Tải bản đầy đủ

thảo luận nhóm TMU đổi mới nội dung và phương thức công tác dân vận của đảng đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa hiện nay

HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TU YÊN TRUYỀN
----------------------

TIỂU LUẬN HỌC PHẦN
MÔN: XÂY DỰNG ĐẢNG
Tên đề tài:
ĐỔI MỚI NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG THỨC CÔNG TÁC DÂN VẬN
CỦA ĐẢNG ĐÁP ỨNG YÊU CẦU CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA
HIỆN NAY.

Người thực hiện: Đỗ Thị Thúy Nga
Lớp: Quan hệ công chúng chuyên nghiệp K37A1
MSV: 1757080025
Giảng viên hướng dẫn: TS Lê Văn Hội

HÀ NỘI


MỤC LỤC

MỞ ĐẦU..............................................................................................................2

1. Tính cấp thiết của đề tài...............................................................................2
2. Mục đích nghiên cứu.....................................................................................2
3. Đối tượng nghiên cứu....................................................................................3
4. Phương pháp nghiên cứu..............................................................................3
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÔNG TÁC DÂN VẬN........................4
1.1. Quan điểm của Mác-Lenin về Công tác dân vận......................................4
1.2. Quan điểm của Hồ Chí Minh về Công tác dân vận...................................5
1.3. Quan điểm của Đảng về Công tác dân vận................................................7
CHƯƠNG 2: NỘI DUNG CÔNG TÁC DÂN VẬN.........................................9
CHƯƠNG 3: PHƯƠNG THỨC CÔNG TÁC TRONG THỜI KÌ CÔNG
NGHIỆP HÓA HIỆN ĐẠI HÓA......................................................................13
CHƯƠNG 4: TÁC ĐỘNG CỦA VIỆC ĐỔI MỚI NỘI DUNG VÀ
PHƯƠNG THỨC CÔNG TÁC DÂN VẬN VÀ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP VỚI
TÌNH HÌNH CÔNG TÁC DÂN VẬN TRONG THỜI GIAN TỚI...............17
4.1 Tác động của việc đổi mới nội dung và phương thức Công tác dân vận
trong thời kỳ Công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước................................17
4.2 Đề xuất giải pháp về tình hình dân vận.....................................................18
KẾT LUẬN........................................................................................................24
DANH MUC TÀI LIỆU THAM KHẢO.........................................................25

1


2


MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Từ trước đến nay, Đảng và Nhà nước ta luôn coi trọng công tác dân vận,
vận động tổ chức quần chúng tham gia vào mọi công việc cách mạng. Nhờ làm
tốt công tác dân vận, nhân dân đồng lòng mà ta đã giành được nhiều thắng lợi
trong công cuộc xây dựng và bảo vệ tổ quốc.
Ngày nay, quá trình công nghiệp hóa – hiện đại hóa đã và đang tác động
ảnh hưởng đến toàn bộ đời sống xã hội, tạo ra sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế, sự
biến đổi các tầng lớp nhân dân, các giai cấp xã hội. Có nhiều biến đổi không chỉ
trên thế giới mà còn chính tại đất nước Việt Nam. Do vậy, công tác dân vận cần
phải được quan tâm hơn nữa vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công
bằng, dân chủ, văn minh.
Chắc chắn trước tình hình đó Đảng và Nhà nước sẽ có những thay đổi, đổi
mới về nội dung phương thức công tác dân vận để đáp ứng tất cả những yêu cầu


đặt ra.
Xuất phát từ tính chất và tầm quan trọng của vấn đề cũng như yêu cầu thực
tiễn đặt ra, em quyết định chọn đề tài “Đổi mới nội dung và phương thức
công tác dân vận của Đảng đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa hiện
nay” để làm đề tài bài kết thúc học phần môn học Xây dựng Đảng.
2. Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở tìm hiểu những đổi mới trong nội dung và phương thức công tác
dân vận của Đảng, từ đó đánh giá hiệu quả trong những đổi mới đó, xem những
đổi mới đó có đáp ứng được yêu cầu công nghiệp hóa hiện đại hóa hiện nay hay
không, đồng thời đề xuất giải pháp để nâng cao hiệu quả công tác dân vận trong
thời gian tới.

3


3. Đối tượng nghiên cứu
Sự đổi mới trong nội dung và phương thức công tác dân vận của Đảng
trước yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa hiện nay
4. Phương pháp nghiên cứu
-

Dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí

Minh, những quan điểm của Đảng cộng sản Việt Nam.
-

Kế thừa những kết quả nghiên cứu trong nước về vấn đề nghiên cứu.

-

Sử dụng một số phương pháp nghiên cứu cụ thể: logic, phương pháp

diễn dịch quy nạp, tổng hợp, thống kê số liệu, tổng kết thực tiễn,…

1.

4


CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÔNG TÁC DÂN VẬN
1.1.Quan điểm của Mác-Lenin về Công tác dân vận
Chủ nghĩa Mác-Lênin khẳng định nhân dân là người làm nên lịch sử, sự
nghiệp cách mạng là của nhân dân. Nhân dân sáng tạo ra mọi của cải vật chất và
những giá trị tinh thần của xã hội.
Mục tiêu của cách mạng vô sản và giải phóng con người, giải phóng xã hội.
Lực lượng để tiến hành cách mạng vô sản và quần chúng nhân dân. Sức mạnh
của quần chúng sẽ được tăng lên gấp nhiều lần mà không kẹt thù nào có thể
ngăn cản nổi mỗi khi họ được giác ngộ, được tổ chức lại thành đội quân cách
mạng thực sự. Đảng Cộng sản phải đảm nhận nhiệm vụ quan trọng đó. C.Mác
chỉ rõ: “ nơi nào mà vấn đề đặt ra là phải cải tạo hoàn toàn chế độ xã hội, thì bản
thân quần chúng phải tự mình tham gia vào công cuộc cải tạo ấy, phải tự mình
hiểu rõ vì sao mình phải tiến hành đấu tranh, vì sao mình đổ máu và hy sinh tính
mạng… nhưng muốn cho quần chúng hiểu rõ là phải làm gì thì cần phải tiến
hành một cuộc công tác lâu dài và kiên nhẫn., Hiện nay chúng ta đang tiến hành
chỉnh ngay công tác đó và tiến hành một cách có hiệu quả, khiến cho kẻ địch của
chúng ta phải tuyệt vọng”
V.I.Lenin viết : “Không có sự đồng tình, ủng hộ của đại đa số nhân dân lao
động đối với đội tiền phong của mình, tức là đối với giai cấp vô sản thì cách
mạng vô sản không thể thực hiện được. Nhưng sự đồng tình và ủng hộ đó không
thể có ngay và không phải do những cuộc bỏ phiếu quyết định mà phải trải qua
một cuộc đấu tranh giai cấp lâu dài, khó khăn gian khổ mới dành được. Cuộc
đấu tranh giai cấp của giai cấp vô sản để dành lấy sự đồng tình, để dành lấy sự
ủng hộ của đa số nhân dân lao động không phải kết thúc khi giai cấp vô sản đã
cướp được chính quyền. Sau khi giành được chính quyền, cuộc đấu tranh đó vẫn
tiếp tục như trước, có điều là với hình thức khác mà thôi”.

