Tải bản đầy đủ

Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do tài sản gây ra

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
----------o0o----------

LUẬN VĂN THẠC SĨ

TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI DO TÀI SẢN GÂY
RA – MỘT SỐ VẤN ĐỀ PHÁP LÝ VÀ THỰC TRẠNG ÁP DỤNG
TẠI VIỆT NAM

Ngành: Luật kinh tế

NGUYỄN THỊ THANH LIỄU

Hà Nội - 2020


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
----------o0o----------


LUẬN VĂN THẠC SĨ

TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI DO TÀI SẢN GÂY
RA – MỘT SỐ VẤN ĐỀ PHÁP LÝ VÀ THỰC TRẠNG ÁP DỤNG
TẠI VIỆT NAM

Ngành: Luật kinh tế
Mã số: 8380107

Họ và tên học viên: Nguyễn Thị Thanh Liễu
Người hướng dẫn: TS Nguyễn Minh Thư

Hà Nội - 2020


i

LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi, được thực
hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của TS Nguyễn Minh Thư. Các số liệu, ví dụ và
trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực. Các kết
luận, phương pháp được đưa ra trong Luận văn hoàn toàn bởi chính tác giả. Tôi xin
hoàn toàn chịu trách nhiệm về lời cam đoan này.
Học viên

Nguyễn Thị Thanh Liễu


ii

LỜI CẢM ƠN
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc và xin trân trọng cảm ơn sự hướng dẫn,
giúp đỡ hết sức nhiệt tình, trách nhiệm và hiệu quả của TS Nguyễn Minh Thư,
Trường Đại học Ngoại thương.
Tôi cũng xin chân thành cảm ơn tới tập thể cán bộ, giảng viên khoa Luật, khoa
Sau đại học cùng tập thể thầy, cô giáo Trường Đại học Ngoại thương đã tận tình
giảng dạy, truyền đạt những kiến thức quý báu và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình
học và thời gian nghiên cứu luận văn./.
Học viên


Nguyễn Thị Thanh Liễu


iii

MỤC LỤC
Trang
LỜI CAM ĐOAN ……………………………………..………………………….. i
LỜI CẢM ƠN ………………………..………………………………………...… ii
MỤC LỤC ...…………………………………………………………..…………. iii
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT ………...…………………………. . .…….. viii
TÓM TẮT KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU LUẬN VĂN .……………….....……… ix
MỞ ĐẦU ………………………………..………………………………………… 1
Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG
THIỆT HẠI DO TÀI SẢN GÂY RA ………..…………………………………... 6
1.1. Một số vấn đề lý luận về trách nhiệm bồi thường thiệt hại..........................6
1.1.1. Khái niệm trách nhiệm bồi thường thiệt hại............................................ 6
1.1.2. Đặc điểm trách nhiệm bồi thường thiệt hại............................................. 9
1.1.3. Phân loại trách nhiệm bồi thường thiệt hại...........................................10
1.1.3.1. Trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong hợp đồng và trách nhiệm
bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng.......................................................... 10
1.1.3.2. Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hành vi của con người gây ra
và trách nhiệm bồi thường thiệt hại do tài sản gây ra................................12
1.1.3.3. Trách nhiệm bồi thường thiệt hại liên đới và trách nhiệm bồi
thường thiệt hại riêng rẽ............................................................................ 13
1.2. Một số vấn đề pháp lý cơ bản về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do tài
sản gây ra........................................................................................................... 14


iv

1.2.1. Khái niệm, đặc điểm của trách nhiệm bồi thường thiệt hại do tài sản gây
ra..................................................................................................................... 14
1.2.1.1. Khái niệm trách nhiệm bồi thường thiệt hại do tài sản gây ra......14
1.2.1.2. Đặc điểm của trách nhiệm bồi thường thiệt hại do tài sản gây ra . 18
1.2.2. Điều kiện phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại do tài sản gây ra . 19

1.2.2.1. Có thiệt hại xảy ra......................................................................... 20
1.2.2.2. Có sự kiện gây ra thiệt hại của tài sản.......................................... 20
1.2.2.3. Mối quan hệ nhân quả giữa sự kiện gây ra thiệt hại của tài sản và
thiệt hại xảy ra........................................................................................... 23
1.2.2.4. Yếu tối lỗi trong trách nhiệm bồi thường thiệt hại do tài sản gây
ra (không bắt buộc).................................................................................... 24
1.2.3. Cơ sở xác định chủ thể chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại do tài sản
gây ra.............................................................................................................. 26
1.2.3.1. Trách nhiệm bồi thường thiệt hại của chủ sở hữu.........................26
1.2.3.2. Trách nhiệm bồi thường thiệt hại của người được giao chiếm
hữu, sử dụng tài sản................................................................................... 28
1.2.3.3. Trách nhiệm bồi thường thiệt hại của người chiếm hữu, sử dụng
trái pháp luật tài sản.................................................................................. 28
1.2.3.4. Trách nhiệm bồi thường thiệt hại của người thứ ba......................29
1.2.3.5. Trách nhiệm bồi thường thiệt hại của người chiếm hữu có căn cứ
pháp luật khác............................................................................................ 30
1.3. Các trường hợp bồi thường thiệt hại do tài sản gây ra..............................31


v

1.3.1. Bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra.......................31
1.3.2. Bồi thường thiệt hại do súc vật gây ra................................................... 33
1.3.3. Bồi thường thiệt hại do cây cối gây ra.................................................. 34
1.3.4. Bồi thường thiệt hại do nhà cửa, công trình xây dựng khác gây ra.......34
Chương 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VÀ ÁP DỤNG PHÁP LUẬT VỀ
TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI DO TÀI SẢN GÂY RA TẠI
VIỆT NAM …………………………………………………………………........36
2.1. Thực trạng pháp luật Việt Nam về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do tài
sản gây ra ………………………………………. .…...………..………………… 36
2.1.1. Thực trạng pháp luật Việt Nam về các điều kiện phát sinh trách nhiệm
bồi thường thiệt hại do tài sản gây ra.............................................................. 36
2.1.1.1. Thực trạng pháp luật Việt Nam về thiệt hại do tài sản gây ra.......36
2.1.1.2. Thực trạng pháp luật Việt Nam về sự kiện gây ra thiệt hại của tài
sản.............................................................................................................. 37
2.1.1.3. Thực trạng pháp luật Việt Nam về mối quan hệ nhân quả giữa sự
kiện gây ra thiệt hại của tài sản và thiệt hại xảy ra.................................... 41
2.1.2. Thực trạng pháp luật Việt Nam về cơ sở xác định chủ thể chịu trách
nhiệm bồi thường thiệt hại do tài sản gây ra................................................... 42
2.1.2.1. Trách nhiệm bồi thường thiệt hại của chủ sở hữu.........................42
2.1.2.2. Trách nhiệm bồi thường thiệt hại của người chiếm hữu, người được
giao quản lý, sử dụng................................................................................. 47
2.1.2.3. Trách nhiệm bồi thường thiệt hại của người chiếm hữu, sử dụng
trái pháp luật.............................................................................................. 54


