Tải bản đầy đủ

thảo luận nhóm TMU hoạt động xác định trị giá hải quan ở việt nam hiện nay đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả xác định trị giá hải quan

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU
Trị giá hải quan của hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu có vai trò quan trọng
trong quản lý hoạt động thương mại quốc tế. Việc áp dụng, thực hiện các
phương pháp xác định trị giá hải quan của hàng hoá xuất, nhập khẩu một cách
hợp lý và khoa học sẽ góp phần quản lý đúng trị giá giao dịch của hàng hóa xuất
khẩu, nhập khẩu, phản ánh đúng thực tế các hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu, các
hoạt động thương mại quốc tế. Đồng thời, tạo lập được một môi trường kinh
doanh bình đẳng giữa các thành phần kinh tế, thúc đẩy sản xuất - kinh doanh
trong nước phát triển, và dễ dàng hơn để thu hút vốn đầu tư nước ngoài, giúp
doanh nghiệp chủ động hơn trong việc tìm kiếm nguồn hàng có giá cả hợp lý,
thuận lợi cho hoạt động kinh doanh của mình. Sự thiếu hụt những phương pháp
xác định trị giá hải quan hiệu quả gây ảnh hưởng đến kết quả của các chính sách
quản lý thương mại và quản hải quan. Các phương pháp xác định trị giá hải quan
luôn là chủ để của nhiều Hiệp định quốc tế bởi vì trị giá hải quan có thể trở
thành một rào cản cho thương mại. Trị giá hàng hóa có thể khác nhau do biến
động giá trên thị trường và đặc biệt là các căn cứ, cách thức xác định trị giá. Nếu
trị giá tính cao hơn giá trị thực thì số thuế quan phải nộp tăng lên, tức là hàng
hóa khó xâm nhập thị trường hơn.
Vì vậy, việc tìm hiểu về hoạt động xác định trị giá hải quan ở Việt Nam

hiện nay là vô cùng quan trọng và cần thiết. Nhằm nghiên cứu những vấn đề liên
quan đến trị giá hải quan, đánh giá tình hình quản lý và áp dụng trị giá hải quan
từ đó đề ra giải pháp đồng bộ, góp phần giải quyết những vấn đề thực tiễn hiện
nay.
I. Lý thuyết
1. Khái niệm
1

1


Trị giá hải quan là trị giá của hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu dùng cho mục
đích quản ký nhà nước về hải quan.
Trị giá hải quan bao gồm trị giá hải quan của hàng hóa xuất khẩu và trị giá
hải quan của hàng hóa nhập khẩu.
-

Trị giá hải quan đối với hàng xuất khẩu là giá bán của hàng hóa tính đến cửa

-

khẩu xuất không bao gồm phí bảo hiểm quốc tế (I), phí vận tải quốc tế (F).
Trị giá hải quan đối với hàng nhập khẩu là giá thực tế phải trả tính đến cửa khẩu
nhập đầu tiên.
2. Vai trò việc xác định trị giá hải quan
Trong bối cảnh hiện nay, trị giá hải quan thể hiện các vai trò cơ bản là:
- Trị giá hải quan là cơ sở cho việc tính toán, xác định và thu nộp thuế
đánh vào hàng hóa xuất nhập khẩu
Hàng hóa khi xuất khẩu hay nhập khẩu có thể phải chịu sự điều chỉnh của
các Luật thuế như thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu, thuế giá trị gia tăng, thuế tiêu
thụ đặc biệt, thuế bảo vệ môi trường, thuế chống bán phá giá… Trong trường
hợp luật pháp quy định xác định số tiền thuế phải nộp theo phương pháp tỷ lệ,
sử dụng thuế suất theo tỷ lệ phần trăm, thì một trong các cơ sở tính toán để xác
định ra số thuế phải nộp chính là trị giá hải quan của hàng hóa.
- Trị giá hải quan phục vụ mục tiêu quản lý và xây dựng chính sách xuất
nhập khẩu hàng hóa trong nền kinh tế
Trị giá hải quan về hàng hóa xuất nhập khẩu cho biết tổng giá trị hàng hóa
đã được xuất khẩu hay nhập khẩu trong từng kỳ quản lý. Đây chính là số liệu
quan trọng giúp xây dựng Bảng cân đối kim ngạch xuất nhập khẩu của nền kinh
tế, từ đó, cơ quan quản lý có thể biết được trong kỳ đó, nền kinh tế có đạt được


sự cân bằng về xuất nhập khẩu hay không, có hiện tượng nhập siêu hay xuất siêu
không, để có chính sách quản lý và điều chỉnh phù hợp.
- Trị giá hải quan là cơ sở để thực thi các chính sách quản lý hàng hóa
xuất khẩu, nhập khẩu

2

2


Trong một số trường hợp, để bảo vệ nền kinh tế và sản xuất trong nước, các
quốc gia thường sử dụng công cụ hạn ngạch (quota) như một hàng rào phi thuế
quan. Để có thể nhận định việc xuất khẩu hay nhập khẩu một mặt hàng đạt hay
vượt quá hạn ngạch quy định, cơ quan quản lý sẽ phải sử dụng số liệu về trị giá
hải quan của hàng hóa
- Trị giá hải quan tham gia thực hiện nhiệm vụ thống kê nền kinh tế
Thống kê là một trong những công cụ quản lý sự phát triển của nền kinh tế.
Số liệu thống kê hải quan thể hiện số lượng và giá trị hàng hóa đã tham giá và
được luân chuyển trong nền kinh tế trong từng thời kỳ thông quan hoạt động
kinh doanh xuất khẩu, nhập khẩu. Bên cạnh đó, trị giá hải quan còn phù vụ
những mục tiêu quản lý như: Áp dụng các chế tài xử phạt vi phạm hành chính
trong lĩnh vực hải quan, là cơ sở xây dựng các biện pháp quản lý rủi ro, là cơ sở
để thực hiện công tác kiểm tra hải quan tại các cơ sở…
3. Các hệ thống xác định trị giá hải quan
Trên thế giới đã tồn tại rất nhiều hệ thống (phương pháp) xác định trị giá
hải quan, chẳng hạn:
- Giá thị trường trong các nước hiện hành, đây là phương pháp do Anh đưa
ra vào đầu thế kỷ XX và được coi để bảo hộ hàng hóa được sản xuất tại Anh và
bán tại các nước thuộc địa. Trị giá tính thuế dựa trên giá bán buôn tại thị trường
nước xuất khẩu. Hệ thống xác định trị giá này được các nước thuộc “Đế quốc
Anh” áp dụng, gồm: Canada Úc, Nam Phi và Hải quan New Zealand cũng áp
dụng phương pháp này đến ngày 01/07/1982, trước khi Hiệp định trị giá
GATTIWTO được áp dụng.
- Giá thị trường hợp lý, phương pháp này tương tự giá trị thị trường trong
nước hiện hành nhưng nó mang tính linh hoạt hơn trong việc xác định giá nào
được coi là giá thị trường hợp lý và quy định về việc tính trị giá trong cơ quan
hải quan có thẩm quyền đáng kể. Phương pháp này chủ yếu được áp dụng ở khu
vực Thái Bình Dương mà điển hình là Philippines.