5


Về phương pháp công tác dân vận, Angghen căn dặn phải dùng phương
pháp nêu gương giúp đỡ. Trong công tác dân vận thì những tấm gương, những
mô hình thực tiễn có tác dụng cổ vũ, động viên rất lớn đối với quần chúng.
Lênin khuyến khích mở rộng dân chủ công khai làm cho mọi người dân biết
công việc của Đảng, nhà nước. Đó là một phương pháp quần chúng có tác dụng
nâng cao tính chủ động tích cực, sáng tạo cách mạng của quần chúng. Lênin coi
trọng ý kiến của quần chúng, người coi đó là tâm tư, nguyện vọng của quần
chúng nhân dân, là nguồn thông tin cực kỳ quý báo để hình thành nên chủ
trương, chính sách, đường lối. Vì vậy Lênin yêu cầu phải tập hợp, tổng kết
những ý kiến của quần chúng.
Đối với chủ nghĩa mác quan điểm về công tác dân vận bao gồm:
 Cách mạng là sự nghiệp của quần chúng nhân dân
 Phải quan tâm đến lợi ích của quần chúng
 Sức mạnh của quần chúng nhân dân là vô địch
 Phải thống nhất ý chí, đoàn kết tạo sức mạnh
 Phải có phương pháp dân vận và biết dùng phương pháp nêu gương, giúp
đỡ.
1.2.Quan điểm của Hồ Chí Minh về Công tác dân vận
Trong tác phẩm “Dân vận” viết ngày 15/10/1949, Chủ tịch Hồ Chí Minh
đưa ra khái niệm: Dân vận là vận động tất cả lực lượng của mỗi một người dân
không để sót một người dân nào., góp thành lực lượng toàn dân, để thực hành
những công việc nên làm, những công việc chính phủ và đoàn thể đã giao cho.
Qua đó cho thấy Hồ Chí Minh đã nêu lên hai vấn đề:
Vấn đề thứ nhất, dân vận của Đảng đối tượng là tất cả mọi người dân,
không phân biệt thành phần giai cấp, giới tính, tuổi tác, tôn giáo, dân tộc, nghề
nghiệp, và bàn cư trú. Mọi người dân của nước Việt dù sống trong nước hay
đang cư trú ở nước ngoài đều là đối tượng công tác dân vận của Đảng.

6


Vấn đề thứ hai, công tác dân vận của Đảng có mục tiêu quy tụ sức mạnh
của toàn thể dân tộc, bao gồm: nhân lực, vật lực, tài lực, trí lực. Làm cho dân
hiểu rõ việc nên làm, cần làm, phải làm vì sự phát triển của cá nhân, của cộng
đồng và của quốc gia.
Vận dụng và phát triển sáng tạo quan điểm của các mác, Lênin, kế thừa
những nhân tố tinh hoa của dân tộc và nhân loại, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nêu
ra quan niệm của mình về phát huy vai trò của nhân dân với những nội dung cơ
bản:
Dân là quý nhất, quan trọng nhất, là tối thượng. Người luôn đánh giá cao
vai trò và sức mạnh của nhân dân: dân là quý nhất, là quan trọng hơn hết, trong
bầu trời không gì quý bằng nhân dân. Trong thế giới không gì mạnh bằng lực
lượng đoàn kết của nhân dân. Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “dân chúng
đồng lòng, việc gì cũng làm được. Dân chúng không ủng hộ, việc gì làm cũng
không nên”. Người khẳng định: “cách mạng là sự nghiệp của quần chúng nhân
dân chứ không phải của một hai cá nhân anh hùng nào. Thiên thời không bằng
địa lợi, địa lợi không bằng nhân hòa. Nhân hòa là quan trọng hơn hết. Vì nhân
dân là lực lượng cơ bản của cách mạng. Dân là gốc của nước và là lực lượng của
cách mạng. Nước lấy dân làm gốc, gốc có vững cây mới bền, xây lầu thắng lợi
trên nền nhân dân. Dễ mười lần không dân cũng chịu, khó trăm lần dân liệu
cũng xong”. Đánh giá cao vai trò của nhân dân và tầm quan trọng của công tác
dân vận, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: lực lượng của dân rất to. Việc dân
vận rất quan trọng. Dân vận kém thì việc gì cũng kém dân vận khéo thì việc gì
cũng thành công.
Sự nghiệp cách mạng là của nhân dân, do dân, vì dân, nhưng nhân dân cần
Đảng dẫn đường. Dân có quyền nhưng phải có nghĩa vụ và trách nhiệm đối với
đất nước. Công cuộc đổi mới, xây dựng là trách nhiệm của nhân dân. Dân có
trách nhiệm làm chủ thì phải có nghĩa vụ làm tròn bổn phận công dân.
Ngày nay, vai trò làm chủ của dân đối với sự phát triển đất nước được cụ
xác định ở bốn không: dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra và được cất chìa
7


khóa ở quy chế dân chủ ở cơ sở và pháp lệnh thực hiện dân chủ ở xã, phường,
thị trấn do chính phủ ban hành.
1.3.Quan điểm của Đảng về Công tác dân vận
Trước đại hội sáu của Đảng, tư tưởng coi trọng công tác dân vận có ý nghĩa
chiến lược đã được khẳng định. Đại hội sáu của Đảng đã tổng kết bài học số một
Việt Nam là lấy dân làm gốc và yêu cầu thực hiện có nền nếp khẩu hiệu dân biết
dân bàn dân kiểm tra.
Thực hiện đường lối đổi mới của đại hội sáu, hội nghị lần thứ tám ban chấp
hành trung ương khóa sáu đã ra nghị quyết 08B/NQ-HNTW về “Đổi mới công
tác vận động quần chúng của Đảng, tăng cường mối quan hệ giữa Đảng và nhân
dân” Nêu lên bốn quan điểm chỉ đạo đổi mới công tác quần chúng của Đảng
dưới đây:
 Cách mạng là sự nghiệp của dân, do dân và vì dân
 Động lực thúc đẩy phong chào quần chúng là đáp ứng lợi ích thiết thực
của nhân dân và kết hợp hài hòa các lợi ích, thống nhất quyền lợi và nghĩa vụ
công dân
 Các hình thức tập hợp nhân dân, đa dạng
 Công tác quần chúng là trách nhiệm của Đảng, nhà nước và đoàn thể nhân
dân.
Các quan điểm của Đảng tại nghị quyết hội nghị lần thứ bẩy ban chấp hành
trung ương khóa chín về phát huy sức mạnh đại đoàn kết dân tộc vì dân giàu
nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh:
 Đại đoàn kết dân tộc trên nền tảng liên minh giai cấp công nhân với giai
cấp nông dân và đội ngũ trí thức dưới sự lãnh đạo của Đảng và đường lối chiến
lược của cách mạng Việt Nam, là nguồn sức mạnh, động lực chủ yếu và là nhân
tố có ý nghĩa quyết định đảm bảo thắng lợi bền vững của sự nghiệp xây dựng và
bảo vệ tổ quốc.

