Tải bản đầy đủ

Tranh chấp về sở hữu trí tuệ liên quan đến nhãn hiệu trong lĩnh vực du lịch tại việt nam

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
---------***---------

LUẬN VĂN THẠC SĨ

TRANH CHẤP VỀ SỞ HỮU TRÍ TUỆ LIÊN QUAN ĐẾN
NHÃN HIỆU TRONG LĨNH VỰC DU LỊCH TẠI VIỆT
NAM

Chuyên ngành: Luật Kinh tế

LƯƠNG THỊ HÀ THANH

Hà Nội - 2020


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
---------***---------


LUẬN VĂN THẠC SĨ

TRANH CHẤP VỀ SỞ HỮU TRÍ TUỆ LIÊN QUAN ĐẾN
NHÃN HIỆU TRONG LĨNH VỰC DU LỊCH TẠI VIỆT
NAM

Ngành: Luật
Chuyên ngành: Luật Kinh tế
Mã số: 60380107

Họ và tên học viên: Lương Thị Hà Thanh
Người hướng dẫn: PGS. TS Hồ Thúy Ngọc

Hà Nội - 2020


i

LỜI CAM ĐOAN

Tôi tên là Lương Thị Hà Thanh, học viên lớp cao học khóa 25 của Trường Đại
học Ngoại Thương, chuyên ngành Luật Kinh tế, mã số 60380107 với đề tài luận văn
thạc sĩ: “Tranh chấp về sở hữu trí tuệ liên quan đến nhãn hiệu trong lĩnh vực du
lịch tại Việt Nam ”, xin cam đoan:
- Luận văn thạc sĩ này là công trình nghiên cứu khoa học độc lập của tôi, được
thực hiện dưới sự hướng dẫn của PGS. TS Hồ Thúy Ngọc.
- Các thông tin, số liệu được sử dụng trong đề tài được thu thập, tổng hợp từ
những nguồn đáng tin cậy, được trích dẫn đầy đủ và đúng quy định.
- Nội dung nghiên cứu của luận văn chưa từng được công bố.
Hà Nội, ngày

tháng năm 2020

Người cam đoan

Lương Thị Hà Thanh


ii


LỜI CẢM ƠN

Để có thể hoàn thành đề tài luận văn thạc sĩ một cách hoàn chỉnh, bên cạnh sự nỗ
lực cố gắng của bản thân còn có sự hướng dẫn tận tình của quý Thầy Cô, cũng như sự
động viên ủng hộ của gia đình và bạn bè trong suốt thời gian học tập nghiên cứu và
thực hiện luận văn thạc sĩ.
Trong quá trình học tập và tìm hiểu để thực hiện để tài này, tác giả đã nhận được
rất sự giúp đỡ vô cùng quý báu. Tác giả xin được gửi lời cảm ơn chân thành tới quý
thầy cô giáo trường Đại học Ngoại Thương đã tận tình giảng dạy và chỉ bảo trong suốt
thời gian học tập tại trường. Đặc biệt, tác giả xin tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới PGS, TS
Hồ Thúy Ngọc, người đã trực tiếp hướng dẫn, gợi ý, phân tích và giúp đỡ tác giả có
thể hoàn thành đề tài này một cách tốt nhất. Cuối cùng, tôi xin chân thành cảm ơn đến
gia đình, các anh chị và các bạn đồng nghiệp đã hỗ trợ cho tôi rất nhiều trong suốt quá
trình học tập, nghiên cứu và thực hiện đề tài luận văn thạc sĩ một cách hoàn chỉnh.
Dù tác giả đã có nhiều cố gắng nhưng không thể tránh khỏi những hạn chế, thiếu
sót; tác giả rất mong nhận được những ý kiến đóng góp của Quý thầy cô, các bạn học
viên và những người quan tâm để luận văn được hoàn thiện hơn.

Học viên thực hiện Luận văn

Lương Thị Hà Thanh


iii
MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN........................................................................................................... i
LỜI CẢM ƠN............................................................................................................... ii
MỤC LỤC.................................................................................................................... iii
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT............................................................................... v
PHẦN MỞ ĐẦU........................................................................................................... 1
CHƯƠNG 1. KHÁI QUÁT CHUNG VỀ TRANH CHẤP SỞ HỮU TRÍ TUỆ LIÊN
QUAN ĐẾN NHÃN HIỆU TRONG LĨNH VỰC DU LỊCH........................................ 7
1.1. Khái quát chung về nhãn hiệu................................................................................. 7
1.1.1. Khái niệm nhãn hiệu............................................................................................ 7
1.1.2. Phân loại nhãn hiệu.............................................................................................. 8
1.1.3. Điều kiện bảo hộ nhãn hiệu................................................................................. 8
1.1.4. Căn cứ xác lập quyền và thời hạn bảo hộ nhãn hiệu.......................................... 11
1.2. Bảo vệ quyền SHCN đối với nhãn hiệu................................................................ 14
1.2.1. Quyền SHCN đối với nhãn hiệu........................................................................ 14
1.2.2. Các biện pháp bảo vệ quyền SHTT đối với nhãn hiệu....................................... 15
1.3. Khái quát về tranh chấp nhãn hiệu trong lĩnh vực du lịch..................................... 19
1.3.1. Khái niệm tranh chấp nhãn hiệu........................................................................ 19
1.3.2. Phân loại tranh chấp.......................................................................................... 21
1.3.3. Chủ thể trong tranh chấp.................................................................................... 21
1.3.4. Đối tượng của tranh chấp................................................................................... 22
1.3.5. Phương thức giải quyết tranh chấp.................................................................... 23
CHƯƠNG 2. THỰC TRẠNG VỀ TRANH CHẤP VÀ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP
SỞ HỮU TRÍ TUỆ LIÊN QUAN ĐẾN NHÃN HIỆU................................................ 37
TRONG DU LỊCH...................................................................................................... 37
2.1.Các quy định pháp luật hiện hành về tranh chấp và giải quyết tranh chấp nhãn hiệu
trong du lịch................................................................................................................ 37
2.1.1. Quy định về tranh chấp nhãn hiệu trong du lịch................................................ 37
2.1.2. Các biện pháp giải quyết tranh chấp nhãn hiệu trong du lịch............................40
2.1.3. Thẩm quyền và trình tự giải quyết tranh chấp nhãn hiệu trong du lịch..............44


iv
2.2. Nghiên cứu tranh chấp điển hình về SHTT liên quan đến nhãn hiệu trong du lịch
giữa hai doanh nghiệp................................................................................................. 51
2.2.1 Tranh chấp nhãn hiệu giữa các công ty du lịch giải quyết bằng biện pháp hành
chính............................................................................................................................ 51
2.2.2 Tranh chấp nhãn hiệu giữa các doanh nghiệp du lịch giải quyết tại Tòa án........56
2.3. Đánh giá thực trạng tranh chấp và giải quyết tranh chấp nhãn hiệu trong du lịch . 59

2.3.1 Mặt tích cực........................................................................................................ 59
2.3.2 Những mặt hạn chế............................................................................................. 61
2.3.3 Nguyên nhân của các hạn chế............................................................................. 65
CHƯƠNG 3. CÁC GIẢI PHÁP NHẰM HOÀN THIỆN VIỆC GIẢI QUYẾT TRANH
CHẤP NHÃN HIỆU TRONG DU LỊCH.................................................................... 70
3.1. Định hướng nhằm hoàn thiện việc giải quyết tranh chấp nhãn hiệu trong du lịch 70

3.1.1. Xây dựng đầy đủ, thống nhất chế định pháp luật liên quan...............................70
3.1.2. Đảm bảo hoạt động quản lý nhà nước chặt chẽ, thống nhất............................... 71
3.1.3. Tăng cường nhận thức pháp luật cho doanh nghiệp du lịch...............................71
3.2. Các giải pháp nhằm hoàn thiện việc giải quyết tranh chấp nhãn hiệu trong du lịch
72
3.2.1. Giải pháp về pháp luật....................................................................................... 72
3.2.2. Giải pháp nâng cao nhận thức về SHTT với nhãn hiệu của doanh nghiệp du lịch
78
3.2.3. Giải pháp nâng cao hiệu quả công tác giải quyết tranh chấp.............................80
3.3. Một số kiến nghị................................................................................................... 86
KẾT LUẬN................................................................................................................. 89
TÀI LIỆU THAM KHẢO........................................................................................... vii


v
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

1.