3

3


- Hệ thống giá bán của Mỹ, đây là một phương pháp xác định trị giá được
áp dụng đối với số lượng hạn chế các loại hàng hóa nhập khẩu. Trị giá hải quan
dựa trên giá sản phẩm cạnh tranh tại Mỹ. Nhà sản xuất trong nước gián tiếp
kiểm soát trị giá được áp dụng cho hàng hóa của đối thủ cạnh tranh của mình.
- Định nghĩa Brussels về trị giá, đây là một phương pháp xác định trị giá
được xây dựng và áp dụng bởi khoảng 30 nước vào những năm 1950 chủ yếu ở
châu Âu trước khi có Hiệp định GATTIWTO. Định nghĩa Brussels quy định trị
giá hải quan là giá thông thường của hàng hóa đang xác định trị giá. Giá thông
thường này phải được xem xét trong điều kiện cạnh tranh đầy đủ, và có xét đến
thời gian bán hàng, địa điểm bán hàng và số lượng, cấp độ thương mại của giao
dịch bán hàng.
- Phương pháp dùng giá tối thiểu, theo phương pháp này cơ quan hải quan
đưa ra giá tối thiểu cho tất cả các loại hàng hóa nhập khẩu mà không phản ánh
giá thực tế của hàng hóa đó. Phương pháp này được áp dụng rất phổ biến ở các
nước kém phát triển và phương pháp này dễ thực hiện và thu được nhiều thuế.
Cơ sở để ấn định giá tối thiểu thiếu tính khoa học do vậy tạo ra những hành vi
ứng xử không tốt của cơ quan hải quan và nhà nhập khẩu.
- Phương pháp xác định trị giá theo “ Giá thực tế ”, phương pháp này được
áp dụng ở một số nước kém phát triển ở châu Á. Trị giá hải quan được dựa trên
giá buôn bán của hàng hóa nhập khẩu khi được bán ở nước nhập khẩu trừ đi 15
% Điều này có nghĩa là thuế được tính theo trị giá được xác lập tại nước nhập
khẩu sau khi hàng hóa đã được nhập khẩu. Điều này gây khó khăn cho cơ quan
hải quan, khi một bộ hồ sơ về những giá được chấp nhận trước đó đang được lưu
giữ cho phép nhà nhập khẩu khai báo “Giá thực tế”. Thuế hải quan được tính
trên trị giá đã bao gồm cả các khoản phí hải quan và được tính vào giá bán buôn.
Giống như phương pháp dùng giá tối thiểu, phương pháp này cũng tạo ra những
hành vi ứng xử không tốt của cơ quan hải quan và nhà nhập khẩu.

4

4


- Phương pháp xác định giá hải quan theo giá CIF đối với hàng nhập khẩu
{giá CIF Chi phí mua hàng (C) + Bảo hiểm (I) + Cước phí (F)} và giá FOB đối
với hàng xuất khẩu {giá FOB chính là chi phí mua hàng (C)}.
- Xác định trị giá theo GATT (theo trị giá giao dịch): Là giá thực tế đã
thanh toán hoặc sẽ phải thanh toán cho lô hàng nhập khẩu.
4. Phương pháp xác định trị giá hàng hóa Nhập khẩu.
4.1 Phương pháp trị giá giao dịch hàng hóa nhập khẩu
4.1.1. Khái niệm:
Trị giá giao dịch là giá thực tế đã thanh toán hay sẽ phải thanh toán cho
hàng hóa nhập khẩu sau khi đã được điều chỉnh.
4.1.2. Các khoản thanh toán:
Giá thực tế đã thanh toán hay sẽ phải thanh toán cho hàng hóa nhập khẩu là
tổng số tiền mà người mua đã thanh toán hoặc sẽ phải thanh toán, trực tiếp hoặc
gián tiếp cho người bán để mua hàng hóa nhập khẩu.
Bao gồm các khoản sau đây:
– Giá mua ghi trên hóa đơn thương mại
– Các khoản điều chỉnh cộng, điều chỉnh trừ.
– Các khoản tiền người mua phải trả nhưng chưa tính vào giá mua ghi trên
hóa đơn thương mại. Bao gồm:
-

Tiền trả trước, tiền ứng trước, tiền đặt cọc cho việc sản xuất, mua bán, vận tải,
bảo hiểm hàng hóa

-

Các khoản thanh toán gián tiếp cho người bán. Ví dụ như khoản tiền trừ nợ.
4.1.3. Điều kiện áp dụng:
Trị giá giao dịch được áp dụng nếu thỏa mãn đủ các điều kiện sau:
– Người mua không bị hạn chế quyền định đoạt hoặc sử dụng hàng hóa
sau khi nhập khẩu. Trừ các hạn chế dưới đây:

-

Hạn chế do pháp luật Việt Nam quy định

-

Hạn chế về nơi tiêu thụ hàng hóa.

5

5


-

Hạn chế khác không ảnh hưởng đến trị giá của hàng hóa. Những hạn chế này là
một hoặc nhiều yếu tố có liên quan trực tiếp hay gián tiếp đến hàng hóa nhập
khẩu. Nhưng không làm tăng hoặc giảm giá thực thanh toán cho hàng hóa đó.
– Giá cả hoặc việc bán hàng không phụ thuộc vào những điều kiện hay các
khoản thanh toán mà vì chúng không xác định được trị giá của hàng hóa cần
xác định trị giá hải quan.
Trường hợp việc mua bán hàng hóa hay giá cả của hàng hóa phụ thuộc vào
một hay một số điều kiện. Nhưng người mua có tài liệu khách quan để xác định
mức độ ảnh hưởng bằng tiền của sự phụ thuộc đó. Thì vẫn được xem là đã đáp
ứng điều kiện này. Khi xác định trị giá hải quan phải cộng khoản tiền được giảm
do ảnh hưởng của sự phụ thuộc đó vào trị giá giao dịch.
– Sau khi bán lại, chuyển nhượng hoặc sử dụng hàng hóa nhập khẩu.
Người mua không phải trả thêm bất kỳ khoản tiền nào từ số tiền thu được do
việc định đoạt hàng hóa nhập khẩu mang lại.
Trừ các khoản tiền mà người nhập khẩu phải trả từ số tiền thu được sau khi
bán lại, định đoạt, sử dụng hàng hóa nhập khẩu được chuyển trực tiếp hay gián
tiếp cho người bán dưới mọi hình thức.
– Người mua và người bán không có mối quan hệ đặc biệt. Hoặc nếu có thì
mối quan hệ đặc biệt đó không ảnh hưởng đến trị giá giao dịch.
4.1.4. Chứng từ, tài liệu để xác định trị giá theo phương pháp này
Bao gồm:
– Hợp đồng mua bán hàng hóa
– Chứng từ, tài liệu chứng minh mối quan hệ đặc biệt không ảnh hưởng đến
trị giá giao dịch (nếu khai có mối quan hệ đặc biệt nhưng mối quan hệ đặc biệt
không ảnh hưởng đến trị giá giao dịch)
– Chứng từ, tài liệu chứng minh các khoản tiền người mua phải trả nhưng
chưa tính vào giá mua ghi trên hóa đơn thương mại (nếu có khoản tiền này)
– Chứng từ, tài liệu chứng minh các khoản, điều chỉnh cộng (nếu có khoản
điều chỉnh cộng)
6