8


 Đại đoàn kết toàn dân tộc lấy mục tiêu giữ vững độc lập, thống nhất của
tổ quốc, vì dân giầu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh làm điểm
tương đồng, xóa bỏ mặc cảm, định kiến, phân biệt đối xử về quá khứ, thành
phần, giai cấp, xây dựng tinh thần cởi mở, tin cậy lẫn nhau, cùng hướng tới
tương lai.
 Đảm bảo công bằng và bình đẳng xã hội, chăm lo lợi ích thiết thực, chính
đáng, hợp pháp của các giai cấp, các tầng lớp nhân dân, kết hợp hài hòa lợi ích
cá nhân, lợi ích tập thể và lợi ích toàn xã hội, thực hiện dân chủ gắn liền với giữ
gìn kỷ cương, chống quan liêu, tham nhũng, lãng phí, không ngừng bồi dưỡng,
nâng cao tinh thần yêu nước Ý thức độc lập dân tộc, thống nhất tổ quốc, tinh
thần tự lực, tự cường xây dựng đất nước. Xem đó là những yếu tố quan trọng để
cùng cố và phát triển khối đại đoàn kết dân tộc
 Đại đoàn kết là sự nghiệp của toàn dân tộc, của cả hệ thống chính trị mà
hạt nhân lãnh đạo là các tổ chức Đảng, được thực hiện bằng nhiều biện pháp,
hình thức, trong đó các chủ trương của Đảng và chính sách, pháp luật của nhà
nước có ý nghĩa quan trọng hàng đầu.

9


CHƯƠNG 2: NỘI DUNG CÔNG TÁC DÂN VẬN
Trong thời kì công nghiệp hóa – hiện đại hóa, chúng ta có những đổi mới
trong công tác dân vận như sau:
Thứ nhất, vận động nhân dân thực hiện nhiệm vụ chính trị trung tâm
là xây dựng và bảo vệ vững chắc tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
Trước hết, phải nhận thức sâu sắc nhiệm vụ bao trùm Nhất công tác dân
vận của Đảng hiện nay là: cùng cố vững chắc niềm tin của nhân dân đối với
Đảng, tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc và mối quan hệ mật thiết giữa
Đảng với nhân dân; tập hợp vận động nhân dân thực hiện tốt các chủ trương của
Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước, phát huy sức mạnh to lớn của nhân
dân. Tạo thành phong chào cách mạng rộng lớn xây dựng và bảo vệ tổ quốc.
Tuyên truyền, giải thích cho các tầng lớp nhân dân hiểu rõ đường lối, chủ
trương, chính sách của Đảng, luật pháp của nhà nước về mục tiêu, chính trị, về
quyền lợi và trách nhiệm của công dân.
Nâng cao trình độ dân trí, tạo điều kiện để mỗi người đủ khả năng nhận
thức và thực hiện đúng đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của nhà nước,
các quyền lợi và nghĩa vụ công dân.
Trong tình hình mới, công tác dân vận, tập hợp quần chúng nhân dân thành
lực lượng xã hội rộng rãi tham gia các phong trào thi đua yêu nước. Toàn Đảng,
toàn dân và toàn quân phải kết thành một khối vững chắc, làm nên sức sức sống
trong các phong trào thi đua. Các cấp ủy Đảng, chính quyền, mặt trận tổ quốc và
các đoàn thể nhân dân giám sát nhiệm vụ chính trị, nắm bắt lợi ích chính đáng
của mọi tầng lớp nhân dân để xác định nội dung và lựa chọn cách thức phát
động thi đua sát với thực tế của địa phương, đơn vị với nhiều hình thức đa dạng,
phong phú, phù hợp với từng đối tượng. Đẩy mạnh phong trào thi đua “ dân vận
khéo“ gắn với việc “ học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh“ Và
các phong trào do mặt trận tổ quốc, các đoàn thể chính trị - xã hội phát động.

10


Thứ hai, chăm lo lợi ích chính đáng, hợp pháp của nhân dân; điều
chỉnh hài hòa lợi ích giữa các giai tầng xã hội, các vùng miền, các lĩnh vực.
Bên cạnh những thành tựu to lớn về mọi mặt của sự nghiệp đổi mới, đất
nước ta cũng luôn phải đối mặt với những khó khăn, thách thức to lớn trong quá
trình phát triển, nhất là trên lĩnh vực kinh tế xã hội. Đảng và nhà nước phải có
nhiều biện pháp nhằm đảm bảo an sinh, giữ vững ổn định chính trị và trật tự an
toàn xã hội. Do đó, công tác dân vận, góp phần vào việc thực hiện đồng bộ các
giải pháp ổn định kinh tế vĩ mô, đảm bảo an sinh xã hội, Nâng cao chất lượng
tăng trưởng kinh tế.
Hơn lúc nào hết, công tác dân vận phải đi sâu nắm bắt tình hình tâm tư,
nguyện vọng của nhân dân để kịp thời đề suất với Đảng, nhà nước có những giải
pháp kịp thời, đảm bảo lợi ích thiết thực và hài hòa giữa các giai tầng xã hội,
giữa các vùng miền và các lĩnh vực của đất nước. Các cấp, các ngành, các địa
phương, đơn vị tập trung giải quyết những bức xúc, nguyện vọng chính đáng
của nhân dân, nhất là những vấn đề liên quan trực tiếp đến đời sống, việc làm,
đền bù thu hồi đất, tai nạn giao thông, tệ nạn xã hội …
Công tác dân vận phải thực sự tham gia, đóng góp vào quá trình phát triển,
đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế, tạo thêm công ăn, việc làm, thực hiện xóa
đói, giảm nghèo, đảm bảo an sinh xã hội, nâng cao dân chí, cải thiện và nâng
cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân.
Thứ ba, phát huy dân chủ, đảm bảo quyền làm chủ thực sự của nhân
dân
Tại đại hội XI, Đảng ta tiếp tục khẳng định: “ dân chủ xã hội chủ nghĩa là
bản chất của chế độ ta, vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển đất
nước. Trong tiến trình đổi mới và dân chủ hóa, cần đặc biệt coi trọng dân chủ cơ
sở. Công tác dân vận cần góp phần vào việc thực hiện tốt pháp lệnh dân chủ cơ
sở. Đảm bảo thực hiện công khai, dân chủ cơ sở theo phương châm: dân biết,
dân bàn, dân làm, dân kiểm tra.

