Tải bản đầy đủ

Luận Văn Ứng dụng công nghệ thông tin tại Thư viện Tỉnh Vĩnh Phúc

TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA CÔNG NGHỆ THÔNG TIN

---------------------------------------------BÙI THỊ LOAN

ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN
TẠI THƢ VIỆN TỈNH VĨNH PHÚC
KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Thƣ viện – Thông tin

Ngƣời hƣớng dẫn khoa học
TS.Lê Văn Viết

Hà Nội, 2012


LỜI CẢM ƠN
Em xin chân thành cảm ơn TS. Lê Văn Viết – người đã tận tình giúp
đỡ, hướng dẫn em trong quá trình làm khóa luận này. Đồng thời em cũng xin
chân thành cảm ơn các thầy, cô giáo trong ngành thư viện - thông tin, khoa
công nghệ thông tin, trường Đại học sư phạm Hà Nội 2 đã tạo điều kiện thuận

lợi cho em trong quá trình nghiên cứu khóa luận này.
Do điều kiện thời gian nghiên cứu và vốn kiến thức còn nhiều hạn chế
nên đề tài của em cũng không tránh khỏi những thiếu sót nhất định, em rất
mong nhận được những lời nhận xét góp ý của các thầy cô giáo và các bạn để
khóa luận của em được hoàn thiện hơn.
Hà Nội, ngày 15 tháng 4 năm 2012
Sinh viên

Bùi Thị Loan


LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan những nội dung mà tôi đã trình bày trong khóa luận
tốt nghiệp này là kết quả quá trình nghiên cứu, tìm tòi học hỏi của bản thân
dưới sự chỉ bảo của giáo viên hướng dẫn. Những kết quả nghiên cứu của khóa
luận chưa từng được công bố tại bất cứ công trình nghiên cứu nào.
Hà Nội, ngày 15 tháng 4 năm 2012
Sinh viên

Bùi Thị Loan


MỤC LỤC
Mở Đầu
1. Tính cấp thiết của đề tài

6

2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài

7

3. Tình hình nghiên cứu theo hướng đề tài

7

4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

9


5. Cơ sở lí luận và phương pháp nghiên cứu

9

6. Ý nghĩa của đề tài

9

7. Kết cấu của khóa luận

9

Nội Dung
Chƣơng 1: Những vấn đề chung về ứng dụng Công Nghệ Thông
Tin tại Thƣ viện tỉnh Vĩnh Phúc

10

1.1. Những vấn đề chung về ứng dụng Công Nghệ Thông Tin trong
hoạt động Thư viện - Thông Tin

10

1.1.1 Một số khái niệm cơ bản

10

1.1.2. Vai trò của ứng dụng CNTT trong hoạt động TV - TT
1.1.3. Điều kiện ứng dụng công nghệ thông tin.
1.1.4. Các lĩnh vực hoạt động thông tin thư viện cần ứng dụng công
nghệ thông tin
1.2. Khái quát về TV tỉnh Vĩnh Phúc
1.2.1. Quá trình hình thành và phát triển
1.2.2. Cơ cấu tổ chức
1.2.3. Chức năng, nhiệm vụ của Thư viện
1.2.4. Đặc điểm NDT và nhu cầu tin

13
16

1.3. Tầm quan trọng của việc ứng dụng công nghệ thông tin tại TV
tỉnh Vĩnh Phúc.

22
24
24
27
27
28
30


CHƢƠNG 2: Thực trạng ứng dụng công nghệ thông tin tại Thƣ
viện tỉnh Vĩnh Phúc
2.1. Cơ sở hạ tầng
2.1.1. Trụ sở
2.1.2. Trang thiết bị
2.2. Phần mềm
2.2.1. Căn cứ để lựa chọn phần mềm
2.2.2. Những phần mềm đã chọn và tính năng của chúng
2.3. Nguồn nhân lực thông tin
2.3.1. Trình độ của đội ngũ cán bộ
2.3.2 Về chuyên môn được đào tạo
2.3.3 Phân bố nguồn nhân lực thông tin
2.4 Các lĩnh vực ứng dụng CNTT trong Thư viện và kết quả đạt được
2.5 Nguồn lực thông tin điện tử
2.6. Sản phẩm thông tin được tạo lập có sử dụng công nghệ thông tin.
2.7. Dịch vụ thông tin được tiến hành nhờ sử dụng CNTT
Chƣơng 3. Nhận xét và đề xuất giải pháp nhằm nâng cao chất
lƣợng ứng dụng công nghệ thông tin tại Thƣ viện tỉnh Vĩnh Phúc
3.1 Nhận xét
3.1.1 Ưu điểm
3.1.2 Hạn chế
3.2. Các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng ứng dụng CNTT tại
Thư viện tỉnh Vĩnh Phúc
3.2.1. Tăng cường ứng dụng CNTT, trang thiết bị kỹ thuật.
3.2.2.Tăng cường sản phẩm và dịch vụ thông tin hiện đại
3.2.3 Bảo đảm nguồn kinh phí
3.2.4. Đào tạo, bồi dưỡng trình độ cho cán bộ.
3.2.5. Đảm bảo kiến thức thông tin cho người dùng tin.
3.2.6. Hoàn thiện hệ thống phần mềm.

