Tải bản đầy đủ (.pdf) (77 trang)

Tội giết người từ thực tiễn tỉnh Bắc Giang (Luận văn thạc sĩ)

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (721.52 KB, 77 trang )

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

VŨ THỊ THIÊM

TỘI GIẾT NGƯỜI
TỪ THỰC TIỄN TỈNH BẮC GIANG

LUẬN VĂN THẠC SĨ
LUẬT HÌNH SỰ VÀ TỐ TỤNG HÌNH SỰ

Hà Nội - 2020

1


VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

VŨ THỊ THIÊM

TỘI GIẾT NGƯỜI
TỪ THỰC TIỄN TỈNH BẮC GIANG

Ngành: Luật hình sự và Tố tụng hình sự
Mã số: 8380104

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
PGS.TS. NGHIÊM XUÂN MINH

Hà Nội - 2020



2


MỤC LỤC

MỞ ĐẦU .......................................................................................................... 5
Chương 1. NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT VỀ TỘI
GIẾT NGƯỜI .................................................................................................. 8
1.1. Những vấn đề lý luận về tội giết người ............................................... 8
1.2. Quy định của pháp luật hình sự Việt Nam về tội giết người ............. 18
Tiểu kết Chương 1..................................................................................... 26
Chương 2. THỰC TRẠNG ÁP DỤNG QUY ĐỊNH CỦA PHÁP
LUẬT HÌNH SỰ VỀ TỘI GIẾT NGƯỜI TẠI TỈNH BẮC GIANG ....... 27
2.1. Những yếu tố tác động đến áp dụng các quy định của pháp luật
hình sự về tội giết người tại tỉnh Bắc Giang ............................................. 27
2.2. Thực trạng áp dụng quy định của pháp luật hình sự về tội giết
người tại tỉnh Bắc Giang ........................................................................... 30
Tiểu kết Chương 2..................................................................................... 44
Chương 3. YÊU CẦU VÀ GIẢI PHÁP BẢO ĐẢM ÁP DỤNG ĐÚNG
QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VỀ TỘI GIẾT NGƯỜI........ 45
3.1. Yêu cầu bảo đảm áp dụng đúng quy định của pháp luật hình sự về
tội giết người ............................................................................................. 45
3.2. Giải pháp bảo đảm áp dụng đúng quy định của pháp luật hình sự
về tội giết người ........................................................................................ 46
KẾT LUẬN .................................................................................................... 63
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO


DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

BLHS

Bộ luật hình sự

BLTTHS

Bộ luật tố tụng hình sự

ĐTD

Định tội danh

QĐHP

Quyết định hình phạt

TNHS

Trách nhiệm hình sự

TA

Tòa án

TAND

Tòa án nhân dân

VKSND


Viện kiểm sát nhân dân


BẢNG BIỂU

Bảng 2.1. Tình hình xét xử các tội xâm phạm xâm phạm tính mạng,
sức khỏe, danh dự, nhân phẩm so với tổng số tội phạm được TAND hai cấp
tỉnh Bắc Giang xét xử giai đoạn 2015 – 2019.
Bảng 2.2. Tình hình xét xử tội giết người so với nhóm tội xâm phạm
tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm đã được TAND tỉnh Bắc Giang xét
xử sơ thẩm giai đoạn 2015 – 2019.
Bảng 2.3. Những hình phạt đối với các bị cáo phạm giết người từ năm
2015 đến năm 2019 được TAND tỉnh Bắc Giang áp dụng.


MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Quyền sống là một trong những quyền cơ bản của con người, được ghi
nhận trong nhiều văn kiện pháp lý quan trọng của quốc tế, của các quốc gia
khác nhau và của nước ta như: Tuyên ngôn quốc tế nhân quyền của Liên hợp
quốc năm 1948; Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị của Liên
hợp quốc năm 1966; Công ước quốc tế về quyền trẻ em của Liên hợp quốc
năm 1989; Tuyên ngôn độc lập của nước Mỹ năm 1776; Tuyên ngôn độc lập
của Việt Nam 1945... Tại Điều 3 của bản Tuyên ngôn quốc tế nhân quyền
năm 1948 khẳng định: “Mọi người đều có quyền sống, quyền tự do và an toàn
cá nhân”. Trong bản “Tuyên ngôn Độc lập” do Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc tại
Quảng trường Ba Đình lịch sử ngày 2 tháng 9 năm 1945 không những đã kế
thừa tinh hoa về quyền con người trên thế giới mà còn phát triển những tư
tưởng ấy lên một tầm cao mới bằng việc nhắc lại những luận điểm bất hủ
trong bản “Tuyên ngôn độc lập” của nước Mỹ và “Tuyên ngôn Dân quyền và

Nhân quyền” của Pháp. Người khẳng định: “Tất cả mọi người đều sinh ra có
quyền bình đẳng. Tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm
được; trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu
cầu hạnh phúc". Đặc biệt, tại Điều 19 Hiến pháp 2013 một lần nữa đã khẳng
định: “Mọi người có quyền sống. Tính mạng con người được pháp luật bảo
hộ. Không ai bị tước đoạt tính mạng trái luật”. Bên cạnh sự ghi nhận trên của
Hiến pháp, để bảo vệ quyền sống, tính mạng của con người không thể không
kể đến vai trò to lớn của pháp luật hình sự mà trực tiếp là Bộ luật hình sự, với
“nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền quốc gia, an ninh của đất nước, bảo vệ chế độ xã
hội chủ nghĩa, quyền con người, quyền công dân, bảo vệ quyền bình đẳng
giữa đồng bào các dân tộc, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, tổ chức, bảo vệ trật
tự pháp luật, chống mọi hành vi phạm tội; giáo dục mọi người ý thức tuân