11


Để thực thi và bảo vệ dân chủ cần xác định cơ chế và biện pháp ngăn ngừa,
chống lại những hành vi vi phạm hiến pháp và pháp luật. Trong việc phát triển
kinh tế thị trường và xây dựng nhà nước pháp quyền cần quán triệt một số
nguyên tắc sau:
Mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật. Công dân được phép làm
những gì không cấm. Công chức chỉ được làm những gì pháp luật cho phép.
Kết hợp phương thức dân chủ Đại diện với dân chủ trực tiếp, dân chủ tự
quản, tập trung dân chủ với hiệp thương dân chủ.
Thực hiện cơ chế Đảng lãnh đạo, nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ.
Mặt trận tổ quốc và các đoàn thể nhân dân làm tốt chức năng tư vấn, phản
biện và giám sát xã hội.
Xử lý nghiêm minh những hành vi lợi dụng dân chủ để làm mất an ninh
chính trị, trật tự an toàn xã hội và những hành vi vi phạm quyền dân chủ, quyền
làm chủ của nhân dân.
Trong văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Đảng ta khẳng định:
tiếp tục phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa, bảo đảm tất cả quyền lực nhà nước
thuộc về nhân dân. Mọi đường lối chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật
của Nhà nước, xuất phát từ nguyện vọng, quyền và lợi ích chính đáng của nhân
dân, được nhân dân tham gia ý kiến. Dân chủ phải được thực hiện đầy đủ,
nghiêm túc trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội. Đảm bảo để nhân dân
tham gia ở tất cả các khâu của quá trình đưa ra những quyết định liên quan đến
lợi ích, cuộc sống của nhân dân, từ nêu sáng kiến, tham gia thảo luận, tranh luận
đến giám sát quá trình thực hiện. Tập trung xây dựng những văn bản pháp luật
liên quan trực tiếp đến quyền làm chủ của nhân dân.
Thứ tư, Phát huy sức mạnh đại đoàn kết dân tộc.
Tại đại hội XII, Đảng ta chỉ rõ: “ Đại đoàn kết dân tộc là đường lối chiến
lược của cách mạng Việt Nam, là động lực và nguồn lực to lớn trong xây dựng
và bảo vệ tổ quốc”.

12


Công tác dân vận của Đảng, nhằm vào việc nâng cao nhận thức, trách
nhiệm của toàn Đảng, toàn dân, phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc
trong bối cảnh mới. Lấy mục tiêu xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, độc
lập, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, dân giầu, nước mạnh, dân chủ, công bằng,
văn minh làm điểm tương đồng. Xóa bỏ mặc cảm, định kiến về quá khứ, thành
phần giai cấp, chấp nhận những điểm khác nhau không trái ngược với lợi ích
chung của dân tộc. Đề cao tinh thần dân tộc, truyền thống nhân nghĩa, khoan
dung… để tập hợp, đoàn kết mọi người và mặt trận chung, tăng cường đồng
thuận xã hội,…
Đại đoàn kết toàn dân tộc phải dựa trên cơ sở giải quyết hài hòa quan hệ lợi
ích giữa các thành viên trong xã hội. Đoàn kết trong Đảng là hạt nhân, là cơ sở
vững chắc để xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Các cấp ủy Đảng và
chính quyền phải thường xuyên đối thoại, lắng nghe, học hỏi, tiếp thu ý kiến,
giải quyết khó khăn, vướng mắc và yêu cầu chính đáng của nhân dân. Có hình
thức, cơ chế, biện pháp cụ thể, thích hợp để nhân dân bày tỏ chính kiến, nguyện
vọng và thực hiện quyền làm chủ.
Đảng thực hiện vai trò lãnh đạo của mình thông qua đường lối, chính sách,
tăng cường mối quan hệ mật thiết với nhân dân. Nhà nước không ngừng hoàn
thiện hệ thống pháp luật và quản lý, Tạo điều kiện để nhân dân được làm những
việc mà pháp luật không cấm. Nhà nước và nhân dân cùng nỗ lực phấn đấu cho
sự Sự nghiệp phát triển đất nước, kết hợp hài hòa lợi ích cá nhân, lợi ích tập thể
và lợi ích toàn xã hội.
Bằng Công tác dân vận, Đảng, nhà nước, mặt trận tổ quốc và các đoàn thể
nhân dân đều phải góp phần chăm lo, bảo vệ lợi ích Của các tầng lớp nhân dân,
đảm bảo công bằng xã hội. Tôn trọng và phát huy vai trò gương mẫu, dẫn dắt
của những điển hình tiên tiến, những người tiêu biểu, có uy tín trong cộng đồng
dân cư, các dân tộc, các tôn giáo.

