Tải bản đầy đủ

Quy định về hành vi cạnh tranh không lành mạnh theo luật cạnh tranh năm 2018

LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn thạc sỹ này là công trình nghiên cứu khoa học độc
lập của tôi. Các nội dung nghiên cứu và kết quả, các số liệu nêu trong luận văn là
trung thực có nguồn gốc rõ ràng và đáng tin cậy.
Tác giả luận văn

Phạm Thị Tƣơi


ii

LỜI CẢM ƠN
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc về sự giúp đỡ hết sức nhiệt tình và hiệu
quả của Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: PGS, TS Tăng Văn Nghĩa.
Tôi cũng xin chân thành cảm ơn tới tập thể cán bộ, giảng viên Cơ sở Quảng
Ninh, Khoa Luật, Khoa Sau đại học Trƣờng Đại học Ngoại thƣơng đã giúp đỡ tôi
trong thời gian học tập và hoàn thành khóa học tại Nhà trƣờng.
Tôi xin cảm ơn đồng nghiệp, bàn bè, cơ quan và gia đình đã tạo mọi điều
kiện giúp đỡ tôi trong thời gian qua để tôi hoàn thành nhiệm vụ học tập của mình.
Mặc dù đã có nhiều cố gắng trong việc tìm kiếm tài liệu, nghiên cứu và tìm
hiểu thực tế nhƣng do thời gian hạn chế nên Luận văn không tránh khỏi những sai

sót. Tác giả rất mong nhận đƣợc sự quan tâm đóng góp ý kiến của Quý thầy cô, bạn
bè, đồng nghiệp và độc giả.
Trân trọng cảm ơn!
Tác giả luận văn

Phạm Thị Tƣơi


iii

TÓM TẮT KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU CỦA LUẬN VĂN
Tên luận văn: “Quy định về hành vi cạnh tranh không lành mạnh theo Luật
Cạnh tranh năm 2018”
Luận văn đã đạt các kết quả chính nhƣ sau:
-

Đã phân tích khái niệm cạnh tranh không lành mạnh và khái quát pháp luật

cạnh tranh không lành mạnh.
-

Nêu và phân tích các quy định về cạnh tranh không lành mạnh theo quy

định của pháp luật Việt Nam (Luật Cạnh tranh năm 2018) và thẩm quyền xử lý hành
vi cạnh tranh không lành mạnh.
-

Phân tích và nhận xét một số vụ việc cạnh tranh không lành mạnh điển hình

tại Việt Nam.
-

Nêu những hạn chế trong việc xử lý hành vi cạnh tranh không lành mạnh.

-

Nêu xu hƣớng cạnh tranh không lành mạnh tại Việt Nam trong thời gian

tới, những đề xuất xử lý và giải quyết tranh chấp liên quan đến hành vi cạnh tranh
không lành mạnh tại Việt Nam.




MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN..................................................................................................................... i
LỜI CẢM ƠN........................................................................................................................... ii
TÓM TẮT KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU CỦA LUẬN VĂN..................................... iii
MỤC LỤC..................................................................................................................................... i
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT............................................................................................ iv
LỜI MỞ ĐẦU........................................................................................................................... 1
1. Tính cấp thiết của đề tài.............................................................................................. 1
2. Tình hình nghiên cứu................................................................................................... 2
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu......................................................................... 4
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu......................................................................... 4
5. Phƣơng pháp nghiên cứu.......................................................................................... 5
6. Kết cấu của Luận văn.................................................................................................. 5
MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ HÀNH VI CẠNH TRANH KHÔNG LÀNH MẠNH.6
1.1. Khái quát về hành vi cạnh tranh không lành mạnh.......................................... 6
1.1.1 Khái niệm.................................................................................................................. 6
1.1.2 Đặc điểm của hành vi CTKLM........................................................................ 9
1.1.3. Phân loại hành vi CTKLM............................................................................. 13
1.2. Khái quát về pháp luật chống CTKLM............................................................. 14
1.2.1. Khái niệm pháp luật chống CTKLM.......................................................... 14
1.2.2. Lịch sử hình thành và phát triển của pháp luật chống CTKLM.......15
1.2.3. Vai trò của pháp luật chống CTKLM......................................................... 16
1.2.4. Nội dung điều chỉnh của pháp luật chống CTKLM.............................. 18
1.3. Khái quát sự ra đời của Luật Cạnh tranh năm 2018..................................... 19


ii
CHƢƠNG II............................................................................................................................. 24
QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ HÀNH VI CẠNH TRANH KHÔNG
LÀNH MẠNH - THỰC TRẠNG VÀ MỘT SỐ VẤN ĐỀ ĐẶT RA TRONG VIỆC
ÁP DỤNG............................................................................................................................................. 24
2.1. Quy định của Luật Cạnh tranh năm 2018 về hành vi CTKLM................24
2.1.1. Xâm phạm thông tin bí mật trong kinh doanh........................................ 24
2.1.2. Ép buộc khách hàng, đối tác kinh doanh của DN.................................. 25
2.1.3. Cung cấp thông tin không trung thực về DN khác................................ 26
2.1.4. Gây rối hoạt động kinh doanh của DN...................................................... 28
2.1.5 Lôi kéo khách hàng bất chính......................................................................... 30
2.1.6. Bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ dƣới giá thành toàn bộ...................30
2.1.7 Các hành vi CTKLM khác bị cấm theo quy định của luật khác........31
2.2. Quy định về chế tài áp dụng đối với hành vi CTKLM................................ 36
2.3. Thực trạng xử lý các hành vi CTKLM............................................................... 38
2.3.1. Tổng quan xử lý các hành vi CTKLM....................................................... 38
2.3.2. Một số vụ việc cụ thể về xử lý các hành vi CTKLM...........................52
2.4. Một số vấn đề đặt ra trong việc xử lý, giải quyết hành vi CTKLM 54

2.4.1. Về quy định của pháp luật............................................................................ 54
2.4.2. Vấn đề giải quyết tranh chấp về CTKLM............................................... 55
2.4.3. Vấn đề “Tố tụng kép” trong việc bồi thường thiệt hại..................... 57
2.4.4. Vấn đề văn hóa, thói quen kinh doanh................................................... 57
CHƢƠNG III........................................................................................................................... 59
MỘT SỐ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN VÀ THỰC THI PHÁP LUẬT VỀ
CTKLM Ở VIỆT NAM................................................................................................................... 59
3.1. Xu hƣớng CTKLM trên thị trƣờng và nhu cầu xử lý tại Việt Nam59


iii
3.2. Một số giải pháp cụ thể......................................................................................... 61
3.2.1. Về hoàn thiện một số quy định của pháp luật...................................... 61
3.2.1.1. Đối với hành vi CTKLM...................................................................... 61
3.2.1.2. Đảm bảo sự hài hòa, tính tƣơng thích giữa các luật liên quan 65

3.2.2. Hoàn thiện trình tự, thủ tục xử lý các vụ việc CTKLM......................66
3.2.2.1. Giải pháp về thẩm quyền giải quyết vụ việc................................. 67
3.2.2.2. Về bồi thƣờng thiệt hại do hành vi CTKLM gây ra...................67
3.2.2.3. Về cơ chế giải quyết khiếu nại hành chính đối với quyết định
xử lý vụ việc CTKLM....................................................................................................... 74
3.2.2.4. Chế tài áp dụng đối với các hành vi CTKLM cần phải đủ mạnh
74
3.2.2.5 Cần áp dụng hòa giải trong giải quyết các vụ việc cạnh tranh . 75