1


theo pháp luật, phòng ngừa và đấu tranh chống tội phạm”, đã quy định hành
vi xâm phạm quyền sống, tính mạng của con người là tội phạm với những chế
tài rất nghiêm khắc tại Điều 123 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung
năm 2017 (gọi tắt Bộ luật hình sự 2015). Đặc biệt, trong bối cảnh hiện nay,
cùng với sự phát triển mọi mặt của đời sống xã hội thì tình trạng xâm phạm
quyền sống, tính mạng của người khác đang diễn biến hết sức phức tạp trong
đó có tỉnh Bắc Giang. Theo thống kê của TAND tỉnh Bắc Giang giai đoạn từ
năm 2015 đến năm 2019, Tòa án tỉnh đã xét xử sơ thẩm 53 vụ với 73 bị cáo
tội giết người, chiếm tỷ lệ 36,05% số vụ và 26,54 % trong nhóm tội xâm
phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm đã được TAND tỉnh đưa ra
xét xử sơ thẩm, trong đó có những vụ rất nghiêm trọng, hành vi phạm tội có
tính chất côn đồ, manh động gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng. Ví dụ: Vụ án
Dương Minh Sơn ở xã Xuân Hương, huyện Lạng Giang dùng búa đánh chết
02 người xảy ra ngày 07/4/2018; vụ Nguyễn Thị Nga ở xã Thượng Lan,

huyện Việt Yên dùng dao cắt gân, động mạnh ở cổ tay và chân ông Nguyễn
Đức Liên ở cùng xã gây tử vong, xảy ra ngày 08/4/2018; vụ Hà Thị Móc ở xã
Liên Sơn, huyện Tân Yên do mâu thuẫn gia đình đã dùng 02 lọ thuốc diệt
chuột trộn với cháo để cho chồng và con ăn xảy ra ngày 29/4/2018 [50]...
Nhiều tội phạm giết người xuất phát từ mâu thuẫn trong gia đình, xã hội như:
Vụ Nông Văn Thùy, sinh năm 1982 ở xã An Lập, huyện Sơn Động do mâu
thuẫn gia đình đã dùng chày gỗ đánh vào đầu mẹ đẻ là Nông Thị Quỳ, sinh
năm 1953 làm bà Quỳ bị chết xảy ra ngày 01/02/2015; vụ Đỗ Văn Thành,
sinh năm 1990 ở xã Phượng Sơn, huyện Lục Nam do mâu thuẫn trong lúc làm
ruộng đã dùng cuốc bản đập vào đầu em ruột là Đỗ Thị Thủy, sinh năm 1996
gây tử vong xảy ra ngày 07/3/2015; vụ Tạ Văn Sỹ, sinh năm 1973 ở xã Hà
Châu, huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên do mâu thuẫn trong việc đòi nợ đã
dùng 01 khẩu súng colt bắn bị thương chị Nguyễn Thị Lâm, sinh năm 1977 ở

2


xã Thanh Vân, huyện Hiệp Hòa xảy ra ngày 21/01/2015 [50].... đã thể hiện sự
phức tạp và sự xuống cấp về mặt đạo đức của một nhóm đối tượng trong xã
hội. Trong khi đó, khảo sát một số bản án của TAND tỉnh Bắc Giang vẫn cho
thấy một số vụ án bị hủy để điều tra lại do thiếu chứng cứ buộc tội đối với bị
cáo (như vụ án Vi Văn Phượng) trước đó là vụ án oan Nguyễn Thanh Chấn,
Hàn Đức Long...và việc quyết định hình phạt vẫn còn không phù hợp với tính
chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội...nguyên nhân
xuất phát từ năng lực, trình độ và phẩm chất đạo đức của một số cán bộ, công
chức Cơ quan tố tụng trong tỉnh vẫn còn hạn chế.
Sau khi Bộ luật hình sự năm 2015 có hiệu lực pháp luật toàn bộ từ ngày
01/01/2018 thì một số quy định về tội giết người chưa được hướng dẫn, giải
thích kịp thời gây khó khăn cho việc áp dụng...Tính đến nay, về đề tài “Tội
giết người” chưa có công trình khoa học nào nghiên cứu một cách chuyên

sâu, toàn diện trên địa bàn một tỉnh là Bắc Giang trong khoảng thời gian từ
năm 2015 đến năm 2019, vì vậy, việc nghiên cứu “Tội giết người từ thực tiễn
tình Bắc Giang” có tầm quan trọng về mặt lý luận và thực tiễn. Xuất phát từ
nhận thức và thực tiễn nêu trên, tác giả đã chọn đề tài “Tội giết người từ thực
tiễn tỉnh Bắc Giang” làm đề tài cho luận văn thạc sĩ của mình.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Trong thời gian vừa qua, liên quan đến đề tài nêu trên, đã có nhiều
công trình khoa học, các bài viết tạp chí, bài nghiên cứu đề cập đến, mà điển
hình là:
(i) Về giáo trình, sách chuyên khảo, sách tham khảo:
GS.TS.Võ Khánh Vinh (chủ biên) (2014), Giáo trình luật hình sự Việt
Nam - Phần các tội phạm, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội; Trường đại học
Luật Hà Nội (2018), Giáo trình luật hình sự Việt Nam (phần các tội phạm),
Nxb Công an nhân dân, Hà Nội; GS.TS Nguyễn Ngọc Hoà (Chủ biên) (2018),