32
32
32
35
35
40
43
44
44
45
46
49
50
51

53
53
54
54

KẾT LUẬN

54
55
55
56
56
58
59

TÀI LIỆU THAM KHẢO

60


DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

VTL

Vốn tài liệu

TVĐT

Thư viện điện tử

CNTT

Công nghệ thông tin

TV

Thư viện

TV - TT

Thư viện – Thông tin

CSDL

Cơ sở dữ liệu


MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Ngày nay nhân loại đang bước sang một kỷ nguyên mới, kỷ nguyên
của nền kinh tế thông tin và tri thức. Cuộc cách mạng khoa học công nghệ
đã tác động đến mọi mặt của đời sống xã hội trong đó có hoạt động Thư
viện – Thông tin (TV-TT). Sự bùng nổ của công nghệ thông tin (CNTT) đã
đặt các thư viện (TV) đứng trước những cơ hội và thách thức mới. Giờ đây
các tài liệu trong thư viện không chỉ đơn thuần là các tài liệu truyền thống
như: sách, báo, tạp chí... mà còn xuất hiện nhiều loại hình tài liệu mới như:
các CD-ROM, các CSDL online... Bên cạnh đó, khối lượng thông tin tri
thức ngày càng tăng nhanh đòi hỏi các thư viện phải có phương tiện kỹ
thuật, phương pháp xử lý thông tin hiện đại thì mới có thể kiểm soát và sử
dụng nổi lượng thông tin khổng lồ hiện có. Đứng trước những cơ hội và
thách thức đó, để nắm bắt thời cơ và vượt qua thách thức đòi hỏi các thư
viện phải ứng dụng CNTT vào trong hoạt động của mình.
Thư viện tỉnh Vĩnh Phúc nằm ở trung tâm thành phố Vĩnh Yên. Để đáp
ứng tốt hơn nhu cầu ngày càng đa dạng và phong phú của bạn đọc trên địa bàn
tỉnh Vĩnh Phúc, ngoài việc hoàn thiện cơ sở vật chất, trang thiết bị, tăng cường
đào tạo đội ngũ cán bộ thì việc ứng dụng CNTT vào trong hoạt động của thư
viện đang được thư viện đặc biệt quan tâm. Với việc ứng dụng CNTT vào
trong TV, TV tỉnh Vĩnh Phúc đã đạt được một số kết quả nhất định về việc tạo
lập ra các sản phẩm và dịch vụ thông tin hiện đại, hỗ trợ cho cán bộ TV trong
các hoạt động của mình từ đó nâng cao hiệu quả hoạt động của TV. Tuy nhiên,
việc ứng dụng CNTT vào trong TV còn gặp một số hạn chế nhất định về cơ sở
hạ tầng, trang thiết bị, đội ngũ cán bộ có trình độ về CNTT…
Với mong muốn tìm hiểu sâu hơn về vấn đề trên, tôi đã quyết định
chọn đề tài “Ứng dụng CNTT tại Thƣ viện tỉnh Vĩnh Phúc” làm đề tài
nghiên cứu của khoá luận nhằm tìm hiểu kiến thức thực tế cho bản thân và
1


góp một phần nhỏ bé vào việc tìm ra giải pháp nhằm nâng cao chất lượng ứng
dụng CNTT vào công tác thư viện.
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
2.1 Mục đích nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của đề tài là nghiên cứu thực trạng ứng dụng
CNTT tại Thư viện tỉnh Vĩnh Phúc. Qua việc nghiên cứu đề tài sẽ phân tích,
đánh giá, đưa ra một số nhận xét và đề xuất giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả
ứng dụng công nghệ thông tin của Thư viện tỉnh Vĩnh Phúc.
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để giải quyết được mục đích đề ra, nhiệm vụ nghiên cứu của khoá luận là:
- Nghiên cứu lý luận chung về ứng dụng CNTT trong hoạt động TV-TT.
- Nghiên cứu thực trạng ứng dụng CNTT tại Thư viện tỉnh Vĩnh Phúc.
- Nhận xét, đánh giá và đề xuất giải pháp nhằm nâng cao chất lượng
hoạt động tại Thư viện tỉnh Vĩnh Phúc.
3. Tình hình nghiên cứu theo hƣớng đề tài
Ứng dụng CNTT trong hoạt động TV – TT đã và đang được rất nhiều
nhà khoa học, các chuyên gia... trên thế giới và trong nước nghiên cứu triển
khai. Có thể thấy, đây là vấn đề không mới trong sự nghiệp TV - TT. Tuy
nhiên, mỗi tác giả khi nghiên cứu, đều đề cập đến những khía cạnh khác nhau
của vấn đề trên. Kết quả của những công trình nghiên cứu đó sẽ giải quyết
những phương diện khác nhau của việc ứng dụng CNTT trong hoạt động TV TT điều đó đã góp phần tạo nên những cái mới, những thành tựu mới để hoạt
động TV - TT ngày càng hoàn thiện hơn, đáp ứng với yêu cầu thực tiễn .
Cho đến nay đã có rất nhiều tác giả quan tâm nghiên cứu và tìm hiểu về
ứng dụng CNTT trong hoạt động TV - TT như:
1. Nghiên cứu phát triển thư viện điện tử trong các trường đại học trên
địa bàn Hà Nội hiện nay (2009) của Phạm Thị Mai, luận văn thạc sĩ khoa học
thư viện (luận văn đã đề cập đến các vấn đề lý thuyết cũng như thực tiễn phát
2