3.2.3. Một số đề xuất khác.......................................................................................... 75
3.2.3.1. Tăng cƣờng khả năng phối hợp giữa các cơ quan, bộ, ngành
trong việc giải quyết những vụ việc liên quan đến CTKLM.............................. 75
3.2.3.2. Phổ biến kiến thức pháp luật về cạnh tranh nói chung và pháp
luật về chống CTKLM nói riêng................................................................................... 76
3.2.3.3. Nâng cao ý thức pháp luật và tự bảo vệ của DN và ngƣời tiêu
dùng.......................................................................................................................................... 77
3.2.3.4. Xây dựng đạo đức kinh doanh của DN........................................... 79
KẾT LUẬN.............................................................................................................................. 81
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO................................................................... 82


iv

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
STT
1
2
3

Ký hiệu viết tắt
DN
CTKLM
CTVBVNTD

Nội dung viết tắt
Doanh nghiệp
Cạnh tranh không lành mạnh
Cạnh tranh và bảo vệ ngƣời tiêu dùng


LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong bối cảnh nền kinh tế nƣớc ta đang tăng trƣởng theo hƣớng toàn cầu hóa
và hội nhập kinh tế quốc tế, thì cạnh tranh là quá trình tất yếu xảy ra trong quá trình
phát triển của các ngành kinh tế. Sự đấu tranh gay gắt, quyết liệt giữa các nhà sản
xuất kinh doanh đã mang lại một ƣu điểm lớn là đảm bảo thị trƣờng luôn mở cửa
cho các ngành mới, doanh nghiệp mới, buộc các doanh nghiệp (DN) luôn luôn phải
cải thiện mình, phải dựa trên chế độ sở hữu khác nhau về tƣ liệu sản xuất nhằm
giành đƣợc những điều kiện thuận lợi nhất về sản xuất, tiêu thụ hàng hóa và dịch vụ
để thu đƣợc lợi nhuận lớn nhất, thúc đẩy sản xuất kinh doanh phát triển, đồng thời
mang lại lợi ích cho ngƣời tiêu dùng.
Cạnh tranh là một quy luật và thuộc tính tất yếu của quá trình hội nhập kinh tế
quốc tế. Cạnh tranh là một động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế xã hội. Song cạnh
gay gắt quá sẽ dẫn đến cạnh tranh không lành mạnh (CTKLM). Các hành vi
CTKLM giữa các DN đã xâm hại quyền tự do kinh doanh, gây hậu quả xấu cho môi
trƣờng kinh doanh, cho các DN làm ăn chân chính và cho ngƣời tiêu dùng. Cơ chế
thị trƣờng cũng đặt ra nhu cầu phải thiết lập và duy trì một môi trƣờng cạnh tranh
công bằng và bình đẳng cho các chủ thể kinh doanh. Đây cũng là một điều kiện để
Việt Nam thực hiện cam kết sau khi gia nhập WTO. Vấn đề chống CTKLM và
chống hạn chế cạnh tranh (độc quyền) tiếp tục là vấn đề nóng bỏng và sôi động của
khoa học pháp lý nói chung và khoa học pháp lý kinh tế nói riêng không chỉ đối với
các quốc gia đã có nền kinh tế thị trƣờng phát triển mà cả ngay ở các quốc gia mới
chuyển đổi sang nền kinh tế thị trƣờng, trong đó có Việt Nam. Những năm qua, ở
nƣớc ta vấn đề cạnh tranh đã thu hút đƣợc sự quan tâm của nhiều giới, nhiều nhà
khoa học và có một số công trình nghiên cứu vấn đề này lần lƣợt ra đời. Pháp luật
vừa góp phần bình ổn các quan hệ kinh tế vừa điều chỉnh quan hệ kinh tế để nền
kinh tế phát triển một cách lành mạnh, ổn định, có tổ chức, theo định hƣớng, mục
tiêu đã định. Các hoạt động CTKLM trên thị trƣờng giữa doanh nghiệp nƣớc ngoài
với doanh nghiệp trong nƣớc; giữa hàng nội và hàng ngoại; giữa các doanh nghiệp
thuộc khu vực kinh tế tƣ nhân và các doanh nghiệp thuộc khu vực kinh tế quốc


2
doanh. vẫn đã và đang diễn ra không ngừng. Vì thế, việc xây dựng chế định pháp lý
về cạnh tranh, chống CTKLM và chống độc quyền trong chỉnh thể của hệ thống
pháp luật nói chung và khung pháp luật kinh tế nói riêng có tầm quan trọng đặc biệt
nhằm cải thiện môi trƣờng pháp lý, 5 khuyến khích hơn nữa các hoạt động đầu tƣ,
sản xuất kinh doanh của các chủ thể kinh tế trong và ngoài nƣớc. Nền kinh tế thị
trƣờng càng phát triển, sự vận động của các quan hệ kinh tế càng phong phú, đa
dạng thì quy mô và mức độ cạnh tranh ngày càng tăng, những hành vi CTKLM xuất
hiện ngày càng nhiều. Trong khi đó thực thi pháp luật cạnh tranh còn chƣa thực sự
có hiệu quả, Cơ quan quản lý cạnh tranh còn chƣa phát huy hết vai trò của mình
trong việc chống lại các hành vi CTKLM.
Đối với các DN, cạnh tranh quyết định sự tồn tại và phát triển của doanh
nghiệp, thúc đẩy doanh nghiệp nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh (cải tiến thiết
bị công nghệ, sử dụng nguồn tài nguyên một cách tối ƣu…), ảnh hƣởng đến uy tín,
quyết định vị thế của doanh nghiệp trên thƣơng trƣờng. Vì vậy, chúng ta không thể
phủ nhận mặt tiêu cực của cạnh tranh, cạnh tranh không lành mạnh (CTKLM) sẽ
gây ra những hậu quả tiêu cực, bị cuốn hút bởi các mục tiêu hạ giá thành, tăng lợi
nhuận…, các doanh nghiệp đã không chịu bỏ ra chi phí cho việc xử lý các chất thải,
ô nhiễm môi trƣờng và các vấn đề xã hội khác. Ngoài ra, cạnh tranh có thể có xu
hƣớng dẫn đến độc quyền…
Do đó, để điều chỉnh vấn đề cạnh tranh trong nền kinh tế các nƣớc nói chung
và trong lĩnh vực kinh doanh của các DN tại Việt Nam nói riêng đòi hỏi mỗi quốc
gia phải có một thể chế các quy định pháp luật về cạnh tranh phù hợp nhằm cải
thiện và hƣớng đến một môi trƣờng cạnh tranh lành mạnh trong kinh doanh.
Đứng trƣớc những lý luận và thực tiễn nói trên việc nghiên cứu và xây dựng
pháp luật về vấn đề chống cạnh tranh không lành mạnh là rất cần thiết. Chính vì
vậy, em chọn đề tại “Quy định về hành vi cạnh tranh không lành mạnh theo Luật
Cạnh tranh năm 2018” làm đề tài luận văn tốt nghiệp của mình.
2. Tình hình nghiên cứu
Những năm qua, ở nƣớc ta, pháp luật chống CTKLM ngày càng thu hút đƣợc
sự quan tâm đông đảo của các nhà khoa học thuộc nhiều lĩnh vực. Nhiều công trình