vi

2.1.2.4. Trách nhiệm bồi thường thiệt hại của người thứ ba......................56
2.1.2.5. Trách nhiệm bồi thường thiệt hại của người thi công....................57
2.2. Thực trạng áp dụng pháp luật về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do tài
sản gây ra tại Việt Nam...................................................................................... 59
2.2.1. Thực trạng áp dụng pháp luật về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do
nguồn nguy hiểm cao độ gây ra tại Việt Nam................................................. 59
2.2.2. Thực trạng áp dụng pháp luật về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do súc
vật gây ra tại Việt Nam................................................................................... 66
2.2.3. Thực trạng áp dụng pháp luật về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do cây
cối gây ra tại Việt Nam................................................................................... 68
2.2.4. Thực trạng áp dụng pháp luật về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nhà
cửa, công trình xây dựng khác gây ra tại Việt Nam........................................ 71
2.3. Đánh giá chung về thực trạng pháp luật và áp dụng pháp luật về trách
nhiệm bồi thường thiệt hại do tài sản gây ra tại Việt Nam...............................73
2.3.1. Những ưu điểm đạt được...................................................................... 73
2.3.2. Những điểm hạn chế và nguyên nhân................................................... 75
Chương 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VÀ ÁP DỤNG
PHÁP LUẬT VỀ TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI DO TÀI SẢN
GÂY RA TẠI VIỆT NAM ……………………...……………………………..... 78
3.1. Phương hướng hoàn thiện pháp luật và áp dụng pháp luật về trách nhiệm
bồi thường thiệt hại do tài sản gây ra................................................................ 78
3.2. Các giải pháp hoàn thiện pháp luật và áp dụng pháp luật về trách nhiệm
bồi thường thiệt hại do tài sản gây ra................................................................ 79


vii

3.2.1. Giải pháp hoàn thiện pháp luật Việt Nam về trách nhiệm bồi thường
thiệt hại do tài sản gây ra................................................................................ 79
3.2.1.1. Giải pháp hoàn thiện pháp luật Việt Nam về trách nhiệm bồi
thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra..................................79
3.2.1.2. Giải pháp hoàn thiện pháp luật Việt Nam về trách nhiệm bồi
thường thiệt hại do súc vật gây ra.............................................................. 83
3.2.1.3. Giải pháp hoàn thiện pháp luật Việt Nam về trách nhiệm bồi
thường thiệt hại do cây cối gây ra.............................................................. 87
3.2.1.4. Giải pháp hoàn thiện pháp luật Việt Nam về trách nhiệm bồi
thường thiệt hại do nhà cửa, công trình xây dựng khác gây ra..................89
3.2.2. Giải pháp hoàn thiện hoạt động áp dụng pháp luật về trách nhiệm bồi
thường thiệt hại do tài sản gây ra tại Việt Nam............................................... 93
3.2.2.1. Nâng cao năng lực, trình độ chuyên môn, nghiệp vụ của Thẩm
phán
trong việc xét xử các vụ án bồi thường thiệt hại do tài sản gây ra.............94
3.2.2.2. Ban hành án lệ về bồi thường thiệt hại do tài sản gây ra..............94
3.2.2.3. Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật về trách
nhiệm
bồi thường thiệt hại do tài sản gây ra........................................................ 95
3.3. Một số kiến nghị.......................................................................................... 96
3.3.1. Đối với Tòa án...................................................................................... 96
3.3.2. Đối với các cơ quan, tổ chức khác........................................................ 97
KẾT LUẬN …………………………………………………………..………….. 98
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ………………………………………. 99


viii

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

BLDS:

Bộ luật dân sự

HĐXX:

Hội đồng xét xử

TANDTC:

Tòa án nhân dân tối cao

TNBTTH:

Trách nhiệm bồi thường thiệt hại


ix

TÓM TẮT KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU LUẬN VĂN
Tên luận văn thạc sĩ: Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do tài sản gây ra Một số vấn đề pháp lý và thực trạng áp dụng tại Việt Nam
1. Tính cấp thiết của đề tài
Với vai trò là đạo luật cơ sở nền tảng, giữ vai trò xương sống cho sự phát triển
của một hệ thống pháp luật dân sự thống nhất, BLDS năm 2015 đã có nhiều thay
đổi tích cực trong chế định về TNBTTH nói chung, TNBTTH do tài sản gây ra nói
riêng. Tuy nhiên, hiện nay vẫn còn tồn tại nhiều quan điểm trái ngược nhau về các
vấn đề lý luận cũng như thực tiễn áp dụng pháp luật về bồi thường thiệt hại do tài
sản gây ra. Điều này đã thúc đẩy tác giả lựa chọn chủ đề “Trách nhiệm bồi thường
thiệt hại do tài sản gây ra” làm đề tài luận văn thạc sỹ của mình. Đây là một đề tài
phù hợp với chương trình đào tạo thạc sỹ chuyên ngành Luật kinh tế tại Trường Đại
học Ngoại thương.
2. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Thứ nhất: Nghiên cứu những vấn đề lý luận về TNBTTH TNBTTH do tài
sản gây ra.
- Thứ hai: Phân tích thực trạng các quy định của pháp luật và áp dụng pháp
luật về TNBTTH do tài sản gây ra tại Việt Nam để từ đó có sự đánh giá tổng quan
nhất những ưu điểm, hạn chế và bất cập.
- Thứ ba: Trên cơ sở phân tích thực trạng các quy định của pháp luật và áp
dụng pháp luật về TNBTTH do tài sản gây ra tại Việt Nam, tác giả đưa ra một số
giải pháp hoàn thiện pháp luật và áp dụng pháp luật về TNBTTH do tài sản gây ra
tại Việt Nam.
3. Luận văn đã đạt được những kết quả chính như sau
Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài, luận văn đã khái quát một số vấn đề lý
luận cơ bản nhất về TNBTTH do tài sản gây ra. Tác giả đã phân tích rõ khái niệm,
đặc điểm của TNBTTH nói chung và quy định về TNBTTH do tài sản gây ra nói
riêng. Phân tích căn cứ phát sinh TNBTTH, cơ sở xác định chủ thể chịu TNBTTH