3


Bình luận khoa học Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017
(Phần các tội phạm) - Quyển 2, Nxb Tư pháp, Hà Nội; TS Nguyễn Đức Mai
(2018), Bình luận khoa học – Bộ luật hình sự (hiện hành) (sửa đổi, bổ sung
năm 2017, Nxb Chính trị Quốc gia - Sự thật Tp. Hồ Chí Minh, Tp. Hồ Chí
Minh; Đinh Văn Quế (2003), Bình luận khoa học luật hình sự (phần các tội
phạm), tập I, Nxb Tp. Hồ Chí Minh; Trần Văn Luyện (2001), Các tội xâm
phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của con người, Nxb Chính
Trị quốc gia, Hà Nội; Đỗ Đức Hồng Hà (2009), Tội giết người và đấu tranh
phòng, chống tội phạm giết người ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay, Nxb
Tư pháp, Hà Nội; v.v...
Tóm lại: Các công trình khoa học trên chủ yếu nghiên cứu tội giết
người với 04 yếu tố cấu thành tội phạm, cùng với các tội danh khác, chưa đi

sâu phân tích tồn tại, hạn chế và thực tiễn áp dụng pháp luật về tội danh này.
(ii) Về luận án, luận văn
Đỗ Đức Hồng Hà (2006), Tội Giết người trong Luật hình sự Việt Nam
và đấu tranh phòng, chống loại tội phạm này, Luận án tiến sĩ Luật học,
Trường Đại học Luật Hà Nội; Trịnh Văn Toản (2017), Tội giết người theo
pháp luật hình sự Việt Nam từ thực tiễn thành phố Hồ Chí Minh, Luận văn
thạc sĩ luật học, Học Viện khoa học xã hội, Hà Nội; v.v…
(iii) Một số công trình khác:
Nguyễn Đức Dũng (2007), Nguyễn Công, Đoàn Minh Hợp phạm tội
giết người, Tạp chí Toà án nhân dân, số 11, Hà Nội; Nguyễn Văn Lam
(2007), Hồ Ngọc Sang, Nguyễn Công, Đoàn Minh Hợp phạm tội giết người
hay tội cố ý gây thương tích, Tạp chí Toà án nhân dân, số 7, Hà Nội; Đỗ
Đức Hồng Hà (2004), Một số quan điểm khác nhau về định nghĩa về đối
tượng tác động của tội giết người, Tạp chí Tòa án, số 13/2004; Đỗ Đức
Hồng Hà (2004), Chủ thể của tội giết người – Một số vấn đề lý luận và thực

4


tiễn, Tạp chí Tòa án, số 23/2004, Hà Nội.
Nhận xét chung: Các công trình khoa học nêu trên chủ yếu nghiên cứu
tội giết người cùng với các tội danh khác, hoặc chỉ nghiên cứu một vài khía
cạnh của tội giết người, đa số các công trình nghiên cứu trong bối cảnh
BLHS năm 2015 chưa có hiệu lực pháp luật. Tính đến nay chưa có công
trình nào đi sâu nghiên cứu về tội giết người theo pháp luật hình sự hiện
hành từ thực tiễn một địa bàn cụ thể là tỉnh Bắc Giang, trong khoảng thời
gian từ năm 2015 đến năm 2019. Do vậy, việc nghiên cứu đề tài trên có tính
cấp thiết về cả lý luận và thực tiễn.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu

Đưa ra những luận cứ khoa học cho việc hoàn thiện lý luận, quy định
của pháp luật hình sự về tội giết người, kiến nghị những giải pháp bảo đảm áp
dụng đúng pháp luật hình sự trong quá trình giải quyết vụ án giết người.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích nghiên cứu nêu trên, luận văn đặt ra các nhiệm
vụ nghiên cứu sau đây:
Phân tích một số vấn đề lý luận về tội giết người trong pháp luật Việt
Nam như khái niệm, dấu hiệu pháp lý, phân biệt tội giết người với một số tội
xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm dễ gây nhầm lẫn; lịch
sử lập pháp tội giết người từ sau năm 1945 đến BLHS năm 2015.
Phân tích khái quát tình hình thụ lý, giải quyết các vụ án giết người
của Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang và thực tiễn định tội danh và quyết định
hình phạt đối với tội giết người trên địa bàn tỉnh Bắc Giang, với những kết
quả đạt được và một số tồn tại, thiếu sót cùng nguyên nhân trong các hoạt
động này.
Từ kết quả phân tích trên, luận văn đưa ra một số giải pháp đảm bảo

5


áp dụng đúng các quy định của pháp luật hình sự về tội giết người trên địa
bàn tỉnh Bắc Giang nói riêng và địa bàn cả nước nói chung.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là những quy định của pháp luật và
thực tiễn áp dụng các quy định của pháp luật về định tội danh và quyết định hình
phạt tội giết người của Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang, từ năm 2015 đến năm
2019.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu các hoạt động vận dụng, áp dụng các quy định

của pháp luật về tội giết người để buộc tội người thực hiện hành vi phạm tội
của Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang.
Phạm vi khảo sát: tỉnh Bắc Giang.
Phạm vi thời gian: từ năm 2015 đến năm 2019.
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
5.1. Phương pháp luận
Luận văn được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa
Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, văn bản pháp luật của Nhà nước về các
vấn đề tội phạm và hình phạt; lý luận về Luật hình sự và Tố tụng hình sự.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
Tác giả sử dụng các phương pháp nghiên cứu khoa học như: Phân tích,
tổng hợp, thống kê, so sánh, nghiên cứu tài liệu, trao đổi phỏng vấn, quy nạp,
diễn dịch, mô tả ... để hoàn thiện luận văn.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Về lý luận: Kết quả nghiên cứu của luận văn sẽ góp phần bổ sung, hoàn
thiện lý luận, nhận thức pháp luật về tội giết người, vai trò, trách nhiệm của
Tòa án trong quá trình định tội danh và quyết định hình phạt đối với người

6


phạm tội. Luận văn có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo cho học giải
nghiên cứu khoa học liên quan đến đề tài.
Về thực tiễn: Những kết quả nghiên cứu của đề tài có thể là nguồn tài
liệu tham khảo trong quá trình định tội danh và quyết định hình phạt đối với
tội giết người của Cơ quan có thẩm quyền tố tụng, đặc biệt là tỉnh Bắc Giang.
Một số đề xuất, kiến nghị của luận văn sẽ cung cấp những luận cứ khoa học
phục vụ cho hoạt động ban hành pháp luật, đồng thời là nguồn tham khảo
trong công tác giảng dạy và nghiên cứu khoa học.
7. Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn
gồm ba chương, cụ thể là:
Chương 1: Những vấn đề lý luận và pháp luật về tội giết người.
Chương 2: Thực trạng áp dụng quy định của pháp luật hình sự về tội
giết người tại tỉnh Bắc Giang.
Chương 3: Yêu cầu và giải pháp bảo đảm áp dụng đúng quy định của
pháp luật hình sự về tội giết người.