3
khoa học ở những phạm vi và mức độ tiếp cận khác nhau đã đề cập đến cơ sở lý
luận về cạnh tranh và pháp luật chống CTKLM, tìm hiểu nội dung pháp luật chống
CTKLM của một số nƣớc trên thế giới, nêu ra nhu cầu và phƣơng hƣớng xây dựng
pháp luật cạnh tranh nói chung và pháp luật chống CTKLM nói riêng ngày một
hoàn thiện hơn. Tiêu biểu phải kể đến một số tài liệu tham khảo và công trình
nghiên cứu nhƣ: Tài liệu tham khảo “Tiến tới xây dựng pháp luật về cạnh tranh
trong điều kiện chuyển sang nền kinh tế thị trƣờng ở Việt Nam” của tác giả Nguyễn
Nhƣ Phát và Bùi Nguyên Khánh, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội, 2001; Tài liệu
tham khảo “Pháp luật về kiểm soát độc quyền và chống CTKLM ở Việt Nam” của
tác giả Đặng Vũ Huân, Nxb chính trị quốc gia, Hà Nội, 2004; Tài liệu tham
khảo“cạnh tranh và xây dựng pháp luật cạnh tranh ở VN hiện nay” của Viện nghiên
cứu nhà nƣớc và pháp luật, Nxb công an nhân dân, Hà nội, 2001; Tài liệu tham
khảo “Pháp luật 6 chống cạnh tranh không lành mạnh” của tác giả Nguyễn Nhƣ
Phát, Viện nghiên cứu nhà nƣớc và pháp luật, 2005. Luật cạnh tranh của Việt Nam
đƣợc Quốc hội thông qua ngày 03/12/2004 và chính thức có hiệu lực ngày
01/07/2005 có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với sự điều tiết nền kinh tế theo cơ
chế thị trƣờng tại nƣớc ta. Sau thời điểm này cũng có nhiều tài liệu tham khảo và
công trình nghiên cứu về vấn đề này đƣợc đăng tải. Tiêu biểu nhƣ Đề tài NCKH
cấp bộ, Những nội dung cơ bản của Luật cạnh tranh Việt Nam năm 2004 và đề xuất
áp dụng của TS. Tăng Văn Nghĩa, 2005; Đề tài NCKH cấp bộ “Những vấn đề đặt ra
và giải pháp thực thi có hiệu quả Luật cạnh tranh trong thực tiễn” của TS Tăng Văn
Nghĩa, 2007; Tạp chí Luật học của Trƣờng ĐH Luật HN, số 6/2006 đăng bài “Đƣa
pháp luật chống CTKLM vào cuộc sống” của tác giả Nguyễn Nhƣ Phát; Luận án
tiến sỹ luật học “Pháp luật chống cạnh tranh không lành mạnh ở Việt Nam” của tác
giả Lê Anh Tuấn, Đại học Quốc gia Hà Nội, 2008; Giáo trình “Luật cạnh tranh” của
tác giả Tăng Văn Nghĩa, Nxb giáo dục Việt Nam, 2009... Ngoài ra còn rất nhiều bài
báo, tạp chí đã đƣa ra đƣợc thực trạng CTKLM, xây dựng và đóng góp ý kiến quý
báu cho việc hoàn thiện chính sách, pháp luật CTKLM đã đƣợc đăng tải trên các tạp
chí nhƣ Tạp chí Nhà nƣớc và pháp luật, Tạp chí Luật học, Tạp chí kinh tế. Tuy
nhiên từ đó đến nay, sau 13 năm Luật Cạnh tranh có hiệu lực, khi đất nƣớc Việt
Nam đang trên đà phát triển để hòa nhập đƣợc với sự phát triển công nghiệp hóa,


4
hiện đại hóa của đất nƣớc với các nƣớc trên thế giới, đòi hỏi Việt Nam phải đƣa ra
các chế tài để Luật cạnh tranh phù hợp với tình hình của đất nƣớc mình ngày
12/6/2018 Quốc hội đã ban hành Luật Cạnh tranh số 23/2018/QH14 của Việt Nam
sửa đổi, bổ sung một số Điều Luật tại Luật Cạnh tranh năm 2004. Đồng thời xây
dựng nền kinh tế cạnh tranh ngày càng lành mạnh hơn trong quá trình hội nhập và
phát triển. Luận văn này sẽ kế thừa những đặc điểm, nguyên tắc mang tính lý luận
chung và tập trung nghiên cứu chuyên sâu quy định về hành vi CTKLM theo Luật
cạnh tranh năm 2018.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của Luận văn là làm sáng tỏ những vấn đề lý luận về
CTKLM trong các quy định pháp luật hiện nay và sự cần thiết phải hoàn thiện vấn
đề này; đồng thời đƣa ra giải pháp nhằm hoàn thiện quy định về hành vi CTKLM
trên thực tế xảy ra ở Việt Nam.
Để thực hiện đƣợc mục đích trên, nhiệm vụ của Luận văn là:
- Làm rõ, đƣa ra những vấn đề lý luận về quy định hành vi CTKLM theo Luật
canh tranh năm 2018.
-

Nghiên cứu, tìm hiểu về cạnh tranh, pháp Luật Cạnh tranh nói chung và

pháp luật chống CTKLM nói riêng.
-

Phân tích, đánh giá thực trạng áp dụng pháp luật CTKLM trên thị trƣờng

cũng nhƣ thực trạng xử lý và giải quyết tranh chấp về CTKLM ở Việt Nam hiện
nay.
-

Đƣa ra những phƣơng hƣớng và giải pháp nhằm hoàn thiện đƣa ra giải pháp

nhằm hoàn thiện quy định của pháp luật về hành vi CTKLM ở Việt Nam.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tƣợng nghiên cứu là quy định về hành vi CTKLM theo Luật Cạnh tranh
năm 2018. Trình tự, thủ tục, khiếu nại, khởi kiện, các biện pháp xử lý, chế tài áp
dụng đối với hành vi CTKLM; giải quyết tranh chấp liên quan đến CTKLM trên thị
trƣờng Việt Nam.


5
- Phạm vi nghiên cứu:
Về nội dung, Luận văn giới hạn phạm vi nghiên cứu trong mối quan hệ giữa
các quy định về các hành vi CTKLM trong Luật Cạnh tranh năm 2018 với các quy
định liên quan tới cạnh tranh trong một số đạo luật chuyên ngành khác về thƣơng
mại, quảng cáo, hay bảo vệ ngƣời tiêu dùng…
Về thời gian, Luận văn lấy mốc thời gian nghiên cứu những vấn đề cạnh tranh,
pháp luật cạnh tranh, vụ việc CTKLM là năm 2018 khi Luật Cạnh tranh đƣợc sửa
đổi, bổ sung cho đến năm 2025 trên cơ sở đề xuất các giải pháp nhằm tăng cƣờng
xử lý các hành vi CTKLM trên thị trƣờng Việt Nam.
Về không gian, các hành vi CTKLM xảy ra trên lãnh thổ Việt Nam.
5. Phƣơng pháp nghiên cứu
Để hoàn thiện Luận văn, các phƣơng pháp đƣợc sử dụng bao gồm: phƣơng
pháp phân tích – tổng hợp, phƣơng pháp so sánh – đối chiếu, hệ thống hóa… nhằm
làm sáng tỏ các vấn đề nghiên cứu về hành vi CTKLM cũng nhƣ việc xử lý và giải
quyết tranh chấp từ các hành vi này.
6. Kết cấu của Luận văn
Ngoài Lời mở đầu, Kết luận, Mục lục và Danh mục tài liệu tham khảo, luận
văn đƣợc chia làm 03 chƣơng nhƣ sau:
-

Chƣơng I. Một số vấn đề về hành vi cạnh tranh không lành mạnh

-

Chƣơng II. Quy định của pháp luật về hành vi cạnh tranh không lành mạnh –

thực trạng và một số vấn đề đặt ra trong việc áp dụng
- Chƣơng III: Một số giải pháp hoàn thiện và thực thi pháp luật về cạnh tranh
không lành mạnh ở Việt Nam.