x

do tài sản gây ra. Hiện nay, có 4 trường hợp bồi thường thiệt hại do tài sản gây ra,
đó là: bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra, do súc vật gây ra, do
cây cối gây ra và bồi thường thiệt hại do nhà cửa, công trình xây dựng khác gây ra.
Tác giả cũng phân tích lồng ghép quy định pháp luật của một số quốc gia trong từng
nội dung cụ thể. Qua việc nghiên cứu này, có thể nhận thấy những điểm tương đồng
và khác biệt giữa pháp luật Việt Nam và pháp luật một số quốc gia để có cái nhìn
bao quát hơn, góp phần hoàn thiện quy định pháp luật Việt Nam.
Trên cơ sở hệ thống các lý luận, Luận văn đã đi sâu vào nghiên cứu thực trạng
các quy định pháp luật hiện hành (BLDS năm 2015) về điều kiện phát sinh trách
nhiệm bồi thường, chủ thể chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại do tài sản gây ra
trên cơ sở so sánh, đối chiếu với các quy định trong BLDS năm 2005 để thấy được
những thay đổi, những điểm tích cực và hạn chế trong quy định pháp luật về bồi
thường thiệt hại do tài sản gây ra. Cùng với việc nghiên cứu các quy định pháp luật
Việt Nam, tác giả cũng đi vào nghiên cứu thực trạng áp dụng pháp luật về bồi
thường thiệt hại trong một số trường hợp cụ thể thông qua các bản án của Tòa án
Việt Nam. Qua đó, có thể thấy rằng những vấn đề bất cập về việc áp dụng pháp luật
của Tòa án trong việc xét xử các vụ án liên quan đến bồi thường thiệt hại do tài sản
gây ra.
Thông qua việc nghiên cứu thực trạng pháp luật và áp dụng pháp luật về bồi
thường thiệt hại do tài sản gây ra tại Việt Nam, từ đó tác giả đưa ra những giải pháp
hoàn thiện pháp luật và hoạt động áp dụng pháp luật về TNBTTH do tài sản gây ra
tại Việt Nam.


1

MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Đất nước ta đang tiến nhanh vào quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa và
hội nhập quốc tế, đời sống con người ngày càng được nâng cao. Để thoả mãn các
nhu cầu ăn, mặc, ở, con người ngày càng tạo ra và sở hữu những loại tài sản với rất
nhiều những tính năng, công dụng khác nhau. Những loại tài sản này có thể thay thế
một số lượng lớn sức lao động của con người và tạo ra năng suất lao động cao. Tuy
nhiên, bên cạnh đó, tài sản cũng luôn tiềm ẩn những nguy cơ gây ra thiệt hại cho
1

con người và môi trường xung quanh . Để đảm bảo tất cả các lợi ích hợp pháp bị
gây hại đều được bù đắp và bồi thường một cách nhanh chóng, thuận lợi cho dù
không phải do hành vi của con người gây ra, thì việc xem xét và tìm hiểu về trách
nhiệm bồi thường trong trường hợp tài sản gây ra thiệt hại là vô cùng cần thiết. Chỉ
khi giải quyết tốt các vấn đề có liên quan đến TNBTTH do tài sản gây ra thì quyền
và lợi ích hợp pháp cho người bị thiệt hại cũng như người chịu trách nhiệm bồi
thường thiệt hại mới được bảo đảm.
BLDS 2015 có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2017, về cơ bản, TNBTTH do
tài sản gây ra đã phần nào khắc phục được những bất cập bởi các quy định của
BLDS 2005. TNBTTH do tài sản gây ra là một trong những nội dung quan trọng
của chế định TNBTTH ngoài hợp đồng. So với các quy định về bồi thường thiệt hại
do tài sản gây ra trong BLDS 2005 thì các quy định trong BLDS 2015 đã có nhiều
điểm sửa đổi, bổ sung phù hợp, tích cực. Sự sửa đổi, bổ sung này tập trung chủ yếu
vào các chủ thể có trách nhiệm bồi thường và quy định khái quát, mở rộng thêm các
trường hợp bồi thường. Tuy nhiên, hiện nay vẫn còn tồn tại nhiều quan điểm trái
ngược nhau về các vấn đề lý luận cũng như thực tiễn áp dụng pháp luật về bồi
thường thiệt hại do tài sản gây ra. Những mâu thuẫn này bao gồm: các điều kiện
phát sinh trách nhiệm bồi thường; cơ sở để xác định chủ thể chịu trách nhiệm bồi
thường; tài sản gây thiệt hại có tồn tại hành vi trái pháp luật của chủ sở hữu, người
1Chẳng hạn: cháu Nguyễn Đắc Nguyên (7 tuổi) bị đàn chó tấn công gây tử vong ngày 03/4/2019 tại Hưng
Yên (xem tài liệu tham khảo số 40) hoặc hàng năm vào mùa mưa bão tại Hà Nội cây đổ gây thiệt hại về
người và tài sản khi đang lưu thông trên đường (xem tài liệu tham khảo số 37).