SHCN: Sở hữu công nghiệp

2.

SHTT: Sở hữu trí tuệ

3.

TAND: Tòa án nhân dân

4.

TANDTC: Tòa án nhân dân tối cao


1
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Trong điều kiện phát triển kinh tế thị trường thì quyền sở hữu trí tuệ đóng vai trò
quan trọng, là một nhân tố tác động đến sự phát triển kinh tế xã hội. Tài sản trí tuệ là
đòn bẩy thúc đẩy đổi mới công nghệ, nâng cao chất lượng sản phẩm. nâng cao năng
lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Trong đó, nhãn hiệu là một trong những đối tượng
của quyền sở hữu trí tuệ, nhãn hiệu đã và đang đóng góp vai trò hết sức quan trọng đối
với sự phát triển của kinh tế - xã hội đất nước. Đối với doanh nghiệp, nhãn hiệu là
thành tố tạo nên thương hiệu của hàng hóa, dịch vụ. Đối với người tiêu dùng, nhãn
hiệu là cơ sở để phân biệt giúp người tiêu dùng lựa chọn hàng hóa, dịch vụ. Cũng
chính vì vậy mà nhãn hiệu là một loại tài sản dễ bị xâm phạm nhất hiện nay.
Trong ngành du lịch, sau khi Luật Du lịch 2017 có hiệu lực, điều kiện kinh doanh
dịch vụ lữ hành được đơn giản hóa, số lượng doanh nghiệp kinh doanh du lịch tăng
nhanh dẫn đến nhu cầu cạnh tranh gay gắt trên thị trường. Sự cạnh tranh này sẽ đào
thải những doanh nghiệp không phù hợp và không đáp ứng được nhu cầu hay đòi hỏi
của nền kinh tế. Để tồn tại được trong hoàn cảnh đó, không ít các doanh nghiệp lợi
dụng uy tín, danh tiếng của sản phẩm hay dịch vụ của doanh nghiệp khác để đưa ra thị
trường các sản phẩm, dịch vụ kém chất lượng và lừa dối người tiêu dùng. Điều này
không chỉ làm giảm lợi nhuận mà còn làm phương hại đến danh tiếng và hình ảnh
doanh nghiệp có nhãn hiệu, ảnh hưởng đến quyền lợi của người tiêu dùng. Do đó, các
tranh chấp về sở hữu trí tuệ trong du lịch, đặc biệt là về nhãn hiệu, xuất hiện ngày càng
trở nên phổ biến và phức tạp.
Tuy nhiên, biện pháp giải quyết tranh chấp về nhãn hiệu trong du lịch chưa thực
sự phát huy hiệu quả do Luật Sở hữu trí tuệ đã ban hành khá lâu, đến nay đã bộc lộ
nhiều bất cập cần được điều chỉnh, cập nhật cho phù hợp hơn. Các biện pháp giải
quyết tranh chấp cũng thiếu tính thống nhất, đồng bộ và tính khả thi thấp.
Nhận thức được tầm quan trọng của việc phòng chống các hành vi xâm phạm
quyền sở hữu công nghiệp, tôi đã lựa chọn đề tài: “Tranh chấp về sở hữu trí tuệ liên
quan đến nhãn hiệu trong lĩnh vực Du lịch tại Việt Nam” làm đề tài luận văn tốt


2
nghiệp, qua đó, phân tích thực trạng xử lý các tranh chấp về sở hữu trí tuệ liên quan
đến nhãn hiệu trong lĩnh vực Du lịch ở nước ta hiện nay đồng thời đề xuất một số giải
pháp nhằm xử lý các tranh chấp một cách hiệu quả, từ đó bảo vệ tốt hơn quyền lợi của
chủ sở hữu nhãn hiệu, lợi ích của người tiêu dùng.
2. Tổng quan tình hình nghiên cứu
2.1. Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài
Có rất nhiều công trình nghiên cứu nước ngoài liên quan đến sở hữu trí tuệ cũng
như bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu. Các công trình nghiên cứu đã
đi sâu vào phân tích các quy định pháp luật tại các quốc gia cũng như các hiệp ước
quốc tế song phương và đa phương, phân tích tác động của việc áp dụng quy định pháp
luật về sở hữu trí tuệ đối với ngành kinh tế, cả trong phạm vi vĩ mô và vi mô cũng như
phân tích một số case cụ thể. Có thể kể đến một số công trình nghiên cứu tiêu biểu
như: Effects of the European Union trademark: Lessons for the harmonization of
intellectual property systems, B Herz, M Mejer, 2019 nghiên cứu về tác động của việc
hình thành Liên minh nhãn hiệu Châu Âu đến việc gia nhập thị trường và sáng tạo của
các công ty, đặc biệt là công ty nhỏ; Patent, copyright & trademark: an intellectual
property desk reference, R Stim, 2017 là cuốn sách giới thiệu chung về luật sở hữu trí
tuệ như các đối tượng được bảo hộ, điều kiện bảo hộ,…; Intellectual property and
trademark legal framework in BRICS countries: A comparative study, AB Deorsola,
MCMR Leal, MD Cavalcante, 2017 nghiên cứu về hệ thống bảo vệ nhãn hiệu của các
quốc gia trong nhóm BRICS thông qua việc so sánh hệ thống quy định bảo vệ nhãn
hiệu của các quốc gia trong nhóm này; China and intellectual property rights: A
challenge to the rule of law, JA Brander, V Cui, I Vertinsky - Journal of International
Business Studies, 2017 nghiên cứu thực trạng thực thi các quy định quốc tế về bảo vệ
quyền sở hữu trí tuệ tại Trung Quốc hiện nay; The Limitations of Trademark Law in
addressing domain name disputes, 45 UCLA Law Rev. 1487 (1997-1998) nghiên cứu
về hạn chế của Luật liên quan đến nhãn hiệu trong việc giải quyết các tranh chấp về
tên miền tại Mỹ; The World's Trademark Powerhouse: A Critique of China's New
Trademark Law, XT Nguyen - Seattle UL Rev., 2016 – HeinOnline phân tích và đưa ra
các hạn chế liên quan đến các quy định