6
CHƢƠNG I.
MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ HÀNH VI CẠNH TRANH KHÔNG LÀNH MẠNH
1.1. Khái quát về hành vi cạnh tranh không lành mạnh
1.1.1 Khái niệm
Cạnh tranh là sản phẩm tất yếu của sự phát triển kinh tế xã hội. Trong mọi
phƣơng diện của cuộc sống ý thức vƣơn lên luôn là yếu tố chủ đạo hƣớng suy nghĩ
và hành động của con ngƣời. Hoạt động sản xuất kinh doanh (SXKD) là một lĩnh
vực quan trọng trong đời sống xã hội, trong đó ý thức vƣơn lên không đơn thuần là
mong muốn đạt đƣợc một mục tiêu nào đó mà còn là tham vọng trở thành ngƣời
đứng đầu. Suy nghĩ và hành động trong SXKD bị chi phối rất nhiều bởi tính kinh tế
khắc nghiệt. Trong giai đoạn hiện nay, yếu tố coi là khắc nghiệt nhất là cạnh tranh.
Môi trƣờng hoạt động của DN ngày nay đầy biến động và cạnh tranh hiện nay là
cuộc đấu tranh gay gắt, quyết liệt giữa các chủ thể kinh tế tham gia vào thị trƣờng
nhằm giành giật nhiều các lợi ích kinh tế hơn về mình. Để đạt đƣợc mục tiêu của
mình, chủ thể tham gia cạnh tranh có khả năng sử dụng nhiều cách thức khác nhau,
tạo ra tình trạng cạnh tranh ở những mức độ khác nhau, thậm chí sử dụng cả những
hành vi trái pháp luật, đi ngƣợc lại các nguyên tắc trung thực, thiện chí, hay những
thông lệ, tập quán đƣợc chấp nhận và tồn tại lâu dài trong kinh doanh, nhằm tối ƣu
hóa lợi thế cạnh tranh bất chính cho mình. CTKLM xuất hiện từ một trong những
con đƣờng nhƣ vậy.
Hiện nay, có nhiều quan niệm khác nhau về hành vi CTKLM. Hiểu theo nghĩa
rộng thì hành vi CTKLM bao gồm tất cả các hành vi cạnh tranh bằng việc sử dụng
các thủ đoạn bất chính, xâm hại tới các hoạt động cạnh tranh trên thị trƣờng, xâm
hại đến quyền tự do cạnh tranh một cách công bằng của các DN. Theo quan niệm
này, các hành vi hạn chế cạnh tranh nhƣ: thỏa thuận hạn chế cạnh tranh và lạm dụng
vị trí thống lĩnh thị trƣờng cũng đƣợc đƣa vào khía cạnh của CTKLM.
Theo luật sƣ Đặng Kim Ngân Hà, các hành vi cạnh tranh không lành mạnh
đang gây thiệt hại nặng nề, ảnh hƣởng nghiêm trọng đến hoạt động kinh doanh của
Universal Network Connection (UNC).


7

Luật sƣ Đặng Kim Ngân Hà - đại diện của Công ty Universal Network Connection
(UNC)
Nêu quan điểm về câu chuyện “cạnh tranh không lành mạnh”, luật sƣ Đặng Kim
Ngân Hà - đại diện của Công ty Universal Network Connection (UNC) cho hay,
Quyền chống cạnh tranh không lành mạnh là một trong những quyền đƣợc pháp
luật tôn trọng đƣợc quy định tại điều 3 Luật cạnh tranh 2018, cụ thể: Hành vi cạnh
tranh không lành mạnh là hành vi của doanh nghiệp trái với nguyên tắc thiện chí,
trung thực, tập quán thƣơng mại và các chuẩn mực khác trong kinh doanh, gây thiệt
hại hoặc có thể gây thiệt hại đến quyền và lợi ích hợp pháp của doanh nghiệp khác.
Điều 45 nêu: Các hành vi cạnh tranh không lành mạnh bị cấm nhƣ sau: Gây rối hoạt
động kinh doanh của doanh nghiệp khác bằng cách trực tiếp hoặc gián tiếp cản trở,
làm gián đoạn hoạt động kinh doanh hợp pháp của doanh nghiệp đó. Lôi kéo khách
hàng bất chính bằng các hình thức sau đây: Đƣa thông tin gian dối hoặc gây nhầm
lẫn cho khách hàng về doanh nghiệp mà doanh nghiệp cung cấp nhằm thu hút khách
hàng của doanh nghiệp khác.
Và Điều 6 Luật Sở hữu trí tuệ quy định: Quyền chống cạnh tranh không lành mạnh
đƣợc xác lập trên cơ sở hoạt động cạnh tranh trong kinh doanh.


8
Với kinh nghiệm cố vấn pháp lý cho các doanh nghiệp nƣớc ngoài và nhà nƣớc qua
nhiều năm, tôi nhận thấy rằng hành vi cạnh tranh không lành mạnh luôn là vấn đề
hàng đầu đƣợc các nhà lãnh đạo quan tâm và trăn trở, bởi vì hành vi cạnh tranh
không lành mạnh có thể tấn công doanh nghiệp khi các nhân viên chủ chốt rời đi và
làm việc cho đối thủ cạnh tranh, sử dụng (hoặc có thể sử dụng) thông tin bí mật
kinh doanh làm lợi cho đối thủ cạnh tranh trực tiếp của doanh nghiệp hoặc thành lập
nên một công ty mới cạnh tranh trực tiếp với doanh nghiệp là chuyện không mới tại
Việt Nam cũng nhƣ trên thế giới.
Các trƣờng hợp về các hành vi cạnh tranh không lành mạnh nhƣ: Sau khi nghỉ việc
tại doanh nghiệp, các nhân viên cũ để bắt đầu liên hệ với khách hàng hiện tại và
tiềm năng tƣơng lai của doanh nghiệp, xúi giục, lôi kéo, khích động khách hàng phá
vỡ hợp đồng của doanh nghiệp, dẫn tới các tổn hại đến uy tín và lợi ích kinh tế của
doanh nghiệp. Các nhân viên cũ của doanh nghiệp bắt đầu thành lập một công ty
mới với tên thƣơng mại dễ gây nhầm lẫn và kinh doanh sản phẩm dịch vụ tƣơng
ứng để cạnh tranh trực tiếp và đồng thời sử dụng mạng xã hội để nói xấu, không
đúng sự thật nhằm bôi nhọ, vu khống, xuyên tạc, xúc phạm danh dự, uy tín của
doanh nghiệp. (Nguồn: thanhnien.vn/tai-chinh-kinh-doanh/xu-ly-the-nao-voi-hanhvi-canh-tranh-khong-lanh-manh-1042582.html)
Hành vi CTKLM là hành vi của DN trái với nguyên tắc thiện chí, trung thực, tập
quán thƣơng mại, các chuẩn mực khác trong kinh doanh, gây thiệt hại hoặc có thể gây thiệt
hại đến quyền và lợi ích hợp pháp của DN khác. Luật Cạnh tranh 2018 điều chỉnh chung về
các quan hệ cạnh tranh. Việc điều tra, xử lý vụ việc cạnh tranh, miễn trừ đối với thỏa thuận
hạn chế cạnh tranh bị cấm và thông báo tập trung kinh tế phải áp dụng quy định của Luật
Cạnh tranh 2018. Trƣờng hợp Luật khác có quy định về hành vi hạn chế cạnh tranh, hình
thức tập trung kinh tế, hành vi CTKLM và việc xử lý hành vi CTKLM khác với quy định
của Luật này thì áp dụng quy định của Luật đó.

Nhƣ vậy, CTKLM là những hành vi cạnh tranh đi ngƣợc lại các nguyên tắc xã
hội tốt đẹp, tập quán và truyền thống kinh doanh thông thƣờng, xâm phạm hoặc đe
dọa tới lợi ích của các chủ thể kinh doanh xâm hại đến lợi ích của Nhà nƣớc, quyền
và lợi ích hợp pháp của DN khác hoặc của ngƣời tiêu dùng.