2

chiếm hữu, sử dụng tài sản không… Nguyên nhân của những mâu thuẫn này là do
quy định pháp luật chưa thực sự rõ ràng. Nếu như những mâu thuẫn này vẫn tồn tại
sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến việc áp dụng pháp luật vào thực tiễn, và điều này sẽ gây
ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể.
Để tìm hiểu rõ hơn các vấn đề pháp lý về TNBTTH do tài sản gây ra, bảo đảm
việc hiểu và áp dụng thống nhất các quy định pháp luật vào thực tiễn, tác giả lựa
chọn đề tài “Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do tài sản gây ra - Một số vấn đề
pháp lý và thực trạng áp dụng tại Việt Nam” làm đề tài luận văn của
mình.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
TNBTTH do tài sản gây ra là một trong những vấn đề được nhiều công trình
trong nước và quốc tế quan tâm nghiên cứu. Vì vậy, trước khi BLDS năm 2015 thay
thế BLDS năm 2005, đã có nhiều công trình khoa học của nhiều tác giả trong và
ngoài nước được nghiên cứu dưới các hình thức khác nhau và đạt được những thành
công nhất định như: luận án, luận văn, khóa luận, sách, bài viết, tạp chí…
Trên thế giới, có thể kể đến một số công trình khoa học nghiên cứu về
TNBTTH do tài sản gây ra như sau: Cuốn sách “The Law of Torts” John G.
th

Fleming, 4 Edition, The Law Book Company limited, Australia, 1971, p.298-308
nghiên cứu một cách cơ bản nhất về luật bồi thường. Tại chương 16 của cuốn sách,
tác giả nghiên cứu về vấn đề bồi thường thiệt hại do động vật gây ra. Hay bài viết
“Cars of the Future: Seventeenth Report of Session 2003-04” by Great Britain:
Parliament: House of Commons, trong đó có đoạn bình luận về phương pháp xác
định mức độ bồi thường và cách thức giảm thiệt hại do ô tô gây ra…
Ở Việt Nam, sau khi BLDS năm 2015 có hiệu lực thi hành từ ngày
01/01/2017, đã có một số công trình khoa học của một số tác giả được nghiên cứu
dưới góc độ, phạm vi khác nhau như đề tài “Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do
nhà cửa, công trình xây dựng khác gây ra theo quy định của pháp luật dân sự Việt
Nam hiện hành” - luận án tiến sĩ Vũ Thị Lan Hương - năm 2018 - Đại học Luật Hà
Nội; đề tài “Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra và


3

thực tiễn áp dụng tại Tòa án nhân dân tỉnh Sơn La ” - luận văn thạc sĩ Trần Mạnh
Hùng - năm 2018 - Đại học Luật Hà Nội; Ths Lê Thị Giang “Bồi thường thiệt hại
do tài sản gây ra theo quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015”, Tạp chí Kiểm sát,
số 15/2017…
Mặc dù đã có rất nhiều công trình khoa học nghiên cứu về vấn đề TNBTTH do
tài sản gây ra. Tuy nhiên, các công trình này mới chỉ nghiên cứu về một khía cạnh
nhỏ ở từng trường hợp riêng biệt liên quan đến trách nhiệm bồi thường do các loại
tài sản cụ thể gây thiệt hại mà chưa có công trình nào nghiên cứu chuyên sâu giải
quyết những vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến TNBTTH do tài sản gây ra.
Do đó, việc nghiên cứu đề tài sẽ có một cái nhìn tổng quát về những vấn đề lý luận,
thực trạng pháp luật và áp dụng pháp luật về TNBTTH do tài sản gây ra tại nước ta,
từ đó đưa ra những giải pháp hoàn thiện pháp luật và áp dụng pháp luật về
TNBTTH do tài sản gây ra tại Việt Nam.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của đề tài là đưa ra các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp
luật và áp dụng pháp luật về TNBTTH do tài sản gây ra tại Việt Nam trên cơ sở hệ
thống hóa những vấn đề lý luận cơ bản về TNBTTH do tài sản gây ra, đánh giá thực
trạng quy định pháp luật cũng như thực tiễn áp dụng pháp luật về TNBTTH do tài
sản gây ra để từ đó
Những nhiệm vụ cần phải thực hiện để hoàn thiện đề tài “Trách nhiệm bồi
thường thiệt hại do tài sản gây ra - Một số vấn đề pháp lý và thực trạng áp
dụng tại Việt Nam” như sau:
- Làm rõ khái niệm, đặc điểm, những vấn đề lý luận về TNBTTH nói chung và
quy định về TNBTTH do tài sản gây ra nói riêng.
- Phân tích về điều kiện phát sinh TNBTTH, cơ sở xác định chủ thể chịu
TNBTTH do tài sản gây ra, trong đó có sự nghiên cứu, so sánh với pháp luật một số
nước trên thế giới như Đức, Nhật Bản, Pháp, Thái Lan.
- Phân tích thực trạng các quy định của pháp luật Việt Nam về TNBTTH do
tài sản gây ra để từ đó có sự đánh giá tổng quan nhất những ưu điểm và hạn chế, bất


4

cập của hệ thống những văn bản pháp luật này để đưa ra những giải pháp hoàn thiện
pháp luật Việt Nam về TNBTTH do tài sản gây ra;
- Tìm hiểu thực trạng áp dụng các quy định về TNBTTH do tài sản gây ra tại
Việt Nam để tìm ra những vướng mắc, bất cập trong việc áp dụng quy định pháp
luật. Từ đó, đề xuất một số giải pháp cụ thể để áp dụng pháp luật về TNBTTH do tài
sản gây ra tại Việt Nam.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là trên cơ sở những quy định của pháp luật về
TNBTTH nói chung và TNBTTH do tài sản gây ra nói riêng, luận văn sẽ tập trung
phân tích những quy định của pháp luật về TNBTTH do tài sản gây ra theo quy định
hiện hành của pháp luật Việt Nam; đánh giá thực trạng pháp luật và thực tiễn áp
dụng pháp luật về TNBTTH do tài sản gây ra để đưa ra những ý kiến đánh giá và
những giải pháp nhằm hoàn thiện các quy định pháp luật về vấn đề này.
Chủ thể bồi thường thiệt hại do tài sản gây ra được đề cập trong luận văn bao
gồm cá nhân, pháp nhân kinh doanh; đồng thời, tài sản gây ra thiệt hại thuộc quyền
sở hữu, quyền chiếm hữu, sử dụng của cá nhân, pháp nhân kinh doanh.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
- Về nội dung: Luận văn chủ yếu nghiên cứu vấn đề TNBTTH phát sinh từ
hoặc có liên quan đến các quan hệ kinh tế phát sinh giữa các chủ thể của quan hệ
pháp luật kinh tế với nhau.
- Về thời gian: Khi nghiên cứu thực trạng pháp luật và áp dụng pháp luật về
TNBTTH do tài sản gây ra ở Việt Nam (Chương 2), luận văn chủ yếu tập trung vào
các vấn đề phát sinh trong khoảng 10 năm trở lại đây và các giải pháp được đề xuất
cho khoảng 5 năm tới kể từ năm 2020.
- Về không gian: Những nội dung liên quan đến thực trạng pháp luật và áp
dụng pháp luật (Chương 2), luận văn nghiên cứu giới hạn trong phạm vi lãnh thổ
Việt Nam. Ngoài ra có sự đan xen, học hỏi những kinh nghiệm pháp luật quốc tế


