, đồng thời phải nắm
19


vững luật pháp và thông lệ quốc tế, chuẩn bị tốt khung pháp luật và thể chế trong nước
một cách có hiệu quả để quản lý tốt các công ty thuộc loại hình này, nếu không nền
kinh tế sẽ bị lệ thuộc và bị chi phối của các công ty này, không đảm bảo được sự phát
triển bền vững và thúc đẩy nhanh quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.
- Thu hút đầu tư nước ngoài nhằm tạo ra nguồn lực để phát triển kinh tế và tạo
việc làm cho người lao động là xu hướng quan trọng đối với nhiều quốc gia. FDI là
phương hướng quan trọng đối với tăng trưởng, phát triển kinh tế ở Việt Nam và trong
quá trình toàn cầu hoá nền kinh tế, nắm chắc khoa học và công nghệ, cùng với một thị
trường phát triển, năng động và quản lý hiệu quả chính là chìa khoá cho sự phát triển
của nền kinh tế.
- Bằng các đóng góp rất cụ thể vào tăng trưởng, tạo nguồn thu ngân sách, tạo việc
làm và thúc đẩy hội nhập quốc tế, đã minh chứng rõ ràng vai trò quan trọng của FDI
đối với sự thành công của chính sách đổi mới của Việt Nam. Tuy nhiên, bên cạnh vai
trò tích cực, FDI cũng đã và đang tạo ra nhiều vấn đề gây hậu quả tiêu cực đến môi
trường, tiềm ẩn nguy cơ của khủng hoảng và mất cân đối trong nền kinh tế. Những hạn
chế này đã làm cho hiệu quả sử dụng FDI chưa cao và thiếu tính bền vững.
- Trong bối cảnh phát triển mới của Việt Nam, FDI vẫn đóng vai trò quan trọng
với công nghiệp hoá, hiện đại hoá nền kinh tế. Tuy nhiên, vai trò của FDI chỉ thực sự
quan trọng nếu được sử dụng có hiệu quả cao và tạo được sự phát triển bền vững. Do
đó, Chính phủ nên thu hút, sử dụng FDI một cách có lựa chọn, khuyến khích đầu tư
vào những ngành nền kinh tế thực sự cần và phát triển đảm bảo tính bền vững về dài
hạn. Phải phấn đấu cao hơn
nữa nhằm thực hiện mục tiêu cao cả xây dựng một nền kinh tế phồn vinh, dân
giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.

20



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×