3
pháp luật về nhãn hiệu tại Trung Quốc; Internet Domain Name and Trademark dispute:
Shifting Paradigms in intellectual property, 43 Ariz. Law Rev. 465 (2001) nghiên cứu
về các tranh chấp nhãn hiệu khi Internet bùng nổ, từ đó thay đổi mô hình trong lĩnh
vực sở hữu trí tuệ,…
2.2. Tình hình nghiên cứu trong nước
Tương tự với tình hình nghiên cứu nước ngoài, tại Việt Nam, liên quan đến việc
nghiên cứu các quy định pháp luật về việc bảo hộ của nhãn hiệu đã có nhiều đề tài
nghiên cứu như: Bảo hộ nhãn hiệu hàng hóa nổi tiếng theo pháp luật Việt Nam và so
sánh với pháp luật Châu Âu và Việt Nam, Luận án tiến sĩ, Phan Ngọc Tâm, 2011; Hết
quyền đối với nhãn hiệu và những đề xuất nhằm hoàn thiện pháp luật nhãn hiệu của
Việt Nam, Luận án tiến sĩ, Nguyễn Như Quỳnh, 2010; Các phương thức giải quyết
tranh chấp kinh tế hiện nay ở nước ta và xu thế lựa chọn, TS. Dương Thị Thanh Mai,
Đề tài nghiên cứu của Bộ Tư pháp, 1997, Pháp luật về sở hữu trí tuệ - Thực trạng và
xu hướng phát triển trong những năm đầu của thế kỷ XXI,PGS.TS. Lê Hồng Hạnh, Đề
tài nghiên cứu của Bộ Tư pháp, 2002, Hoàn thiện pháp luật về xử lý hành vi xâm phạm
quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu ở Việt Nam, Luận án tiến sĩ, Hà Thị
Nguyệt Thu, 2017…cũng như các bài viết nghiên cứu khác trên báo và các tạp chí
chuyên ngành như Thi hành án dân sự về tài sản trí tuệ, Nguyễn Vân Anh, Tạp chí Nhà
nước và pháp luật, số 3, 2016; Bảo hộ nhãn hiệu và chỉ dẫn địa lý theo quy định của
Hiệp định đối tác xuyên Thái bình dương, Vũ Thị Hải Yến, Tạp chí Nhà nước và pháp
luật, số 2, 2016; Mối quan hệ giữa pháp luật bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ và pháp luật
cạnh tranh trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, Đặng Vũ Huân, Tạp chí Nhà nước
và pháp luật, số 8, 2003; Mô hình pháp luật sở hữu trí tuệ các nước và gợi mở đối với
Việt Nam, Tạp chí Nhà nước và pháp luật, số 3 năm 2014; Hỗ trợ doanh nghiệp tránh
xâm phạm nhãn hiệu, Nguyễn Thu Phương, Tạp chí Khoa học & Phát triển, 2014,
Phân loại nhãn hiệu theo hình thức của nhãn hiệu, Nguyễn Thị Quế Anh, Tạp chí Khoa
học ĐHQGHN, Luật học 26 (2010) 99-107, Hành vi xâm phậm quyền đối với nhãn
hiệu, Nguyễn Ngọc Hồng Phượng, Nguyễn Phương Thảo, Tạp chí Khoa học pháp lý
số 6/2016,…


4
Có thể thấy, các đề tài cũng như bài viết trước đó đã nghiên cứu cụ thể về pháp
luật điều chỉnh về sở hữu trí tuệ liên quan đến nhãn hiệu, so sánh giữa nhãn hiệu với
các hình thức sở hữu công nghiệp khác cũng như so sánh luật pháp về sở hữu trí tuệ
giữa các quốc gia. Tuy nhiên, số lượng các công trình nghiên cứu cụ thể về bảo hộ
quyền sở hữu công nghiệp trong từng ngành cụ thể, cũng như về giải quyết tranh chấp
liên quan đến bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp còn khá ít. Về vấn đề sở hữu trí tuệ
liên quan đến nhãn hiệu trong du lịch cũng như về các tranh chấp trong lĩnh vực này
mà chủ yếu là các Hội thảo được tổ chức với chủ đề sở hữu trí tuệ trong du lịch như
Hội thảo khoa học quốc tế “Khai thác tài sản trí tuệ địa phương trong phát triển du
lịch” tổ chức tại Trường Đại học Ngoại thương vào năm 2014, Hội thảo "Sở hữu trí tuệ
với văn hóa, thể thao và du lịch" tại Trung tâm Hành chính TP. Đà Nẵng do Sở Khoa
học và Công nghệ TP. Đà Nẵng tổ chức ngày 24/04/2019….
Sự phát triển mạnh của du lịch trong những năm gần đây khiến các tranh chấp
xảy ra liên quan đến bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp về nhãn hiệu giữa hai công ty
xảy ra ngày càng nhiều với tính phức tạp cao. Do đó, tác giả đã lựa chọn đề tài “Tranh
chấp về sở hữu trí tuệ liên quan đến nhãn hiệu trong lĩnh vực Du lịch tại Việt Nam” là
vấn đề nghiên cứu của luận văn. Đây là vấn đề độc lập, không trùng lặp với các đề tài
trên. Trong quá trình nghiên cứu, tác giả luôn có ý thức kế thừa, học hỏi những kết quả
mà các công trình khoa học, luận án, luận văn, các bài viết đã đạt được cũng như các
kinh nghiệm thực tiễn có liên quan đến đề tài.
3. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu trong luận văn này bao gồm:
- Các quy định của pháp luật về nhãn hiệu, bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đối
với nhãn hiệu theo pháp luật Sở hữu trí tuệ Việt Nam và các luật liên quan
- Tranh chấp giữa 2 doanh nghiệpliên quan đến quyền sở hữu công nghiệp đối
với nhãn hiệu
- Thực trạng giải quyết tranh chấp về sở hữu trí tuệ liên quan đến nhãn hiệu trong
du lịch
4.

Mục đích nghiên cứu


5
Mục đích nghiên cứu của luận văn là đưa ra các định hướng, đề xuất và kiến nghị
nhằm hoàn thiện việc giải quyết tranh chấp nhãn hiệu trong du lịch. Để đạt được mục
đích này, luận văn có các mục tiêu sau: (1) Làm sáng tỏ vấn đề về mặt lý luận và cơ sở
pháp lý liên quan đến quyền sở hữu công nghiệp với nhãn hiệu và phương pháp giải
quyết tranh chấp liên quan đến nhãn hiệu, (2) Nghiên cứu thực trạng về tranh chấp và
tranh chấp nhãn hiệu trong du lịch, từ đó tìm ra mặt tích cực, mặt hạn chế và các
nguyên nhân của hạn chế.
5. Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình thực hiện luận văn, tác giả sử dụng các phương pháp chính như
sau:
- Phương pháp hệ thống hóa: áp dụng ở chương I, hệ thống lại các khái niệm,
định nghĩa cũng như các quy định pháp luật liên quan đến vẫn đề nghiên cứu
- Phương pháp phân tích và tổng hợp: áp dụng ở Chương II và III, sử dụng hệ
thống lý luận và quy định pháp luật về nhãn hiệu, bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp
đối với nhãn hiệu cũng như tranh chấp trong sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu,…
được trình bày ở chương I để tìm hiểu, nghiên cứu, phân tích các quy định hiện hành
về tranh chấp trong sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu trong lĩnh vực du lịch cũng
như thực hiện áp dụng pháp luật, từ đó rút ra các đề xuất phù hợp nhằm hoàn thiện
việc giải quyết tranh chấp.
- Phương pháp kết hợp lý luận và thực tiễn: áp dụng xuyên suốt luận văn, kết hợp
phân tích lý luận cũng như quy định hiện hành về nhãn hiệu, bảo hộ quyền sở hữu
công nghiệp đối với nhãn hiệu cũng như tranh chấp trong sở hữu công nghiệp đối với
nhãn hiệu,… ở Chương I, kết hợp với việc phân tích thực tiễn giải quyết tranh chấp về
sở hữu trí tuệ liên quan đến nhãn hiệu trong du lịch thông qua một số vụ việc cụ thể ở
Chương II, từ đó đưa ra những kiến nghị để hoàn thiện pháp luật cũng như để giải
quyết các tranh chấp một cách hiệu quả tại Chương III của luận văn này.
6. Phạm vi nghiên cứu
Về không gian, nội dung nghiên cứu tập trung giới hạn trong lãnh thổ Việt Nam:
các quy định pháp luật hiện hành của Việt Nam, Điều ước Quốc tế mà Việt Nam là