7


Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT VỀ TỘI GIẾT NGƯỜI
1.1. Những vấn đề lý luận về tội giết người
1.1.1. Khái niệm tội giết người
Tội giết người là một trong những tội phạm truyền thống, được thể
hiện trong rất nhiều công trình nghiên cứu khác nhau. Trong khoa học luật
hình sự Việt Nam cũng đã có nhiều tác giả đưa ra khái niệm tội giết người
trong các công trình khoa học khác nhau. Một số khái niệm tiêu biểu như:
Theo GS. TS. Võ Khánh Vinh: Tội giết người là hành vi trái pháp luật
của người đủ năng năng lực trách nhiệm hình sự cố ý tước đoạt quyền sống
của người khác [51; tr. 51]. Giáo trình luật hình sự Việt Nam của Trường
Đại học Luật Hà Nội đưa ra quan điểm: Tội giết người là hành vi cố ý tước
đoạt trái pháp luật tính mạng của người khác [26; tr. 57]. Luật gia Nguyễn
Ngọc Điệp, trong cuốn Bình luận khoa học luật hình sự cho rằng: Giết người
được hiểu là hành vi làm chết người khác một cách cố ý và trái pháp luật.
[12; tr. 28].
TS. Trần Văn Biên và TS. Đinh Thế Hưng cho rằng: Giết người là
hành vi cố ý tước đoạt tính mạng của người khác một cách trái pháp luật.
Hành vi giết người là một hành vi vi phạm pháp luật đặc biệt nghiêm trọng

xâm phạm trực tiếp đến tính mạng người khác bị xã hội kịch liệt lên án. [7;
tr. 138].
Trong đó “tước đoạt” là “tước và chiếm lấy sự sống của người khác”
và “tước đoạt” đã bao gồm sự cố ý nên không cần thiết phải quy định “tội
giết người là hành vi cố ý tước đoạt tính mạng” [6, tr. 1652 và 1767].
Nhận xét: Các công trình khoa học nêu trên đều thống nhất với nhau ở
nội hàm tội giết người, đó là hành vi tước đoạt trái pháp luật tính mạng của
người khác, xâm phạm đến quyền sống của họ.

8


Trong pháp luật hình sự Việt Nam vẫn có những trường hợp tước đoạt
mạng sống người khác được pháp luật cho phép như: Thi hành hình phạt tử
hình đối với người bị kết án tử hình (sau khi bản án kết tội có hiệu lực pháp
luật và không được giảm xuống chung thân), hoặc trường hợp phòng vệ
chính đáng, rủi ro trong nghiên cứu, thử nghiệm, áp dụng tiến bộ khoa học,
kỹ thuật và công nghệ…
Mặc dù BLHS năm 2015 nhà làm luật chưa đưa ra khái niệm pháp lý
về tội giết người nhưng khái niệm tội phạm đã được ghi nhân tại Điều 8: “Tội
phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luật Hình sự,
do người có năng lực trách nhiệm hình sự hoặc pháp nhân thương mại thực
hiện một cách cố ý hoặc vô ý, xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn
vẹn lãnh thổ Tổ quốc, xâm phạm chế độ chính trị, chế độ kinh tế, nền văn
hóa, quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội, quyền, lợi ích hợp pháp của
tổ chức, xâm phạm quyền con người, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân,
xâm phạm những lĩnh vực khác của trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa mà theo
quy định của Bộ luật này phải bị xử lý hình sự”. Đây là khái niệm pháp lý
tương đối hoàn chỉnh về tội phạm, là cơ sở quan trọng để xây dựng khái niệm
các tội phạm cụ thể. Trong BLHS năm 2015 thì tội giết người được quy định

tại Điều 123, Chương II, Các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm,
danh dự của con người, thuộc nhóm các tội xâm phạm tính mạng của người
khác (là hành vi có lỗi xâm phạm quyền được tôn trọng và bảo vệ tính mạng
của người khác).
Theo tác giả, để xây dựng khái niệm về tội giết người hoàn chỉnh bên
cạnh chỉ ra được bản chất của tội giết người là tước đoạt trái pháp luật tính
mạng của người khác, cần phải nêu được yếu tố chủ thể, khách thể của tội
phạm. Tiếp thu kết quả nghiên cứu của một số công trình nêu trên và quy
định của pháp luật hiện hành, tác giả đưa ra khái niệm về tội giết người như

9


sau: Tội giết người là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ
luật Hình sự, do người có năng lực trách nhiệm hình sự, đạt độ tuổi luật
định, thực hiện một cách cố ý tước đoạt tính mạng người khác một cách trái
pháp luật, nhằm xâm phạm đến quyền được tôn trọng và bảo vệ tính mạng
của người khác được pháp luật bảo vệ.
1.1.2. Dấu hiệu pháp lý tội giết người
* Thứ nhất: Khách thể của tội giết người
Tội giết người được quy định tại Điều 123, Chương II: Các tội xâm
phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của con người, thuộc nhóm
các tội xâm phạm tính mạng của người khác. Khách thể loại của tội là quan
hệ nhân thân, quyền được tôn trọng và bảo vệ tính mạng, sức khỏe, nhân
phạm, danh dự của con người. Còn khách thể trực tiếp của tội này là quyền
được sống, được tôn trọng và bảo vệ tính mạng. Tuy nhiên, để xâm phạm
đến khách thể tội phạm nói chung và tội giết người nói riêng, chủ thể phải
tác động thông qua việc làm biến đổi tình trạng bình thường của đối tượng
tác động, đây là bộ phận của khách thể của tội phạm, bị hành vi phạm tội tác
động đến để gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại cho những quan hệ xã

hội được luật hình sự bảo vệ [28; tr. 94]. Theo đó, đối tượng tác động của tội
giết người là con người đang sống, được xác định từ thời điểm một người
sinh ra, độc lập với cơ thể mẹ và chấm dứt khi có cái chết về mặt sinh học.
Khoa học pháp y chia quá trình chết theo 03 giai đoạn là giai đoạn hấp hối,
giai đoạn chết lâm sang và giai đoạn chết sinh học. Trong đó chết sinh học là
giai đoạn chết thực thể của mô – tế bào. Quá trình trao đổi chất của cơ thể
ngừng lại. Bắt đầu xuất hiện sự thoái hóa, hoại tử không còn khả năng hồi
phục [30; tr. 51]. Tuy nhiên, nếu thai nhi sinh ra và còn sống trong 07 ngày
tuổi trở lại, mà người mẹ giết con mình thì không cấu thành tội giết người
mà cấu thành tội giết con mới đẻ theo Điều 124 BLHS.

