Tải bản đầy đủ

Thực tiễn áp dụng các quy định pháp luật về chế độ bảo hiểm xã hội tại bảo hiểm xã hội tỉnh quảng ninh

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
---------***---------

LUẬN VĂN THẠC SĨ

THỰC TIỄN ÁP DỤNG CÁC QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT
VỀ CHẾ ĐỘ BẢO HIỂM XÃ HỘI TẠI BHXH
TỈNH QUẢNG NINH

Ngành: Luật kinh tế

ĐỖ THỊ SƠN

Hà Nội - 2020


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
---------***---------


LUẬN VĂN THẠC SĨ

THỰC TIỄN ÁP DỤNG CÁC QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT
VỀ CHẾ ĐỘ BẢO HIỂM XÃ HỘI TẠI BHXH
TỈNH QUẢNG NINH

Ngành: Luật kinh tế
Mã số: 8380107

Họ và tên học viên: ĐỖ THỊ SƠN
Người hướng dẫn khoa học: TS. NGÔ QUỐC CHIẾN

Hà Nội - 2020


i
LỜI CAM ĐOAN

Tên tôi là: Đỗ Thị Sơn – tác giả của đề tài “Thực tiễn áp dụng các quy
định pháp luật về chế độ bảo hiểm xã hội tại BHXH tỉnh Quảng Ninh”, tôi xin
cam đoan:
- Luận văn này là công trình nghiên cứu thực sự của bản thân tác giả.
- Các thông tin được đề cập trong luận văn là chính xác, trung thực và đã
được nêu rõ nguồn gốc.
- Tác giả xin chịu trách nhiệm về những thông tin trong luận văn.
Hà Nội, ngày 20 tháng 11 năm 2019
Tác giả luận văn

Đỗ Thị Sơn


ii
LỜI CẢM ƠN

Trước hết, cho phép tác giả được gửi lời cảm ơn sâu sắc đến tập thể các nhà
giáo Khoa Luật và Khoa Sau Đại học, Trường Đại học Ngoại Thương những
người đã tận tâm truyền đạt các kiến thức nền tảng và trao đổi kinh nghiệm thực tế
giúp cho tác giả có được những hiểu biết cần thiết để hoàn thành luận văn này.
Đặc biệt, tác giả xin được gửi lời cảm ơn chân thành nhất và bày tỏ lòng kính
trọng tới thầy giáo, giảng viên TS. Ngô Quốc Chiến, người đã dành cho tác giả sự


giúp đỡ trực tiếp và tận tình từ việc định hướng, triển khai cho tới khi hoàn thành
luận văn này.
Bên cạnh đó, tác giả cũng xin cám ơn lãnh đạo Phòng Chế độ BHXH, Phòng
KHTC, Phòng Thanh tra-Kiểm tra - Bảo hiểm xã hội tỉnh Quảng Ninh đã tạo điều
kiện, cung cấp thông tin, báo cáo số liệu để tác giả có thể hoàn thành luận văn.
Hà Nội, Ngày 20 tháng 11 năm 2019
Tác giả luận văn

Đỗ Thị Sơn

Đỗ Thị Sơn


iii

MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN ...................................................................................................... i
LỜI CẢM ƠN ........................................................................................................... ii
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT ........................................................................ vi
DANH MỤC BẢNG ............................................................................................... vii
DANH MỤC HÌNH ................................................................................................ vii
PHẦN MỞ ĐẦU ........................................................................................................1
CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT VỀ BẢO HIỂM XÃ HỘI VÀ PHÁP LUẬT VỀ
CHẾ ĐỘ BẢO HIỂM XÃ HỘI ................................................................................9
1.1. Khái quát về bảo hiểm xã hội........................................................................9
1.1.1. Khái niệm bảo hiểm xã hội .......................................................................9
1.1.2. Chức năng của bảo hiểm xã hội .............................................................11
1.2. Khái quát về chế độ bảo hiểm xã hội .........................................................13
1.2.1. Khái niệm pháp luật chế độ bảo hiểm xã hội .........................................13
1.2.2. Đặc điểm của pháp luật chế độ bảo hiểm xã hội ...................................14
1.2.3. Đối tượng áp dụng ...................................................................................16
1.2.4. Nguồn hình thành quỹ chế độ bảo hiểm xã hội.....................................17
1.2.5. Các chế độ bảo hiểm xã hội ....................................................................18
1.3. Cơ sở hình thành chế độ bảo hiểm xã hội ..................................................22
1.3.1. Cơ sở sinh học .........................................................................................22
1.3.2. Điều kiện và môi trường lao động ..........................................................23
1.3.3. Cơ sở kinh tế - xã hội ..............................................................................23
1.3.4. Luật pháp và thể chế chính trị ................................................................24
1.4. Vai trò của pháp luật về chế độ bảo hiểm xã hội ......................................24
1.5. Nguyên tắc pháp luật về chế độ bảo hiểm xã hội ......................................26
1.6. Giải quyết tranh chấp về chế độ bảo hiểm xã hội .....................................28
Kết luận chương 1 ...............................................................................................31
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VÀ THỰC TIỄN THỰC HIỆN
CHẾ ĐỘ BẢO HIỂM XÃ HỘI ..............................................................................32


iv

2.1. Giới thiệu chung về tỉnh Quảng Ninh và Bảo hiểm xã hội tỉnh Quảng
Ninh .......................................................................................................................32
2.1.1. Điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội của tỉnh Quảng Ninh ....................32
2.1.2. Quá trình hình thành và phát triển của bảo hiểm xã hội tỉnh Quảng
Ninh ....................................................................................................................33
2.2. Thực trạng pháp luật về chế độ bảo hiểm xã hội ......................................36
2.2.1. Các chế độ BHXH bắt buộc ....................................................................36
2.2.2. Các chế độ bảo hiểm xã hội tự nguyện ..................................................46
2.3. Thực tiễn thực hiện pháp luật về chế độ bảo hiểm xã hội tại BHXH tỉnh
Quảng Ninh ..........................................................................................................47
2.3.1. Kết quả đạt được ......................................................................................47
2.3.2. Tồn tại và nguyên nhân ..........................................................................53
2.3.3. Giải quyết tranh chấp về chế độ bảo hiểm xã hội tại BHXH tỉnh Quảng
Ninh ....................................................................................................................56
Kết luận chương 2 ...............................................................................................59
CHƯƠNG 3: ĐỊNH HƯỚNG, GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VÀ
KIẾN NGHỊ THỰC THI PHÁP LUẬT VỀ CHẾ ĐỘ BẢO HIỂM XÃ HỘI
TẠI BHXH TỈNH QUẢNG NINH ........................................................................60
3.1. Định hướng hoàn thiện pháp luật về chế độ bảo hiểm xã hội ..................60
3.2. Giải pháp hoàn thiện pháp luật về chế độ bảo hiểm xã hội .....................62
3.2.1. Ban hành các văn bản hướng dẫn thực hiện Luật BHXH và tăng
cường quản lý nhà nước về bảo hiểm xã hội ...................................................62
3.2.2. Xây dựng các chương trình phối hợp với các ngành, các cấp có liên
quan để triển khai thực hiện pháp luật về bảo hiểm xã hội ............................63
3.2.3. Bổ sung các chế độ cho Bảo hiểm xã hội tự nguyện như chế độ ốm
đau, thai sản, tai nạn lao động - bệnh nghề nghiệp ........................................64
3.2.4. Các giải pháp nâng cao chế tài xử lí đối với các hành vi vi phạm pháp
luật bảo hiểm xã hội ..........................................................................................64
3.3. Một số kiến nghị thực thi pháp luật về chế độ bảo hiểm xã hội tại BHXH
tỉnh Quảng Ninh ..................................................................................................65