6


– Chứng từ, tài liệu chứng minh các khoản điều chỉnh trừ (nếu có khoản
điều chỉnh trừ)
– Chứng từ, tài liệu khác chứng minh việc xác định trị giá hải quan theo trị
giá giao dịch do người khai hải quan khai báo.
4.2. Phương pháp trị giá giao dịch của hàng hóa nhập khẩu giống hệt
Hàng hóa nhập khẩu giống hệt: Là những hàng hóa nhập khẩu giống nhau
về mọi phương diện, bao gồm: đặc điểm vật chất, chất lượng sản phẩm, danh
tiếng của nhãn hiệu sản phẩm, được sx ở cùng 1 nước, cùng nhà sx hoặc nhà sx
dc ủy quyền.
- Điều kiện áp dụng:
+ Lô hàng giống hệt phải đáp ứng được các tiêu chuẩn về hàng giống hệt.
+ Lô hàng giống hệt phải được xác định trị giá hải quan theo phương pháp
trị giá giao dịch
+ Các bước xác định:
B1: Tìm lô hàng giống hệt
B2: Xác định trị giá của lô hàng đó
B3: Điều chỉnh trị giá hải quan của lô hàng theo điều kiện thương mại
B4: Tính toán trị giá của lô hàng đó sau khi điều chỉnh.
+ Điều kiện về thời gian xuất khẩu: Lô hàng phải được xuất khẩu đến Việt
Nam vào cùng ngày hoặc trong khoảng thời gian 60 ngày trước hoặc 60 ngày
sau ngày xuất khẩu với hàng hóa nhập khẩu đang được xác định trị giá tính thuế.
- Điều chỉnh trị giá hải quan của lô hàng nhập khẩu giống hệt hoặc tương
tự: Điều chỉnh trị giá hải quan theo điều kiện thương mại, các yếu tố:
+ Cấp độ thương mại
+ Cấp độ số lượng
4.3 Phương pháp trị giá giao dịch của hàng hóa nhập khẩu tương tự
4.3.1. Trường hợp áp dụng:
Nếu không xác định được trị giá hải quan theo 2 phương pháp nêu trên. Thì
trị giá hải quan của hàng hóa nhập khẩu được xác định theo phương pháp trị giá
7

7


giao dịch của hàng hóa nhập khẩu tương tự. Với điều kiện hàng hóa nhập khẩu
tương tự đã được cơ quan hải quan chấp nhận xác định trị giá hải quan theo
phương pháp trị giá giao dịch. Và có cùng các điều kiện mua bán, điều kiện về
thời gian xuất khẩu với hàng hóa nhập khẩu đang xác định trị giá hải quan.
Trường hợp không tìm được lô hàng nhập khẩu giống hệt có cùng điều kiện
mua bán với lô hàng nhập khẩu đang được xác định trị giá hải quan. Thì lựa
chọn lô hàng nhập khẩu tương tự khác về điều kiện mua bán. Nhưng phải được
điều chỉnh về cùng điều kiện mua bán.
4.3.2. Điều kiện lựa chọn lô hàng nhập khẩu tương tự:
Lô hàng nhập khẩu tương tự được lựa chọn nếu đáp ứng đủ các điều kiện
sau:
+ Điều kiện về thời gian xuất khẩu:
Lô hàng nhập khẩu tương tự phải được xuất khẩu đến Việt Nam. Vào cùng
ngày hoặc trong khoảng thời gian 60 ngày trước hoặc 60 ngày sau ngày xuất
khẩu. Với hàng hóa nhập khẩu đang được xác định trị giá hải quan.
+ Điều kiện mua bán:
– Điều kiện về cấp độ thương mại và số lượng:
Lô hàng nhập khẩu tương tự phải có cùng điều kiện về cấp độ thương mại
và số lượng với lô hàng nhập khẩu đang được xác định trị giá hải quan;
Nếu không tìm được lô hàng nhập khẩu nêu trên. Thì lựa chọn lô hàng nhập
khẩu có cùng cấp độ thương mại. Nhưng khác nhau về số lượng. Sau đó điều
chỉnh trị giá giao dịch của hàng hóa nhập khẩu tương tự về cùng số lượng với lô
hàng đang xác định trị giá hải quan.
Nếu không tìm được lô hàng nhập khẩu nêu như 2 lô hàng trên. Thì lựa
chọn lô hàng nhập khẩu khác nhau về cấp độ thương mại. Nhưng cùng số lượng.
Sau đó điều chỉnh trị giá giao dịch của lô hàng nhập khẩu tương tự về cùng cấp
độ thương mại với lô hàng đang xác định trị giá hải quan.
Nếu không tìm được lô hàng nhập khẩu như 3 lô hàng trên. Thì lựa chọn lô
hàng nhập khẩu khác nhau cả về cấp độ thương mại và số lượng. Sau đó điều
8

8


chỉnh trị giá giao dịch của lô hàng nhập khẩu tương tự về cùng cấp độ thương
mại và số lượng với lô hàng đang xác định trị giá hải quan.
– Điều kiện về quãng đường và phương thức vận tải, bảo hiểm:
Lô hàng nhập khẩu tương tự có cùng quãng đường và phương thức vận tải.
Hoặc đã được điều chỉnh về cùng quãng đường và phương thức vận tải với lô
hàng đang xác định trị giá hải quan.
Nếu có sự chênh lệch đáng kể về phí bảo hiểm thì điều chỉnh về cùng điều
kiện bảo hiểm với lô hàng đang xác định trị giá hải quan.
– Nếu không tìm được hàng hóa nhập khẩu tương tự được sản xuất bởi
cùng một người sản xuất hoặc người sản xuất khác được ủy quyền. Thì mới xét
đến hàng hóa được sản xuất bởi người sản xuất khác. Và phải có cùng xuất xứ.
– Khi xác định trị giá hải quan theo phương pháp này mà xác định được từ
hai trị giá giao dịch của hàng hóa nhập khẩu tương tự trở lên. Thì sau khi đã
điều chỉnh về cùng điều kiện mua bán với lô hàng đang xác định trị giá hải
quan. Trị giá hải quan là trị giá giao dịch thấp nhất.
Nếu trong thời gian làm thủ tục hải quan không đủ thông tin lựa chọn hàng
nhập khẩu giống hệt hoặc tương tự với hàng hóa nhập khẩu đang xác định trị giá
hải quan. Thì phải chuyển sang phương pháp khác.
4.3.3. Chứng từ, tài liệu để xác định trị giá hải quan theo phương pháp
này:
Mỗi chứng từ 01 bản chụp. Bao gồm:
-

Tờ khai hải quan của hàng hóa nhập khẩu tương tự;

-

Tờ khai trị giá hải quan của hàng hóa nhập khẩu tương tự đối với trường hợp
phải khai báo tờ khai trị giá hải quan;

-

Hợp đồng vận tải của hàng hóa nhập khẩu tương tự (nếu có sự điều chỉnh chi phí
này);

-

Hợp đồng bảo hiểm của hàng hóa nhập khẩu tương tự (nếu có sự điều chỉnh chi
phí này);

9

9


-

Bảng giá bán hàng xuất khẩu của nhà sản xuất hoặc người bán hàng ở nước
ngoài (nếu có sự điều chỉnh về số lượng, cấp độ thương mại);

-

Các hồ sơ, chứng từ khác liên quan đến việc xác định trị giá hải quan.
4.4 Phương pháp trị giá khấu trừ
4.4.1. Trường hợp áp dụng:
Nếu không xác định được trị giá hải quan theo các phương pháp trên. Thì
trị giá hải quan của hàng hóa nhập khẩu được xác định theo phương pháp trị giá
khấu trừ.
Không áp dụng phương pháp này nếu hàng hóa được lựa chọn để xác định
đơn giá bán thuộc một trong các trường hợp sau:

-

Chưa được bán trên thị trường nội địa Việt Nam. Hoặc việc bán hàng hóa chưa
được hạch toán trên chứng từ, sổ sách kế toán. Theo quy định của pháp luật về
kế toán Việt Nam.