5

như Đức, Nhật Bản, Pháp, Thái Lan nhằm giải quyết những bất cập trong các vấn
đề lý luận (Chương 1) về TNBTTH do tài sản gây ra.
5. Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp phân tích và bình luận: Phân tích, bình luận các quy định của
pháp luật để làm rõ những vấn đề lý luận và quy định pháp luật hiện hành về
TNBTTH do tài sản gây ra (chương 1, 2);
- Phương pháp so sánh luật học: nhằm chỉ ra những điểm tương đồng và khác
biệt giữa quy định của pháp luật Việt Nam với pháp luật của một số nước trên thế
giới như Đức, Pháp, Nhật Bản, Thái Lan (chương 1).
- Phương pháp tổng hợp nhằm khái quát hoá thực trạng pháp luật và thực tiễn
áp dụng pháp luật về TNBTTH do tài sản gây ra tại Việt Nam, nhằm đưa ra những
giải pháp phù hợp (chương 2, 3).
6. Cơ cấu luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm 3
chương:
Chương 1: Một số vấn đề lý luận về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do tài sản
gây ra
Chương 2: Thực trạng pháp luật và áp dụng pháp luật về trách nhiệm bồi
thường thiệt hại do tài sản gây ra tại Việt Nam
Chương 3: Một số giải pháp hoàn thiện pháp luật và áp dụng pháp luật về
trách nhiệm bồi thường thiệt hại do tài sản gây ra tại Việt Nam


6

Chương 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG THIỆT
HẠI DO TÀI SẢN GÂY RA
1.1. Một số vấn đề lý luận về trách nhiệm bồi thường thiệt hại
1.1.1. Khái niệm trách nhiệm bồi thường thiệt hại
Trong lịch sử pháp luật thế giới, TNBTTH là một trong những chế định có
sớm nhất của pháp luật dân sự. Trải qua các thời kỳ lịch sử và ở những nước khác
nhau, quy định về cách thức bồi thường, thiệt hại phải bồi thường, người phải bồi
thường cũng như mức độ bồi thường là khác nhau. Vấn đề này phụ thuộc vào quan
điểm giai cấp, điều kiện kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia.
Ngay từ thời La Mã cổ đại, Luật La Mã đã coi quyền khiếu nại đòi bồi thường
thiệt hại là một trong những nội dung cơ bản của quan hệ nghĩa vụ và là một
2

“phương tiện đặc biệt để bảo vệ quyền sở hữu” . Theo từ điển luật học, TNBTTH
là: “Trách nhiệm của người có hành vi vi phạm, có lỗi trong việc gây ra thiệt hại về
vật chất, tinh thần phải bồi hoàn cho người bị thiệt hại nhằm phục hồi tình trạng tài
3

sản, bù đắp lồn thất tinh thần cho người bị thiệt hại" . Đây là biện pháp cưỡng chế
được áp dụng đối với người đã có hành vi vi phạm pháp luật giữ vai trò quan trọng
trong việc điều chỉnh và khôi phục về mặt tài sản, nhằm bù đắp những tổn thất về
vật chất và tinh thần cho bên bị thiệt hại, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các
cá nhân, tổ chức hoặc nhà nước.
Lý luận về TNBTTH đã được đặt những nền móng hết sức cơ bản và được kế
thừa một cách tương đối thống nhất trong pháp luật của hầu hết các nước. Thông
thường, các nước đều quy định TNBTTH phát sinh trên cơ sở sự vi phạm nghĩa vụ
hợp đồng (như bồi thường thiệt hại trong hợp đồng) hoặc nghĩa vụ tương tự với hợp
đồng (như thực hiện công việc không có sự ủy quyền, được lợi về tài sản không có

2 Nguyễn Ngọc Đào, Tìm hiểu pháp luật nước ngoài – Luật La Mã, NXB tổng hợp Đồng Nai, Đồng Nai,
2000, tr.81 & 109.
3 Viện khoa học pháp lý, Từ điển luật học, NXB từ điển Bách khoa – NXB Tư pháp, 2006, tr.799.


7

căn cứ pháp luật) hoặc trên cơ sở trách nhiệm pháp lý đối với các hành vi trái pháp
luật (như bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng).
Tại Việt Nam, ngay từ các Bộ luật cổ cũng đã xuất hiện những quy định về
TNBTTH, tuy nhiên một điểm chung trong những quy định này thì đều không có sự
tách biệt riêng giữa trách nhiệm bồi thường với các loại trách nhiệm khác. Ví dụ:
Điều 29 Bộ luật Hồng Đức, Điều 466 Bộ luật Hồng Đức, Điều 201 và Điều 271 Bộ
4

luật Gia Long … thì đều lồng các quy định về hình phạt mang tính chất hình sự và
phạt mang tính chất dân sự. Ngoài việc phải chịu hình phạt kẻ phạm tội còn phải bồi
thường cho nhân thân người bị thiệt hại. Vì mang tính chất hình phạt nên mức bồi
thường được pháp luật ấn định gấp đôi, gấp ba, gấp bốn lần thiệt hại thực tế đã xảy
ra, chưa thể hiện được đúng bản chất của loại trách nhiệm này. Các quy định pháp
luật đều nhằm hướng tới bảo vệ quyền lợi của giai cấp thống trị chứ không trú trọng
vào việc bảo vệ quyền con người trong xã hội.
Cùng với sự phát triển của xã hội và công cuộc đấu tranh giành độc lập, quan
điểm pháp luật về TNBTTH cũng có những thay đổi cho phù hợp với thực tế đời
sống xã hội, TNBTTH không còn được hiểu là hình phạt mà là nghĩa vụ, bổn phận
của người gây thiệt hại, nhằm phục hồi tình trạng tài sản của người bị thiệt hại. Các
quy định về TNBTTH hướng tới bảo vệ quyền lợi của những người bị thiệt hại và
sâu xa hơn là nhằm hướng tới bảo vệ quyền con người và các quyền cơ bản của
công dân. Hiện nay, trong Bộ luật Hình sự, bồi thường thiệt hại cho người bị hại
5