v

3.2.1. Ban hành văn bản hướng dẫn của BHXH tỉnh Quảng Ninh về thực
hiện chế độ BHXH kịp thời...............................................................................65
3.3.2. Tăng cường công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật về BHXH cho
người lao động trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh ................................................66
3.3.3. Quản lý tốt các đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội và đối tượng thụ
hưởng các chế độ BHXH ..................................................................................67
3.3.4. Nâng cao chất lượng dịch vụ và bồi dưỡng nâng cao nghiệp vụ..........68
3.3.5. Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin .............................................68
3.3.6. Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra của cơ quan Nhà nước có
thẩm quyền với việc thực hiện chế độ BHXH ..................................................69
Kết luận chương 3 ...............................................................................................71
KẾT LUẬN ..............................................................................................................72
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ...............................................................73


vi

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
Nghĩa đầy đủ

Chữ viết tắt
BHXH

Bảo hiểm xã hội

BHYT

Bảo hiểm Y tế

BHTN

Bảo hiểm thất nghiệp

DSPHSK

Dưỡng sức phục hồi sức khỏe

TTDVVL

Trung tâm dịch vụ việc làm

ASXH

An sinh xã hội

TTHC

Thủ tục hành chính

CĐBHXH

Chế độ bảo hiểm xã hội

CNTT

Công nghệ thông tin

KHTC

Kế hoạch tài chính

TN&TKQTTHC

Tiếp nhận và trả kết quả thủ tục hành chính

NLĐ

Người lao động

NSDLĐ

Người sử dụng lao động

NSNN

Ngân sách Nhà nước

TNLĐ-BNN

Tai nạn lao động – Bệnh nghề nghiệp

UBND

Ủy ban nhân dân


vii

DANH MỤC BẢNG
Bảng 1. Tổng hợp đối tượng hưởng chế độ BHXH từ năm 2104-2018 ...................48
Bảng 2. Tổng hợp giải quyết các chế độ Ốm đau, thai sản, DSPHSKtừ 2014-2018 49
Bảng 3. Tổng hợp giải quyết các chế độ Hưu trí, tử tuất, TNLĐ-BNN từ 2014-2018
...................................................................................................................................50
Bảng 4. Tổng hợp chi trả các chế độ BHXH từ 2014-2018 ......................................51
DANH MỤC HÌNH
Hình 1. Sơ đồ tổ chức bộ máy tại BHXH tỉnh Quảng Ninh .....................................36


viii

TÓM TẮT KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU CỦA LUẬN VĂN
Tên Luận văn: Thực tiễn áp dụng các quy định pháp luật về chế độ bảo
hiểm xã hội tại BHXH tỉnh Quảng Ninh.
Luận văn đã đạt các kết quả chính như sau:
1. Về lý luận
- Đã nêu khái quát toàn bộ pháp luật chế độ bảo hiểm xã hội;
- Đã phân tích và làm rõ các khái niệm, chức năng, vai trò, nguyên tắc, cơ sở
hình thành, nội dung về chế độ bảo hiểm xã hội;
- Đưa ra một số vấn đề giải quyết tranh chấp chế độ bảo hiểm xã hội tại Việt
Nam.
2. Về thực tiễn
- Giới thiệu sợ bộ tình hình kinh tế - xã hội của tỉnh Quảng Ninh cũng như cơ
cấu tổ chức của BHXH tỉnh Quảng Ninh;
- Đánh giá thực trạng pháp luật về các chế độ bảo hiểm xã hội bắt buộc và
bảo hiểm xã hội tự nguyện trên cơ sở Luật BHXH năm 2014;
- Đánh giá thực tiễn áp dụng chế độ BHXH tại BHXH tỉnh Quảng Ninh kể
từ khi ban hành Luật BHXH 2014 cho đến nay, trong đó nêu các kết quả đạt được
cũng như các vấn đề còn tồn tại, nguyên nhân;
- Cơ chế giải quyết tranh chấp về chế độ BHXH tại BHXH tỉnh Quảng Ninh
trong 05 năm từ năm 2014 đến năm 2018.
3. Về định hướng và giải pháp
- Đã nêu một số định hướng và giải pháp hoàn thiện pháp luật chế độ BHXH
trong thời gian tới;


ix

- Trên cơ sở phân tích nội dung pháp luật chế độ BHXH và kết quả đạt được
cũng như tồn tại, nguyên nhân. Luận văn đã đưa ra một số kiến nghị thực thi pháp
luật về chế độ BHXH tại BHXH tỉnh Quảng Ninh.
4. Khả năng ứng dụng thực tiễn của Luận văn
- Luận văn là tài liệu tham khảo hữu ích cho các cơ quan, đơn vị, tổ chức
trong quá trình nghiên cứu, xây dựng và hoàn thiện chính sách và pháp luật về chế
độ bảo hiểm xã hội. Một số phương hướng, giải pháp và kiến nghị trong luận văn có
giá trị tham khảo đối với các cơ quan lập pháp khi sửa đổi các quy định của pháp
luật về Luật BHXH;
- Luận văn là tài liệu có khả năng nghiên cứu để ứng dụng trong thực tiễn
thực hiện chế độ BHXH nói chung và tại tỉnh Quảng Ninh nói riêng;
- Luận văn này cũng là tài liệu tham khảo cho sinh viên, học viên cao học có
nghiên cứu hoặc học tập môn học pháp luật về BHXH.