-

Có liên quan đến khoản trợ giúp do bất kỳ người nào cung cấp.
4.4.2. Nguyên tắc xác định
Giá bán hàng hóa nhập khẩu trên thị trường Việt Nam được xác định theo
những nguyên tắc sau:
- Giá bán hàng hóa nhập khẩu là giá bán thực tế của hàng hóa đó tại thị
trường Việt Nam.
Trường hợp không có giá bán thực tế của hàng hóa nhập khẩu cần xác định
trị giá hải quan. Thì lấy giá bán thực tế của hàng hóa nhập khẩu giống hệt hay
hàng hóa nhập khẩu tương tự còn nguyên trạng như khi nhập khẩu được bán trên
thị trường Việt Nam để xác định giá bán thực tế.
Hàng hóa nhập khẩu còn nguyên trạng như khi nhập khẩu là hàng hóa sau
khi nhập khẩu không bị bất cứ một tác động nào làm thay đổi hình dạng, đặc
điểm, tính chất, công dụng của hàng hóa hoặc làm tăng, giảm trị giá của hàng
hóa nhập khẩu.
- Người nhập khẩu và người mua hàng trong nước không có mối quan hệ
đặc biệt.
10

10


- Mức giá bán tính trên số lượng bán ra lớn nhất và đủ để hình thành đơn
giá.
Mức giá bán ra tính trên số lượng bán ra lớn nhất là mức giá mà hàng hóa
đã được bán với số lượng tổng cộng lớn nhất trong các giao dịch bán hàng hóa ở
cấp độ thương mại đầu tiên ngay sau khi nhập khẩu.
- Hàng hóa được bán ra (bán buôn hoặc bán lẻ) vào ngày sớm nhất ngay
sau khi nhập khẩu
Nhưng không chậm quá 90 ngày (ngày theo lịch) sau ngày nhập khẩu lô
hàng đó. Ngày sớm nhất ngay sau khi nhập khẩu là ngày hàng hóa được bán với
số lượng hàng hóa đủ để hình thành đơn giá. Tối thiểu bằng 10% lượng hàng
hóa của mặt hàng đó trong lô hàng nhập khẩu.
4.4.3. Điều kiện lựa chọn đơn giá bán trên thị trường Việt Nam:
Đơn giá bán trên thị trường Việt Nam phải là đơn giá bán của hàng hóa
nhập khẩu đang được xác định trị giá hải quan. Hoặc hàng hóa nhập khẩu giống
hệt hoặc hàng hóa nhập khẩu tương tự. Được bán nguyên trạng như khi nhập
khẩu
Đơn giá bán được lựa chọn là đơn giá tương ứng với lượng hàng hóa được
bán ra với số lượng lũy kế lớn nhất ở mức đủ để hình thành đơn giá. Hàng hóa
được bán ra ngay sau khi nhập khẩu. Nhưng không quá 90 ngày sau ngày nhập
khẩu của hàng hóa đang được xác định trị giá hải quan. Người mua hàng trong
nước và người bán không có mối quan hệ đặc biệt.
4.4.4. Nguyên tắc khấu trừ:
Việc xác định các khoản khấu trừ phải dựa trên cơ sở các số liệu kế toán,
chứng từ hợp pháp. Có sẵn và được ghi chép, phản ánh theo các quy định, chuẩn
mực của kế toán Việt Nam. Các khoản được khấu trừ phải là những khoản được
phép hạch toán vào chi phí hợp lý của doanh nghiệp.
4.4.5. Các khoản được khấu trừ khỏi đơn giá bán hàng:
Các khoản được khấu trừ khỏi đơn giá bán hàng là những chi phí hợp lý và
lợi nhuận thu được sau khi bán hàng trên thị trường Việt Nam. Bao gồm:
11

11


- Chi phí vận tải, phí bảo hiểm. Và chi phí cho các hoạt động khác liên
quan đến việc vận tải hàng hóa sau khi nhập khẩu.
- Các khoản thuế, phí và lệ phí phải nộp tại Việt Nam. Khi nhập khẩu và
bán hàng hóa nhập khẩu trên thị trường nội địa Việt Nam
- Hoa hồng hoặc chi phí chung và lợi nhuận liên quan đến các hoạt động
bán hàng hóa nhập khẩu tại Việt Nam.
4.4.6. Chứng từ, tài liệu để xác định trị giá hải quan theo phương pháp
này
Bao gồm:
- Hóa đơn bán hàng hoặc hóa đơn giá trị gia tăng theo quy định;
- Hợp đồng đại lý bán hàng nếu người nhập khẩu là đại lý bán hàng của
người xuất khẩu. Hợp đồng này phải quy định cụ thể khoản phí hoa hồng mà
người đại lý được hưởng. Và các loại chi phí mà người đại lý phải trả.
- Bản giải trình về doanh thu bán hàng và các chứng từ, sổ sách kế toán
phản ánh các khoản chi phí.
- Tờ khai hải quan và tờ khai trị giá hải quan của lô hàng được lựa chọn để
khấu trừ.
- Các tài liệu cần thiết khác để kiểm tra, xác định trị giá hải quan.
4.5. Phương pháp trị giá tính toán
4.5.1. Trường hợp áp dụng:
Nếu không xác định được trị giá hải quan theo các phương pháp trên. Thì
trị giá hải quan của hàng hóa nhập khẩu được xác định theo phương pháp trị giá
tính toán.
Trị giá tính toán của hàng hóa nhập khẩu bao gồm:
- Chi phí trực tiếp để sản xuất ra hàng hóa nhập khẩu.
- Chi phí chung và lợi nhuận phát sinh trong hoạt động bán hàng hóa cùng
phẩm cấp hoặc cùng chủng loại với hàng hóa nhập khẩu đang xác định trị giá,
được sản xuất ở nước xuất khẩu để bán hàng đến Việt Nam. Khoản lợi nhuận và
chi phí chung phải được xem xét một cách tổng thể khi xác định trị giá tính toán.
12

12


Chi phí chung bao gồm tất cả các chi phí trực tiếp hay gián tiếp của quá
trình sản xuất và bán để xuất khẩu hàng hóa, nhưng chưa được tính toán theo
quy định nêu tại điểm a khoản này.
- Các chi phí vận tải, bảo hiểm và các chi phí có liên quan đến việc vận tải
hàng hóa nhập khẩu khác.
4.5.2. Căn cứ để xác định trị giá tính toán:
Là số liệu được ghi chép và phản ánh trên chứng từ, sổ sách kế toán của
người sản xuất. Trừ khi các số liệu này không phù hợp các số liệu thu thập được
tại Việt Nam. Số liệu này phải tương ứng với những số liệu thu được từ những
hoạt động sản xuất, mua bán hàng hóa nhập khẩu cùng phẩm cấp hoặc cùng
chủng loại. Do người sản xuất tại nước xuất khẩu sản xuất ra để xuất khẩu đến
Việt Nam.
4.5.3. Vấn đề kiểm tra sổ sách
Không được tiến hành việc kiểm tra hoặc yêu cầu xuất trình để kiểm tra sổ
sách kế toán hay bất kỳ hồ sơ nào khác của các đối tượng không cư trú trên lãnh
thổ Việt Nam. Nhằm mục đích xác định trị giá tính toán quy định tại Điều này.
Việc thẩm tra các thông tin do người sản xuất hàng hóa cung cấp phục vụ
xác định trị giá hải quan. Có thể được thực hiện ngoài lãnh thổ Việt Nam. Nếu
được sự đồng ý của nhà sản xuất. Và phải được thông báo trước bằng văn bản
cho cơ quan có thẩm quyền của nước có liên quan. Và được cơ quan này chấp
thuận cho phép tiến hành việc thẩm tra.
4.5.4. Chứng từ, tài liệu để xác định trị giá hải quan theo phương pháp
này
Bao gồm:
- Bản giải trình của người sản xuất về các chi phí. Có xác nhận của người
sản xuất về các chứng từ, số liệu kế toán phù hợp với bản giải trình này.
- Hóa đơn bán hàng của người sản xuất.
- Chứng từ về các chi phí.
4.6. Phương pháp suy luận
13

13


4.6.1. Trường hợp áp dụng:
Nếu không xác định được trị giá hải quan theo tất cả các phương pháp trên.
Thì trị giá hải quan được xác định theo phương pháp suy luận.
Trị giá hải quan theo phương pháp suy luận được xác định bằng cách áp
dụng tuần tự và linh hoạt từng phương pháp xác định trị giá hải quan. Và dừng
ngay tại phương pháp xác định được trị giá hải quan.
4.6.2. Không được sử dụng các giá trị sau để xác định trị giá hải quan.
Khi xác định trị giá hải quan theo phương pháp này, người khai hải quan và
cơ quan hải quan không được sử dụng các trị giá dưới đây để xác định trị giá hải
quan:
-