10


* Thứ hai: Mặt khách quan của tội giết người: Mặt khách quan của tội
phạm là mặt bên ngoài của tội phạm, bao gồm những biểu hiện của tội phạm
diễn ra hoặc tồn tại bên ngoài thế giới khách quan [27, tr.116].
- Về hành vi khách quan: Hành vi khách quan của tội giết người là
hành vi tước đoạt trái pháp luật tính mạng của người khác, đây là hành vi có
khả năng gây ra cái chết cho con người, chấm dứt sự sống của họ, có thể được
thực hiện bằng hình thức:
+ Hành động: người phạm tội đã chủ động thực hiện các hành vi mà
pháp luật không cho phép (có hoặc không sử dụng vũ khí, phương tiện nguy
hiểm) như hành động bắn, đâm, chém, bóp cổ, đẩy xuống sông, dùng thuốc
độc...) nhằm tước bỏ tính mạng người khác.
+ Hành vi khác quan của tội giết người cũng có thể là không hành
động, khi chủ thể có nghĩa vụ phải hành động, phải làm những việc nhất định
để đảm bảo sự an toàn về tính mạng của người khác nhưng họ đã không hành
động, không thực hiện những việc làm đó, gây ra cái chết cho con người. Ví
dụ: Người mẹ không cho con 02 tuần tuổi của mình ăn, uống, bỏ mặc đến

chết.
- Dấu hiệu hậu quả của tội phạm: Tội giết người là tội có cấu thành vật
chất. Tội phạm được coi là hoàn thành khi có hậu quả chết người.
- Dấu hiệu quan hệ nhân quả giữa hành vi khách quan và hậu quả chết
người: Người có hành vi tước đoạt trái pháp luật tính mạng người khác chỉ
phải chịu TNHS về hậu quả chết người xảy ra nếu hành vi họ đã thực hiện là
nguyên nhân của hậu quả chết người đã xảy ra đó.
* Thứ ba: Chủ thể của tội giết người: Chủ thể của tội giết người là chủ
thể thường, là người có năng lực trách nhiệm hình sự và đạt độ tuổi luật định.
Luật hình sự Việt Nam không trực tiếp quy định thế nào là người có năng lực
trách nhiệm hình sự mà chỉ quy định thông qua tình trạng không có năng lực

11


trách nhiệm hình sự tại Điều 21 BLHS và độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự tại
Điều 12 BLHS. Căn cứ theo các quy định trên thì chủ thể của tội giết người là
cá nhân, từ đủ 14 tuổi trở lên và có năng lực trách nhiệm hình sự.
`

* Thứ tư: Mặt chủ quan của tội giết người
Mặt chủ quan của tội phạm là hoạt động tâm lý bên trong của người

phạm tội. Mặt chủ quan của tội phạm chỉ bao gồm lỗi, mục đích và động cơ,
trong đó lỗi được phản ánh trong tất cả các CTTP. [28; tr. 133,134].
- Dấu hiệu lỗi của chủ thể: Lỗi của người phạm tội được xác định trong
CTTP tội giết người là lỗi cố ý (có thể là lỗi cố ý trực tiếp hoặc cố ý gián
tiếp). Đối với trường hợp hậu quả chết người chưa xảy ra, thì khoa học luật sự
xác định một số trường hợp như sau: Nếu hậu quả chết người chưa xảy ra và
lỗi của người phạm tội là lỗi cố ý trực tiếp thì người phạm tội phải chịu trách

nhiệ hình sự về tội giết người chưa đạt.
+ Nếu hậu quả chết người chưa xảy ra và lỗi của người phạm tội là cố ý
gián tiếp thì người phạm tội chỉ phải chịu trách nhiệ hình sự về tội cố ý gây
thương tích (nếu thương tích xảy ra thỏa mãn đòi hỏi của CTTP tội này) mà
không phải chịu TNHS về tội giết người chưa đạt [29].
Trong thực tiễn áp dụng luật hình sự, việc xác định lỗi của chủ thể là
lỗi cố ý trực tiếp hay lỗi cố ý gián tiếp không đơn giản mà trong nhiều trường
hợp hết sức phức tạp. Trong trường hợp này cần dựa vào các biểu hiện của
mặt khách quan như sự mãnh liệt của hành vi tấn công, hung khí, công cụ
phạm tội, vị trí tấn công.
- Dấu hiệu mục đích, động cơ phạm tội: Mục đích, động cơ phạm tội
không được mô tả trong CTTP (cơ bản) của tội giết người. Tuy nhiên, trong
thực tế hành vi cố ý tước đó mạng người khác vì mục đích nhất định hoặc do
động cơ nhất định có thể cấu thành tội phạm khác mà không cấu thành tội giết
người. Ví dụ: Hành vi cố ý tước đoạt trái pháp luật của người khác vì mục