13


CHƯƠNG 3: PHƯƠNG THỨC CÔNG TÁC TRONG THỜI KÌ CÔNG
NGHIỆP HÓA HIỆN ĐẠI HÓA
Phương thức công tác dân vận của Đảng bao gồm: Đảng trực tiếp tiến hành
công tác dân vận; Đảng lãnh đạo tổ chức và hoạt động của mặt trận và các đoàn
thể nhân dân tiến hành công tác dân vận.
Đảng tiến hành công tác dân vận
Bản thân các tổ chức Đảng trực tiếp tiến hành công tác dân vận. Các tổ
chức và các cấp ủy Đảng có quyết định đúng đắn về công tác dân vận nói chung
hoặc các quy định vận động từng đối tượng và các quy định thực hiện các nghị
quyết của trung ương và tổ chức Đảng cấp trên về công tác dân vận. Tất cả các
quyết định đó phải được thể hiện bằng văn bản nghị quyết. Sau khi có nghị
quyết phải coi trọng việc tổ chức thực hiện và kiểm tra, giám sát việc thực hiện.
Các tổ chức Đảng, Đảng viên đều phải làm công tác dân vận theo chức
trách của mình. Các tổ chức Đảng, giáo dục nâng cao năng lực, đạo đức và tính
tiên phong gương mẫu, tác phong gần gũi nhân dân cho cán bộ, Đảng viên. Coi
trọng việc bồi dưỡng về mọi mặt văn hóa, chính trị, nghiệp vụ công tác dân vận
và đảm bảo chế độ chính sách đối với những cán bộ, Đảng viên chuyên trách
làm công tác dân vận của Đảng. Chi bộ Đảng có trách nhiệm phân công, đôn
đốc và kiểm tra Đảng viên làm công tác dân vận.
Cấp ủy Đảng, tăng cường và kiện toàn, đổi mới đội ngũ cán bộ làm công
tác quần chúng. Cán bộ chủ chốt của mặt trận và các đoàn thể ở các cấp là cấp
ủy viên, nếu là Đảng viên phải là những người có năng lực, có uy tín và trưởng
thành từ phong chào quần chúng, được nhân dân tín nhiệm.
Các cấp ủy đã có kế hoạch tục thì việc tạo nguồn, đào tạo, bồi dưỡng, sử
dụng cán bộ làm công tác quần chúng để bổ sung cán bộ cho Đảng và nhà nước,
có chế độ đãi ngộ thỏa đáng đối với đội ngũ cán bộ làm công tác quần chúng.
Cần có chính sách chăm lo đội ngũ cán bộ dân vận ở cơ sở, những người gần
dân, sát dân.
14


Các tổ chức Đảng phải biết phát huy vai trò của những người có uy tín
trong cộng đồng như là làm, trưởng bản, trưởng họ, trưởng tộc, để họ làm tốt
công tác dân vận động quần chúng ở cơ sở.
Phương pháp công tác dân vận của Đảng là phải tiến hành trước hết từ cơ
sở, vận động quần chúng ngay từ cơ sở, qua đó đã nắm được tâm tư, nguyện
vọng của nhân dân và giải quyết được những vấn đề bức xúc của nhân dân ngay
từ cơ sở, đồng thời thu thập sáng kiến, sáng tạo của quần chúng góp phần làm cơ
sở bổ sung và hoàn thiện đường lối đổi mới của Đảng.
Đảng lãnh đạo nhà nước tiến hành công tác dân vận
Thông qua Đảng đoàn Quốc hội, Hội đồng nhân dân cấp tỉnh, ban cán sự
Đảng chính quyền các cấp, các ngành và thông qua Đảng viên hoạt động trong
các cơ quan chính quyền và các cấp ủy Đảng lãnh đạo hệ thống chính quyền làm
công tác dân vận trên những mặt cơ bản sau đây:
Một là, nhanh chóng thể chế hóa cụ thể hóa các nghị quyết của Đảng về
công tác dân vận hoặc liên quan đến nhân dân thành luật, các văn bản pháp quy,
tạo điều kiện thuận lợi mọi mặt (vật chất, văn hóa, pháp lý,...) Cho nhân dân làm
ăn, sinh sống, học hành, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần.
Hai là, lãnh đạo việc thực hiện quyền làm chủ của nhân dân trong việc
tham gia và kiểm tra công việc nhà nước, thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở.
Các cấp chính quyền cần có chế độ tiếp dân, giải quyết kịp thời đơn thư khiếu
nại, tố cáo của công dân.
Ba là, Đảng lãnh đạo chính quyền tăng cường mối quan hệ với Mặt trận tổ
quốc và các Đoàn thể nhân dân, xây dựng và hoàn thiện quy chế phối hợp giữa
chính quyền với mặt trận và các đoàn thể từ chính phủ đến chính quyền cơ sở
trong việc thực hiện các nhiệm vụ kinh tế xã hội, an ninh, quốc phòng và giải
quyết các vấn đề mà nhân dân quan tâm. Chính quyền các cấp phải tạo điều kiện
về cơ sở vật chất, tài chính và pháp lý để mặt trận và các đoàn thể phát huy vai
trò chính trị và xã hội của mình.

15


Bốn là, đặt kiểm tra các cấp chính quyền nâng cao năng lực, trình độ văn
hóa, nghiệp vụ, nâng cao đạo đức phục vụ nhân dân của nhân viên và bộ máy
chính quyền; xây dựng và hoàn thiện quy chế phục vụ nhân dân của viên chức
và bộ máy chính quyền; tiến hành cải cách hành chính nhà nước, kiên quyết bài
trừ tệ nạn quan liêu, tham nhũng cửa quyền, ức hiếp dân.
Phương thức lãnh đạo của Đảng đối với nhà nước nhằm nâng cao hiệu lực
quản lý, điều hành của nhà nước. Đảng kiểm tra hoạt động của cán bộ, Đảng
viên trong cơ quan nhà nước. Đổi mới hoạt động của các cơ quan chuyên môn
của Đảng để làm tốt công tác tham mưu là một nội dung mới trong đổi mới
phương thức lãnh đạo của Đảng. Cần xây dựng và hoàn thiện quy chế về sự
Lãnh đạo của Đảng trên các lĩnh vực, nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả
lãnh đạo của Đảng, phát huy hiệu lực và quyền lực quản lý nhà nước của các cơ
quan chính quyền. Tinh thần kỷ luật, kỷ cương, trách nhiệm cá nhân, tăng cường
công tác kiểm tra nhằm đẩy mạnh phương thức lãnh đạo của Đảng đối với Nhà
nước về công tác dân vận.
Đảng lãnh đạo mặt trận tổ quốc và các đoàn thể nhân dân tiến hành
công tác dân vận.
Mặt trận tổ quốc và các đoàn thể nhân dân hoạt động dưới sự lãnh đạo của
Đảng, đó là nguyên tắc. Song, Đảng tôn trọng tính độc lập về tổ chức và phát
huy vai trò, chức năng của mặt trận tổ quốc và các đoàn thể trong hệ thống chính
trị, giúp đỡ và ủng hộ các sáng kiến hoạt động của mặt trận và các đoàn thể, tôn
trọng các nguyên tắc của các tổ chức quần chúng. Các tổ chức Đảng cần khắc
phục hai khuynh hướng không đúng: buông lỏng lãnh đạo, “khoán trắng”, hoặc
bao biện, làm thay.
Sự lãnh đạo của Đảng đối với mặt trận tổ quốc và các đoàn thể nhân dân
trước hết là định hướng chính trị. Giúp các tổ chức này xác định mục tiêu, chức
năng, nhiệm vụ, xây dựng các nguyên tắc tổ chức, định ra các chương trình hoạt
động trong mỗi thời kỳ.