Giá bán trên thị trường nội địa của mặt hàng cùng loại được sản xuất tại Việt

-

Nam;
Giá bán hàng hóa ở thị trường nội địa nước xuất khẩu;
Giá bán hàng hóa để xuất khẩu đến nước khác;
Chi phí sản xuất hàng hóa, trừ các chi phí sản xuất hàng hóa được sử dụng trong

-

phương pháp tính toán;
Trị giá tính thuế tối thiểu;
Trị giá do cơ quan hải quan xác định không tuân theo nguyên tắc và các phương
pháp xác định trị giá hải quan quy định tại Thông tư này hoặc trị giá do người
khai hải quan khai báo khi chưa có hoạt động mua bán hàng hóa để nhập khẩu

-

hàng hóa vào Việt Nam;
Sử dụng trị giá cao hơn trong hai trị giá thay thế để làm trị giá hải quan.
4.6.3. Một số trường hợp áp dụng linh hoạt các phương pháp xác định
trị giá hải quan:
- Vận dụng phương pháp trị giá giao dịch của hàng hóa nhập khẩu giống
hệt hoặc hàng hóa nhập khẩu tương tự.
Nếu không có hàng hóa nhập khẩu giống hệt hoặc hàng hóa nhập khẩu
tương tự được xuất khẩu đến Việt Nam vào cùng ngày. Hoặc trong khoảng thời
gian 60 ngày trước hoặc 60 ngày sau ngày xuất khẩu của lô hàng nhập khẩu
đang được xác định trị giá hải quan. Thì lựa chọn những hàng hóa nhập khẩu
14

14


giống hệt hoặc hàng hóa nhập khẩu tương tự được xuất khẩu trong khoảng thời
gian dài hơn. Nhưng không quá 90 ngày trước hoặc 90 ngày sau ngày xuất khẩu
của lô hàng đang được xác định trị giá hải quan.
- Vận dụng phương pháp xác định trị giá hải quan theo phương pháp trị
giá khấu trừ. Bằng một trong các cách sau đây:
+Trong vòng 90 ngày kể từ ngày nhập khẩu mà không xác định được đơn
giá dùng để khấu trừ. Thì lựa chọn đơn giá được bán ra với số lượng lũy kế lớn
nhất trong vòng 120 ngày. Kể từ ngày nhập khẩu của lô hàng được lựa chọn để
khấu trừ
+ Nếu không có đơn giá bán lại của chính hàng hóa nhập khẩu. Hoặc hàng
hóa nhập khẩu giống hệt hay hàng hóa nhập khẩu tương tự. Cho người không có
quan hệ đặc biệt với người nhập khẩu. Thì lựa chọn đơn giá bán lại hàng hóa
cho người mua có quan hệ đặc biệt. Với điều kiện mối quan hệ đặc biệt không
ảnh hưởng đến giá cả trong giao dịch mua bán.
+ Trị giá hải quan của hàng hóa nhập khẩu được xác định bằng trị giá hải
quan của hàng hóa nhập khẩu giống hệt đã được xác định theo phương pháp trị
giá khấu trừ hoặc phương pháp trị giá tính toán.
+ Trị giá hải quan của hàng hóa nhập khẩu được xác định bằng trị giá hải
quan của hàng hóa nhập khẩu tương tự đã được xác định theo phương pháp trị
giá khấu trừ hoặc phương pháp trị giá tính toán.
4.6.4. Chứng từ, tài liệu:
Các chứng từ, tài liệu có liên quan đến việc xác định trị giá hải quan theo
phương pháp đã được áp dụng linh hoạt để xác định trị giá hải quan.
II, Thực trạng hoạt động xác định trị giá hải quan ở Việt Nam hiện nay
1. Thực trạng
Trước khi ban hành thông tư số 39/2018/TT-BTC, doanh nghiệp còn lơ là
trước các quy định mới về trị giá hải quan. Việc thực hiện các quy định về trị giá
hải quan phát sinh nhiều vướng mắc từ phía các doanh nghiệp. Tại hội thảo lấy ý
15

15


kiến dự thảo Thông tư sửa đổi, bổ sung Thông tư số 39/2015/TT-BTC về trị giá
hải quan đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu vừa được Tổng cục Hải quan tổ
chức ngày 11/6/2019 tại Hà Nội. Nhiều ý kiến của doanh nghiệp, Hải quan địa
phương cho rằng: nhiều quy định đã có sự thay đổi tiến bộ, những quy định rõ
ràng, tránh được sự tranh chấp giữa Hải quan và doanh nghiệp. Bên cạnh đó,
một số ý kiến góp ý tập trung vào các nội dung: phương pháp xác định trị giá hải
quan; cơ sở dữ liệu giá của cơ quan Hải quan, phương pháp xác định trị giá hải
quan với hàng giống hệt, tương tự; xác định trị giá hải quan với phần mềm nhập
khẩu; tính trị giá hải quan với hàng xuất khẩu... cơ sở dữ liệu quản lý doanh
nghiệp...
Theo đại diện Hiệp hội doanh nghiệp Việt Mỹ, hiện cơ quan Hải quan chỉ
dựa vào cơ sở dữ liệu giá của Hải quan, tuy nhiên cơ sở này thế nào thì doanh
nghiệp không biết, giá trong cơ sở này cao hay thấp doanh nghiệp cũng không
biết. Vì vậy, dự thảo cần có hướng để minh bạch về cơ sở dữ liệu giá và doanh
nghiệp có thể tiếp cận được. Đại diện Công ty TNHH FORD Việt Nam cũng góp
ý, dự thảo thông tư sửa đổi đã có nhiều quy định sửa đổi tạo thuận lợi cho doanh
nghiệp. Tuy nhiên, nội dung tham vấn 1 lần áp dụng nhiều lần vẫn chưa có sự
chuyển biến lớn. Tổng cục Hải quan cần áp dụng rộng rãi các quy định về thủ
tục hải quan, thuế và quản lý thuế để tạo thuận lợi hơn cho doanh nghiệp.
Chứng minh mối quan hệ đặc biệt trong khai báo giá giao dịch để tính trị
giá hải quan, một số ý kiến cho rằng, việc chứng minh mối quan hệ đặc biệt
không ảnh hưởng đến giá khai báo đối với doanh nghiệp là rất khó, bởi nhiều
khi doanh nghiệp độc quyền, không có giá và doanh nghiệp nhập khẩu tương tự
để so sánh. Vì vậy, quy định tại dự thảo thông tư cần có quy định bao quát hơn
với các trường hợp.
Về quy định phân loại doanh nghiệp rủi ro, một số ý kiến hải quan cho
rằng, để tra cứu việc phân loại doanh nghiệp ban soạn thảo cần có sự đánh giá
phân loại doanh nghiệp và cần thống nhất với Cục Quản lý rủi ro để đưa ra một
quy định thống nhất cho hải quan địa phương thực hiện.
16