1

PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Bảo hiểm xã hội là một trong những chính sách lớn của Nhà nước, là một
trong những trụ cột của hệ thống chính sách an sinh xã hội tạo nền móng cho sự
phát triển kinh tế và ổn định xã hội ở mọi quốc gia trên thế giới. Bảo hiểm xã hội
góp phần bảo đảm ổn định đời sống cho người lao động ổn định chính trị, trật tự an
toàn xã hội, thúc đẩy sự nghiệp xây dựng đất nước. So với các quốc gia trên thế
giới, bảo hiểm xã hội Việt Nam ra đời khá muộn do nhiều điều kiện chủ quan cũng
như khách quan1. Tuy ra đời muộn, nhưng chính sách và pháp luật về bảo hiểm xã
hội đã được Đảng và Nhà nước quan tâm. Luật bảo hiểm xã hội ra đời năm 2006
đánh dấu một bước cụ thể hóa quan trọng về chinh sách bảo hiểm xã hội của nhà
nước. Luật này sau đó đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014. Ngoài ra, Nghị quyết số
21-NQ/TW về “ Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác BHXH, BHYT
giai đoạn 2012-2020” nêu rõ quan điểm “Bảo hiểm xã hội và Bảo hiểm y tế là hai
chính sách xã hội quan trọng, là trụ cột chính của hệ thống an sinh xã hội, góp phần
thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, đảm bảo ổn định chính trị - xã hội và phát
triển kinh tế - xã hội”. Từ thực tiễn xã hội, nhu cầu chính đáng của người lao động,
bảo hiểm xã hội đã trở thành chính sách xã hội quan trọng của nước ta và hầu hết
các nước trên thế giới.
Bảo hiểm xã hội là sự bảo đảm bù đắp một phần hoặc thay thế thu nhập của
người lao động khi người lao động bị giảm hoặc bị mất thu nhập do ốm đau, thai
sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, hết tuổi lao động hoặc chết…dựa trên cơ
sở đóng góp vào quỹ bảo hiểm xã hội do Nhà nước tổ chức thực hiện và sử dụng
Hệ thống bảo hiểm xã hội đầu tiên được thiết lập tại nước Phổ (nay là Cộng hòa Liên bang Đức) dưới thời
của Thủ tướng Otto von Bismarck (1850), sau đó lan sang các nước châu Âu (Anh: 1991, Ý: 1919, Pháp:
từ 1918), các nước châu Mỹ Latinh, Hoa Kỳ, Canada (từ sau 1930) và cuối cùng là các nước châu Phi, châu
Á (giành độc lập sau chiến tranh thế giới lần thứ 2). Bảo hiểm xã hội tại Việt Nam có mầm mống dưới thời
phong kiến Pháp thuộc. Sau cách mạng tháng 8/1945 Chính phủ nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà, đã ban
hành sắc lệnh 29/SL ngày 12/3/1947 thực hiện bảo hiểm ốm đau, tai nạn lao động và hưu trí (chỉ có một số
bộ phận). Đến khi hoà bình lập lại, ngày 27/12/1961 Nhà nước ban hành Nghị định 128/CP của Chính phủ về
“Điều lệ tạm thời thực hiện các chế độ BHXH đối với công nhân viên chức” và được thực hiện từ ngày
1/1/1962.
1


2

quỹ đó để đảm bảo ổn định đời sống cho người lao động, đảm bảo an sinh xã hội
(Khoản 1, Điều 3, Luật BHXH số 58/2014/QH13).
Dựa trên những nhu cầu tất yếu của người lao động và mục tiêu cơ bản của
Đảng và Nhà nước, chính sách bảo hiểm xã hội là chính sách cơ bản nhất của hệ
thống an sinh xã hội của mỗi quốc gia2. Việc ban hành chính sách bảo hiểm xã hội
phụ thuộc vào từng điều kiện kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia và xu hướng vận
động khách quan của nền kinh tế - xã hội. Để đáp ứng được an sinh xã hội phải đảm
bảo việc triển khai và thực hiện chính sách bảo hiểm xã hội, vấn đề cốt lõi là phải
cụ thể hoá chính sách thông qua các chế độ bảo hiểm xã hội. “Chế độ bảo hiểm xã
hội là những quy định cụ thể và chi tiết, là sự bố trí, sắp xếp những chế định thực
hiện bảo hiểm xã hội đối với người lao động (Bùi Đình Thanh, 1993). Nói cách
khác, đó là một hệ thống các quy định được pháp luật hoá về đối tượng và phạm vi;
về nghĩa vụ và quyền lợi, về điều kiện và mức đóng góp cho từng trường hợp bảo
hiểm xã hội cụ thể. Mục đích chính của các chế độ bảo hiểm xã hội là bù đắp một
phần và trợ cấp vật chất cho người lao động khi gặp rủi ro đã được quy định, ban
hành trong luật.
Bảo hiểm xã hội là một chính sách xã hội phức tạp, liên quan đến quyền lợi
của người lao động lại khá mới mẻ trong nền kinh tế thị trường mới định hình ở
Việt Nam, nên việc thực hiện các chế độ Bảo hiểm xã hội đã cho thấy những hạn
chế, tồn tại nhất định trên phạm vi cả nước. Ngoài ra, việc thực hiện các chế độ về
bảo hiểm xã hội trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh còn có những đặc thù riêng so với các
địa phương khác như: Số công nhân lao động khai thác than, hầm lò lớn, thực hiện
các công việc nặng nhọc, độc hại cần được đảm bảo quyền lợi khi tham gia bảo
hiểm xã hội. Bên cạnh đó, các doanh nghiệp vừa và nhỏ phát triển ngày càng đông,
các doanh nghiệp về xây dựng mọc lên nhiều hơn so với những năm trước khiến
cho việc giải quyết các chế độ bảo hiểm xã hội lớn hơn so với một số tỉnh khác trên
Trong chính sách ASXH, về mặt cấu trúc gồm các bộ phận hợp thành (còn gọi là các trụ cột) là BHXH cho
người lao động; trợ giúp xã hội đối với mọi thành viên của xã hội khi họ gặp phải rủi ro; chăm sóc sức khỏe
và các dịch vụ xã hội bằng nguồn vốn của cộng đồng… Trong các bộ phận này của ASXH, BHXH là một bộ
phận (hay trụ cột) lớn nhất, cơ bản nhất và ổn định nhất của hệ thống này. Chính sách BHXH được coi là trụ
cột lớn nhất của hệ thống ASXH quốc gia, bởi lẽ BHXH có đối tượng rất lớn và toàn bộ người lao động –
những người tạo ra của cải vật chất cơ bản cho xã hội.
2