12


đích chống chính quyền nhân dân cấu thành tội khủng bố nhằm chống chính
quyền nhân Điều 113 BLHS…
1.1.3. Phân biệt tội giết người với một số loại tội phạm trong nhóm
tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe con người
1.1.3.1. Phân biệt với tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức
khỏe người khác (nhưng dẫn đến hậu quả chết người)
Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe người khác
được quy định tại Điều 134 Bộ luật hình sự 2015 (BLHS 2015) với tình tiết
tăng nặng là “Làm chết người” dễ gây nhầm lẫn với “Tội giết người” quy
định tại Điều 123 Bộ luật này.
Giữa hai tội danh này có những điểm khác nhau cơ bản sau đây:

- Mục đích của hành vi phạm tội:
+ Tội giết người: Có mục đích tước đoạt tính mạng của người khác.
+ Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe người khác
(hậu quả làm chết người): Chỉ có mục đích gây thương tích mà không có ý
định tước bỏ tính mạng của người khác.
Chú ý: Trong vụ án có đồng phạm, nếu chứng minh được ý thức chủ
quan của người chủ mưu là chỉ thuê người khác gây thương tích cho người bị
hại mà không có ý định tước đoạt tính mạng của họ (người chủ mưu chỉ yêu
cầu gây thương tích ở chân, tay của người bị hại mà không yêu cầu tấn công
vào các phần trọng yếu của cơ thể có khả năng dẫn đến chết người); người
thực hành cũng đã thực hiện theo đúng yêu cầu của người chủ mưu; việc nạn
nhân bị chết nằm ngoài ý thức chủ quan của người chủ mưu thì người chủ
mưu phải chịu trách nhiệm hình sự về tội “Cố ý gây thương tích” với tình tiết
định khung là “gây thương tích dẫn đến chết người” [15].
- Mức độ tấn công, cường độ tấn công, vị trí tác động:
+ Tội giết người: Mức độ tấn công nhanh và liên tục với cường độ tấn

13


công mạnh có thể gây chết người. Tấn công vào các vị trí trọng yếu của nạn
nhân: đầu, ngực, bụng…
+ Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe người khác
(hậu quả làm chết người): Mức độ tấn công yếu hơn và không liên tục dồn
dập với cường độ tấn công nhẹ hơn. Không nhằm vào các vị trí trọng yếu.
- Hung khí, vũ khí sử dụng hoặc các tác nhân khác:
+ Tội giết người: Có tính chất nguy hiểm cao: súng, dao…
+ Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe người khác (hậu
quả làm chết người): Ít nguy hiểm hơn, khó gây chết người hơn so với tội giết
người.

- Lỗi của người phạm tội với hậu quả chết người:
+ Tội giết người: Có lỗi cố ý đối với hậu quả chết người.
+ Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe người khác
(hậu quả làm chết người): Có lỗi vô ý đối với hậu quả chết người xảy ra.
Chú ý: Với trường hợp người phạm tội thấy trước được hậu quả chết
người có thể xảy ra nhưng bỏ mặc cho hậu quả ra sao cũng được thì phải dựa
vào hậu quả để định tội danh: Nếu hậu quả là chết người thì tội danh là “Giết
người”. Nếu hậu quả là gây thương tích thì tội danh là “Cố ý gây thương
tích”.
- Tính nguy hiểm cho xã hội và hình phạt:
+ Tội giết người: Có tính nguy hiểm cho xã hội cao hơn. Hình phạt
nghiêm khắc hơn: Phạt tù từ 12 năm đến 20 năm, tù chung thân hoặc tử hình
(khoản 1); Phạt tù từ 07 năm đến 15 năm (khoản 2).
+ Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe người khác
(hậu quả làm chết người): Có tính nguy hiểm cho xã hội thấp hơn. Hình phạt
ít nghiêm khắc hơn: Phạt tù từ 07 năm đến 14 năm (khoản 4); Phạt tù từ 12
năm đến 20 năm hoặc tù chung thân (khoản 5).

14


1.1.3.2. Phân biệt với tội giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động
mạnh
Tội giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh được quy
định tại Điều 125 BLHS năm 2015. Việc phân biệt hai tội danh này chủ yếu
dựa vào yếu tố tâm lý là trạng thái tinh thần bị kích động mạnh của người
phạm tội, hành vi trái pháp luật của nạn nhân, mối quan hệ nhân quả giữa
hành vi trái pháp luật và trạng thái tinh thần bị kích động mạnh của người
phạm tội.
- Định tội danh là tội giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động

mạnh khi thỏa mãn đồng thời các dấu hiệu sau đây:
+ Về trạng thái tinh thần: “Tình trạng tinh thần bị kích động là tình
trạng người phạm tội không hoàn toàn tự chủ, tự kiềm chế được hành vi phạm
tội của mình…” [32], nhưng chưa đến mức mất toàn bộ khả năng điều khiển
hành vi, diễn ra trong một khoảng thời gian ngắn, sau đó sẽ trở lại bình
thường.
+ Nạn nhân phải có hành vi trái pháp luật nghiêm trọng xâm phạm đến
lợi ích của người phạm tội hoặc đối với những người thân thích của người
phạm tội như xâm phạm đến tính mạng, sức khoẻ, nhân phẩm, danh dự, tài
sản...Hoặc cũng có thể là hành vi trái pháp luật, trái đạo đức diễn ra thường
xuyên, liên tục gây ức chế tâm lý cho người phạm tội. [32].
+ Hành vi trái pháp luật nghiêm trọng của nạn nhân là nguyên nhân dẫn
đến tinh thần bị kích động mạnh của người phạm tội.
* Thực tiễn theo Án lệ số 28/2019/AL được Hội đồng Thẩm phán Tòa án
nhân dân tối cao thông qua ngày 22 tháng 8 năm 2019 và được công bố
theo Quyết định số 293/QĐ-CA ngày 09 tháng 9 năm 2019 của Chánh án Tòa
án nhân dân tối cao thì: Bị hại là người gây sự, tấn công bị cáo trước. Hành
vi tấn công của bị hại diễn ra liên tục với mức độ tăng dần. Hành vi của bị hại

