Tải bản đầy đủ (.docx) (12 trang)

tiểu luận kinh tế đầu tư tác động của đầu tư tới tổng cung và tổng cầu của nền kinh tế

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (133.85 KB, 12 trang )

I. TÁC ĐỘNG CỦA ĐẦU TƯ ĐẾN TỔNG CẦU VÀ TỔNG CUNG
1. Khái niệm
1.1. Đầu tư
Đầu tư nói chung là sự hy sinh các nguồn lực ở hiện tại để tiến hành các hoạt động
nào đó nhằm thu về các kết quả nhất định trong tương lai lớn hơn các nguồn lực đã bỏ ra
để đạt được các kết quả đó.
Như vậy, mục tiêu của mọi công cuộc đầu tư là đạt được các kết quả lớn hơn so với
những hy sinh về nguồn lực mà nhà đầu tư phải gánh chịu khi tiến hành đầu tư. Nguồn
lực được nói đến ở đây có thể là tiền, tài nguyên, công nghệ, nhà xưởng, sức lao động, trí
tuệ... và các mục đích hướng tới chính là sự tăng lên về tài sản tài chính (tiền vốn), tài
sản vật chất (nhà máy, đường sá, bệnh viện, máy móc...), tài sản trí tuệ (trình độ chuyên
môn, kỹ năng tay nghề, năng suất lao động, trình độ quản lý...) trong nền sản xuất xã hội.
1.2. Tổng cầu (Aggregate Demand: AD)
Tổng cầu là tổng khối lượng hàng hóa – dịch vụ mà các tác nhân trong nền kinh tế
mong muốn và có khả năng mua tương ứng với mỗi mức giá chung và mức thu nhập còn
các yếu tố kinh tế khác cho trước (hay không đổi).
AD = C+ I + G + X – IM

Trong đó:
C: tiêu dùng
I: đầu tư
G: tiêu dùng của chính phủ
X: xuất khẩu
IM: nhập khẩu

Các yếu tố trên đều là tác nhân làm dịch chuyển đường tổng cầu.

1.3. Tổng cung (Aggregate Supply: AS)
Tổng cung là tổng khối lượng hàng hóa – dịch vụ mà các tác nhân trong nền kinh tế
mong muốn và có khả năng cung cấp tương ứng với mỗi mức giá chung, mức chi phí sản
xuất và giới hạn khả năng sản xuất còn các yếu tố KT khác cho trước.




Y = f (K, L, T, R)

Trong đó:
K: Lượng vốn
L: Lượng lao động
T: Khoa học - Công nghệ
R: Nguồn tài nguyên thiên nhiên

Bởi vì ảnh hưởng của mức giá lên đường tổng cung xét trong ngắn hạn và dài hạn là
rất khác nhau, nên chúng ta sẽ sử dụng 2 đường tổng cung: đường tổng cung ngắn hạn
(SRAS – short run aggregate supply), đường tổng cung dài hạn (LRAS – long run
aggreagate supply).
2. Đầu tư tác động tới tổng cầu:
Đầu tư là một yếu tố chiếm tỷ trọng lớn trong tổng cầu của toàn bộ nền kinh tế.
Theo số liệu của Ngân hàng thế giới, đầu tư thường chiếm từ 24-28% trong cơ cấu tổng
cầu của tất cả các nước trên thế giới. Đối với tổng cầu, tác động của đầu tư thể hiện rõ
trong ngắn hạn.
PT:

AD = C+ I + G + X – IM

Vậy đầu tư tác động đến tổng cầu như thế nào? Theo quan điểm của các nhà
nghiên cứu kinh tế vĩ mô, đầu tư tác động đến tổng cầu và thể hiện rõ ràng trong ngắn
hạn. Điều đó được lý giải như sau: khi tổng cung chưa kịp thay đổi , một sự thay đổi của
đầu tư sẽ làm cho tổng cầu thay đổi ( với điều kiện các yếu tố khác không đổi). Đầu tư
giảm sẽ làm cho tổng cầu bị giảm sút do một khối lượng hàng hóa dịch vụ không còn nhu
cầu được tiêu dùng. Còn ngược lại, đầu tư quá mức làm cho tổng cầu quá cao sẽ làm cho
sẽ làm cho kinh tế tăng trưởng nóng và kéo theo việc giá cả của các yếu tố nguồn lực trở

nên đắt đỏ, từ đó đẩy mức giá chung của nền kinh tế lên,gây ra lạm phát và kéo theo
nhiều bất ổn trong nền kinh tế.
Đồ thị sau minh hoạ tác động của đầu tư tới tổng cầu khi tăng đầu tư:

2


Hình 1. Biểu đồ tác động của đầu tư tới tổng cầu
Khi đầu tư tăng lên làm nhu cầu chi tiêu, mua sắm máy móc thiết bị, xây dựng cơ sở
vật chất kĩ thuật, phương tiện giao thông vận tải,vật liệu xây dựng… cũng tăng lên. Sự
tăng lên của đầu tư làm cho tổng cầu tăng (đường cầu D dịch chuyển sang D’) kéo sản
lượng cân bằng tăng theo từ Q0 → Q1 và giá cả của các đầu vào của đầu tư tăng từ P 0 →
P1. Điểm cân bằng dịch chuyển từ E 0 sang E1. Như vậy, nhờ có sự thay đổi trong đầu tư
(xét trong điều kiện các yếu tố khác không đổi) mà nhu cầu tiêu dùng hàng hóa dịch vụ
tăng lên hay tổng cầu của nền kinh tế tăng.
Theo Keynes thì đầu tư tăng sẽ bù đắp những thiếu hụt về cầu tiêu dùng, ông đã
đưa ra nguyên lý số nhân đầu tư để phản ánh vai trò của đầu tư đối với sản lượng. Nó cho
thấy sản lượng tăng bao nhiêu khi đầu tư gia tăng một đơn vị.

Công thức tính:
Trong đó :
là mức gia tăng sản lượng
là mức gia tăng đầu tư

K=

3


K là số nhân đầu tư

Ta có thể thấy khi gia tăng đầu tư dẫn đến việc tăng cầu về các yếu tố tư liệu sản xuất (
máy móc, nhân công, vật liệu….). Kéo theo đó việc sản xuất cũng được kích thích làm
gia tăng sản lượng.
Như vậy, đầu tư một mặt tạo ra các sản phẩm mới cho nền kinh tế mặt khác nó lại
tiêu thụ và sử dụng một khối lượng lớn hàng hoá và dịch vụ trong quá trình thực hiện đầu
tư. Do vậy, xét về mặt ngắn hạn đầu tư tác động trực tiếp tới tổng cầu theo một tỉ lệ
thuận- Mỗi sự thay đổi của đầu tư đều ảnh hưởng tới ổn định của tổng cầu nền kinh tế
3. Đầu tư tác động đến tổng cung
Tổng cung của nền kinh tế gồm hai nguồn chính là cung trong nước và cung từ nước
ngoài. Trong đó, cung trong nước là một hàm gồm các yếu tố sản xuất như: vốn, lao
động, tài nguyên, công nghệ, … thể hiện qua phương trình:
Y = f (K, L, T, R)
Như vậy, khi nguồn vốn đầu tư (K) tăng lên thì sẽ trực tiếp làm tăng tổng sản lượng
hay tổng cung của nền kinh tế (với điều kiện các yếu tố khác không đổi). Tương tự, thông
qua các hoạt động đầu tư còn làm nâng cao chất lượng nguồn nhân lực (L), tạo công ăn
việc làm giúp giảm tình trạng thất nghiệp, tăng tỉ lệ người lao động,… hay những hoạt
động đầu tư từ nước ngoài đi kèm chuyển giao công nghệ còn giúp đổi mới khoa học
công nghệ của quốc gia nhận vốn đầu tư (T). Do đó, đầu tư lại gián tiếp làm tăng tổng
cung của nền kinh tế.

4


Hình 2. Tác động của đầu tư tới tổng cung
Chi tiết hơn, ta có thể thấy: khi đầu tư có kết quả, các năng lực mới đi vào hoạt động
thì tổng cung ngắn hạn sẽ tăng lên (đường S dịch chuyển sang S’), kéo theo sản lượng
tăng từ Q1  Q2 và do đó giá cả sản phẩm đi từ P 1  P2 (Hình 2). Sản lượng tăng, giá cả
giảm cho phép tăng tiêu dùng. Tăng tiêu dùng lại kích thích sản xuất hơn nữa. Sự gia
tăng sản xuất thúc đẩy gia tăng tổng cung ngắn hạn và trở thành nền tảng để làm tăng
tổng cung dài hạn (Colander, 2008).

Theo Keynes, đầu tư được xem xét dưới góc độ tổng cung, nghĩa là với mỗi sự thay
đổi của sản lượng thì cần thay đổi đầu tư như thế nào. Khi các nhân tố khác không đổi,
những doanh nghiệp sản xuất hoặc mong muốn sản xuất sản lượng lớn thì cần có tư bản
cao hơn. Mô hình gia tốc giả thiết rằng lượng vốn tư bản mong muốn là bội số của mức
sản lượng (Keynes, 1936):

K = αY với α > 0

Trong đó: K: Vốn đầu tư tại thời điểm nghiên cứu
Y: Sản lượng tại thời kì nghiên cứu
α: Hệ số gia tốc đầu tư