3

cả nước. Công tác phối hợp giữa Bảo hiểm xã hội với các sở, ban, ngành trong việc
thực hiện chính sách bảo hiểm xã hội theo quy định của Luật Bảo hiểm xã hội còn
nhiều bất cập, chồng chéo; chế tài xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo
hiểm xã hội còn quá nhẹ, tính cưỡng chế của pháp luật chưa nghiêm. Nhận thức của
một số người sử dụng lao động (SDLĐ) về chính sách, pháp luật bảo hiểm xã hội
còn hạn chế, trách nhiệm xã hội chưa cao, ý thức chấp hành pháp luật thấp, vì lợi
nhuận chủ sử dụng lao động cố tình trốn tránh trách nhiệm đóng bảo hiểm xã hội
cho người lao động, không ký kết hợp đồng lao động hoặc chỉ ký hợp đồng dưới 01
tháng (để lách luật). Về phần mình, người lao động thì do áp lực thu nhập, việc làm
nên ngại đấu tranh. Thực tế vẫn còn tình trạng rất nhiều đơn vị, cá nhân, người lao
động còn có hành vi trục lợi bảo hiểm xã hội như: vừa đi làm vừa hưởng bảo hiểm
thất nghiệp; đang hưởng bảo hiểm thất nghiệp nhưng vẫn hưởng lương hưu; người
sử dụng lao động cấp giấy chứng nhận nghỉ việc hưởng bảo hiểm xã hội tràn lan,
không đúng người, đúng bệnh; nhiều trường hợp người lao động không đi khám tại
các cơ quan y tế nhưng vẫn được cấp giấy ốm. Một vấn đề khác cần phải kể đến, đó
là công tác tuyên truyền, phổ biến chính sách pháp luật về bảo hiểm xã hội chưa
thực sự đi vào chiều sâu, thiếu tính đồng bộ giữa các ngành, nên một bộ phận người
lao động, nhân dân chưa hiểu được bản chất tốt đẹp, tính cộng đồng, nhân đạo và
nhân văn cao cả của chính sách bảo hiểm xã hội, do đó chưa tích cực tham gia bảo
hiểm xã hội.
Vì vậy việc việc nghiên cứu “Thực tiễn áp dụng các quy định pháp luật về chế
độ bảo hiểm xã hội tại Bảo hiểm xã hội tỉnh Quảng Ninh” là rất cần thiết nhằm
đánh giá thực trạng pháp luật và đưa ra một số giải pháp thực hiện đối với bảo hiểm
xã hội tỉnh Quảng Ninh hiện nay.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Chế độ, chính sách và pháp luật về bảo hiểm nói chung và chế độ bảo hiểm xã
hội nói riêng không phải là một chủ đề mới mẻ ở Việt Nam. Chủ đề này đã được
nghiên cứu dưới góc độ kinh tế, quản lý và pháp luật. Tuy nhiên, tác giả nhận thấy
rằng, các nghiên cứu luật học về chế độ bảo hiểm xã hội tại một địa bàn cụ thể là


4

Quảng Ninh chưa được nghiên cứu đầy đủ. Trong nỗ lực thực hiện luận văn này, tác
giả đã tìm và đã thấy một số công trình sau:
Trong luận văn thạc sỹ luật học về “Bảo hiểm xã hội tự nguyện – Thực trạng
pháp luật và bảo hiểm xã hội tự nguyện ở Việt Nam” bảo vệ tại Khoa Luật, Đại học
Quốc gia Hà Nội, năm 2015, tác giả Võ Lan Anh đã phân tích các quy định pháp
luật Việt Nam về bảo hiểm xã hội tự nguyện. Nghiên cứu này đã đề cập đến chế độ
bảo hiểm xã hội nói chung, nhưng chưa phân tích, đánh giá thực trạng áp dụng pháp
luật tại các địa bàn cụ thể như Quảng Ninh.
Tác giả Nguyễn Lan Hương, trong luận văn thạc sỹ luật học về “Pháp luật về
bảo hiểm xã hội bắt buộc và thực tiễn thi hành trên địa bàn tỉnh Phú Thọ”, bảo vệ
tại Trường Đại học Luật Hà Nội năm 2012, đã phân tích thực tiễn áp dụng pháp luật
về bảo hiểm nói chung và pháp luật về bảo hiểm xã hội bắt buộc nói riêng. Luận
văn này cũng đã phân tích thực trạng áp dụng pháp luật tại một địa bàn cụ thể là
tỉnh Phú Thọ. Tuy nhiên, nghiên cứu này phân tích các quy định và thực trạng áp
dụng các quy định của pháp luật bảo hiểm năm 2006, trong khi đó đạo luật này đã
được sửa đổi khá nhiều vào năm 2014 và vì vậy, một nghiên cứu phân tích các quy
định của Luật năm 2014 là cần thiết. Ngoài ra, Phú Thọ và Quảng Ninh là hai tỉnh
có nhiều khác biệt, do đặc thù về địa hình và cơ cấu kinh tế xã hội. Một nghiên cứu
trên địa bàn tỉnh Phú Thọ là không đủ để áp dụng cho Quảng Ninh và vì vậy cần có
một nghiên cứu riêng để nhấn mạnh đến đặc thù của tỉnh Quảng Ninh.
Trong một nghiên cứu tổng quát hơn về “Bảo hiểm thất nghiệp trong nền kinh
tế thị trường ở Việt Nam”, luận án tiến sỹ luật học, tác giả Lê Thị Hoài Thu đã biện
luận cho sự cần thiết xây dựng và hoàn thiện chế độ bảo hiểm thất nghiệp ở Việt
Nam. Tuy nhiên, luận án này được bảo vệ tại Đại học Quốc gia Hà Nội năm 2002
nên đã có nhiều điểm không còn phù hợp với thực tiễn hiện nay.
Ngoài ra, còn có thể kể đến một số bài viết đăng trên các tạp chí hoặc các
trang thông tin, nhưng các bài viết này chủ yếu tập trung nghiên cứu tổng quan về
BHXH và việc thực hiện các chế độ BHXH bắt buộc, BHXH tự nguyện mang tính
phổ biến kiến thức pháp luật, hơn là các nghiên cứu luật học về các nội dung như:


5

đối tượng tham gia, mức đóng BHXH, phương thức đóng, điều kiện hưởng, quỹ
BHXH, quản lý, tổ chức... Các đề tài chỉ đề cập đến một phần của chế độ bảo hiểm
xã hội như BHXH bắt buộc, BHXH tự nguyện, hoặc so sánh sự khác nhau của các
chế độ bảo hiểm xã hội qua các năm mặc dù các đề tài đã phản ánh được một phần
thực trạng áp dụng chế độ BHXH, những quy định, những bất cập trong việc thực
hiện chế độ chính sách nhưng chưa đưa ra cụ thể các quy định trong pháp luật về
chế độ bảo hiểm xã hội tại Việt Nam.
Như vậy, việc nghiên cứu thực trạng áp dụng những quy định của pháp luật về
chế độ bảo hiểm xã hội tại địa bàn tỉnh Quảng Ninh là cần thiết, nhằm đưa ra các
giải pháp cụ thể góp phần áp dụng hiệu quả hơn chế độ bảo hiểm xã hội tại một địa
bàn cụ thể và, xa hơn, gợi ý một số sửa đổi pháp luật về chế độ bảo hiểm xã hội.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Trong phạm vi nghiên cứu đề tài luận văn, học viên phân tích và làm rõ cơ sở
lý luận và các quy định của pháp luật về chế độ bảo hiểm xã hội nói chung và đánh
giá thực tiễn thực hiện pháp luật về chế độ bảo hiểm xã hội tại tỉnh Quảng Ninh nói
riêng, đồng thời chỉ ra những mặt tồn tại, yếu kém, nguyên nhân, từ đó đề xuất xây
dựng căn cứ khoa học cho những giải pháp phù hợp mang tính khả thi nhằm nâng
cao hiệu quả thực hiện pháp luật về chế độ bảo hiểm xã hội trong thời gian tới, phục
vụ tốt hơn quyền lợi bảo hiểm xã hội cho người lao động trên địa bàn tỉnh Quảng
Ninh.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích nghiên cứu nêu trên, đề tài sẽ giải quyết các nhiệm vụ
sau:
Thứ nhất, Trình bày khái quát một số vấn đề lý luận về BHXH và các chế độ
BHXH ở nước ta hiện nay: chế độ BHXH bắt buộc; BHXH tự nguyện, BHTN được
quy định trong các văn bản luật.


6

Thứ hai, phân tích, đánh giá thực trạng thực hiện pháp luật về chế độ BHXH
trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh để thấy được những kết quả, hạn chế, vướng mắc và
nguyên nhân để đảm bảo chế độ BHXH là công cụ hữu hiệu nhất của an sinh xã hội
ở nước ta trong thời gian tới.
Thứ ba, đề xuất một số giải pháp, kiến nghị nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả
pháp luật về chế độ BHXH; đóng góp những ý kiến đề xuất cho việc sửa đổi Luật
BHXH phù hợp với thực tế cuộc sống, đảm bảo quyền lợi cho người lao động trên
địa bàn tỉnh Quảng Ninh nói riêng và 63 tỉnh thành trên toàn quốc nói chung.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của Luận văn là các quy định pháp luật về chế độ bảo
hiểm xã hội và thực trạng thực hiện pháp luật về chế độ bảo hiểm xã hội tại BHXH
tỉnh Quảng Ninh.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Về không gian, bên cạnh việc phân tích các quy định của pháp luật về bảo
hiểm, vốn mang tính bắt buộc chung trên cả nước, Luận văn sẽ tập trung nghiên cứu
thực tiễn áp dụng các quy định này tại một địa bàn cụ thể là tỉnh Quảng Ninh.
Về thời gian, Luận văn chủ yếu nghiên cứu thực tiễn áp dụng các quy định của
pháp luật hiện hành, tức là khởi đầu từ năm 2014 với Luật Việc làm năm 2014 cho
tới hiện nay.
5. Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện các nhiệm vụ nghiên cứu nêu trên, Luận văn sẽ sử dụng các
phương pháp nghiên cứu luật học truyền thống như phân tích, so sánh, tổng hợp,
thống kê xử lý số liệu.
Phương pháp phân tích và tổng hợp được sử dụng chủ yếu ở Chương 1 và
Chương 2 nhằm làm rõ cơ sở lý luận về chế độ bảo hiểm xã hội, các quy định của
pháp luật và thực tiễn áp dụng các quy định của pháp luật về chế độ bảo hiểm xã
hội.


7

Phương pháp tổng hợp, so sánh được áp dụng chủ yếu trong Chương 2 và
Chương 3 để làm rõ các ưu điểm, nhược điểm trong thực trạng áp dụng các quy
định của pháp luật về chế độ bảo hiểm xã hội tại Quảng Ninh và đưa ra một số giải
pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác này.
6. Câu hỏi nghiên cứu và giả thuyết nghiên cứu
6.1. Câu hỏi nghiên cứu
Để làm rõ thực tiễn áp dụng các quy định của pháp luật về chế độ bảo hiểm xã
hội tại Quảng Ninh và trên cơ sở đó đưa ra một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu
quả của bảo hiểm xã hội tại địa bàn này, tác giả thấy cần trả lời ba câu hỏi sau:
Thứ nhất, chế độ bảo hiểm xã hội có đặc điểm và đóng vai trò như thế nào đối
với sự phát triển kinh tế, văn hóa xã hội của đất nước?
Thứ hai, các chế độ bảo hiểm xã hội được quy định trong pháp luật Việt Nam
như thế nào? Đối tượng nào được hưởng? Điều kiện được hưởng? Mức hưởng?
Thứ ba, thực trạng quy định pháp luật về chế độ bảo hiểm xã hội tại Quảng
Ninh còn những vướng mắc, tồn tại gì? Đâu là các giải pháp khắc phục, nâng cao
hiệu quả pháp luật về chế độ bảo hiểm xã hội?
6.2. Giả thuyết nghiên cứu
Trước khi nghiên cứu, tác giả đặt ra một số giả thuyết nghiên cứu. Trên cơ sở
các giả thuyết nghiên cứu đó, tác giả đã xác định định hướng nghiên cứu, tập hợp và
phân tích tài liệu nghiên cứu để kiểm tra giả thuyết nghiên cứu và hiệu chỉnh giả
thuyết nghiên cứu. Có ba giả thuyết nghiên cứu được luận văn giữ lại là:
Thứ nhất, chế độ chính sách bảo hiểm xã hội có nhiều đặc điểm chung và
riêng biệt, đóng vai trò rất quan trọng trong việc đảm bảo an sinh xã hội nhằm bù
đắp một phần thu nhập bị mất của người lao động.
Thứ hai, các chế độ bảo hiểm xã hội được quy định cụ thể trong các quy phạm
pháp luật như Luật BHXH năm 2014 và các thông tư, nghị định, văn bản hướng dẫn
khác.