15


là trái pháp luật, xâm phạm sự an toàn về thân thể của bị cáo. Trong trạng thái
bị kích động dẫn đến mất khả năng tự chủ, không nhận thức hết được tính
chất và mức độ nguy hiểm của hành vi của mình, bị cáo dùng dao đâm vào
ngực bị hại là nhằm thoát khỏi sự tấn công. Do đó, có đủ cơ sở xác định Trần
Văn C đã bị kích động mạnh về tinh thần. Tòa án cấp sơ thẩm kết án Trần
Văn C về tội “Giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh” là có
căn cứ.
* Ngoài ra, hai tội danh còn có một số điểm khác biệt sau:

- Giai đoạn thực hiện tội phạm:
+ Tội giết người: Có 03 giai đoạn thực hiện tội phạm là chuẩn bị phạm
tội, phạm tội chưa đạt và tội phạm hoàn thành.
+ Tội giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh: Tội này
không có giải đoạn chuẩn bị phạm tội và phạm tội chưa đạt. Nạn nhân phải
chết mới cấu thành tội danh này, nếu còn sống và thương tật trên 31% thì sẽ
rơi vào tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác
trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh" quy định tại Điều 135 BLHS
năm 2015.
- Tính nguy hiểm cho xã hội và hình phạt:
+ Tội giết người: Có tính nguy hiểm cho xã hội cao hơn. Hình phạt
nghiêm khắc hơn: Phạt tù từ 12 năm đến 20 năm, tù chung thân hoặc tử hình
(khoản 1); Phạt tù từ 07 năm đến 15 năm (khoản 2).
+ Tội giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh: Có tính
nguy hiểm cho xã hội thấp hơn. Hình phạt ít nghiêm khắc hơn: Phạt tù từ 06
năm đến 03 năm (khoản 1); Phạt tù từ 03 năm đến 07 năm (khoản 2).
1.1.3.3. Phân biệt với tội giết hoặc vứt bỏ con mới đẻ
Tội giết hoặc vứt bỏ con mới đẻ được quy định tại Điều 124 BLHS
năm 2015: “Người mẹ nào do ảnh hưởng nặng nề của tư tưởng lạc hậu hoặc

16


trong hoàn cảnh khách quan đặc biệt mà giết con do mình đẻ ra trong 07 ngày
tuổi hoặc vứt bỏ con do mình đẻ ra trong 07 ngày tuổi dẫn đến hậu quả đứa
trẻ chết”.
Giữa hai tội có điểm giống nhau ở khách thể và đối tượng tác động đều
là xâm phạm tới tính mạng (quyền được bảo vệ tính mạng của con người)
được Nhà nước bảo hộ và đối tượng tác động đều là con người đang sống. Lỗi
của chủ thể là cố ý (cố ý trực tiếp hoặc cố ý gián tiếp). Tuy nhiên, giữa hai tội

có những điểm khác nhau cơ bản sau:
- Chủ thể của tội phạm:
+ Tội giết người: Chủ thể thường, đạt độ tuổi chịu TNHS (từ đủ 14 tuổi
trở lên) và có năng lực TNHS.
+ Tội giết hoặc vứt bỏ con mới đẻ: Chủ thể đặc biệt, đó là người mẹ
của nạn nhân. Tuy nhiên, người mẹ của nạn nhân chỉ được coi là chủ thể của
tội giết hoặc vứt bỏ con mới đẻ nếu người mẹ đó chịu ảnh hưởng nặng nề của
tư tưởng lạc hậu hoặc trong hoàn cảnh khách quan đặc biệt mà buộc phải giết
hoặc vứt bỏ đứa con do mình đẻ ra. Đồng thời phải là người từ đủ 16 tuổi trở
lên có năng lực TNHS.
Do vậy, nếu cha đứa trẻ có hành vi giết hoặc vứt con mới đẻ thì cấu
thành tội giết người, hoặc người mẹ nạn nhân vì lý do khác mà giết hoặc vứt
bỏ con mới đẻ thì cũng sẽ cấu thành tội giết người.
- Đối tượng tác động:
+ Tội giết người: Con người đang sống
+ Tội giết hoặc vứt bỏ con mới đẻ: Con người đang sống, nhưng trong
vòng 07 ngày tuổi từ khi sinh ra.
- Mặt khách quan và giai đoạn thực hiện tội phạm:
+ Tội giết người: Hành vi dùng mọi thủ đoạn nhằm làm cho người khác
chấm dứt sự sống. Hậu quả: Tội giết người có cấu thành vật chất, nghĩa là đòi

17


hỏi phải có hậu quả chết người xảy ra. Tuy nhiên, người phạm tội thực hiện
hành vi với lỗi cố ý trực tiếp mà hậu quả chết người xảy ra thì tội phạm hoàn
thành; nếu hậu quả chết người chưa xảy ra thì vẫn cấu thành tội giết người ở giai
đoạn phạm tội chưa đạt.
+ Tội giết hoặc vứt bỏ con mới đẻ: Hành vi khách quan là người mẹ
thực hiện hành vi giết (bóp cổ, bỏ đói cho đến chết,…) hoặc hành vi vứt bỏ

(bỏ vào rừng sâu không có ai qua lại, nhà hoang, thùng rác và đậy nắp,…) dẫn
tới đứa trẻ không được ai phát hiện, cứu và bị chết. Hậu quả: Hậu quả của
hành vi là đứa trẻ bị giết hoặc bị vứt bỏ dẫn đến chết.
Nếu là vứt bỏ con mới đẻ thì không có giải đoạn phạm tội chưa đạt.
- Tính nguy hiểm cho xã hội và hình phạt:
+ Tội giết người: Có tính nguy hiểm cho xã hội cao hơn. Hình phạt
nghiêm khắc hơn: Phạt tù từ 12 năm đến 20 năm, tù chung thân hoặc tử hình
(khoản 1); Phạt tù từ 07 năm đến 15 năm (khoản 2).
+ Tội giết hoặc vứt bỏ con mới đẻ: Có tính nguy hiểm cho xã hội thấp
hơn. Hình phạt ít nghiêm khắc hơn: Phạt tù từ 6 tháng đến 3 năm (khoản 1);
Phạt tù từ 3 tháng đến 2 năm (khoản 2).
1.2. Quy định của pháp luật hình sự Việt Nam về tội giết người
1.2.1. Quy định của pháp luật hình sự về tội giết người từ năm 1945
đến Bộ luật hình sự năm 1999 có hiệu lực pháp luật (sửa đổi, bổ sung năm
2009)
* Giai đoạn từ năm 1945 đến trước khi Bộ luật hình sự năm 1985 có
hiệu lực
Đây là giai đoạn các quan hệ pháp luật hình sự được điều hình bằng
nhiều văn bản pháp luật hình sự khác nhau. Tội giết người được quy định
trong một số văn bản pháp luật như Sắc lệnh số 27/SL ngày 28/02/1946 trừng
trị tội bắt cóc, tống tiền, ám sát; Sắc lệnh số 133/SL ngày 20/01/1953 trừng trị