được quy định theo hướng là một biện pháp tư pháp chứ không phải là hình phạt và
yếu tố lỗi đóng một vai trò rất quan trọng như Luật cổ. Trong BLDS, TNBTTH
được khẳng định là một loại trách nhiệm dân sự, là loại trách nhiệm tài sản do cơ
quan nhà nước có thẩm quyền áp dụng đối với mọi cá nhân, pháp nhân và các chủ
thể khác, yếu tố lỗi của người vi phạm cũng không đóng vai trò đặc biệt quan trọng
như trong pháp luật hình sự. Theo BLDS năm 2005, TNBTTH được quy định tại
Điều 307 và chương XXI của Bộ luật về TNBTTH ngoài hợp đồng. Tuy nhiên, có
thể nhận thấy rằng trong rất nhiều những quy định BLDS liên quan đến TNBTTH
4 Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình luật dân sự Việt Nam (tập 2), NXB Công an nhân dân, Hà Nội,
2017, tr.300 & 301.
5 Điều 48, Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.


8

nói trên thì không có quy định nào nêu ra khái niệm cụ thể về loại trách nhiệm này
mà chỉ có quy định về căn cứ phát sinh TNBTTH, nguyên tắc bồi thường, năng lực
chịu trách nhiệm bồi thường, thời hiệu khởi kiện yêu cầu bồi thường. Theo đó,
TNBTTH chỉ được định nghĩa dưới dạng liệt kê bao gồm TNBTTH về vật chất và
6

TNBTTH bù đắp tổn thất và tinh thần .
- TNBTTH về vật chất là trách nhiệm bù đắp tổn thất vật chất thực tế, tính
được thành tiền do bên vi phạm gây ra, bao gồm tổn thất về tài sản, chi phí hợp lý
để ngăn chặn, hạn chế, khắc phục thiệt hại, thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút
(khoản 2, Điều 307, BLDS năm 2005).
- TNBTTH bù đắp tổn thất về tinh thần được hiểu là việc một người gây thiệt
hại về tinh thần cho người khác do xâm phạm đến tính mạng, sức khoẻ, danh dự,
nhân phẩm, uy tín của người đó thì ngoài việc chấm dứt hành vi vi phạm, xin lỗi,
cải chính công khai còn phải bồi thường một khoản tiền để bù đắp tổn thất về tinh
thần cho người bị thiệt hại (khoản 3, Điều 307, BLDS năm 2005).
BLDS năm 2015 ra đời không định nghĩa về TNBTTH dưới dạng liệt kê như
BLDS năm 2005 nữa mà chỉ quy định thiệt hại do vi phạm nghĩa vụ bao gồm thiệt
7

hại về vật chất và thiệt hại về tinh thần .
Tiếp cận dưới góc độ khoa học pháp lý chúng ta thấy rằng, mỗi người sống
trong xã hội đều phải tôn trọng quy tắc chung của xã hội, không thể vì lợi ích của
mình mà xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của người khác. Khi một người
vi phạm nghĩa vụ pháp lý của mình gây tổn hại cho người khác thì chính người đó
phải chịu bất lợi do hành vi của mình gây ra. Sự gánh chịu một hậu quả bất lợi bằng
việc bù đắp tổn thất cho người khác được hiểu là bồi thường thiệt hại.

Như vậy, chưa có một khái niệm cụ thể quy định về TNBTTH. Chính thiếu sót
đó làm cho TNBTTH được hiểu một cách rời rạc, tản mát, không thống nhất và gây
nhiều khó khăn cho hoạt động thực hiện pháp luật trên thực tế. Sau một quá trình

6Khoản 1, Điều 307, BLDS năm 2005.
7 Khoản 1, Điều 361, BLDS năm 2015.


9

nghiên cứu và tổng hợp từ thực tiễn, tác giả xin được đưa ra định nghĩa về
TNBTTH như sau: “TNBTTH là một loại trách nhiệm dân sự mà trong đó một hoặc
nhiều chủ thể phải chịu trách nhiệm bồi thường về vật chất và tinh thần mà người
bị thiệt hại phải gánh chịu khi các đối tượng được pháp luật bảo vệ bị xâm phạm”.
1.1.2. Đặc điểm trách nhiệm bồi thường thiệt hại
TNBTTH là một loại trách nhiệm pháp lý vì vậy nó có đầy đủ đặc điểm của
trách nhiệm pháp lý nói chung bao gồm: (i) Có sự cưỡng chế của Nhà nước và do
cơ quan nhà nước có thẩm quyền áp dụng, (ii) Chỉ áp dụng khi có hành vi vi phạm
pháp luật và đối với người có hành vi vi phạm, (iii) Mang lại hậu quả bất lợi cho
người có hành vi vi phạm. Ngoài ra, TNBTTH còn có những đặc điểm riêng sau:
Thứ nhất, về cơ sở pháp lý: TNBTTH là một loại trách nhiệm dân sự độc lập,
không phụ thuộc hay thay thế trách nhiệm hình sự hay các loại trách nhiệm pháp lý
khác, do pháp luật dân sự điều chỉnh, được quy định trong BLDS và các văn bản
hướng dẫn có liên quan, dựa trên nền tảng từ những nguyên tắc chung của Hiến
8