9
1.1.2 Đặc điểm của hành vi CTKLM
Theo Luật cạnh tranh năm 2018, hành vi CTKLM có những đặc điểm cơ bản
sau:
Thứ nhất, CTKLM là hành vi của DN trong quá trình kinh doanh
Đặc điểm này thể hiện quy định về đối tƣợng áp dụng của Luật Cạnh tranh.
Theo đó, chủ thể thực hiện hành vi cạnh tranh chỉ bao gồm các DN thuộc mọi thành
phần kinh tế, hợp tác xã, hộ kinh doanh cá thể, DN nƣớc ngoài hoạt động tại Việt
Nam, các hiệp hội ngành nghề. Những đối tƣợng còn lại nhƣ các đơn vị sự nghiệp,
các tổ chức của ngƣời tiêu dùng, các đơn vị truyền thông, các tổ chức phi kinh tế…
không là đối tƣợng áp dụng các quy định của pháp luật về CTKLM. Đôi khi, thực tế
phát sinh những tình huống một số tổ chức phi kinh tế, các đơn vị truyền thông…
thực hiện những hành vi xâm phạm đến quyền cạnh tranh lành mạnh của DN, ví dụ
tung tin không trung thực về DN, về hàng hóa. dịch vụ… Với việc giới hạn chủ thể
thực hiện hành vi, pháp Luật Cạnh tranh không áp dụng để xử lý những tình huống
trên. Mặt khác, đặc điểm này cũng khẳng định hành vi CTKLM xảy ra trong kinh
doanh ở mọi ngành, mọi lĩnh vực của đời sống kinh tế, mọi công đoạn của quá trình
kinh doanh. Pháp luật về hành vi CTKLM đƣợc áp dụng cho mọi ngành nghề, mọi
lĩnh vực kinh tế. Nói cách khác, pháp luật không giới hạn áp dụng cho bất kỳ ngành
nghề, lĩnh vực hoặc hoạt động kinh doanh nào của kinh tế quốc dân.
Thứ hai, là hành vi cạnh tranh trái với các chuẩn mực thông thƣờng về
đạo đức kinh doanh
Đặc điểm này là căn cứ lý luận để xác định bản chất không lành mạnh của
hành vi. Tuy nhiên, “trái với chuẩn mực thông thƣờng về đạo đức kinh doanh” là
thuật ngữ trừu tƣợng cả về pháp lý lẫn lý thuyết. Đây là những căn cứ rất khó xác
định. Bởi vậy, cơ quan có thẩm quyền không thể sử dụng khái niệm hành vi không
lành mạnh để quy kết một hành vi cụ thể của DN là không lành mạnh. Để khắc phục
tình trạng trên, pháp luật cạnh tranh đã tập trung giải quyết hai nội dung sau:
Một, vì các phƣơng pháp cạnh tranh rất đa dạng, bao gồm thủ đoạn gây nhầm
lẫn, gian dối, gièm pha, bóc lột, gây rối, nên Luật Cạnh tranh năm 2018 đã liệt kê


10
các hành vi cạnh tranh bị coi là không lành mạnh và quy định cấu thành pháp lý của
chúng. Pháp luật cạnh tranh của hầu hết các nƣớc nhƣ Cộng hoà liên bang Đức,
Nhật bản… đều có cách tiếp cận tƣơng tự, tức là ngoài việc đƣa ra khái niệm về
hành vi CTKLM (Điều 1 Luật Chống CTKLM Cộng hòa Liên bang Đức quy định:
“Người nào trong quan hệ thương mại mà có những hành vi nhằm mục đích cạnh
tranh, song những hành vi này chống lại truyền thống kinh doanh lành mạnh thì
buộc phải chấm dứt hành vi đó và bồi thường thiệt hại”) còn liệt kê và mô tả từng
hành vi bị coi là không lành mạnh trong cạnh tranh. Khái niệm hành vi CTKLM
đƣợc quy định trong Luật Cạnh tranh Việt Nam và của các nƣớc chỉ có ý nghĩa về
mặt lý thuyết. Trong thực tế, việc áp dụng sẽ căn cứ vào các quy định về từng hành
vi vi phạm cụ thể nhƣ chỉ dẫn gây nhầm lẫn, xâm phạm bí mật kinh doanh, dèm pha
DN khác….
Hai, các chuẩn mực thông thƣờng về đạo đức kinh doanh đƣợc xác định dựa
vào hai căn cứ sau đây:
– Căn cứ luật định là những tiêu chuẩn đã đƣợc định lƣợng hoá bằng pháp
luật, một khi hành vi đi trái với các quy định pháp luật sẽ đƣợc xem là không lành
mạnh. Trong trƣờng hợp này, hành vi CTKLM đồng nghĩa với hành vi cạnh tranh
bất hợp pháp. Theo đó, hành vi CTKLM có thể là hành vi của tổ chức, cá nhân kinh
doanh vi phạm điều cấm của pháp luật (bao gồm các quy định cấm của Luật Cạnh
tranh và các văn bản pháp luật khác nhƣ pháp luật thƣơng mại, pháp luật về quản lý
giá, pháp luật về sở hữu trí tuệ…) hoặc là hành vi vi phạm các tiêu chuẩn lành mạnh
đƣợc pháp luật quy định nhƣ pháp luật khuyến mại quy định giới hạn của giá trị
khuyến mại nhƣ sau: “mức giảm giá tối đa đối với hàng hóa, dịch vụ đƣợc khuyến
mại không đƣợc vƣợt quá 50% giá hàng hóa, dịch vụ đó ngay trƣớc thời gian
khuyến mại (Điều 6 Nghị định số 37/2006/NĐ-CP quy định chi tiết Luật Thƣơng
mại về hoạt động xúc tiến thƣơng mại.).
– Các tập quán kinh doanh thông thƣờng đã đƣợc thừa nhận rộng rãi đƣợc áp
dụng đối với những hành vi chƣa đƣợc pháp luật dự liệu là CTKLM. Nói cách khác,

căn cứ này là biện pháp dự phòng để áp dụng cho những trƣờng hợp pháp luật chƣa
quy định về một hành vi cụ thể nhƣng khi hành vi này đƣợc thực hiện đã xâm hại


11
đến quyền cạnh tranh của các tổ chức, cá nhân kinh doanh khác, quyền lợi hợp pháp
của ngƣời tiêu dùng và trái với tập quán kinh doanh. Căn cứ này đã mở rộng khả
năng điều chỉnh và khắc phục đƣợc tình trạng chóng lạc hậu của pháp Luật Cạnh
tranh. Cho đến nay, Luật Cạnh tranh chƣa quy định những tập quán kinh doanh nào
đƣợc coi là các chuẩn mực đạo đức thông thƣờng.
Tính trái chuẩn mực đạo đức thông thƣờng trong kinh doanh của hành vi
CTKLM đòi hỏi pháp Luật Cạnh tranh phải luôn đƣợc chỉnh lý, bổ sung cho phù
hợp với thực tiễn. Nhận thức về các dấu hiệu, biểu hiện không lành mạnh cụ thể
luôn thay đổi và có sự khác biệt theo từng điều kiện và hoàn cảnh cụ thể nhƣ sau:
– Quan niệm về tính không lành mạnh là kết quả của những ý niệm liên quan
đến xã hội học, kinh tế học, đạo đức học của một xã hội nhất định nên có thể dẫn
đến hiện tƣợng hành vi cạnh tranh bị coi là CTKLM ở nƣớc này, nhƣng đƣợc coi
là lành mạnh ở nƣớc khác.
– Trên thị trƣờng, những hành vi cạnh tranh luôn thay đổi không ngừng về
hình thức thể hiện và phƣơng thức cạnh tranh, làm xuất hiện những thủ đoạn
CTKLM mới muôn mầu, muôn vẻ. Vì vậy, phạm vi của khái niệm CTKLM cũng
phải luôn đƣợc bổ sung bởi sự nhận thức của con ngƣời về bản chất không lành
mạnh của những hành vi mới phát sinh.
– Hiện nay, pháp Luật Cạnh tranh của các nƣớc, các học thuyết liên quan đến
cạnh tranh chƣa đƣa ra đƣợc những tiêu chuẩn chung về tính lành mạnh của hành
vi cạnh tranh mà chỉ mới dựa vào việc phân tích các hậu quả của hành vi cạnh tranh
đối với đời sống kinh tế, xã hội để xác định sự lành mạnh và mức độ biểu hiện của
các hành vi đó. Theo sự thay đổi và phát triển của thị trƣờng, nhận thức về mức độ
ảnh hƣởng của từng hành vi trên thị trƣờng cũng thay đổi. Có những thời điểm nhất
định, hành vi nào đó có thể sẽ là nguy hiểm cho xã hội, nhƣng ở thời điểm khác lại
không có điều kiện để gây hại cho đối thủ hoặc cho ngƣời tiêu dùng. Sự thay đổi đó
đã làm cho phạm vi của khái niệm CTKLM luôn biến đổi.
Thứ ba, hành vi CTKLM gây thiệt hại, có thể gây thiệt hại đến lợi ích của
Nhà nƣớc, DN khác và ngƣời tiêu dùng