16


Với những quy định về việc xác định trị giá hải quan đối với trường hợp
hàng hóa chưa qua sử dụng nhưng đã hỏng, một số đơn vị hải quan thắc mắc, cơ
quan nào xác định hàng hóa đó đã lỗi thời, đồng thời cho rằng, quy định phân
loại doanh nghiệp sẽ dễ bị lợi dụng, doanh nghiệp có thể móc nối với bên bán để
khai báo hàng hóa vào nhóm này. Trong trường hợp này thì hải quan không có
cơ sở để tính trị giá hải quan…
Đã có nhiều trường hợp khiếu kiện rằng có sự chênh lệch lớn giữa tính toán
của hải quan với thực tế xác định trị giá hải quan phục vụ tính thuế, góp phần
tạo thuận lợi cho hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu tiếp tục là khâu có nhiều
vướng mắc hàng đầu trong thủ tục hải quan cũng như việc thực hiện Luật Thuế
xuất nhập khẩu (sửa đổi), Luật Quản lý thuế mới. Đó là tình hình chung được rút
ra trong hội nghị chuyên ngành mới đây của Tổng cục Hải quan. Theo báo cáo,
tính từ đầu năm 2006, từ khi Luật Thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu (sửa đổi) có
hiệu lực, Tổng cục Hải quan đã có nhiều văn bản nghiệp vụ mới giúp các hải
quan địa phương thực hiện tốt nhiệm vụ xác định trị giá hải quan và thu thuế
xuất nhập khẩu. Tuy nhiên, trên thực tế vẫn tồn tại nhiều hạn chế, vướng mắc
cần khắc phục.
Theo nhiều phản ánh từ cán bộ hải quan chuyên trách về công tác trị giá tại
cả cấp Tổng cục lẫn địa phương, những khó khăn có liên quan đến việc thu thập,
khai thác thông tin; hệ thống tổ chức, đội ngũ cán bộ làm công tác xác định trị
giá còn chưa hợp lý; hệ thống cơ sở dữ liệu hỗ trợ kiểm tra xác định trị giá chưa
đáp ứng yêu cầu thực tế. Chính vì vậy, hiệu quả công tác xác định trị giá của
toàn ngành còn thấp. Theo báo cáo tổng hợp của Tổng cục Hải quan thì tỷ lệ hồ
sơ các lô hàng bác bỏ trị giá khai báo chỉ chiếm khoảng 27% trên tổng số tờ khai
tham vấn. Qua công tác kiểm tra trị giá khai báo, cơ quan hải quan đã phát hiện
các lô hàng nghi ngờ trị giá khai báo, từ đó tổ chức tham vấn và bác bỏ những lô
hàng có trị giá khai báo thấp, bất hợp lý, đặc biệt là những mặt hàng nhạy cảm
có thuế suất cao như: ô tô, xe gắn máy.

17

17


Tuy nhiên, cũng đã xảy ra một số trường hợp công chức hải quan chưa
nghiên cứu kỹ hồ sơ, chưa thu thập đủ nguồn thông tin nên hoạt động xác định
trị giá chưa chính xác, thậm chí còn gây phiền hà cho doanh nghiệp. Điều đó thể
hiện qua tỷ lệ bác bỏ trị giá khai báo sau khi tham vấn còn thấp tính trên tổng số
hồ sơ đã tham vấn. Ngược lại, cũng có trường hợp cán bộ hải quan ở cơ sở chưa
tổ chức tham vấn hoặc có tham vấn nhưng không bác bỏ trị giá khai báo của các
lô hàng có trị giá thấp, mặc dù đã có đủ thông tin, do đó làm thất thu ngân sách.
Thậm chí có trường hợp hải quan đã bác bỏ trị giá sau khi tham vấn và xác định
giá theo quy định nhưng số thuế nộp bổ sung còn tồn đọng.
Theo ông Vũ Ngọc Anh, Phó tổng cục trưởng Tổng cục Hải quan, có một
thực tế là việc triển khai thực hiện theo các phương pháp xác định giá tính thuế
theo Hiệp định trị giá GATT hiện nay vẫn còn gặp một số khó khăn, hiệu quả
chưa cao, tình trạng gian lận, trốn thuế qua giá vẫn còn nhiều do sự thiếu đồng
bộ trong các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan.
Trên thực tế hiện nay, trị giá khai báo của doanh nghiệp sẽ được coi “không
phù hợp” và hải quan có quyền yêu cầu giải trình hoặc tham vấn trong khá nhiều
trường trường hợp. Chẳng hạn, trị giá khai báo thấp hơn 90% mức giá chào bán
công khai trên Internet hoặc 90% giá trên thư chào hàng công khai, hoặc trị giá
khai báo thấp hơn 90% so với giá bán hàng hóa đó sang một nước thứ ba; trị giá
khai báo của hàng hóa nhập khẩu thấp hơn trị giá giao dịch của hàng hóa nhập
khẩu giống hệt, tương tự được xuất khẩu trong vòng 30 ngày trước hoặc sau
ngày xuất khẩu của lô hàng đang kiểm tra; trị giá khai báo thấp hơn giá chào bán
xuất khẩu công khai trên Internet; trị giá khai báo thấp hơn giá bán trên thị
trường nội địa sau khi trừ đi các khoản thuế và các chi phí phát sinh (thông
thường không quá 30% giá bán) và trị giá khai báo thấp hơn mức giá kiểm tra
của Tổng cục Hải quan.
Với những chủ trương này, đã có nhiều trường hợp khiếu kiện rằng có sự
chênh lệch lớn giữa tính toán của hải quan với thực tế. Chẳng hạn về quy định
“thấp hơn giá bán trên thị trường nội địa” là giá nào? Giá bán lẻ cuối cùng đến
18

18


tay người tiêu dùng, giá bán cho nhà phân phối, giá đại lý bán ra hay giá bán sỉ
ngay tại kho ở Việt Nam? Thêm vào đó, Luật Quản lý thuế sẽ có hiệu lực từ
ngày 1/7/2007 cũng đặt ra những vấn đề mới đối với công tác xác định trị giá và
thu thuế xuất nhập khẩu. Nhiều ý kiến trong ngành đã kiến nghị hoàn thiện hơn
nữa các quy trình xác định trị giá tính thuế, chống gian lận thương mại về
Giá cho phù hợp với khung pháp lý mới.
Chẳng hạn giải pháp hoàn thiện cơ sở dữ liệu trị giá được thu thập và tổng
hợp từ nhiều nguồn khác nhau, phục vụ tốt công tác tham vấn và quản lý giá. Hệ
thống dữ liệu cần được xây dựng theo các nhóm hàng trong đó tập trung xác
định các nhóm hàng trọng điểm. Mặt khác, phải cụ thể hoá trách nhiệm của từng
cán bộ, công chức tham gia quy trình xác định trị giá hải quan. Hiện nay, một
nguyên nhân làm giảm hiệu quả của công tác xác định trị giá chính là sự phối
hợp thiếu chặt chẽ giữa các đơn vị trong một cục hải quan và giữa các cục hải
quan.
Sau khi ban hành thông tư số 39/2018/TT-BTC:
Năm 2019, ngành Hải quan đã đạt được những kết quả quan trọng, toàn
diện trên tất cả các lĩnh vực, đặc biệt là các công tác cải cách thủ tục hành chính,
hiện đại hóa, thu ngân sách nhà nước và đấu tranh chống buôn lậu, gian lận
thương mại.
Đồng thời đã xác lập cơ chế, hệ thống quản lý việc xác định trị giá hải quan
cho hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu xuyên suốt từ cấp Tổng cục đến cấp Chi cục,
theo đó phân định rõ trách nhiệm của từng cấp quản lý đối với công tác xác
định, kiểm tra việc xác định và xác định lại trị giá hải quan ở cả khâu thông quan
và khâu sau thông quan.
Thông tư số 39/2018/TT-BTC góp phần quan trọng trong việc:
-

Đẩy nhanh tốc độ thông quan hàng hóa, giảm tình trạng ách tắc hàng hóa tại các

-

chi cục hải quan.
Thu ngân sách hiệu quả thông qua việc nâng cao hiệu quả kiểm soát, chống gian
lận giá, bảo đảm thu đúng, thu đủ cho ngân sách nhà nước.
19