5


Nếu α không thay đổi thì nhu cầu vốn đầu tư tăng dẫn đến quy mô sản lượng sản xuất
tăng.
4. Đầu tư tác động đến cả tổng cung và tổng cầu
Đầu tư có độ trễ nhất định do đây là việc hy sinh nguồn lực ở hiện tại để thu về được
kết quả trong tương lai, điều này được thể hiện như sau ( các quy ước được về giá và sản
lượng được sử dụng tương ứng với mô hình 1 và mô hình 2):

Hình 3. Tác động của đầu tư tới mô hình cung- cầu
Khi tăng đầu tư ở tiêu dùng, làm tăng tổng cầu (đường cầu sẽ dịch chuyển sang phải
từ D → D’), mà tổng cung chưa kịp phản ứng sẽ làm sản lượng tăng từ Q 0 → Q1, giá tăng
từ P0 → P1, điểm cân bằng là E1. Tại mỗi mức giá, lượng cầu tăng thì lượng cung cũng
tăng theo, làm đường cung dịch chuyển sang phải từ S → S’, sản lượng tăng từ Q1 → Q2,
giá giảm từ P1 → P2 . Điểm cân bằng dịch chuyển từ E 1 → E2. Tại E2 thì mức sản lượng
Q2 lớn hơn và mức giá P2 nhỏ hơn so với điểm cân bằng E0. Như vậy, đầu tư đã vừa làm
tăng nhu cầu tiêu dùng hàng hóa vừa kích thích sản xuất làm tăng tích lũy tư bản.

Có thể thấy tác động của đầu tư đến tổng cung và tổng cầu của nền kinh tế là rất lớn,
đây là một trong các yếu tố quan trọng trong các biến động kinh tế nên mỗi Nhà nước cần

6


xem xét một cách lỹ lưỡng trước mỗi chính sách để sử dụng đầu tư hiệu quả trong việc
phát triển kinh tế.
II. TÁC ĐỘNG CỦA ĐẦU TƯ ĐẾN TỔNG CUNG VÀ TỔNG CẦU TẠI
VIỆT NAM
1 Tóm tắt mối quan hệ của đầu tư đến tổng cung và tổng cầu
Đối với tổng cầu, tăng đầu tư làm tăng lượng cầu tại mỗi mức giá hay làm tăng tổng sản
lượng của nền kinh tế.
Đối với tổng cung, ta xét trong ngắn hạn và dài hạn.
-

Trong ngắn hạn, đường tổng cung dốc lên từ trái qua phải, sự tăng lên của đầu tư

-

đều làm dịch chuyển đường tổng cung sang phải làm tăng sản lượng và ngược lại.
Trong dài hạn đường tổng cung thẳng đứng. Khi đó giá cả linh hoạt, giá của đầu
vào tăng bao nhiêu đơn vị thì giá bán ra sẽ tăng bấy nhiêu đơn vị. Do vậy đường
tổng cung dài hạn chỉ phụ thuộc vào năng lực sản xuất, tức là chỉ cần tác động
tăng làm đường tổng cung dịch chuyển sang phải thì sản lượng sẽ tăng và ngược
lại.

Như vậy, đánh giá tác động của đầu tư đến tổng cung và tổng cầu chính là nghiên cứu
tác động của đầu tư đến tổng sản lượng của nền kinh tế.


Nhắc đến thước đo tổng sản lượng, có một chỉ số được sử dụng đó là GDP. GDP
(Gross Domestic Product) – Tổng sản phẩm quốc nội là giá trị tiền tệ của tất cả các loại
hàng hóa, dịch vụ cuối cùng được sản xuất trong một quốc gia trong một khoảng thời
gian nhất định. Nói một cách đơn giản, GDP là thước đo của hoạt động kinh tế tổng thể
của một quốc gia.

Ta có công thức tính GDP:
7


GDP = C + G + I + NX

Trong đó: C: Tiêu dùng cá nhân
G: Chi tiêu chính phủ
I: Đầu tư
NX: Xuất khẩu ròng

Từ đó ta có thể thấy, tổng cầu được đo bằng GDP tại mỗi mức giá khác nhau, về mặt
định lượng thì tổng cầu và GDP là giống nhau, đều thể hiện tổng sản lượng mà nền kinh
tế đã sản xuất ra và tiêu thụ.
5. Thực trạng đầu tư tác động đến tổng cung và tổng cầu ở Việt Nam
Chúng ta sẽ nghiên cứu sự thay đổi của GDP và tổng vốn đầu tư ở Việt Nam trong
giai đoạn 1995-2013 để thấy rõ tác động của đầu tư đến sản lượng của nền kinh tế.
Hình 4.Biểu đồ so sánh I và GDP