9

pháp và các nguyên tắc cơ bản được quy định trong BLDS .
Thứ hai, về cơ sở hình thành: TNBTTH được hình thành dựa trên sự thỏa
thuận hợp pháp giữa các bên hoặc theo quy định của pháp luật, xuất hiện khi có sự
kiện gây thiệt hại thì người gây thiệt hại phải bồi thường cho những thiệt hại đó.
Thứ ba, về khách thể của quan hệ bồi thường thiệt hại: Lợi ích mà các bên
hướng tới trong quan hệ bồi thường bao giờ cũng mang tính chất tài sản, là “hành
động” bù đắp những tổn thất cho người bị thiệt hại. Bởi lẽ, khi một người gây tổn
thất cho người khác thì tổn thất đó phải được khắc phục thiệt hại chính là những
những giá trị vật chất mà người gây thiệt hại phải bồi thường cho người bị thiệt hại.
Hay nói cách khác là những thiệt hại mà bên gây thiệt hại gây ra sẽ được quy đổi
thành giá trị vật chất nhất định như tiền để thực hiện việc đền bù nhằm cho bên bị
thiệt hại nhằm khắc phục thiệt hại đã xảy ra. Do đó, những thiệt hại về tinh thần

8Điều 20, Hiến pháp năm 2013.
9 Điều 3, BLDS năm 2015.


10

mặc dù không thể tính toán được nhưng cũng sẽ được xác định theo quy định của
pháp luật để bù đắp lại tổn thất cho người bị thiệt hại.
Thứ tư, về chủ thể có nghĩa vụ bồi thường: Chủ thể bị áp dụng TNBTTH thông
thường là người trực tiếp có hành vi gây thiệt hại, trong một số trường hợp
TNBTTH còn được áp dụng cả đối với những chủ thể khác có mối liên hệ với người
gây ra thiệt hại như: cha, mẹ của người chưa thành niên; của người giám hộ đối với
người được giám hộ; của pháp nhân đối với người của pháp nhân gây thiệt hại;
trường học, bệnh viện hoặc tổ chức khác như cơ sở dạy nghề trong trường hợp
người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự… gây thiệt hại trong thời
gian quản lý của những tổ chức này.
Thứ năm, về phương thức giải quyết tranh chấp: Phương pháp điều chỉnh của
pháp luật dân sự là sự tác động ý chí của nhà nước vào các chủ thể tham gia quan hệ
dân sự một cách mềm dẻo, linh hoạt, tôn trọng ý chí thỏa thuận và tự định đoạt bình
đẳng và tự nguyện giữa các chủ thể nên phương thức giải quyết các tranh chấp về
TNBTTH rất đa dạng, có thể được giải quyết bằng biện pháp tự hòa giải, thương
lượng, các bên có thể thỏa thuận bất cứ những điều mà pháp luật không cấm.
Thứ sáu, về hậu quả pháp lý: Hành vi gây thiệt hại trái pháp luật của chủ thể
vi phạm có thể rất đa dạng bao gồm: xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân
phẩm, uy tín, tài sản, các quyền và lợi ích hợp pháp khác của cá nhân, xâm phạm
danh dự, uy tín, tài sản của pháp nhân hoặc các chủ thể khác, có thể gây ra thiệt hại
về vật chất hoặc thiệt hại về tinh thần. Tuy nhiên, hậu quả mà nó mang lại luôn là sự
gánh chịu bất lợi về tài sản cho người gây thiệt hại, qua đó để khắc phục những thiệt
hại cho bên bị vi phạm .
1.1.3. Phân loại trách nhiệm bồi thường thiệt hại
1.1.3.1. Trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong hợp đồng và trách nhiệm bồi
thường thiệt hại ngoài hợp đồng
Căn cứ vào nguồn gốc phát sinh, TNBTTH được phân thành TNBTTH trong
hợp đồng và TNBTTH ngoài hợp đồng. Đây là cách phân loại cơ bản nhất bởi lẽ: có
hợp đồng hay không có hợp đồng chính là yếu tố quan trọng để từ đó có thể xác


11

định cơ chế giải quyết bồi thường. Việc phân biệt giữa TNBTTH trong hợp đồng và
TNBTTH ngoài hợp đồng có một ý nghĩa pháp lý quan trọng, nhất là trong việc xác
định nghĩa vụ chứng minh. TNBTTH trong hợp đồng và TNBTTH ngoài hợp đồng
có một số khác biệt như sau:
Thứ nhất, về căn cứ phát sinh: TNBTTH trong hợp đồng là loại trách nhiệm
dân sự mà theo đó người có hành vi vi phạm nghĩa vụ theo hợp đồng gây ra thiệt hại
cho người khác thì phải chịu trách nhiệm bồi thường những tổn thất mà mình gây
ra. Cơ sở để phát sinh TNBTTH trong hợp đồng bao giờ cũng phải dựa trên một hợp
đồng có trước tức là giữa người được hưởng bồi thường và người gây ra thiệt hại
trước đó phải có một quan hệ hợp đồng. Còn TNBTTH ngoài hợp đồng là loại trách
nhiệm dân sự phát sinh bên ngoài, không phụ thuộc hợp đồng mà chỉ cần tồn tại một
hành vi vi phạm pháp luật dân sự gây thiệt hại cho người khác và hành vi này cũng
không liên quan đến bất cứ một hợp đồng nào có thể có giữa người gây thiệt hại và
người bị thiệt hại, thiệt hại không chỉ là nền tảng cơ bản mà còn là điều kiện bắt
buộc của TNBTTH ngoài hợp đồng.
Thứ hai, về chủ thể trong quan hệ bồi thường thiệt hại: đối với TNBTTH trong
hợp đồng thì chủ thể gây thiệt hại và người bị thiệt hại chính là các bên trong quan
hệ hợp đồng đó. Bồi thường thiệt hại trong hợp đồng được áp dụng khi hành
vi gây thiệt hại là hành vi vi phạm nghĩa vụ theo hợp đồng. Hành vi vi phạm nghĩa
vụ theo hợp đồng chỉ có thể làm ảnh hưởng đến lợi ích của các bên tham gia trong
hợp đồng đó. Còn đối với TNBTTH ngoài hợp đồng là một loại trách nhiệm pháp lý
áp dụng đối với người có hành vi trái pháp luật xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp
pháp của người khác. Hiện nay, pháp luật Việt Nam quy định chủ yếu về TNBTTH
ngoài hợp đồng đối với hành vi xâm phạm đến tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân
phẩm, uy tín, tài sản của các cá nhân và tổ chức.
Thứ ba, về cơ sở phát sinh trách nhiệm: TNBTTH ngoài hợp đồng là một loại
trách nhiệm dân sự phát sinh trên cơ sở do pháp luật quy định. Còn TNBTTH trong
hợp đồng phát sinh trên cơ sở thoả thuận của các bên ví dụ như buộc phải thực hiện
nghĩa vụ theo hợp đồng, phạt vi phạm hoặc trách nhiệm bồi thường thiệt hại.