19


Với việc thường xuyên rà soát, phân tích dữ liệu trên hệ thống GTT02 - Hệ
thống thông tin nghiệp vụ trị giá hải quan, Cục Thuế xuất nhập khẩu (Tổng cục
Hải quan) đã kịp thời phát hiện nhiều sai sót, dấu hiệu vi phạm để chỉ đạo các
đơn vị địa phương thực hiện biện pháp kiểm tra trị giá có hiệu quả.
Theo đó, từ đầu năm 2019, tổng số tiền thuế tăng thu qua công tác quản lý
trị giá hải quan đã lên đến hơn 100 tỷ đồng, bao gồm tăng thu do đã hạn chế
được tình trạng doanh nghiệp kê khai trị giá tùy tiện và do kiểm tra, tham vấn,
bác bỏ, ấn định trị giá hải quan.
Để tiếp tục nâng cao hơn nữa chất lượng công tác quản lý trị giá hải quan,
Tổng cục Hải quan đã đưa vào thực hiện cơ chế “tham vấn một lần”, áp dụng
đối với những hàng hóa thường xuyên được XNK với mức giá ổn định, từ đó
giảm bớt số lần tham vấn trị giá của DN, góp phần tạo thuận lợi cho các DN
tuân thủ tốt pháp luật, giảm chi phí, giảm thời gian thông quan hàng hóa.
Nhờ đó, kết thúc năm 2019, ngành Hải quan đã đạt kết quả thu ngân sách
348.721 tỷ đồng, đạt 116,05 % dự toán, 110,5% so với chỉ tiêu phấn đấu và tăng
11,0 % so với năm 2018. Đây là kỷ lục thu ngân sách của ngành Hải quan trong
lịch sử hơn 70 năm xây dựng và trưởng thành.
Kết quả nêu trên đã phần nào nói lên nỗ lực vượt bậc của ngành Hải quan
trong việc triển khai quyết liệt các giải pháp tạo thuận lợi cho doanh nghiệp và
chống thất thu ngân sách cũng như sự hiệu quả của những quy định về trị giá hải
quan hàng hóa xuất nhập khẩu những năm vừa qua, trong bối cảnh nền kinh tế
còn nhiều khó khăn; nguồn thu thuế xuất nhập khẩu chịu tác động đáng kể do
thực hiện lộ trình giảm thuế theo cam kết hội nhập theo các FTA trong giai đoạn
cắt giảm mạnh; đặc biệt Hiệp định CPTPP chính thức có hiệu lực từ 15/1/2019.
2 Đánh giá hoạt động xác định trị giá hải quan ở Việt Nam.
2.1 Ưu điểm

20

20


- Người mua không bị hạn chế quyền định đoạt hoặc sử dụng hàng hóa sau
khi nhập khẩu. Trừ các hạn chế dưới đây:
+ Hạn chế do pháp luật Việt Nam quy định
+ Hạn chế về nơi tiêu thụ hàng hóa.
+ Hạn chế khác không ảnh hưởng đến trị giá của hàng hóa. Những hạn chế
này là một hoặc nhiều yếu tố có liên quan trực tiếp hay gián tiếp đến hàng hóa
nhập khẩu. Nhưng không làm tăng hoặc giảm giá thực thanh toán cho hàng hóa
đó.
- Giá cả hoặc việc bán hàng không phụ thuộc vào những điều kiện hay các
khoản thanh toán mà vì chúng không xác định được trị giá của hàng hóa cần
xác định trị giá hải quan.
Trường hợp việc mua bán hàng hóa hay giá cả của hàng hóa phụ thuộc vào
một hay một số điều kiện. Nhưng người mua có tài liệu khách quan để xác định
mức độ ảnh hưởng bằng tiền của sự phụ thuộc đó. Thì vẫn được xem là đã đáp
ứng điều kiện này. Khi xác định trị giá hải quan phải cộng khoản tiền được giảm
do ảnh hưởng của sự phụ thuộc đó vào trị giá giao dịch.
- Sau khi bán lại, chuyển nhượng hoặc sử dụng hàng hóa nhập khẩu.
Người mua không phải trả thêm bất kỳ khoản tiền nào từ số tiền thu được do
việc định đoạt hàng hóa nhập khẩu mang lại.
Trừ các khoản tiền mà người nhập khẩu phải trả từ số tiền thu được sau khi
bán lại, định đoạt, sử dụng hàng hóa nhập khẩu được chuyển trực tiếp hay gián
tiếp cho người bán dưới mọi hình thức.
- Người mua và người bán không có mối quan hệ đặc biệt. Hoặc nếu có thì
mối quan hệ đặc biệt đó không ảnh hưởng đến trị giá giao dịch.
- Tốc độ thông quan nhanh (sử dụng chữ ký số): với luồng Xanh chỉ mất 13 giây, nghĩa là chỉ bấm chuột xong là gần như đã có kết quả phân luồng. Với
luồng Vàng hay Đỏ, tất nhiên thời gian xử lý phụ thuộc vào mức độ chuẩn chỉnh
của bộ hồ sơ và hàng hóa. Nhưng dù sao, nếu trên 60% tờ khai luồng xanh, thì

21

21


thời gian phân luồng nhanh như vậy cũng sẽ rất thuận lợi rồi (hy vọng hệ thống
này và các bác hải quan thực sự làm được như vậy).
- Không bị hạn chế hồ sơ giấy: nhờ liên kết giữa các bộ ngành (khi triển
khai hoàn tất) qua phần mềm, nên chứng từ (ví dụ: kiểm tra chất lượng nhà
nước) sẽ gửi trực tiếp đến hải quan. Ngoài ra, với luồng xanh bạn sẽ không cần
tới chi cục hải quan (vì không có chỗ trên tờ khai để hải quan đóng dấu như
trước đây, vậy chẳng cần đến chi cục làm gì). Khi đó bạn có thể tới cảng lấy
hàng, theo đúng tinh thần thông tư 128 mới.
- Không cần phải khai riêng tờ khai trị giá: như hiện nay đối với phương
pháp trị giá giao dịch, do một số chỉ tiêu của tờ khai trị giá theo phương pháp trị
giá giao dịch vào tờ khai nhập khẩu. Bớt được chứng từ nào cũng tốt, đỡ phức
tạp.
- Giảm bớt số loại hình xuất nhập khẩu: dự kiến hệ thống VNACCS/VCIS
sẽ chuẩn hóa chỉ còn khoảng trên 40 mã loại hình xuất khẩu, nhập khẩu (thay vì
hơn 200 như hiện nay). Như vậy việc tra cứu cũng dễ hơn cho người khai hải
quan rồi.
- Không phân biệt loại hình mậu dịch và phi mậu dịch: Nghĩa là hai loại
này chỉ khác nhau về hồ sơ chứng từ, thủ tục thông quan giống nhau. Hiện tại,
hàng phi mậu dịch thủ tục lằng nhằng và phức tạp hơn khá nhiều so với hàng
kinh doanh.
2.2 Nhược điểm
Bên cạnh những tiến bộ trong nhiều quy định đã có sự thay đổi tiến bộ, rõ
ràng, tránh được sự tranh chấp giữa hải quan và doanh nghiệp vẫn còn tồn tại
nhiều bất cập trong thực tế áp dụng.
- Nhận thức của doanh nghiệp còn hạn chế
Một số doanh nghiệp chưa am hiểu các phương pháp xác định giá hải quan
nên nhận thức về quyền lợi và nghĩa vụ còn hạn chế. Một số doanh nghiệp chỉ
nhận thức về mặt quyền lợi chưa tự giác thực hiện các nghĩa vụ với cơ quan Hải