18


những tội phạm xâm phạm an ninh đối nội và an toàn đối ngoại của Nhà
nước; Thông tư số 442/TTg ngày 19/01/1955 của Thủ tướng Chính phủ trừng
trị một số tội phạm; Chỉ thị số 1025-TATC ngày 15/6/1960 của Toà án nhân
dân tối cao về đường lối xử lí tội giết người vì mê tín; Bản chuyên đề tổng kết
thực tiễn xét xử loại tội giết người ban hành kèm theo Công văn số 452-HS2

ngày 10/8/1970 của Toà án nhân dân tối cao về thực tiễn xét xử tội giết người;
Báo cáo tổng kết công tác toàn ngành năm 1975 của Toà án nhân dân tối cao;
Sắc luật số 03-SL ngày 15/3/1976 của Hội đồng Chính phủ cách mạng lâm
thời và Thông tư số 03-SL-BTP-TT ngày 15/4/1976 của Bộ tư pháp hướng
dẫn thi hành.
Ví dụ: Tại Điều thứ 1, của Sắc lệnh số 27/SL quy định: “Những người
phạm tội ám sát… sẽ bị phạt từ hai năm đến mười năm tù và có thể bị xử tử”.
- Tại Mục 2 của Thông tư số 442/TTg quy định: Cố ý giết người: phạt
tù từ 5 đến 20 năm; nếu có trường hợp giảm nhẹ thì có thể hạ xuống đến 1
năm; giết có dự mưu có thể phạt đến tử hình”.
- Sắc luật số 03-SL ngày 15/3/1976, quy định các tội phạm và hình phạt
trong đó có tội giết người: “Phạm tội cố ý giết người thì bị phạt tù từ 15 năm
đến tù chung thân hoặc bị xử tử hình. Trường hợp có tình tiết giảm nhẹ thì
mức hình phạt có thể thấp hơn”.
Nhận xét chung: Trong giai đoạn này, không có văn bản nào quy định
riêng về tội giết người mà tội giết người chỉ được đề cập trong các văn bản
quy định về một nhóm tội cần tập trung trấn áp để bảo vệ chính quyền, công
sản và một số đối tượng đặc biệt, hành vi giết người cũng được quy định dưới
nhiều hình thức khác nhau như: Ám sát, giết hại, cố ý giết người và cũng đã
có sự phân hoá trách nhiệm hình sự, đường lối xử lí người phạm tội giết
người, nhưng những quy định trên là cơ sở để Nhà nước ta tập hợp, pháp điển
hóa thành Điều luật quy định về tội giết người, thể hiện tính chất xã hội chủ

19


nghĩa về bản chất giai cấp, góp phần xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội và
bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam.
* Tội giết người trong Bộ luật hình sự năm 1985
BLHS năm 1985 là Bộ luật đầu tiên của Nhà nước ta. Trong BLHS

năm 1985, tội giết người được quy định tại Điều 101, với 04 khoản. Trong
đó khoản 1 là CTTP tăng nặng với khung hình phạt từ mười hai năm đến hai
mươi năm, tù chung thân hoặc tử hình được áp dụng với các trường hợp
phạm tội: a) Vì động cơ đê hèn; để thực hiện hoặc để che giấu tội phạm
khác; b) Thực hiện tội phạm một cách man rợ; bằng cách lợi dụng nghề
nghiệp hoặc bằng phương pháp có khả năng chết nhiều người; c) Giết người
đang thi hành công vụ hoặc vì lý do công vụ của nạn nhân; d) Giết nhiều
người hoặc giết phụ nữ mà biết là có thai; đ) Có tổ chức; e) Giết người mà
liền trước đó hoặc ngay sau đó lại phạm một tội nghiêm trọng khác; g) Có
tính chất côn đồ; tái phạm nguy hiểm.
Khoản 2 là cấu thành tội phạm giảm nhẹ với khung hình phạt từ năm
năm đến mười lăm năm tù (trong lần sửa đổi năm 1989 khung hình phạt được
tăng lên thành hai mươi năm) được áp dụng trong trường hợp phạm tội không
thuộc các trường hợp quy định ở khoản 1 hoặc không có tình tiết giảm nhẹ đặc
biệt. Khoản 3 là CTTP giảm nhẹ đặc biệt với khung hình phạt từ sáu tháng đến
năm năm tù được áp dụng đối với trường hợp phạm tội trong tình trạng tinh thần
bị kích động mạnh do hành vi trái pháp luật nghiêm trọng của nạn nhân đối với
người phạm tội hoặc đối với người thân thích của người đó. Và khoản 4 được áp
dụng đối với trường hợp người mẹ nào do ảnh hưởng nặng nề của tư tưởng lạc
hậu hoặc trong hoàn cảnh khách quan đặc biệt mà giết con mới đẻ hoặc vứt bỏ
con mới đẻ dẫn đến hậu quả đứa trẻ chết, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến
một năm hoặc bị phạt tù từ ba tháng đến hai năm.
Nhận xét: BLHS năm 1985 đã trải qua 04 lần sửa đổi, bổ sung vào các

20


Xem Thêm

×