12
Hành vi CTKLM có đối tƣợng xâm hại cụ thể là lợi ích của Nhà Nƣớc, của
các DN khác và ngƣời tiêu dùng. Bên cạnh đó, thiệt hại mà hành vi gây ra có thể là
hiện thực (đã xảy ra) nhƣng cũng có thể chỉ là tiềm năng (có căn cứ để xác định
rằng hậu quả chắc chắn sẽ xảy ra nếu không ngăn chặn hành vi). Do đó, một số
hành vi CTKLM có cấu thành vật chất (thiệt hại là dấu hiệu bắt buộc) nhƣ dèm pha
DN khác; một số hành vi có cấu thành hình thức (thiệt hại không là dấu hiệu bắt
buộc mà có thể chỉ là sự suy đoán nếu hành vi tiếp tục đƣợc thực hiện), ví dụ hành
vi quảng cáo không trung thực….
Đặc điểm về hậu quả của hành vi giúp cho chúng ta phân biệt dƣới góc độ lý
thuyết hành vi CTKLM và hành vi hạn chế cạnh tranh. Hành vi hạn chế cạnh tranh là
những xử sự của DN hoặc nhóm DN làm thay đổi một cách tiêu cực tình trạng cạnh
tranh hoặc làm giảm tác dụng của cạnh tranh đối với thị trƣờng. Hành vi hạn chế cạnh
tranh có thể gây thiệt hại cho một, một số đội tƣợng cụ thể, song nghiêm trọng hơn là
làm cản trở, suy giảm hoặc sai lệch cạnh tranh. Trong khi đó, hành vi CTKLM chỉ gây
thiệt hại cho các tổ chức, cá nhân kinh doanh khác hoặc cho ngƣời tiêu dùng, xâm hại
đến trật tự quản lý cạnh tranh của nhà nƣớc mà không cản trở, sai lệch hay làm giảm
tình trạng cạnh tranh của thị trƣờng. Vì vậy, cách thức và mức độ xử lý đối với hai loại
hành vi này khác nhau. Dƣới góc độ lịch sử phát triển, những đặc điểm về hậu quả của
hành vi CTKLM thay đổi theo thời gian phụ thuộc vào nhận thức của con ngƣời về
tính nguy hại và mức độ xâm hại của hành vi đó đối với lợi ích mà pháp luật cần bảo
vệ. Ở thời kỳ đầu tiên, pháp Luật Cạnh tranh chỉ nhằm chống lại các biểu hiện không
lành mạnh xâm phạm lợi ích của đối thủ cạnh tranh theo quan niệm cạnh tranh phải là
sự đối đầu giữa các đối thủ trên thị trƣờng, vì vậy những hành vi xâm hại lợi ích ngƣời
tiêu dùng không nằm trong khái niệm CTKLM. Cùng với sự phát triển của nền kinh tế
thị trƣờng, những hành vi không lành mạnh đƣợc thực hiện với khách hàng (ngƣời
tiêu dùng), tƣởng chừng nhƣ không liên quan đến các đối thủ cạnh tranh nhƣng thực tế
cũng làm tổn hại và thậm chí phá vỡ trật tự và hệ thống cạnh tranh hiện hành. Do đó,
quan niệm về hành
vi

CTKLM đã làm cho pháp luật chống CTKLM mở rộng phạm vi sang cả những

hành vi xâm hại lợi ích của khách hàng, của ngƣời tiêu dùng.


13
Hơn 20 năm phát triển thị trƣờng của Việt Nam cho thấy CTKLM đang diễn ra
trong tất cả các ngành kinh tế. Ngoài khu vực độc quyền của các DN Nhà nƣớc, ở các
khu vực khác của thị trƣờng Việt Nam đã có sự tồn tại của cạnh tranh ở những mức độ
nhất định. Trong bối cảnh thực hiện nền kinh tế thị trƣờng, ở đâu có cạnh tranh, ở đó
có CTKLM. Các biểu hiện CTKLM cũng diễn ra trên các thị trƣờng hoá mỹ phẩm,
nƣớc giải khát và trong lĩnh vực quảng cáo, khuyến mại, mua bán…. Các

hành vi CTKLM rất đa dạng và luôn thay đổi về hình thức thực hiện. Ví dụ trong
lĩnh vực quảng cáo, có thể nghi ngờ tính trung thực của thông tin đƣợc cung cấp (về
khả năng tăng cƣờng trí thông minh của các lọai thuốc dinh dƣỡng, về tác động của
các sản phẩm sữa cho trẻ em…), về sự so sánh của các DN kinh doanh hóa mỹ
phẩm.
1.1.3. Phân loại hành vi CTKLM
Hành vi CTKLM đƣợc phân thành nhiều loại khác nhau, tùy thuộc vào tiêu
chí cũng nhƣ mục đích phân loại. Tuy nhiên, các hành vi CTKLM đều có chung
một bản chất là đều tạo ra lợi thế không chính đáng trong tƣơng quan cạnh tranh
trên thị trƣờng và có thể chia thành ba nhóm:
Nhóm 1: các hành vi mang tính chất lợi dụng
Đây là nhóm hành vi CTKLM mang tính điển hình, đƣợc thể hiện dƣới nhiều
hình thức khác nhau nhƣ gây ra những nhầm lẫn về nguồn gốc hàng hóa, dịch vụ,
xâm phạm bí mật kinh doanh… dẫn đến việc chiếm đoạt, sử dụng trái phép lợi thế
cạnh tranh của các DN khác, nó đƣợc quy định rõ tại Điều 40, 41 Luật Cạnh tranh,
chính là hành vi chỉ dẫn gây nhầm lẫn và hành vi xâm phạm bí mật kinh doanh.
Theo đó, hành vi chỉ dẫn gây nhầm lẫn là hành vi xâm hại đến tên thƣơng mại, khẩu
hiệu kinh doanh, bao bì… đƣợc in trên sản phẩm hàng hóa, hay dịch vụ của đối thủ
cạnh tranh. Xâm phạm bí mật kinh doanh là tiếp nhận, thu thập, sử dụng, tiết lộ
hoặc vi phạm hợp đồng bảo mật, có hành vi lừa gạt hay lợi dụng ngƣời có nghĩa vụ
bảo mật để có đƣợc thông tin bí mật kinh doanh của đối thủ cạnh tranh khi chƣa có
sự đồng ý của chủ sở hữu bí mật kinh doanh đó. Với mục đích là tạo nên sự nhầm
lẫn, với cái nhìn khác của khách hàng về hàng hóa, dịch vụ của DN khác là đối thủ
cạnh tranh với DN mình.