8

Thứ ba, các quy định pháp luật về chế độ BHXH chưa được áp dụng hiệu quả
tại Quảng Ninh, mới chỉ đáp ứng được một phần nhu cầu cuộc sống, đảm bảo cho
đa số quyền lợi của một bộ phận dân chúng do còn nhiều bất cập, vướng mắc cần
khắc phục mới có thể phát huy hiệu quả thực sự trong đời sống.
7. Đóng góp của Luận văn
Đề tài của luận văn nghiên cứu việc thực hiện pháp luật về chế độ bảo hiểm xã
hội để hệ thống hóa được những vấn đề từ cơ sở lý luận, vai trò và thực tiễn thực
hiện chế độ bảo hiểm xã hội tại BHXH tỉnh Quảng Ninh. Từ đó nêu lên được những
kết quả đạt được những vấn đề cần giải quyết, rút ra những hạn chế và nguyên nhân
tồn tại ảnh hưởng cũng như đề xuất một số giải pháp cụ thể có giá trị tham khảo cho
các cơ quan hữu quan trong quá trình hoàn thiện và thực hiện pháp luật về chế độ
bảo hiểm xã hội, đặc biệt là các cơ quan bảo hiểm xã hội, các đơn vị tham gia bảo
hiểm xã hội.
8. Kết cấu của Luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết thúc, mục lục, phụ lục và danh mục tài liệu tham
khảo, Luận văn được kết cấu gồm 3 chương:
Chương 1. KHÁI QUÁT VỀ BẢO HIỂM XÃ HỘI VÀ PHÁP LUẬT VỀ
CHẾ ĐỘ BẢO HIỂM XÃ HỘI
Chương 2. THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VÀ THỰC TIỄN THỰC HIỆN
CHẾ ĐỘ BẢO HIỂM XÃ HỘI
Chương 3: ĐỊNH HƯỚNG, GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VÀ
KIẾN NGHỊ THỰC THI PHÁP LUẬT VỀ CHẾ ĐỘ BẢO HIỂM XÃ HỘI TẠI
BHXH TỈNH QUẢNG NINH


9

CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT VỀ BẢO HIỂM XÃ HỘI VÀ PHÁP LUẬT VỀ
CHẾ ĐỘ BẢO HIỂM XÃ HỘI
1.1. Khái quát về bảo hiểm xã hội
1.1.1. Khái niệm bảo hiểm xã hội
Thuật ngữ “bảo hiểm xã hội” lần đầu tiên xuất hiện và được sử dụng làm tiêu
đề cho một văn bản pháp luật vào năm 1935 (Luật Bảo hiểm xã hội năm 1935 của
Hợp chủng quốc Hoa Kỳ)3. Sau đó thuật ngữ này xuất hiện trở lại trong một số đạo
luật, trong thời gian chiến tranh thế giới thứ hai và được Tổ chức Lao động quốc tế
(ILO) nhanh chóng chấp nhận thuật ngữ “bảo hiểm xã hội”, đây chính là mốc quan
trọng ghi nhận giá trị và sự tồn tại của thuật ngữ này, một thuật ngữ diễn đạt đơn
giản nhưng phản ánh được nguyện vọng sâu sắc nhất của nhân dân lao động trên
toàn thế giới.
Trên thế giới, thuật ngữ “bảo hiểm xã hội” được hiểu không giống nhau giữa
các nước về mức độ phạm vi rộng hẹp của nó. Tuy vậy, về cơ bản thì thuật ngữ này
được hiểu với nghĩa là sự bảo đảm an toàn của xã hội đối với thành viên của nó
thông qua các quy trình của hệ thống công cộng, nhằm giải tỏa những lo âu về kinh
tế và xã hội cho thành viên. Nói cách khác, nó góp phần khắc phục sự suy giảm
hoặc mất nguồn thu nhập của các thành viên trong xã hội và gia đình do ốm đau,
thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, hưu trí, tử tuất và thất nghiệp; đồng
thời cung cấp về dịch vụ y tế, trợ cấp gia đình có con nhỏ4.
Trong Luật BHXH, bảo hiểm xã hội được định nghĩa là “sự bảo đảm thay thế
hoặc bù đắp một phần thu nhập của người lao động khi họ bị giảm hoặc mất thu
nhập do ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, hết tuổi lao động
hoặc chết, trên cơ sở đóng vào quỹ bảo hiểm xã hội” (Khoản 1, Điều 3, Luật BHXH
số 58/2014/QH13).
BHXH còn được nghiên cứu dưới nhiều góc độ khác:
Luật Bảo hiểm xã hội năm 1935 của Hoa Kỳ (the Social Security Act of 1935) chỉ bao gồm bốn chế độ bảo
hiểm là chế độ hưu trí, tử tuất, mất khả năng lao động và thất nghiệp.
4
Có thể xem được tại: http://www.dankinhte.vn/cac-khai-niem-ve-bao-hiem-xa-hoi/ [truy cập ngày
08/11/2019].
3