22

22


quan: khai báo trung thực trị giá, cung cấp các thông tin về giá và trả lời các câu
hỏi nghi vấn của cơ quan Hải quan trong quá trình tham vấn.
- Hiện tượng gian lận thương mại trị giá hải quan
Gian lận thương mại trị giá hải quan phổ biến là thông qua các hình thức
như khai sai theo hướng hạ thấp trị giá hải quan của hàng hóa nhập khẩu có thuế
suất cao và chịu thuế tiêu thụ đặc biệt. Doanh nghiệp thông đồng với các bên đối
tác để ghi thấp giá giao dịch trong hợp đồng thương mại, tong hóa đơn thương
mại, hoạc ghi giảm các khoản điều chỉnh phải cộng bắt buộc như: chi phí vận
tải, chi phí bảo hiểm, hoa hồng đại lý bán hàng, tiền bản quyền, phí giấy phép.
- Doanh nghiệp khó tiếp cận cơ sở dữ liệu giá
theo đại diện hiệp hội doanh nghiệp việt mỹ, hiện cơ quan hải quan chỉ dựa
vào cơ sở dữ liệu giá của hải quan, tuy nhiên cơ sở này thế nào thì doanh nghiệp
không biết, giá trong cơ sở này cao hay thấp doanh nghiệp cũng không biết.
- Ấn định giá hàng hóa nhập khẩu gây khó khăn cho doanh nghiệp
Một số doanh nghiệp nhập khẩu hàng hóa về đến cảng tại Việt Nam đã thực
hiện thủ tục kê khai hải quan, kê khai giá mua hoặc giá nhập khẩu hàng hóa
khớp với giá ghi trên hợp đồng mua bán, giá ghi trên hóa đơn thương mại và
đúng với số tiền ghi trên chứng từ chuyển tiền thông qua ngân hàng để thanh
toán tiền cho bên xuất khẩu. Tuy nhiên, sau đó, cơ quan hải quan lại ra quyết
định ấn định giá hàng hóa nhập khẩu theo hướng tăng và buộc doanh nghiệp
phải nộp thêm thuế nhập khẩu tương ứng với mức giá tăng thêm này.
Cơ quan hải quan giải thích là họ đã so sánh với giá hàng hóa nhập khẩu
cùng loại nên có căn cứ để ấn định giá theo hướng tăng đối với hàng hóa nhập
khẩu của doanh nghiệp. Như vậy, có thể hiểu rằng cơ quan hải quan đã mặc
nhiên phủ nhận giá hàng hóa được ghi trên hợp đồng mua bán, hóa đơn thương
mại và chứng từ chuyển tiền của ngân hàng.
Việc ấn định giá như hiện nay còn mang tính chủ quan, ấn định giá, thuế
quá cao dẫn đến doanh nghiệp không còn lợi nhuận khi bán hàng, đặc biệt với
các trường hợp doanh nghiệp đã ký hợp đồng nguyên tắc chốt giá bán cho đối
23

23


tác tại Việt Nam thì doanh nghiệp không thể điều chỉnh tăng giá bán được nữa.
Nếu vì việc bán hàng không có lời mà doanh nghiệp không thực hiện hợp đồng
thì còn bị phạt vi phạm hợp đồng hoặc bị đối tác mua hàng kiện đòi bồi thường
thiệt hại.
- Chứng minh mối quan hệ đặc biệt là khó
Chứng minh mối quan hệ đặc biệt trong khai báo giá giao dịch để tính trị
giá hải quan, một số ý kiến cho rằng, việc chứng minh mối quan hệ đặc biệt
không ảnh hưởng đến giá khai báo đối với doanh nghiệp là rất khó, bởi nhiều
khi doanh nghiệp độc quyền, không có giá và doanh nghiệp nk tương tự để so
sánh.
Bất cập trong việc xác định giá trị hải quan đối với hàng hóa chưa sử dụng
đã hỏng. Với những quy định về việc xác định trị giá hải quan đối với trường
hợp hàng hóa chưa qua sử dụng nhưng đã hỏng, một số đơn vị hải quan thắc
mắc, cơ quan nào xác định hàng hóa đó đã lỗi thời, đồng thời cho rằng, quy định
như trên sẽ dễ bị lợi dụng, doanh nghiệp có thể móc nối với bên bán để khai báo
hàng hóa vào nhóm này. Trong trường hợp này thì hải quan không có cơ sở để
tính trị giá hải quan…
- Xác định trị giá hải quan đối với phần mềm đi kèm hàng hoá
Hiện nay, việc xác định trị giá hải quan đối với hàng hoá có phần mềm đi
kèm đang gặp nhiều bất cập. Có trường hợp phần giá trị của phần mềm được
cộng luôn vào giá trị vật lý của hàng hoá và trở thành trị giá hải quan của hàng
hoá đó, có trường hợp phần giá trị phần mềm lại không được ghi nhận trọng giá
trị hải quan. Việc xác định chính xác phần giá trị phần mềm nào thuộc về hàng
hoá, và phần giá trị dịch vụ nào không thuộc về hàng hoá hiện nay rất khó khăn
do không có quy định rõ ràng.
- Tham vấn trị giá tính thuế
Còn việc tham vấn 1 lần được quy định rất rõ tại Khoản 14 Điều 1 Thông
tư số 39/2018 của Bộ Tài chính. Theo đó, “trong thời hạn làm thủ tục hải quan,
người khai hải quan đề nghị cơ quan hải quan áp dụng kết quả tham vấn của lần
24

24


tham vấn trước cho các lần xuất khẩu, nhập khẩu tiếp theo” với điều kiện áp
dụng “Thông tin, dữ liệu để kiểm tra, xác định trị giá hải quan của hàng hóa xuất
khẩu, nhập khẩu đề nghị tham vấn một lần so với hàng hóa giống hệt, tương tự
đã có kết quả tham vấn không thay đổi”.
Trên thực tế, số lượng tờ khai được chấp nhận tham vấn không nhiều. Sau
khi cơ quan hải quan tham vấn lại, không ít lô hàng đã bị bác trị giá khai hải
quan và bị truy thu lên tới hàng nghìn tỷ dồng.
Ví dụ, chỉ riêng Chi cục Hải quan cửa khẩu cảng Sài Gòn khu vực 1, từ đầu
năm 2019 đến 23/3/2019, Chi cục này đã tham vấn 3.120 tờ khai. Trong
đó,1.401 tờ khai bị bác bỏ, tăng thu trên 52 tỷ đồng, tăng 31% so với cùng kỳ
năm trước.
Riêng đối với tham vấn giá 1 lần, quy định mức giá không thay đổi là một
trong những điều kiện để được tham vấn một lần đang gây khó cho doanh
nghiệp bởi doanh nghiệp ký hợp đồng theo năm, nhưng giá mua hàng lại ký theo
mùa, nên rất khó để có giá ổn… Bên cạnh đó, kết quả chấp nhận tham vấn giá
một lần rất ngắn, hiện chỉ có hiệu lực trong vòng 60 ngày.
Ngoài ra, Thông tư 39 mặc dù đã đưa ra nhiều nội dung cải cách về công
tác kiểm tra trị giá trong quá trình làm thủ tục hải quan, nhưng nhiều ý kiến cho
rằng vẫn còn một số quy định chưa phù hợp với thực tiễn. Ví dụ như quy định
thời gian tiến hành tham vấn và xử lý kết quả tham vấn tối đa là 30 ngày kể từ
ngày đăng ký tờ khai hải quan XK, tờ khai hải quan NK. Thực tế, việc tham vấn
chỉ được thực hiện khi có bảng giá chính thức mà để có được bảng giá này rất
mất thời gian, có khi hơn 30 ngày.
Bên cạnh đó, Thông tư 39/2018 chưa có quy định cụ thể các trường hợp
phải kiểm tra giá, cũng không quy định rõ trường hợp hàng hóa không phải nộp
thuế… gây không ít khó khăn trong việc triển khai.
Quy định về xác định trước trị giá hải quan, về cơ sở pháp lý còn một vấn
đề như công tác bảo mật, lưu trữ cơ sở dữ liệu chưa có quy định cụ thể.

25

25


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×