12

Thứ tư, về điều kiện phát sinh trách nhiệm: TNBTTH ngoài hợp đồng chỉ phát
sinh khi có đủ các căn cứ do pháp luật quy định bao gồm: có thiệt hại xảy ra, có
hành vi trái pháp luật, có mối quan hệ nhân quả giữa hành vi trái pháp luật và thiệt
hại xảy ra. Tuy nhiên, đối với TNBTTH trong hợp đồng, căn cứ phát sinh TNBTTH
là do các bên thoả thuận, các bên tự thoả thuận đặt ra các căn cứ phát sinh và khi
một bên có sự vi phạm nghĩa vụ theo các thỏa thuận đó thì phải có nghĩa vụ bồi
thường thiệt hại cho bên còn lại.
Thứ năm, về chủ thể chịu trách nhiệm: TNBTTH ngoài hợp đồng ngoài việc
áp dụng đối với người có hành vi trái pháp luật thì còn áp dụng đối với người khác
như cha mẹ của người chưa thành niên, người giám hộ đối với người được giám hộ,
pháp nhân đối với người của pháp nhân, trường học, bệnh viện, cơ sở dạy nghề...
Tuy nhiên, TNBTTH trong hợp đồng chỉ có thể áp dụng đối với các bên tham gia
hợp đồng mà không thể áp dụng đối với người thứ ba. Hay nói các khác, các chủ
thể trong hợp đồng không thể thoả thuận bất kỳ ai không tham gia hợp đồng sẽ phải
chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại mà không được sự đồng ý của họ.
1.1.3.2. Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hành vi của con người gây ra và trách
nhiệm bồi thường thiệt hại do tài sản gây ra
Căn cứ vào nguyên nhân gây ra thiệt hại, TNBTTH được phân chia thành
TNBTTH do hành vi của con người gây ra và TNBTTH do tài sản gây ra.
TNBTTH do hành vi của con người gây ra được hiểu là TNBTTH phát sinh
khi thiệt hại xảy ra là kết quả tất yếu của hành vi của con người gây ra. Trường hợp
này người gây thiệt hại đã thực hiện hành vi dưới dạng hành động hoặc không hành
động và hành vi đó chính là nguyên nhân trực tiếp gây ra thiệt hại.
TNBTTH do tài sản gây ra là TNBTTH phát sinh khi tài sản là nguyên nhân
gây ra thiệt hại như hoạt động của nguồn nguy hiểm cao độ, cây cối, súc vật, nhà
công trình xây dựng gây thiệt hại.
Việc phân loại hai loại trách nhiệm này có ý nghĩa trong việc xác định căn cứ
làm phát sinh TNBTTH: Đối với trường hợp bồi thường thiệt hại do hành vi gây ra
thì một điều kiện không thể thiếu là hành vi gây thiệt hại phải là hành vi trái


13

pháp luật. Trong khi đó, bồi thường thiệt hại do tài sản gây ra vì không có hành vi
nên điều kiện này không thể được xem xét đến.
Ngoài ra, việc phân loại này còn có ý nghĩa trong việc xác định chủ thể chịu
trách nhiệm bồi thường: Về nguyên tắc thì người nào có hành vi trái pháp luật gây
ra thiệt hại thì người đó phải bồi thường thiệt hại do mình gây ra còn đối với bồi
thường thiệt hại do tài sản gây ra thì về nguyên tắc trách nhiệm lại thuộc về chủ sở
hữu hoặc người được chủ sở hữu giao quản lý tài sản đó chứ không phải thuộc về tất
cả mọi người đang chiếm giữ tài sản đó.
1.1.3.3. Trách nhiệm bồi thường thiệt hại liên đới và trách nhiệm bồi thường thiệt
hại riêng rẽ
Căn cứ vào mối liên hệ giữa quyền và nghĩa vụ của các chủ thể, TNBTTH
được phân loại thành TNBTTH liên đới và TNBTTH riêng rẽ.
TNBTTH liên đới được hiểu là trách nhiệm nhiều người mà theo đó thì mỗi
người trong số những người có trách nhiệm phải chịu trách nhiệm đối với toàn bộ
thiệt hại và mỗi người trong số những người có quyền đều có quyền yêu cầu người
gây thiệt hại phải bồi thường toàn bộ cho mình.
TNBTTH riêng rẽ là trách nhiệm nhiều người mà theo đó thì mỗi người có
trách nhiệm chỉ phải chịu trách nhiệm đối với phần thiệt hại do mình gây ra và mỗi
người trong số những người có quyền cũng chỉ có quyền yêu cầu người gây thiệt hại
bồi thường những tổn thất mà mình phải gánh chịu.
Việc phân loại này có ý nghĩa trong việc xác định cách thức thực hiện nghĩa
vụ, căn cứ phát sinh, chấm dứt nghĩa vụ để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của
các bên. Đối với TNBTTH liên đới thì khi một bên thực hiện xong phần nghĩa vụ
của mình trách nhiệm vẫn chưa chấm dứt mà họ còn phải chịu trách nhiệm đối với
toàn bộ thiệt hại. Khi một người gây thiệt hại đã thực hiện trách nhiệm bồi thường
thì sẽ phát sinh nghĩa vụ hoàn lại giữa những người có trách nhiệm khác với người
đó và khi một người trong số những người bị thiệt hại đã yêu cầu người gây thiệt
hại bồi thường toàn bộ thiệt hại cho mình thì phải hoàn lại phần tương ứng cho
những người bị thiệt hại khác.


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×