10

Dưới góc độ kinh tế, BHXH là một phạm trù kinh tế tổng hợp, là sự bù đắp và
thay thế một phần thu nhập nhằm đảm bảo ổn định cuộc sống cho NLĐ khi họ bị
giảm hoặc mất thu nhập trên cơ sở đóng góp vào quỹ BHXH của cộng đồng những
người tham gia bảo hiểm theo quy định của pháp luật (Nguyễn Văn Định, 2012, tr.
46). Trong thời kỳ phát triển kinh tế thị trường, quá trình công nghiệp hóa, hiện đại
hóa và trong sản xuất lao động thì con người luôn gặp phải những khó khăn, rủi ro
như: ốm đau, bệnh tật, tai nạn lao động, mất việc làm, thất nghiệp... Do đó, để ổn
định cuộc sống NLĐ phải tìm các giải pháp đảm bảo thu nhập cho chính mình trong
những trưởng hợp rủi ro nói trên.
Dưới góc độ xã hội, BHXH là một chính sách nhằm đảm bảo đời sống vật chất
cho NLĐ khi họ không may gặp các “rủi ro xã hội”, nhằm góp phần đảm bảo an
toàn xã hội....Khi NLĐ gặp phải rủi ro trong cuộc sống thì những nhu cầu được đặt
ra như khắc phục khó khăn về kinh tế, chữa bệnh an dưỡng tuổi già…Vì vậy, Nhà
nước cần thiết phải có những giải pháp để giải quyết những vấn đề phát sinh xảy ra
đối với NLĐ, nhằm giúp NLĐ vượt qua khó khăn, ổn định đời sống; đồng thời cũng
là giải pháp nhằm ổn định xã hội. Khi đó, vai trò của BHXH được thể hiện rõ nét,
bù đắp thu nhập cho NLĐ, giữ vững nền sản xuất, đảm bảo ổn định xã hội. Như
vậy, dưới góc độ xã hội, chúng ta có thể thấy BHXH là một bộ phận trong nội dung
của hệ thống bảo đảm xã hội “bảo đảm xã hội là sự bảo vệ của xã hội đối với các
thành viên của mình thông qua một loạt các biện pháp công cộng để đối phó khó
khăn về kinh tế xã hội do bị ngưng hoặc bị giảm nhiều về thu nhập gây ra bởi ốm
đau, mất khả năng lao động, tuổi già và chết, việc cung cấp chăm sóc y tế và việc
trợ cấp cho các gia đình đông con” (Trường Đại học Lao động - xã hội, 2010, tr.
34).
Dưới góc độ pháp luật, BHXH là tổng hợp các quy định của pháp luật nhằm
bảo vệ NLĐ; sử dụng nguồn đóng góp của NLĐ, NSDLĐ và sự tài trợ, bảo hộ của
Nhà nước nhằm trợ cấp vật chất cho người được bảo hiểm (hoặc gia đình của họ)
trong trường hợp ốm đau, tai nạn lao động, thai sản, hết tuổi lao động hoặc chết.
Như vậy, về phương diện pháp lý, BHXH là tổng thể các quy định của Nhà nước
quy định về quyền, nghĩa vụ, trách nhiệm của các bên khi tham gia vào quan hệ


11

BHXH; mức đóng góp, phương thức đóng góp và mức hưởng đối với những đối
tượng áp dụng BHXH…Trên cơ sở các quy định pháp luật, các bên tham gia phải
tuân thủ (TS. Mạc Tiến Anh, tạp chí BHXH số 04/2005).
Dù tiếp cận dưới góc độ nào thì mục tiêu chính của BHXH cũng được thể hiện
rõ, nhằm bảo vệ NLĐ trước những biến cố cuộc sống và được bảo vệ bằng hệ thống
chính sách.
Như vậy, có thể thấy BHXH chính là dạng trợ cấp nhằm bảo đảm thu nhập
cho NLĐ nên bảo hiểm y tế được tách ra không thuộc khái niệm BHXH. Khái niệm
về BHXH nước ta thể hiện rõ mục đích phi thương mại và có sự bảo hộ của nhà
nước thông qua quá trình đóng góp và quản lý quỹ BHXH, thông qua đó Nhà nước
bảo hộ các hoạt động của quỹ BHXH và nhằm mục đích bảo đảm an toàn xã hội và
tạo động lực hữu hiệu để phát triển kinh tế.
Tuy có sự định nghĩa khác nhau về bảo hiểm, nhưng xét về nội dung các khái
niệm trên đều bao hàm những nội dung cơ bản của BHXH là sự bù đắp thu nhập
cho NLĐ và trong một số trường hợp còn là gia đình của họ trong những trường
hợp nhất định mà dẫn đến mất hoặc giảm thu nhập và dựa trên cơ sở có sự đóng góp
vào quỹ BHXH.
1.1.2. Chức năng của bảo hiểm xã hội
Mục tiêu của hoạt động BHXH nhằm thực hiện chính sách xã hội của Nhà
nước, đảm bảo các khoản trợ cấp tối thiểu cho NLĐ khi họ gặp những rủi ro. Chức
năng của BHXH được xác định bởi chức năng chung của BHXH kết hợp với tính xã
hội cao của nó tạo thành. BHXH có bốn chức năng chính như sau:
Thứ nhất, bảo đảm thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập cho người lao
động khi họ bị giảm hoặc mất môt phần thu nhập do bị giảm hoặc mất khả năng lao
động hoặc mất việc làm theo những điều kiện xác định (Nguyễn Văn Định, 2012, tr.
30)
Đối tượng được bảo hộ là thu nhập của NLĐ, khi NLĐ và gia đình của họ bị
mất hoặc giảm thu nhập do ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, tuổi già thì BHXH bù


12

đắp các khoản thu nhập bị thiếu hụt thông qua việc thực hiện chi trả trợ cấp đối với
NLĐ (hay gia đình của họ) thay cho phần thu nhập bị giảm (mất).
Chức năng này của BHXH được thực hiện khi NLĐ rơi vào những trường hợp
khó khăn và có đủ các điều kiện theo quy định của pháp luật BHXH. Chức năng của
BHXH được thể hiện thông qua mối quan hệ giữa NLĐ - NSDLĐ; giữa cơ quan
BHXH – NSDLĐ, đó là quan hệ ba bên có sự đóng góp của các bên; khi sự kiện
pháp lý xảy ra đối với NLĐ, họ sẽ được trợ cấp theo quy định. Đây thực sự là chức
năng thiết thực đối với NLĐ, có sức thuyết phục NLĐ tham gia mạng lưới BHXH.
Thứ hai, phân phối lại thu nhập giữa người tham gia bảo hiểm xã hội
Quỹ BHXH được hình thành bởi sự đóng góp của NLĐ, NSDLĐ và hỗ trợ
một phần từ phía Nhà nước. NLĐ tham gia đóng BHXH được hưởng bảo hiểm khi
có đủ điều kiện theo pháp luật quy định. Như vậy, NLĐ đóng góp vào quỹ BHXH
không chỉ để đảm bảo quyền lợi cho họ mà còn cho NLĐ khác không may găp rủi
ro. Như vậy, BHXH đã thực hiện chức năng phân phối lại thu nhập theo cả chiều
ngang và chiều dọc. Sự phân phối này được thực hiện giữa NLĐ may mắn, ít gặp
rủi ro cho những người không may mắn; giữa người khỏe mạnh đang làm việc cho
người ốm đau phải nghỉ việc và rộng hơn là giữa số đông người đóng góp vào quỹ
BHXH với số ít những người hưởng chế độ trợ cấp theo chế độ xác định. Chức
năng này được thể hiện rõ qua hoạt động thu chi của quỹ BHXH.
Thứ ba, góp phần nâng cao năng suất lao động
Khi tham gia vào thị trường lao động, NLĐ luôn mong muốn công sức mà họ
bỏ ra phải được đền đáp xứng đáng, tức là tiền lương, tiền công mà họ nhận được
phải tương đương với sức lao động mà họ bỏ ra. Ngoài ra, khi họ gặp phải những
rủi ro dẫn đến nguồn thu nhập bị giảm, bị mất khiến đời sống khó khăn, họ càng cần
một cơ chế nhằm giúp đỡ họ ổn định, vượt qua khó khăn này. Trên thực tế, chỉ có
BHXH mới có thể đáp ứng và thực hiện tốt được chức năng này, có BHXH đời
sống của NLĐ và gia đình họ luôn được đảm bảo, ổn định yên tâm, gắn bó cùng
công việc, tạo động lực cho họ hăng say lao động và cống hiến.