Nguồn số liệu: World Bank
Tổng vốn đầu tư năm 2013 là 49170.8 triệu USD, tăng khoảng 15.11 lần so với năm
1995. Tổng sản phẩm quốc nội năm 2013 là 171222 triệu USD, tăng 8.26 lần so với năm
1995. Như vậy ta thấy, từ năm 1995 đến 2013 tổng vốn đầu tư I và tổng sản phẩm quốc
Tỷ trọng của đầu tư tăng đồng thời qua các

nội GDP có xu hướng
trong GDP (%)
năm. Qua đó, ta có thể kết Năm
luận rằng đầu tư tăng làm
1995
15.70
cho tổng sản phẩm quốc 1996
nội tăng.
15.90
1997
18.14
1998
19.34
1999
20.54
2000
20.19
2001
21.70
2002
23.69
2004
26.44
2005
26.75
2006
27.39
2007
30.88
2008

27.95
2009
30.04
2010
32.17 8
2011
30.64
2012
29.12
2013
28.72


Nhận thấy được tầm quan trọng của đầu tư nên nước ta ngày càng chú trọng hơn vào
việc đầu tư phát triển kinh tế. Điều đó được thể hiện qua tỷ trọng đầu tư trong GDP ở
trong bảng sau:
Hình 5. Biểu đồ tỷ trọng đầu tư trong GDP

Nguồn số liệu: Tổng cục thống kê Việt Nam
Trong cả giai đoạn ta thấy tỷ lệ vốn đầu tư trong GDP đã tăng đáng kể, gần 2 lần.
Điều này cho thấy vai trò ngày càng quan trọng của đầu tư góp phần làm tăng tổng cầu và
là một tác nhân giúp nền kinh tế phát triển.

9


Tuy nhiên, các bạn nhìn vào biểu đồ sẽ thắc mắc về sự đi xuống của tỉ trọng đầu tư
trong GDP năm 2008, 2009, điều này được lí giải như sau:
Năm 2008, trước bối cảnh khủng hoảng tài chính toàn cầu tiếp tục trầm trọng, kinh tế
Việt Nam đã có những dấu hiệu suy giảm. Đối với vón đầu tư của nước ngoài, với tình

hình khủng hoảng chi phí vốn trở nên đắt dỏ hơn và thị trường xuất khẩu có khả năng bị
thu hẹp nên dòng vốn chảy vào Việt Nam bị giảm sút là không tránh khỏi. Thêm vào đó,
với hầu hết các dự án đầu tư nói chung và FDI nói riêng, phần vốn vay thường chiếm tỉ
trọng lớn trong tổng số vốn đầu tư, nên khi các tổ chức tài chính, các ngân hang gặp khó
khăn, nhiều hợp đồng vay vốn sẽ không được kí kết hoặc không thể giải ngân được. Vì
vậy năm 2008, tỉ trọng của đầu tư trong GDP đã giảm so với năm 2007. Tuy nhiên với
các giải pháp cấp bách nhằm ngăn chặn suy giảm kinh tế duy trì tang trưởng, bảo đảm an
sinh xã hội, nền kinh tế đã dần hồi phục trong năm 2009 và tiếp tục tăng trong các năm
tiếp theo.

10


KẾT LUẬN
Từ trước đến nay khi nói đến đầu tư, không một nhà kinh tế học nào cũng không một
lý thuyết kinh tế nào phủ nhận vai trò to lớn của đầu tư tới nền kinh tế. Có thể nói đầu tư
là cốt lõi, là động lực cho sự phát triển của nền kinh tế nước nhà mà cụ thể là tác động
trực tiếp tới tổng cung và tổng cầu.
Đầu tư là một yếu tố quan trọng trong cấu thành tổng cầu. Bởi vì đầu tư một mặt tạo
ra sản phẩm mới cho nền kinh tế, mặt khác nó lại tiêu thụ và sử dụng một khối lượng lớn
hàng hoá và dịch vụ trong quá trình thực hiện đầu tư. Trong ngắn hạn, đầu tư tác động tới
tổng cầu theo tỷ lệ thuận - Mỗi sự thay đổi của đầu tư đều thay đổi sự ổn định tổng cầu
của nền kinh tế.
Đối với tổng cung, khi thực hiện đầu tư đòi hỏi một lượng vốn lớn, các nguồn lực
khác, tạo ra thành quả mà một thời gian dài mới có thể phát huy tác dụng. Khi các thành
quả được phát huy, sản lượng nền kinh tế tăng lên. Như vậy, đầu tư làm cho đường tổng
cung dài hạn tăng lên.

11



DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Giáo trình kinh tế đầu tư – PGS.TS Vũ Thị Kim Oanh – Trường Đại học Ngoại

Thương
2. Giáo trình nguyên lý kinh tế vĩ mô – Trường Đại học Kinh tế quốc dân
3. Thư viện tài liệu mở Việt Nam - https://voer.edu.vn/
4.

12



Xem Thêm

×