6
thành viên, các vụ việc tranh chấp về bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn
hiệu trên lãnh thổ Việt Nam giữa 2 doanh nghiệp du lịch tại Việt Nam
Về thời gian, khi nghiên cứu về bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp về nhãn hiệu,
tác giả chủ yếu tập trung nghiên cứu từ khi Luật sở hữu trí tuệ Việt Nam 2005 có hiệu
lực thi hành đến nay. Các vụ tranh chấp cụ thể mà tác giả đưa ra để làm dẫn chứng
cũng như phân tích trong luận văn cũng trong những năm gần đây (2014, 2015, 2018).
6. Kết cấu luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo, nội dung nghiên cứu
đề tài gồm 03 chương, được triển khai theo kết cấu như sau:
Chương 1: Khái quát chung về tranh chấp về sở hữu trí tuệ liên quan đến nhãn
hiệu trong lĩnh vực du lịch
Chương 2: Thực trạng về tranh chấp và giải quyết tranh chấp sở hữu trí tuệ liên
quan đến nhãn hiệu trong du lịch
Chương 3: Các giải pháp nhằm hoàn thiện việc giải quyết tranh chấp nhãn hiệu
trong du lịch


7

CHƯƠNG 1. KHÁI QUÁT CHUNG VỀ TRANH CHẤP SỞ HỮU TRÍ TUỆ
LIÊN QUAN ĐẾN NHÃN HIỆU TRONG LĨNH VỰC DU LỊCH
1.1. Khái quát chung về nhãn hiệu
1.1.1. Khái niệm nhãn hiệu
Hiệp định về các khía cạnh thương mại của quyền SHTT (Hiệp định TRIPs). Tại
khoản 1, Điều 15 Hiệp định TRIPs đưa ra khái niệm về nhãn hiệu như sau:
“Bất kỳ một dấu hiệu hoặc một tổ hợp nào có khả năng phân biệt hàng hóa, dịch
vụ của một doanh nghiệp khác đều có thể làm nhãn hiệu hàng hóa. Các dấu hiệu đó,
đặc biệt là các từ, kể cả tên riêng, chữ cái, chữ số, các yếu tố hình họa và tổ hợp các
màu sắc bất kỳ của các dấu hiệu đó, phải có khả năng được đăng ký nhãn hiệu. Trong
trường hợp bản thân các dấu hiệu không có khả năng phân biệt hàng hóa hoặc dịch vụ
tương ứng các thành viên rằng điều kiện để được khả năng đăng ký phụ thuộc vào tính
phân biệt đạt được thông qua sửdụng. Các thành viên có thể quy định rằng điều kiện
để được đăng ký dấu hiệu phải là dấu hiệu nhìn thấy được.”
Theo định nghĩa của tổ chức SHTT thế giới (WIPO): “Nhãn hiệu (trademark) là
một dấu hiệu dùng để xác định hàng hoá của một doanh nghiệp và phân biệt với hàng
hoá của một doanh nghiệp khác”.
Dựa trên tinh thần của các ĐƯQT đã ký kết, Việt Nam cũng đã cụ thể hóa khái
niệm nhãn hiệu vào trong Luật SHTT – luật chuyên ngành của Việt Nam về SHTT.
Khoản 16, Điều 4 Luật SHTT 2005, sửa đổi bổ sung năm 2009 quy định: “Nhãn hiệu
là dấu hiệu dùng để phân biệt hàng hóa, dịch vụ của các tổ chức, cá nhân khác nhau.”
Từ các khái niệm nhãn hiệu được đưa ra, có thể kết luận nhãn hiệu là một dấu
hiệu hoặc tổ hợp các dấu hiệu. Các dấu hiệu đó có thể là các từ, kể cả tên riêng, chữ
cái, chữ số, các yếu tố hình họa và tổ hợp các màu sắc bất kỳ của các dấu hiệu đó. Dấu
hiệu dùng làm nhãn hiệu phải là những dấu hiệu nhìn thấy được. Bên cạnh đó, dấu
hiệu đó phải có khả năng phân biệt hàng hoá hoặc dịch vụ của một doanh nghiệp này
với hàng hoá hoặc dịch vụcủa một doanh nghiệp khác. Như vậy, bất kỳdấu hiệu nào có
khả năng phân biệt hàng hoá, dịch vụ của các chủ thể khác nhau không thuộc các
trường hợp bịtừ chối đăng ký đều có thể trở thành nhãn hiệu.


8

1.1.2. Phân loại nhãn hiệu
Theo quy định của Luật SHTT, có thể chia ra các loại nhãn hiệu cụ thể như:
- Nhãn hiệu tập thể
Nhãn hiệu tập thể là nhãn hiệu dùng để phân biệt hàng hoá, dịch vụ của các thành
viên của tổ chức là chủ sở hữu nhãn hiệu đó với hàng hoá, dịch vụ của tổ chức, cá
nhân không phải là thành viên của tổ chức đó.

1

- Nhãn hiệu chứng nhận
Nhãn hiệu tập thể là nhãn hiệu mà chủ sở hữu nhãn hiệu cho phép tổ chức, cá
nhân khác sử dụng trên hàng hóa, dịch vụ của tổ chức, cá nhân đó để chứng nhận các
đặc tính về xuất xứ, nguyên liệu, vật liệu, cách thức sản xuất hàng hoá, cách thức cung
cấp dịch vụ, chất lượng, độ chính xác, độ an toàn hoặc các đặc tính khác của hàng hoá,
dịch vụ mang nhãn hiệu.

2

- Nhãn hiệu liên kết
Nhãn hiệu liên kết là các nhãn hiệu do cùng một chủ thể đăng ký, trùng hoặc
tương tự nhau dùng cho sản phẩm, dịch vụ cùng loại hoặc tương tự nhau hoặc có liên
quan với nhau.

3

- Nhãn hiệu nổi tiếng
Nhãn hiệu nổi tiếng là nhãn hiệu được người tiêu dùng biết đến rộng rãi trên
toàn lãnh thổ Việt Nam.

4

1.1.3. Điều kiện bảo hộ nhãn hiệu
Có 2 điều kiện chung đối với nhãn hiệu được bảo hộ.