13

Đối với NSDLĐ, khi đội ngũ lao động yên tâm làm việc, cống hiến hết mình
cho công việc họ sẽ yên tâm hơn khi đầu tư nâng cao chất lượng máy móc, nâng cao
năng suất lao động; qua đó NSDLĐ cũng dự toán cân đối được các nguồn thu chi
nhằm phát triển doanh nghiệp, đó chính là chức năng đòn bẩy kinh tế phát triển.
Thứ tư, phát huy tiềm năng và gắn bó lợi ích
“Quỹ BHXH được hình thành bởi sự đóng góp của NLĐ, NSDLĐ và Nhà
nước, thông qua hoạt động của quỹ, một nguồn vốn nhàn rỗi sẽ được đưa vào đầu tư
mang lại lợi nhuận, tăng thêm nguồn thu cho quỹ” (Trường kinh tế quốc dân, 2012,
tr 58). Với hình thức đóng góp và phát triển quỹ BHXH như vậy, BHXH hoàn toàn
có thể giúp NLĐ vượt qua những khó khăn khi gặp phải rủi ro góp phần bảo đảm ổn
định đời sống cho NLĐ và gia đình họ.
BHXH giúp NLĐ yên tâm công tác, đảm bảo cuộc sống cho họ khi gặp rủi ro
hay khi đến tuổi già và đảm bảo cho người thân của họ có một khoản thu nhập tối
thiểu. Đối với nhà nước, chi trả BHXH cho NLĐ là cách thức phải chi ít nhất nhưng
vẫn giải quyết tốt những rủi ro, khó khăn về đời sống của NLĐ và gia đình họ, góp
phần làm cho sản xuất phát triển, xã hội ổn định và an toàn.
1.2. Khái quát về chế độ bảo hiểm xã hội
1.2.1. Khái niệm pháp luật chế độ bảo hiểm xã hội
Pháp luật chế độ bảo hiểm xã hội là tập hợp các quy định của pháp luật về đối
tượng hưởng và phạm vi hưởng; về nghĩa vụ và quyền lợi, về điều kiện và mức
hưởng trên cơ sở sự đóng góp vào quỹ tài chính chung của người lao động, người sử
dụng lao động và sự hỗ trợ của Nhà nước.
Việc ban hành các chế độ BHXH phải căn cứ vào điều kiện kinh tế-xã hội của
mỗi quốc gia trong từng thời kỳ và xu hướng vận động. Chế độ BHXH được cụ thể
hoá dưới dạng các văn bản pháp luật và dưới luật, các thông tư, điều lệ, cụ thể: Luật
BHXH năm 2014; Quyết định số 636/QĐ-BHXH ban hành quy định về hồ sơ và
quy trình giải quyết hưởng các chế độ BHXH; Quyết định số 828/QĐ-BHXH ban
hành quy định quản lý chi trả các chế độ BHXH, BHTN; Quyết định số 1515/QĐBHXH sửa đổi, bổ sung một số điều của quyết định số 828/QĐ-BHXH ngày


14

27/5/2016 của BHXH Việt Nam ban hành quy định quản lý chi trả các chế độ
BHXH, BHTN; Nghị quyết số 93/2015/QH13, Về việc thực hiện chính sách hưởng
BHXH 1 lần đối với người lao động....
Trong Công ước số 102 tháng 6 năm 1952 tại Giơnevơ, tổ chức ILO khuyến
nghị rằng5: hệ thống chế độ BHXH bao gồm 9 chế độ: Chăm sóc y tế;
Trợ cấp ốm đau; Trợ cấp thất nghiệp; Trợ cấp tuổi già; Trợ cấp tai nạn lao động,
bệnh nghề nghiệp; Trợ cấp tiền tuất mất người nuôi dưỡng; Trợ cấp gia đình; Trợ
cấp sinh đẻ; Trợ cấp khi tàn phế.
Tuy nhiên, tùy theo tình hình kinh tế - xã hội của từng nước tham gia công
ước Giơnevơ thực hiện khuyến nghị đó ở mức độ khác nhau. Ở Việt Nam, Bảo
hiểm xã hội bao gồm hai hình thức: Bảo hiểm xã hội bắt buộc và bảo hiểm xã hội tự
nguyện (Luật BHXH số 58/2014/QH13).
1.2.2. Đặc điểm của pháp luật chế độ bảo hiểm xã hội
Dựa trên việc phân tích cơ sở lý luận và thực tiễn triển khai chính sách bảo
hiểm xã hội chúng ta có thể thấy pháp luật chế độ BHXH có các đặc điểm chủ yếu
sau:
(1) Đặc điểm về chủ thể: Theo Luật BHXH hiện hành thì người lao động tham
gia BHXH bắt buộc là đối tượng được hưởng các chế độ BHXH: Ốm đau; thai sản;
hưu trí; tử tuất; tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp (được quy định tại Điều 24,
Điều 30, Điều 42, Điều 53 và Điều 66 Luật BHXH năm 2014).
(2) Đặc điểm về nguồn luật:
Nguồn của pháp luật về chế độ bảo hiểm xã hội là các văn bản quy phạm pháp
luật trong đó có chứa các quy phạm pháp luật quy định về các chế độ bảo hiểm xã
hội.
Đặc điểm nguồn của pháp luật về chế độ bảo hiểm xã hội như sau:

Tổ chức Lao động Quốc tế 1952 , Công ước số 102 về các chế độ BHXH đã được Tổ chức Lao động Quốc
tế ILO thông qua ngày 28/06/1952 Quy phạm tối thiểu về an toàn xã hội.
5


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×