16


Đảng lãnh đạo mặt trận và các đoàn thể thông qua Đảng đoàn (cấp trung
ương và các tỉnh thành); thông qua cấp ủy viên và Đảng viên được đặt phân
công hoạt động trong mặt trận và các đoàn thể (ở các cấp). Riêng Đoàn thanh
niên Cộng sản Hồ Chí Minh có vị trí đặc biệt, là đội hậu bị của Đảng, gắn chặt
với công tác xây dựng Đảng, do đó Đoàn do Đảng trực tiếp lãnh đạo.
Trong việc lãnh đạo nhân sự đại hội mặt trận và các đoàn thể, việc giới
thiệu cấp ủy viên Đảng viên vào chức vụ chủ chốt của mặt trận và các đoàn thể
cần thực sự tôn trọng dân chủ bầu cử, tuyệt đối không gọi ép. Cần quan tâm lãnh
đạo để có cơ cấu với tỷ lệ thích đáng là người ngoài Đảng.
Cần thực hiện tốt chế độ làm việc giữa cấp ủy Đảng với lãnh đạo mặt trận
và các đoàn thể: định kỳ nghe báo cáo và cho ý kiến về chương trình hoạt động,
việc tiếp thu những kiến nghị của các đoàn thể, giúp mặt trận và các đoàn thể
giải quyết những khó khăn vướng mắc về mặt tổ chức và điều kiện hoạt động.
Đối với mặt trận tổ quốc, thực hiện thành nền nếp việc Đảng và nhà nước cùng
bạn và tham khảo ý kiến của mặt trận vì những quyết định, chủ trương lớn. Qua
sinh hoạt của mặt trận, đã tiếp thu đầy đủ những ý kiến đóng góp của nhân dân
đối với sự lãnh đạo của mình.
Công tác quần chúng có vai trò đặc biệt quan trọng, trực tiếp tổ chức và
vận động nhân dân vượt qua khó khăn và thử thách, tạo nên bất tiện nhanh và
vững chắc, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Cần quán triệt sâu
sắc quan điểm phát triển kinh tế là nhiệm vụ trung tâm; xây dựng Đảng là nhiệm
vụ then chốt; xây dựng văn hóa là nền tảng tinh thần xã hội; vận động và tổ
chức nhân dân biến đường lối, chủ trương của Đảng thành hiện thực có ý nghĩa
quyết định công cuộc đổi mới của cách mạng Việt Nam.

17


CHƯƠNG 4: TÁC ĐỘNG CỦA VIỆC ĐỔI MỚI NỘI DUNG VÀ
PHƯƠNG THỨC CÔNG TÁC DÂN VẬN VÀ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP VỚI
TÌNH HÌNH CÔNG TÁC DÂN VẬN TRONG THỜI GIAN TỚI
4.1 Tác động của việc đổi mới nội dung và phương thức Công tác dân
vận trong thời kỳ Công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước
Ban Dân vận Trung ương đã kịp thời quán triệt, cụ thể hóa Nghị quyết Đại
hội Đảng lần thứ XII về công tác dân vận, chủ động tham mưu cho Trung ương,
Bộ Chính trị, Ban Bí thư ban hành nhiều chủ trương về công tác dân vận; các
chủ trương của Đảng về công tác dân vận đã được Quốc hội, Chính phủ thể chế
hóa thành chính sách, pháp luật đi vào cuộc sống, góp phần quan trọng vào sự
nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong thời kỳ
mới.
Trong bối cảnh nhiều thách thức, khó khăn song dưới sự lãnh đạo của
Đảng, sự vào cuộc mạnh mẽ của cả hệ thống chính trị, sự nỗ lực, quyết tâm cao
của các bộ, ngành, địa phương, cộng đồng doanh nghiệp và nhân dân cả nước,
tình hình kinh tế - xã hội năm 2018 tiếp tục duy trì đà tăng trưởng, phát triển.
Nổi bật là hoàn thành toàn diện 12/12 chỉ tiêu được Quốc hội giao, trong đó có
09 chỉ tiêu vượt kế hoạch. GDP đạt mức tăng ấn tượng, 7,08%, cao nhất trong
10 năm qua, GDP bình quân đầu người đạt khoảng 2.580 USD.
Tiếp tục duy trì ổn định kinh tế vĩ mô, chất lượng tăng trưởng được nâng
lên. Xuất, nhập khẩu vượt mục tiêu đề ra. Xuất siêu lập kỷ lục đạt 7,2 tỷ USD,
gấp gần 2,5 lần xuất siêu năm 2017 (2,92 tỷ USD) và cao nhất trong 10 năm
qua. Kết quả thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới
vượt mục tiêu đề ra; đến nay có 61 huyện (chiếm 11,2%) và 3.770 xã đạt chuẩn
nông thôn mới (chiếm 42%, vượt chỉ tiêu đề ra là 38,8%).
Các lĩnh vực văn hóa, y tế, giáo dục, an sinh xã hội, lao động, việc làm, tài
nguyên môi trường... đạt được nhiều kết quả quan trọng. Đẩy mạnh thực hiện
mục tiêu giảm nghèo bền vững theo phương châm “Không để ai bị bỏ lại phía
18


sau”. Tỷ lệ hộ nghèo theo chuẩn đa chiều giảm còn 5,35% (giảm 1,35% so với
cuối năm 2017), riêng các huyện nghèo giảm khoảng 5%. Giáo dục, đào tạo tiếp
tục được đổi mới, chất lượng giáo dục phổ thông được nâng lên. Công tác chăm
sóc sức khỏe nhân dân được tăng cường; số giường bệnh trên một vạn dân đạt
26,5 giường; tỷ lệ bao phủ bảo hiểm y tế ước đạt 87,7%, vượt chỉ tiêu đề ra
(85,2%). Văn hóa, thể dục thể thao đạt được nhiều thành tích ấn tượng.
Quốc phòng, an ninh được tăng cường; trật tự an toàn xã hội được bảo
đảm; đối ngoại và hội nhập quốc tế được đẩy mạnh. Vị thế và uy tín Việt Nam
trên thị trường quốc tế được nâng lên. Công tác cải cách hành chính, tinh giản
biên chế, kiện toàn tổ chức, bộ máy và xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức,
viên chức có bước đột phá, đạt được nhiều kết quả tích cực.
Thực hiện chủ trương của Đảng, đứng đầu là đồng chí Tổng Bí thư, Chủ
tịch nước Nguyễn Phú Trọng, cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng
phí, tiêu cực trên các lĩnh vực đời sống xã hội đã giành được kết quả quan trọng.
Việc kiên quyết xử lý nghiêm minh các tổ chức, cá nhân vi phạm, trong đó có
nhiều cán bộ cao cấp đã tạo được sự đồng tình, ủng hộ và củng cố niềm tin của
các tầng lớp nhân dân đối với sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý điều hành của
Nhà nước.
4.2 Đề xuất giải pháp về tình hình dân vận
Thứ nhất, phát huy vai trò công tác dân vận trong xây dựng, chỉnh đốn
Đảng, tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, hiệu lực quản lý của Nhà nước đối với
nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc
Xây dựng, chỉnh đốn Đảng là đòi hỏi khách quan và là nhiệm vụ thường
xuyên để củng cố, phát huy vai trò lãnh đạo của một Đảng cầm quyền. Do vậy,
đây là một nội dung quan trọng, nhân tố quyết định thắng lợi của sự nghiệp bảo
vệ Tổ quốc. Những năm qua, bên cạnh những thành công, công tác xây dựng
Đảng còn có hạn chế; còn một bộ phận không nhỏ cán bộ, Đảng viên, kể cả lãnh
đạo, quản lý, cán bộ cao cấp suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống;
tình trạng tham nhũng, lợi ích nhóm, mất đoàn kết nội bộ... Hiện tượng này tuy
19