5

Thứ nhất, là dấu hiệu nhìn thấy được dưới dạng chữ cái, từ ngữ, hình vẽ, hình
ảnh, kể cả hình ba chiều hoặc sự kết hợp các yếu tố đó, được thể hiện bằng một hoặc

1

khoản 17, Điều 4 Luật SHTT 2005, sửa đổi bổ sung năm 2019
khoản 18, Điều 4 Luật SHTT 2005, sửa đổi bổ sung năm 2019
3
khoản 19, Điều 4 Luật SHTT 2005, sửa đổi bổ sung năm 2019
4
khoản 20, Điều 4 Luật SHTT 2005, sửa đổi bổ sung năm 2019
5 Điều 72 Luật SHTT 2005, sửa đổi bổ sung năm 2019
2


9

nhiều mầu sắc. Tuy nhiên, một số dấu hiệu như sau sẽ không không được bảo hộ với
6

danh nghĩa nhãn hiệu :
• Dấu hiệu trùng hoặc tương tự đến mức gây nhầm lẫn với hình quốc kỳ, quốc
huy của các nước
• Dấu hiệu trùng hoặc tương tự đến mức gây nhầm lẫn với biểu tượng, cờ, huy
hiệu, tên viết tắt, tên đầy đủ của cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị xã hội, tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề
nghiệp của Việt Nam và tổ chức quốc tế, nếu không được cơ quan, tổ chức đó cho
phép
• Dấu hiệu trùng hoặc tương tự đến mức gây nhầm lẫn với tên thật, biệt hiệu, bút
danh, hình ảnh của lãnh tụ, anh hùng dân tộc, danh nhân của Việt Nam, của nước ngoài
• Dấu hiệu trùng hoặc tương tự đến mức gây nhầm lẫn với dấu chứng nhận, dấu
kiểm tra, dấu bảo hành của tổ chức quốc tế mà tổ chức đó có yêu cầu không được sử
dụng, trừ trường hợp chính tổ chức này đăng ký các dấu đó làm nhãn hiệu chứng nhận
• Dấu hiệu làm hiểu sai lệch, gây nhầm lẫn hoặc có tính chất lừa dối người tiêu
dùng về nguồn gốc xuất xứ, tính năng, công dụng, chất lượng, giá trị hoặc các đặc tính
khác của hàng hoá, dịch vụ
Thứ hai, nhãn hiệu đó khả năng phân biệt hàng hoá, dịch vụ của chủ sở hữu nhãn
hiệu với hàng hoá, dịch vụ của chủ thể khác. Nhãn hiệu được coi là có khả năng phân
biệt nếu được tạo thành từ một hoặc một số yếu tố dễ nhận biết, dễ ghi nhớ hoặc từ
nhiều yếu tố kết hợp thành một tổng thể dễ nhận biết, dễ ghi nhớ và không thuộc các
7

trường hợp sau :
• Hình và hình hình học đơn giản, chữ số, chữ cái, chữ thuộc các ngôn ngữ không
thông dụng, trừ trường hợp các dấu hiệu này đã được sử dụng và thừa nhận rộng rãi
với danh nghĩa một nhãn hiệu
• Dấu hiệu, biểu tượng quy ước, hình vẽ hoặc tên gọi thông thường của hàng hoá,
dịch vụ bằng bất kỳ ngôn ngữ nào đã được sử dụng rộng rãi, thường xuyên, nhiều
người biết đến
6
7

Điều 73, Luật SHTT 2005, sửa đổi bổ sung năm 2019
Điều 74, Luật SHTT 2005, sửa đổi bổ sung năm 20


10

• Dấu hiệu chỉ thời gian, địa điểm, phương pháp sản xuất, chủng loại, số lượng,
chất lượng, tính chất, thành phần, công dụng, giá trị hoặc các đặc tính khác mang tính
mô tả hàng hoá, dịch vụ, trừ trường hợp dấu hiệu đó đã đạt được khả năng phân biệt
thông qua quá trình sử dụng trước thời điểm nộp đơn đăng ký nhãn hiệu;
• Dấu hiệu mô tả hình thức pháp lý, lĩnh vực kinh doanh của chủ thể kinh doanh;
• Dấu hiệu chỉ nguồn gốc địa lý của hàng hoá, dịch vụ, trừ trường hợp dấu hiệu
đó đã được sử dụng và thừa nhận rộng rãi với danh nghĩa một nhãn hiệu hoặc được
đăng ký dưới dạng nhãn hiệu tập thể hoặc nhãn hiệu chứng nhận quy định tại Luật này;
• Dấu hiệu không phải là nhãn hiệu liên kết trùng hoặc tương tự đến mức gây
nhầm lẫn với nhãn hiệu đã được đăng ký cho hàng hoá, dịch vụ trùng hoặc tương tự
trên cơ sở đơn đăng ký có ngày nộp đơn hoặc ngày ưu tiên sớm hơn trong trường hợp
đơn đăng ký được hưởng quyền ưu tiên, kể cả đơn đăng ký nhãn hiệu được nộp theo
điều ước quốc tế mà Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên;
• Dấu hiệu trùng hoặc tương tự đến mức gây nhầm lẫn với nhãn hiệu của người
khác đã được sử dụng và thừa nhận rộng rãi cho hàng hoá, dịch vụ trùng hoặc tương tự
từ trước ngày nộp đơn hoặc ngày ưu tiên trong trường hợp đơn được hưởng quyền ưu
tiên;
• Dấu hiệu trùng hoặc tương tự đến mức gây nhầm lẫn với nhãn hiệu của người
khác đã đăng ký cho hàng hoá, dịch vụ trùng hoặc tương tự mà đăng ký nhãn hiệu đó
đã chấm dứt hiệu lực chưa quá năm năm;
• Dấu hiệu trùng hoặc tương tự đến mức gây nhầm lẫn với nhãn hiệu được coi là
nổi tiếng của người khác đăng ký cho hàng hoá, dịch vụ trùng hoặc tương tự với hàng
hoá, dịch vụ mang nhãn hiệu nổi tiếng hoặc đăng ký cho hàng hoá, dịch vụ không
tương tự, nếu việc sử dụng dấu hiệu đó có thể làm ảnh hưởng đến khả năng phân biệt
của nhãn hiệu nổi tiếng hoặc việc đăng ký nhãn hiệu nhằm lợi dụng uy tín của nhãn
hiệu nổi tiếng;
• Dấu hiệu trùng hoặc tương tự với tên thương mại đang được sử dụng của người
khác, nếu việc sử dụng dấu hiệu đó có thể gây nhầm lẫn cho người tiêu dùng về nguồn
gốc hàng hoá, dịch vụ;


11

• Dấu hiệu trùng hoặc tương tự với chỉ dẫn địa lý đang được bảo hộ nếu việc sử
dụng dấu hiệu đó có thể làm cho người tiêu dùng hiểu sai lệch về nguồn gốc địa lý của
hàng hoá;
• Dấu hiệu trùng với chỉ dẫn địa lý hoặc có chứa chỉ dẫn địa lý hoặc được dịch
nghĩa, phiên âm từ chỉ dẫn địa lý đang được bảo hộ cho rượu vang, rượu mạnh nếu dấu
hiệu được đăng ký để sử dụng cho rượu vang, rượu mạnh không có nguồn gốc xuất xứ
từ khu vực địa lý mang chỉ dẫn địa lý đó;
• Dấu hiệu trùng hoặc không khác biệt đáng kể với kiểu dáng công nghiệp của
người khác được bảo hộ trên cơ sở đơn đăng ký kiểu dáng công nghiệp có ngày nộp
đơn hoặc ngày ưu tiên sớm hơn so với ngày nộp đơn, ngày ưu tiên của đơn đăng ký
nhãn hiệu.
1.1.4. Căn cứ xác lập quyền và thời hạn bảo hộ nhãn hiệu
1.1.4.1. Xác lập quyền SHCN đối với nhãn hiệu
Quyền SHCN là quyền của tổ chức, cá nhân đối với sáng chế, kiểu dáng công
nghiệp, thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn, nhãn hiệu, tên thương mại, chỉ dẫn địa
lý, bí mật kinh doanh do mình sáng tạo ra hoặc sở hữu và quyền chống cạnh tranh
không lành mạnh.