14
Hành vi xâm phạm bí mật kinh doanh là hành vi nhằm chiếm đoạt những kinh
nghiệm, tƣ liệu sản xuất, bí mật kinh doanh của các đối thủ cạnh tranh nhằm tạo lợi
thế phát triển, thu hút khách hàng cho DN mình.
Phƣơng pháp xác định hành vi chỉ dẫn gây nhầm lẫn là so sánh giữa các dấu
hiệu để có thể nhận biết hàng hóa, dịch vụ của DN đang sử dụng bị coi là đã có
hành vi sử dụng những thông tin gây nhầm lẫn cho khách hàng.
Nhóm 2: Các hành vi mang tính công kích
Nhóm hành vi này bản chất là tấn công, triệt tiêu, đƣa ra những thông tin sai
lệch làm mất uy tín, làm suy giảm lợi thế cạnh tranh hoặc mua chuộc, lôi kéo nhân
viên của đối thủ cạnh tranh, nó tác động thẳng tới đối thủ cạnh tranh của bên vi
phạm, nhƣng do tính chất trực diện của hành vi, các bên liên quan thƣờng có
khuynh hƣớng sử dụng các quy định trực tiếp về gây thiệt hại về bồi thƣờng thiệt
hại của pháp luật dân sự để giải quyết tranh chấp một cách triệt để, thay vì áp dụng
các quy định riêng của pháp luật về CTKLM.
Theo Luật Cạnh tranh Việt Nam nhóm hành vi này đƣợc quy định tại Điều 45
hành vi ép buộc trong kinh doanh, hành vi gièm pha DN khác, hành vi gây rối hoạt
động kinh doanh của doanh kéo bất nghiệp khác.
Nhóm 3: Nhóm hành vi lôi kéo bất chính khách hàng
Theo Điều 45, Luật Cạnh tranh 2018 bản chất của nhóm hành vi này là tạo ra
lợi thế CTKLM, dùng thủ đoạn để lôi kéo khách hàng mà chủ yếu là ngƣời tiêu
dùng, đối tƣợng chịu tác động trực tiếp
1.2. Khái quát về pháp luật chống CTKLM
1.2.1. Khái niệm pháp luật chống CTKLM
Trƣớc hết, để hiểu đƣợc khái niệm trên chúng ta phải làm rõ đƣợc khái niệm
pháp Luật Cạnh tranh. Pháp Luật Cạnh tranh nếu đƣợc hiểu theo nghĩa rộng bao
gồm pháp luật chống CTKLM, pháp luật chống hạn chế cạnh tranh, những quy định
điều chỉnh hoạt động tố tụng cạnh tranh và tất cả các quy phạm pháp luật điều chỉnh
hoạt động cạnh tranh trong các văn bản pháp luật có liên quan. Theo nghĩa hẹp,
pháp Luật Cạnh tranh là một đạo luật và những văn bản hƣớng dẫn thi hành điều


15
chỉnh hoạt động cạnh tranh nhằm bảo vệ tự do cạnh tranh, cơ cấu thị trƣờng cũng
nhƣ môi trƣờng cạnh tranh bình đẳng và công bằng (Tăng Văn Nghĩa, 2013).
Nhƣ vậy các khái niệm trên về Luật Cạnh tranh đều thể hiện một điểm chung:
pháp Luật Cạnh tranh là tổng hợp các quy phạm pháp luật điều tiết và kiểm soát
cạnh tranh nhằm tạo môi trƣờng cạnh tranh bình đẳng, hợp pháp bảo vệ lợi ích quốc
gia, lợi ích của DN và của ngƣời tiêu dùng, góp phần thúc đẩy kinh tế đất nƣớc
phát triển. Luật Cạnh tranh là công cụ của Nhà nƣớc để đảm bảo môi trƣờng cạnh
tranh lành mạnh.
Qua đó có thể hiểu pháp luật chống CTKLM là tổng hợp các quy phạm pháp
luật điều chỉnh những hành vi CTKLM. Vậy Hành vi CTKLM là hành vi cụ thể của
mọi chủ thể tham gia thị trƣờng nhằm mục đích cạnh tranh, thể hiện tính không
lành mạnh có thể vô tình hoặc cố ý gây thiệt hại cho đối thủ cạnh tranh. Tính không
lành mạnh của hành vi cạnh tranh phụ thuộc vào nhiều yếu tố của quan hệ thị
trƣờng và đƣợc điều chỉnh về cơ bản theo nguyên tắc chung của pháp luật dân sự.
1.2.2. Lịch sử hình thành và phát triển của pháp luật chống CTKLM
Trƣớc năm 1986, nền kinh tế Việt Nam vận hành theo cơ chế kế hoạch hóa tập
trung. Vì vậy có rất nhiều hạn chế trong nền kinh tế làm cho năng suất lao động
trong các đơn vị sản xuất kinh doanh chất lƣợng đạt không cao, cạnh tranh có thể
coi là không có đối với hoạt động kinh doanh. Nhƣng kể từ sau năm 1986, Việt
Nam chuyển từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung sang nền kinh tế thị trƣờng định
hƣớng xã hội chủ nghĩa thì tính hiệu quả và tính kinh tế của nền kinh tế theo cơ chế
thị trƣờng đã cao hơn rất nhiều. Với quan điểm “Nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá
đúng sự thật, nói rõ sự thật.” Đảng đã chỉ đạo mạnh mẽ quá trình tổng kết, phân tích
đánh giá thực tiễn, từ đó xác định các mục tiêu, nhiệm vụ cho từng thời gian cụ thể.
Nghị quyết đại hội Đại biểu toàn quốc khóa VI (1986) với đƣờng lối đổi mới nền
kinh tế theo hƣớng phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần theo định
hƣớng xã hội chủ nghĩa. DN thuộc các nền kinh tế khác cùng tồn tại bình đẳng.
Điều này đã tạo nên sự cạnh tranh của các chủ thể tham gia thị trƣờng cạnh tranh.
Tại Đại hội lần thứ VIII của Đảng đã tổng kết 10 năm thực hiện đƣờng lối đổi mới
và khẳng định: “Nước ta đã thoát khỏi khủng hoảng kinh tế xã hội”. Chính đƣờng