đã được khắc phục, nhưng chưa triệt để, “làm giảm sút vai trò lãnh đạo của
Đảng, làm tổn thương tình cảm và suy giảm niềm tin của nhân dân đối với
Đảng, là một nguy cơ trực tiếp đe dọa sự tồn vong của Đảng và chế độ”. Để góp
phần xây dựng, chỉnh đốn Đảng, công tác dân vận phải đẩy mạnh, nâng cao chất
lượng công tác tham mưu cho các cấp ủy Đảng; thực hiện tốt “Năm dân vận
chính quyền” với các nội dung trọng tâm như: Tạo điều kiện thuận lợi để tăng
cường, phát huy quyền làm chủ của nhân dân, nhất là mở rộng quyền dân chủ
trực tiếp của người dân; cải cách thủ tục hành chính; giải quyết đơn, thư khiếu
nại, tố cáo của người dân, góp phần xây dựng chính quyền trong sạch vững
mạnh, phát huy thực sự vai trò của nhân dân trong giám sát, phản biện, góp ý
xây dựng Đảng, nhằm góp phần xây dựng và củng cố vai trò lãnh đạo của Đảng
đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Thứ hai, góp phần huy động sức mạnh của nhân dân, tạo nên nội lực phát
triển kinh tế nhanh, bền vững, tăng cường tiềm lực kinh tế cho nền quốc phòng
toàn dân
Trong điều kiện phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa
và hội nhập quốc tế, cùng với sự thu hút đầu tư nước ngoài, tranh thủ ngoại lực
để phát triển kinh tế, cần đẩy mạnh, phát huy nội lực nhằm khai thác tối đa mọi
tiềm năng, lợi thế cho công cuộc xây dựng đất nước. Do vậy, công tác dân vận
phải phát huy cho được vai trò to lớn và trung tâm của nhân dân trong việc huy
động nội lực, sáng tạo, tham gia phát triển mạnh, bền vững kinh tế-xã hội, làm
ra thật nhiều của cải cho xã hội, đồng thời nâng cao đời sống vật chất, tinh thần
cho nhân dân; bên cạnh đó công tác dân vận phải tham gia xóa đói, giảm nghèo,
thực hiện tốt chính sách an sinh xã hội và chính sách hậu phương quân đội...
nhằm tạo ra xã hội hài hòa, ổn định, tạo điều kiện phát triển kinh tế đất nước,
tăng cường tiềm lực cho quốc phòng.
Thứ ba, xây dựng và phát huy khối đại đoàn kết toàn dân tộc, tạo nền tảng
vững chắc cho nền quốc phòng toàn dân

20


Đất nước ta đã bước vào thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa,
thế, lực và uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế ngày càng được nâng cao.
Tuy nhiên, Việt Nam cũng đứng trước những khó khăn, thách thức không nhỏ.
Đời sống của một bộ phận nhân dân, nhất là nhân dân ở miền núi, vùng cao,
vùng sâu, vùng xa, vùng có đông đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống... còn gặp
nhiều khó khăn. Thu nhập của một số cán bộ, công nhân, viên chức, người lao
động còn thấp. Sự phân hóa giàu nghèo giữa các tầng lớp dân cư tăng lên. Tình
hình an ninh chính trị trên các địa bàn trọng điểm vẫn tiềm ẩn những yếu tố gây
mất ổn định, các thế lực thù địch vẫn tăng cường chống phá cách mạng nước ta
hết sức quyết liệt… Do vậy, công tác dân vận cần được tăng cường, nhằm tuyên
truyền, quán triệt sâu sắc đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà
nước; vạch trần âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch; phát huy
cao độ quyền làm chủ của người dân, tạo nên sức mạnh nội lực cho công cuộc
phát triển đất nước, tạo nền tảng vững chắc cho nền quốc phòng toàn dân.
Thứ tư, góp phần xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân vững mạnh, có sức
chiến đấu cao, thực sự là lực lượng chính trị, lực lượng chiến đấu trung thành,
tin cậy của Đảng, Nhà nước và nhân dân, làm nòng cốt cho toàn dân trong sự
nghiệp bảo vệ Tổ quốc
Sức mạnh bảo vệ Tổ quốc là sức mạnh tổng hợp của khối đại đoàn kết toàn
dân tộc, của cả hệ thống chính trị dưới sự lãnh đạo của Đảng. Lực lượng bảo vệ
Tổ quốc là toàn dân dưới sự lãnh đạo của Đảng, trong đó lực lượng vũ trang
nhân dân giữ vai trò nòng cốt. Do vậy, xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân
thực sự là lực lượng chính trị, lực lượng chiến đấu trung thành, tin cậy của
Đảng, Nhà nước và nhân dân là yêu cầu tiên quyết. Với nhiệm vụ này, công tác
dân vận có vai trò: Động viên nhân dân tham gia ủng hộ, xây dựng tiềm lực về
cơ sở vật chất quốc phòng, động viên con em lên đường nhập ngũ, sẵn sàng
chiến đấu bảo vệ Tổ quốc...; Đẩy mạnh các phong trào thi đua yêu nước trên
lĩnh vực quốc phòng, an ninh; làm tốt công tác hậu phương quân đội...; Xây
dựng thế trận lòng dân vững chắc; Tham gia xây dựng lực lượng dân quân tự vệ
21