8

Không giống như quyền tác giả đối với các loại tác phẩm (gồm tác phẩm âm
nhạc, tác phẩm điện ảnh, chương trình máy tính, tác phẩm viết...) được mặc nhiên bảo
hộ quyền tác giả kể từ ngảy tác phẩm được hoàn thành thì quyền về quyền SHCN thì
lại khác. Cơ sở để xác lập và phát sinh quyền được bảo hộ đối với nhãn hiệu là chủ
nhãn hiệu phải thực hiện thủ tục đăng ký nhãn hiệu tại Cục Sở hữu trí tuệ (trừ trường
hợp đối với tên thương mại). Sau khi đảm bảo đủ các điều kiện để được bảo hộ nhãn
hiệu được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp văn bằng bảo hộ, thì cá nhân/tổ chức
là chủ sở hữu của nhãn hiệu hoàn toàn được xác lập toàn bộ quyền bảo hộ của mình
đối với nhãn hiệu. Tuy nhiên, đối với nhãn hiệu nổi tiếng, quyền sở hữu được xác lập
9

trên cơ sở sử dụng, không phụ thuộc vào thủ tục đăng ký . Quyền SHCN đối với nhãn
hiệu nổi tiếng được xác lập trên cơ sở thực tiễn sử dụng rộng rãi nhãn hiệu đó mà

8
9

khoản 4, Điều 4 Luật SHTT 2005, sửa đổi bổ sung năm 2019
điểm a khoản 3 Điều 6 Luật SHTT 2005, sửa đổi bổ sung năm 2019


12
10

không cần thực hiện thủ tục đăng ký .Tuy nhiên, cũng có trường hợp, một nhãn hiệu
nổi tiếng không được bảo hộ nữa. Đó là khi tiêu chí làm nhãn hiệu đó nổi tiếng không
còn trên thực tế hoặc nhãn hiệu đó đã trở thành tên gọi chung của một loại sản phẩm,
dịch vụ nhất định thì nhãn hiệu sẽ không được coi là nổi tiếng nữa. Trường hợp này
còn gọi là sự lu mờ nhãn hiệu. Lịch sử đã từng có những trường hợp như vậy mà điển
hình là trường hợp của viên thuốc ASPIRIN. Khi không còn là nhãn hiệu nổi tiếng, cơ
chế bảo hộ vô thời hạn cũng sẽ không còn. Như vậy, quan niệm "nếu đã là nhãn hiệu
nổi tiếng thì sẽ được bảo hộ vô thời hạn" là sai. Bởi vì, mặc dù một nhãn hiệu đã từng
được coi là nhãn hiệu nổi tiếng, nhưng sau một thời gian, nhãn hiệu đó đã bị lu mờ thì
sẽ không được bảo hộ vô thời hạn như trước nữa. Do đó, việc đăng ký nhãn hiệu là cần
thiết bảo vệ được quyền lợi cho các chủ thể kinh doanh trong quá trình hoạt động.
Bên cạnh đó, việc đăng ký nhãn hiệu còn là cơ sở để chủ nhãn hiệu xem xét hàng
hoá và dịch vụ có gắn nhãn hiệu của mình có bị coi là vi phạm pháp luật Sở hữu trí tuệ
hay các quy định pháp luật khác hay không. Bởi trên thực tế có những trường hợp có
các nhãn hiệu đã được cá nhân hoặc tổ chức tiến hành đăng ký tại Cục SHTT nhưng
không được các chủ đơn này quảng cáo, sử dụng rộng rãi, nên các chủ thể kinh doanh
khác không thể biết được nhãn hiệu đó đã được bảo hộ hay chưa. Việc không rõ ràng
này dẫn đến sự vi phạm pháp luật SHTT của các bên sử dụng nhãn hiệu trùng hoặc
tương tự gây nhầm lẫn với các nhãn hiệu đã được bảo hộ. Do vậy, đã xảy ra những
trường hợp chủ thể kinh doanh rõ ràng không biết, không muốn vi phạm pháp luật
nhưng vẫn bị xử phạt vi phạm hành chính về SHTT do sử dụng nhãn hiệu trùng hoặc
tương tự gây nhầm lẫn với các sản phẩm do bên khác cung cấp.
Vì vậy, việc đăng ký bảo hộ nhãn hiệu lúc này sẽ được coi như là một công đoạn
kiểm tra tính độc quyền của nhãn hiệu, xem xét liệu nhãn hiệu có trùng lặp với nhãn
hiệu của người khác hay không để ngoài việc tránh vi phạm pháp luật thì còn tránh
lãng phí chi phí quảng cáo thương hiệu và sử dụng lên sản phẩm...cuối cùng các sản
phẩm này lại bị thu hồi, thương hiệu biến mất.
Để xác lập quyền SHCN với nhãn hiệu, theo quy định tại, các chủ thể có quyền
11

đăng ký phải đáp ứng các điều kiện sau: Tổ chức, cá nhân đăng ký nhãn hiệu cho
10
11

khoản 2 Điều 6 Nghị định số 103/2006/NĐ-CP
Điều 87 Luật SHTT 2005, sửa đổi bổ sung năm 2019


13

hàng hoá do mình sản xuất hoặc dịch vụ do mình cung cấp; Tổ chức, cá nhân tiến hành
hoạt động thương mại hợp pháp đăng ký nhãn hiệu cho sản phẩm mà mình đưa ra thị
trường nhưng do người khác sản xuất với điều kiện người sản xuất không sử dụng
nhãn hiệu đó cho sản phẩm và không phản đối việc đăng ký đó.
Bên cạnh đó quyền đăng ký với từng loại nhãn hiệu khác nhau còn được quy
định cụ thể như sau:
- Với nhãn hiệu tập thể: Tổ chức tập thể được thành lập hợp pháp có quyền đăng
ký nhãn hiệu tập thể để các thành viên của mình sử dụng theo quy chế sử dụng nhãn
hiệu tập thể; đối với dấu hiệu chỉ nguồn gốc địa lý của hàng hoá, dịch vụ, tổ chức có
quyền đăng ký là tổ chức tập thể của các tổ chức, cá nhân tiến hành sản xuất, kinh
doanh tại địa phương đó.
- Với nhãn hiệu chứng nhận: Tổ chức có chức năng kiểm soát, chứng nhận chất
lượng, đặc tính, nguồn gốc hoặc tiêu chí khác liên quan đến hàng hoá, dịch vụ có
quyền đăng ký nhãn hiệu chứng nhận với điều kiện không tiến hành sản xuất, kinh
doanh hàng hoá, dịch vụ đó.
Trong trường hợp hai hoặc nhiều tổ chức, cá nhân có quyền cùng đăng ký một
nhãn hiệu để trở thành đồng chủ sở hữu với những điều kiện sau đây: việc sử dụng
nhãn hiệu đó phải nhân danh tất cả các đồng chủ sở hữu hoặc sử dụng cho hàng hoá,
dịch vụ mà tất cả các đồng chủ sở hữu đều tham gia vào quá trình sản xuất, kinh
doanh; và việc sử dụng nhãn hiệu đó không gây nhầm lẫn cho người tiêu dùng về
nguồn gốc của hàng hoá, dịch vụ.
Quyền đăng ký nhãn hiệu có thể chuyển giao giữa người có quyền đăng ký và ổ
chức, cá nhân khác dưới hình thức hợp đồng bằng văn bản, để thừa kế hoặc kế thừa
theo quy định của pháp luật với điều kiện các tổ chức, cá nhân được chuyển giao phải
đáp ứng các điều kiện đối với người có quyền đăng ký tương ứng.
Thêm vào đó, đối với nhãn hiệu được bảo hộ tại một nước là thành viên của điều
ước quốc tế có quy định cấm người đại diện hoặc đại lý của chủ sở hữu nhãn hiệu đăng
ký nhãn hiệu đó mà Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam cũng là thành viên thì người
đại diện hoặc đại lý đó không được phép đăng ký nhãn hiệu nếu không được sự đồng ý
của chủ sở hữu nhãn hiệu, trừ trường hợp có lý do chính đáng.