16
lối đổi mới nền kinh tế theo hƣớng phát triển nền kinh tế nhiều thành phần định
hƣớng xã hội chủ nghĩa đã tạo nên sự cạnh tranh của các chủ thể tham gia thị
trƣờng và mở cửa cho thị trƣờng cạnh tranh hoạt động.
Trong những năm đầu của thời kì đổi mới, chúng ta chƣa có pháp Luật Cạnh
tranh với tƣ cách là một đạo luật độc lập điều chỉnh các quan hệ cạnh tranh, nhƣng
cũng đã có một số quy phạm pháp luật nằm rải rác ở các văn bản pháp luật khác
nhau điều chỉnh vấn đề này. Luật Thƣơng mại năm 1997 là văn bản đầu tiên đã quy
định cấm những hành vi CTKLM, đó là các hành vi: gièm pha thương nhân khác,
ngăn cản, lôi kéo, đe dọa nhân viên hoặc khách hàng của thương nhân khác, lừa
dối khách hàng, gây nhầm lẫn cho khách hàng, khuyến mại bất hợp pháp… (Điều 8,
9).
Bộ Luật hình sự 2015 cũng đề cập tới một số tội nhƣ: Điều 192 quy định về
tội: “Sản xuất, buôn bán hàng giả”; Điều 193 quy định về tội: “Sản xuất, buôn bán
hàng giả là lƣơng thực, thực phẩm, phụ gia thực phẩm”; Điều 197 quy định về tội:
“Quảng cáo gian dối”; Điều 198 quy định về tội: “Lừa dối khách hàng”...
Tuy nhiên, những quy định trên mới chỉ là sự liệt kê chứ chƣa đi vào đời sống
kinh tế xã hội do còn thiếu các quy định cụ thể về cơ chế áp dụng cũng nhƣ các chế
tài áp dụng với doanh nghiệp vi phạm.
Chính vì vậy, ngày 3 tháng 12 năm 2004 tại kì họp thứ VI, quốc hội khóa XI
đã thông qua Luật Cạnh tranh 2004 và ngày 12 tháng 6 năm 2018, Quốc hội thông
qua Luật Cạnh tranh mới, có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2019.
Luật Cạnh tranh cùng các nghị định hƣớng dẫn là những văn bản trực tiếp điều
chỉnh các hành vi hạn chế cạnh tranh và các hành vi CTKLM.
1.2.3. Vai trò của pháp luật chống CTKLM
Để đảm bảo cạnh tranh tồn tại thì các quy định về tự do kinh doanh và quyền
đƣợc tồn tại bình đẳng là cơ sở pháp lý của các DN. Khi nào đƣợc tự do gia nhập
thị trƣờng, tự do giao kết và đảm bảo quyền sở hữu thì lúc đó các chủ thể tham gia
thị trƣờng mới có đủ năng lực để quyết định phƣơng thức kinh doanh. Khi đó, cạnh
tranh mới có thể tồn tại và phát huy tác dụng. Là lĩnh vực pháp luật đặc thù của nền


17
kinh tế thị trƣờng, Luật Cạnh tranh bảo vệ cạnh tranh bằng cách chống lại các hành
vi CTKLM và loại bỏ hạn chế cạnh tranh. Có thể thấy, pháp Luật chống CTKLM –
một bộ phận của Luật Cạnh tranh có những vai trò cơ bản sau:
Cạnh tranh là một hoạt động của nền kinh tế thị trƣờng, vừa có tác động tích
cực, vừa có tác động tiêu cực. Môi trƣờng cạnh tranh tốt giúp phát huy đƣợc tiềm
lực và sức mạnh kinh doanh vốn có của các chủ thể tham gia thị trƣờng. Việc bảo
đảm môi trƣờng cạnh tranh lành mạnh luôn đồng nghĩa với việc phải ngăn chặn và
loại trừ những hành vi cạnh tranh thiếu lành mạnh nhƣ kiểm soát đƣợc độc quyền.
Muốn ngăn chặn cạnh tranh thiếu lành mạnh, một mặt phải không ngừng hoàn thiện
cơ chế pháp luật để không còn khẽ hở cho những hành vi gian lận. Mặt khác ngay
bản thân quy chế pháp luật, bên cạnh những quy định xác lập khung pháp lý cho sự
cạnh tranh, cũng cần có những quy định đối với những hành vi không lành mạnh,
bảo vệ quyền lợi của các chủ thể bị các hành vi đó xâm hại.
Luật Cạnh tranh năm 2018 bảo đảm cạnh tranh lành mạnh bằng cách quy định
các nguyên tắc trong cạnh tranh, quy định các hành vi CTKLM và các biện pháp xử
lý vi phạm đối với các hành vi này.
Thứ hai, điều tiết quá trình cạnh tranh, tôn trọng và bảo đảm quyền lợi hợp
pháp của ngƣời tiêu dùng, bảo vệ quyền lợi của chủ thể kinh doanh, nhà nƣớc và xã
hội. Thị trƣờng hình thành từ mối quan hệ qua lại giữa ngƣời mua và ngƣời bán,
hay rộng hơn là giữa ngƣời sản xuất và ngƣời tiêu dùng dƣới quy luật cung cầu và
quy luật giá trị. Ngƣời tiêu dùng có quyền lựa chọn hàng hóa cũng nhƣ ngƣời cung
ứng hàng hóa và trả tiền cho sự lựa chọn đó. Về phía ngƣời sản xuất, lợi nhuận
không chỉ là mục tiêu, động lực mà còn là phƣơng thức tồn tại của họ. Việc nâng
cao năng lực sản xuất sẽ mở rộng khả năng đáp ứng các nhu cầu luôn thay đổi và
ngày một tăng của ngƣời tiêu dùng. Nhƣ vậy, cạnh tranh tham gia vào mọi phƣơng
diện của nền kinh tế, nó sàng lọc và lành mạnh hóa thị trƣờng, thúc đẩy sản xuất và
điều tiết tiêu dùng.
- Thứ ba, răn đe và nghiêm cấm mọi hành vi cạnh tranh không lành mạnh.
Tính răn đe thể hiện rất rõ trong Luật Cạnh tranh 2018 quy định các hình thức
xử lý vi phạm đối với các chủ thể thực hiện những hành vi cạnh tranh không lành


18
mạnh. Tùy theo tính chất, mức độ vi phạm, hậu quả hành vi mà các chủ thể vi phạm
có thể bị xử phạt hành chính, bồi thƣờng thiệt hại, thậm chí bị truy cứu trách nhiệm
hình sự.
Mục đích mà pháp Luật Cạnh tranh năm 2018 quy định nhƣ vậy là để răn đe
và nghiêm cấm các chủ thể thực hiện hành vi CTKLM. Qua đó tạo tâm lý, thái độ
tôn trọng pháp luật của các chủ thể kinh doanh.
1.2.4. Nội dung điều chỉnh của pháp luật chống CTKLM
Pháp Luật chống CTKLM ra đời nhằm đảm bảo thƣơng mại đƣợc diễn ra một
cách công bằng và không bị tác động tiêu cực bởi những hành vi CTKLM, không
phù hợp với chuẩn mực đạo đức kinh doanh thông thƣờng. Pháp Luật chống
CTKLM xuất hiện là do nhu cầu của thị trƣờng, nhất là trong phạm vi Châu Âu –
nơi mà thị trƣờng cũng nhƣ tự do thƣơng mại xuất hiện từ rất sớm. Ban đầu khái
niệm pháp Luật Cạnh tranh đƣợc hiểu đồng nghĩa với pháp Luật chống CTKLM
theo cách hiểu ngày nay.
Về nguyên tắc, pháp Luật chống CTKLM điều chỉnh những hành vi CTKLM.
Hành vi CTKLM là hành vi cụ thể của mọi chủ thể tham gia thị trƣờng (kể cả
không phải doanh nghiệp) nhằm mục đích cạnh tranh, thể hiện tính không lành
mạnh có thể vô tình hoặc cố ý gây thiệt hại cho một đối thủ cạnh tranh hay một bạn
hàng cụ thể. Tính không lành mạnh của hành vi cạnh tranh phụ thuộc vào nhiều yếu
tố của quan hệ thị trƣờng và đƣợc điều chỉnh cơ bản theo nguyên tắc chung của
pháp luật dân sự (luật tƣ). Điều này đã đƣợc chứng minh bởi thực tế (chẳng hạn ở
Pháp, Italia) ngay cả khi không có đạo luật về chống CTKLM với tính cách là một
chế định pháp luật riêng biệt, pháp luật dân sự vẫn có thể đƣợc áp dụng để chống lại
các hành vi CTKLM, bảo vệ lợi ích hợp pháp của các chủ thể tham gia thị trƣờng.
Trong một số trƣờng hợp đặc biệt, hành vi CTKLM có thể bị xử lý về mặt hình sự.
Dƣới cả hai giác độ xử lý trên thì pháp luật chỉ can thiệp khi có sự khiếu kiện của
ngƣời có quyền lợi và lợi ích liên quan. Các chế tài phần lớn là buộc phải đình chỉ
hành vi và bồi thƣờng thiệt hại xảy ra.


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×