vững mạnh, rộng khắp và lực lượng dự bị động viên hùng hậu, chất lượng;
Tham gia tuyên truyền, thực hiện tốt xây dựng khu vực phòng thủ tại các địa
phương...
Thứ năm, triển khai đồng bộ, toàn diện đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ,
chủ động, tích cực hội nhập quốc tế, tạo môi trường quốc tế thuận lợi cho sự
nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa
Đây là quan điểm, nhiệm vụ mang tính truyền thống của dân tộc ta. Phát
huy truyền thống này, Đảng ta đã phát triển từ nhận thức về bạn, thù trước đây
đến xác định đối tác, đối tượng hiện nay và nhấn mạnh cần có cách nhìn biện
chứng trong sự tồn tại đan xen và chuyển hóa lẫn nhau giữa đối tác và đối
tượng, từ đó đã mở ra cơ hội, điều kiện thuận lợi cho quan hệ hợp tác quốc tế,
tranh thủ ngày càng tốt hơn sự ủng hộ của cộng đồng quốc tế đối với công cuộc
xây dựng và bảo vệ đất nước. Kiên trì chính sách đối ngoại rộng mở, đa phương
hóa, đa dạng hóa; thêm bạn, bớt thù, vừa hợp tác, vừa đấu tranh; tránh xung đột,
đối đầu, tránh bị cô lập, lệ thuộc.
Từ nhận thức chung và sự phân tích trên đây, với những nhiệm vụ bảo vệ
Tổ quốc mà Đảng, Nhà nước đã xác định và trước những dự báo về khó khăn,
thách thức đặt ra đối với sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới, công tác
dân vận của Đảng, của hệ thống chính trị, của quân đội cần quan tâm một số nội
dung sau:
Đó là phải tăng cường tuyên truyền bằng các hình thức phong phú, linh
hoạt, nhằm nâng cao nhận thức, trách nhiệm trong các tầng lớp nhân dân về
đường lối, chủ trương của Đảng, Nhà nước đối với nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc; về
phòng, chống “diễn biến hòa bình”; về ý thức cảnh giác và tích cực đấu tranh
với những luận điệu xuyên tạc, chống phá của kẻ thù, nhất là trong lĩnh vực
không gian mạng... tuyên truyền, vận động nhân dân tin tưởng và ủng hộ đối
sách, sự lãnh đạo của Đảng, Nhà nước. Phòng ngừa, ngăn chặn hiệu quả các
nguy cơ xung đột, chiến tranh biên giới, biển, đảo, chiến tranh trên không gian
mạng; không để xảy ra bạo loạn, khủng bố, mất an ninh trật tự... Đồng thời phải
22


vận động nhân dân nhận thức đúng và tích cực phát huy nội lực tham gia phát
triển mạnh kinh tế-xã hội, giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc, để từ đó
tạo ra nền tảng vật chất, tinh thần, tiềm lực quốc phòng đáp ứng yêu cầu, nhiệm
vụ của tình hình mới. Cần tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc; phát huy
cao độ dân chủ, nội lực và sự đồng thuận trong các tầng lớp nhân dân thực hiện
nhiệm vụ bảo vệ quốc phòng, an ninh; đẩy mạnh các phong trào thi đua yêu
nước, nhất là trong lĩnh vực quốc phòng, an ninh, chú trọng xây dựng và nhân
rộng các mô hình, điển hình... Công tác dân vận tham gia xây dựng lực lượng vũ
trang vững mạnh toàn diện; xây dựng nền quốc phòng toàn dân, thế trận quốc
phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân vững chắc, nhất là xây dựng
“thế trận lòng dân”. Tham gia xây dựng khu vực phòng thủ vững chắc tại các địa
phương; xây dựng lực lượng dân quân tự vệ rộng khắp và lực lượng dự bị động
viên hùng hậu. Tổ chức thực hiện Ngày hội Quốc phòng toàn dân và Ngày hội
Toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc hằng năm có hiệu quả, ý nghĩa sâu sắc và có
sức lan tỏa sâu rộng. Tiếp tục đẩy mạnh công tác dân vận trong lực lượng vũ
trang; xây dựng mối quan hệ quân-dân bền chặt. Bên cạnh đó phải tham gia xây
dựng Đảng, chính quyền vững mạnh, chống quan liêu, tham nhũng, chống biểu
hiện suy thoái trong cán bộ, Đảng viên, công chức, viên chức, từ đó củng cố
vững chắc lòng tin và sự đồng thuận của nhân dân với cấp ủy Đảng, chính quyền
các cấp.
Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: “Lực lượng của dân rất to. Việc
dân vận rất quan trọng. Dân vận kém thì việc gì cũng kém. Dân vận khéo thì
việc gì cũng thành công”. Trước yêu cầu của công cuộc bảo vệ Tổ quốc trong
thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, cần xây dựng đội ngũ
cán bộ đủ tiêu chuẩn, năng lực, phẩm chất đạo đức, trình độ chuyên môn, nghiệp
vụ, lý luận chính trị, kinh nghiệm công tác; nêu cao tinh thần trách nhiệm của
cán bộ, Đảng viên, công chức, viên chức đối với công tác dân vận ở từng cơ
quan, tổ chức trong hệ thống chính trị. Đồng thời, đổi mới toàn diện công tác
dân vận, theo phương châm: Sáng tạo, thiết thực, hiệu quả để khơi dậy, kích hoạt
23


niềm tin từ mỗi công dân, tạo nên sự gắn bó giữa dân với Đảng, góp phần xây
dựng “thế trận lòng dân” vững chắc trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ
quốc.
Thứ sáu, đẩy mạnh dân vận qua mạng xã hội
Cần phải đẩy mạnh các phong trào thi đua, nhân rộng các điển hình để công
tác dân vận mạnh hơn, hiệu quả hơn. Cần nâng cao chất lượng công tác tiếp dân,
nhất là các cuộc đối thoại của người đứng đầu. Đặc biệt, cần phải luôn luôn đổi
mới nội dung, hình thức để theo kịp thực tiễn. Hiện nay, sự phát triển của công
nghệ thông tin, đòi hỏi chúng ta phải nghiên cứu, ứng dụng mạnh mẽ hơn nữa
trong công tác dân vận. Cách thức sử dụng mạng xã hội cũng cần phải được
nghiên cứu và đẩy mạnh hơn nữa vì những mô hình từ thực tiễn đã cho thấy hiệu
quả rõ rệt, sự kết nối giữa chính quyền, các cơ quan chức năng với người dân
gần hơn, người dân cũng sẽ dễ dàng chia sẻ tâm tư, kiến nghị.
Sự tác động, sự chống phá của các thế lực thù địch bên ngoài qua mạng xã
hội hiện nay là rất mạnh. Do đó, chúng ta cần phải có cách tiếp cận và kiểm soát
kênh thông tin này thật hiệu quả.

24


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×