14

1.1.4.2. Thời hạn bảo hộ
Về không gian, giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu có hiệu lực trên toàn lãnh thổ
Việt Nam. Về thời gian, trừ trường hợp nhãn hiệu nổi tiếng đã được để cập ở trên, giấy
chứng nhận đăng ký nhãn hiệu có hiệu lực từ ngày cấp đến hết mười năm kể từ ngày
nộp đơn, có thể gia hạn nhiều lần liên tiếp, mỗi lần mười năm. Để gia hạn hiệu lực
giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu, chủ văn bằng bảo hộ phải nộp lệ phí gia hạn hiệu
12

lực.

1.2. Bảo vệ quyền SHCN đối với nhãn hiệu
1.2.1. Quyền SHCN đối với nhãn hiệu
Quyền SHCN đối với nhãn hiệu được xác định theo văn bằng bảo hộ do cơ quan
quản lý nhà nước về quyền SHCN quốc gia, cụ thể là Cục SHTT cấp. Sau khi giấy
chứng nhận đăng ký nhãn hiệu có hiệu lực, chủ sở hữu nhãn hiệu sẽ có các quyền sau:
- Quyền sử dụng, cho phép người khác sử dụng đối tượng SHCN nhãn hiệu:
13

Sử dụng nhãn hiệu là việc thực hiện các hành vi sau: Gắn nhãn hiệu được bảo
hộ lên hàng hóa, bao bì hàng hóa, phương tiện kinh doanh, phương tiện dịch vụ, giấy
tờ giao dịch trong hoạt động kinh doanh;Lưu thông, chào bán, quảng cáo để bán, tàng
trữ để bán hàng hóa mang nhãn hiệu được bảo hộ; Nhập khẩu hàng hóa, dịch vụ mang
nhãn hiệu được bảo hộ.
Nhãn hiệu với chức năng là phân biệt hàng hóa sản phẩm của các chủ thể sản
xuất khác nhau thì việc gắn nhãn hiệu lên bao bì hàng hóa, phương tiện kinh doanh là
hành vi phổ biến nhất trong ba hành vi nêu trên.
- Quyền ngăn cấm người khác sử dụng nhãn hiệu:
Pháp luật Việt Nam có những quy định cụ thể về quyền của chủ sở hữu trong việc
ngăn cấm người khác sử dụng nhãn hiệu đã được bảo hộ dựa trên việc quy định các
hành vi bị coi là xâm phạm quyền đối với nhãn hiệu tại khoản 1 Điều 125Luật SHTT
2005, sửa đổi bổ sung năm 2019.

12
13

Điều 93 và 94 Luật SHTT 2005, sửa đổi bổ sung năm 2019
khoản 5 Điều 124 Luật SHTT 2005, sửa đổi bổ sung năm 2019


15

Tuy nhiên, trong một số trường hợp, chủ sở hữu không có quyền ngăn cấm người
khác sử dụng nhãn hiệu. Đó là các trường hợp không ảnh hưởng đến khả năng khai
thác và sử dụng của chủ sở hữu và chứng minh được yếu tố trung thực của việc bảo hộ
đó trước ngày nộp đơn đăng ký chỉ dẫn địa lý
- Quyền định đoạt nhãn hiệu:
Nhãn hiệu được coi là một loại tài sản đặc biệt và là một trong những đối tượng
SHCN có giá trị và khả năng khai thác thương mại rất lớn. Quyền định đoạt tài sản này
14

sẽ thuộc về chủ sở hữu và được quy định cụ thể tại phần chuyển giao quyền SHCN .
Trong đó bao gồm chuyển nhượng và chuyển giao quyền SHCN. Chuyển nhượng,
chuyển giao tức là chủ sở hữu cho phép các cá nhân, tổ chức khác sở hữu, sử dụng
nhãn hiệu đó.
Chuyển nhượng quyền sở hữu và chuyển quyền sở hữu nhãn hiệu phải được thực
hiện thông qua hợp đồng bằng văn bản. Hợp đồng này chỉ có hiệu lực khi đã được
đăng kí với cơ quan quản lý nhà nước về quyền SHCN.
1.2.2. Các biện pháp bảo vệ quyền SHTT đối với nhãn hiệu
Để bảo vệ quyền SHTT đối với nhãn hiệu, tùy từng trường hợp mà chủ thể quyền
có thể tự bảo vệ hoặc thông qua hoạt động của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
1.2.2.1. Biện pháp tự bảo vệ quyền SHTTđối với nhãn hiệu
Biện pháp tự bảo vệ

15

cho phép chủ thể bị xâm phạm quyền SHTT về nhãn hiệu

được áp dụng những biện pháp nhất định để bảo vệ quyền của mình. Các biện pháp mà
chủ thể bị xâm phạm quyền SHTT có thể lựa chọn để áp dụng là:
- Áp dụng biện pháp công nghệ nhằm ngăn ngừa hành vi xâm phạm quyền
SHTT;
- Yêu cầu tổ chức, cá nhân có hành vi xâm phạm quyền SHTT phải chấm dứt
hành vi xâm phạm, xin lỗi, cải chính công khai, bồi thường thiệt hại;
- Yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền xử lý hành vi xâm phạm quyền
SHTT theo quy định của Luật này và các quy định khác của pháp luật có liên quan;
- Khởi kiện ra tòa án hoặc trọng tài để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình.
14
15

chương X, Luật SHTT 2005, sửa đổi bổ sung năm 2019
Điều 198, Luật SHTT 2005, sửa đổi bổ sung năm 2019


16

Chủ thể bị xâm phạm quyền SHTT có thể sử dụng các biện pháp này bằng cách
trực tiếp gặp chủ thể vi phạm hoặc sử dụng các phương thức khác như: gọi điện thoại,
gửi thư qua bưu điện, gửi thư điện tử, FAX hoặc tiến hành những hành vi cụ thể để bảo
vệ quyền sở hữu của mình. Người bị xâm phạm quyền sở hữu có thể lựa chọn áp dụng
một hoặc nhiều biện pháp khác nhau để tự bảo vệ quyền SHTT của mình. Tuy nhiên,
việc chủ thể áp dụng các biện pháp để tự bảo vệ quyền SHTTvề nhãn hiệu của mình
không được trái với quy định của pháp luật và đạo đức xã hội.
Trong thực tế, khi quyền SHTT bị xâm phạm, biện pháp bảo vệ quyền đầu tiên
được áp dụng là tự bảo vệ. Trước hết, biện pháp này tôn trọng quyền tự định đoạt của
chủ thể. Hơn nữa, mặc dù không có sự can thiệp của các cơ quan nhà nước có thẩm
quyền nhưng trong chừng mực nhất định, biện pháp này cũng giúp nhanh chóng ngăn
chặn, chấm dứt hành vi xâm phạm.
1.2.2.2. Các biện pháp xử lý hành vi xâm phạm của cơ quan nhà nước có thẩm
quyền
Biện pháp xử lý hành vi xâm phạm

16

do các cơ quan nhà nước có thẩm quyền

thực hiện gồm biện pháp hành chính, biện pháp dân sự, biện pháp hình sự và biện pháp
kiểm soát hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu liên quan đến SHTT. Các biện pháp này
được cơ quan nhà nước có thẩm quyền áp dụng khi có (hoặc nghi ngờ có) hành vi xâm
phạm quyền SHTT xảy ra trên thực tế, trong đó:
- Biện pháp hành chính
Xử lý xâm phạm quyền SHTT bằng biện pháp hành chính là việc cơ quan có
thẩm quyền xử lý hành chính các hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực SHTT.
Việc áp dụng biện pháp hành chính thuộc thẩm quyền của các cơ quan Thanh tra,
Công an, Quản lý thị trường, Hải quan, Uỷ ban nhân dân các cấp. Trong trường hợp
cần thiết, các cơ quan này có thể áp dụng biện pháp ngăn chặn và bảo đảm xử phạt
17

hành chính theo quy định của pháp luật .
18

Các hành vi xâm phạm quyền SHTT sau đây sẽ bị xử phạt hành chính :

16
17
18

Điều 199, Luật SHTT 2005, sửa đổi bổ sung năm 2019
Điều 200, Luật SHTT 2005, sửa đổi bổ sung năm 2019
Điều 213, Luật SHTT 2005, sửa đổi bổ sung năm 2019


17

• Thực hiện hành vi xâm phạm quyền SHTT gây thiệt hại cho người tiêu dùng
hoặc cho xã hội;
• Không chấm dứt hành vi xâm phạm quyền SHTT mặc dù đã được chủ thể
quyền SHTT thông báo bằng văn bản yêu cầu chấm dứt hành vi đó;
• Sản xuất, nhập khẩu, vận chuyển, buôn bán hàng hoá giả mạo về SHTT hoặc
giao cho người khác thực hiện hành vi này;
• Sản xuất, nhập khẩu, vận chuyển, buôn bán vật mang nhãn hiệu hoặc chỉ dẫn
địa lý trùng hoặc tương tự đến mức gây nhầm lẫn với nhãn hiệu, chỉ dẫn địa lý được
bảo hộ hoặc giao cho người khác thực hiện hành vi này.
Các hình thức xử phạt vi phạm hành chính bao gồm cảnh cáo và phạt tiền.Tuỳ
theo tính chất, mức độ xâm phạm, tổ chức, cá nhân xâm phạm quyền SHTT còn có thể
bị áp dụng một hoặc các hình thức xử phạt bổ sung như: tịch thu hàng hoá giả mạo;
đình chỉ có thời hạn hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực đã xảy ra vi phạm.
Ngoài các hình thức xử phạt, tổ chức, cá nhân xâm phạm quyền SHTT còn có thể
bị áp dụng một hoặc các biện pháp khắc phục hậu quả sau đây: buộc tiêu huỷ hoặc
phân phối hoặc đưa vào sử dụng không nhằm mục đích thương; buộc đưa ra khỏi lãnh
thổ Việt Nam. Mức phạt, thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính đối với hành vi xâm
phạm quyền SHTTsẽ được thực hiện theo quy định của pháp luật về xử lý vi phạm
hành chính.
- Biện pháp hình sự
Cá nhân thực hiện hành vi xâm phạm quyền SHTT có yếu tố cấu thành tội phạm
thì bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật hình sự.

19

Các hành vi xâm phạm quyền SHTT được coi là tội phạm khi có đủ các yếu tố
cấu thành một trong các tội quy định trong Bộ luật hình sự 2017 như: tội xâm phạm
quyền SHCN (Điều 226),tội lừa dối khách hàng (Điều 198), tội sản xuất, buôn bán
hàng giả (Điều 192),...
Việc áp dụng biện pháp hình sự thuộc thẩm quyền của Toà án. Trong trường hợp
cần thiết, Tòa án có thể áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời theo quy định của pháp
luật.

20

19

Điều 212, Luật SHTT 2005, sửa đổi bổ sung năm 2019


18

- Biện pháp dân sự
Biện pháp dân sự được áp dụng để xử lí hành vi xâm phạm theo yêu cầu của chủ
thể quyền SHTT hoặc của tổ chức, cá nhân bị thiệt hại do hành vi xâm phạm gây ra, kể
cả khi hành vi đó đã hoặc đang bị xử lí bằng biện pháp hành chính hoặc biện pháp hình
sự. Thủ tục yêu cầu áp dụng biện pháp dân sự, thẩm quyền, trình tự, thủ tục áp dụng
biện pháp dân sự tuân theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự.
Việc áp dụng biện pháp dân sự thuộc thẩm quyền của Toà án. Trong trường hợp
cần thiết, Tòa án có thể áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời theo quy định của pháp
luật.

21

Toà án áp dụng các biện pháp dân sự sau đây để xử lý tổ chức, cá nhân có hành
22

vi xâm phạm quyền SHTT: Buộc chấm dứt hành vi xâm phạm; Buộc xin lỗi, cải
chính công khai;Buộc thực hiện nghĩa vụ dân sự; Buộc bồi thường thiệt hại; Buộc tiêu
huỷ hoặc buộc phân phối hoặc đưa vào sử dụng không nhằm mục đích thương mại đối
với hàng hoá, nguyên liệu, vật liệu và phương tiện được sử dụng chủ yếu để sản xuất,
kinh doanh hàng hoá xâm phạm quyền SHTT với điều kiện không làm ảnh hưởng đến
khả năng khai thác quyền của chủ thể quyền SHTT.
- Biện pháp kiểm soát hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩuliên quan đến SHTT
Việc áp dụng biện pháp kiểm soát hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu liên quan đến
SHTT thuộc thẩm quyền của cơ quan hải quan. Cụ thể, cơ quan hải quan áp dụng hai
loại biện pháp sau: tạm dừng làm thủ tục hải quan đối với hàng hoá bị nghi ngờ xâm
phạm quyền SHTT; kiểm tra, giám sát để phát hiện hàng hoá có dấu hiệu xâm phạm
23

quyền SHTT.

Như vậy, Việt Nam đã xây dựng được hệ thống các quy định tương đối đầy đủ về
quyền SHCN đối với nhãn hiệu. Tuy nhiên, các quy định này chủ yếu mang tính chất
quản lý nhà nước đối với quyền SHTT. Các quy định thực thi quyền SHCN đối với
nhãn hiệu chỉ dừng lại ở vấn đề xác định các hành vi xâm phạm quyền, hành vi cạnh

20
21

Điều 200, Luật SHTT 2005, sửa đổi bổ sung năm 2019

Điều 200, Luật SHTT 2005, sửa đổi bổ sung năm 2019
Điều 202, Luật SHTT 2005, sửa đổi bổ sung năm 2019
23
Điều 216, Luật SHTT 2005, sửa đổi bổ sung năm 2019
22


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×