triển thư viện điện tử ở mười trường đại học trên địa bàn Hà Nội, đồng thời
đưa ra các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của thư viện trường
đại học).
2. Tự động hoá trong hoạt động TV – TT (2007) của tác giả Trần Thị
Thuý, Đỗ Văn Hùng (tài liệu đã cung cấp cho người đọc cơ sở lý luận về tự
động hóa hoạt động TV – TT, giới thiệu những thiết bị, quy trình và các phần
mềm quản trị TV - TT hiện đại).
3. Số hoá tài liệu và tổ chức khai thác nguồn tài liệu số tại Thư viện
Quốc Gia Việt Nam (2010) của tác giả Lê Thị Thuý, khoá luận tốt nghiệp
(luận văn đã đi sâu tìm hiểu về nguồn tài liệu số hóa trong cơ cấu vốn tài liệu
của Thư viện Quốc Gia Việt Nam, thực trạng số hóa tài liệu và tổ chức khai
thác nguồn tài liệu số tại thư viện từ đó đưa ra một số giải pháp nhằm nâng
cao hiệu quả cho công tác số hóa tài liệu và tổ chức khai thác nguồn tài liệu số
tại Thư viện Quốc Gia Việt Nam).
Trong phạm vi của Thư viện tỉnh Vĩnh Phúc, việc ứng dụng công nghệ
thông tin trong quá trình hoạt động đã được triển khai. Tuy nhiên, hiện tại vấn đề
trên chưa có một công trình nghiên cứu của tác giả nào thực hiện, chính vì vậy
tôi đã quyết định chọn đề tài này nhằm tìm hiểu thực trạng công tác ứng dụng
CNTT của thư viện và vận dụng những kiến thức đã học từ nhà trường áp dụng
vào một số hoạt động của thư viện. Từ đó đề xuất những giải pháp nhằm nâng
cao hiệu quả hoạt động ứng dụng CNTT tại Thư viện tỉnh Vĩnh Phúc.
Có thể khẳng định, một đề tài nghiên cứu khoa học về thực trạng ứng
dụng CNTT trong quá trình hoạt động tại Thư viện tỉnh Vĩnh Phúc cùng với
những giải pháp cụ thể sẽ phần nào giúp đơn vị nhìn nhận chính xác thực tiễn,
từ đó đưa ra những biện pháp khắc phục những tồn tại và đề ra phương hướng
phát triển đúng đắn.

3


4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tƣợng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu chính của đề tài được xác định là:
- Ứng dụng CNTT tại Thư viện tỉnh Vĩnh Phúc
4.2 Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi nghiên cứu của đề tài được giới hạn về mặt không gian thời
gian là: Ứng dụng CNTT tại Thư viện tỉnh Vĩnh Phúc trong giai đoạn hiện nay.

5. Cơ sở lý luận và phƣơng pháp nghiên cứu
Cơ sở lý luận
- Khoá luận được viết trên cơ sở phương pháp luận là chủ nghĩa duy
vật biện chứng và duy vật lịch sử.
Phương pháp nghiên cứu.
Để hoàn thành đề tài tôi sử dụng một số phương pháp nghiên cứu sau:
+ Phương pháp nghiên cứu tài liệu
+ Phương pháp quan sát
+ Phương pháp điều tra, khảo sát, thu thập, xử lý số liệu.

6.Ý nghĩa của đề tài
- Về mặt lí luận: Khoá luận làm rõ nội hàm khái niệm liên quan đến
CNTT: CNTT, tin học, tự động hoá thư viện... tầm quan trọng của việc ứng
dụng CNTT đối với thư viện.
- Về mặt thực tiễn: Đưa ra một số nhận xét và đề xuất giải pháp phù
hợp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của Thư viện tỉnh Vĩnh Phúc.
7. Kết cấu của khoá luận
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, danh mục
từ viết tắt, phụ lục thì bố cục chính của khoá luận được chia thành 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề chung về ứng dụng CNTT tại Thư viện tỉnh Vĩnh
Phúc.
Chương 2: Thực trạng ứng dụng CNTT tại Thư viện tỉnh Vĩnh Phúc
Chương 3: Một số nhận xét và giải pháp ứng dụng CNTT để nâng cao chất
lượng hoạt động của Thư viện tỉnh Vĩnh Phúc.
4


NỘI DUNG
CHƢƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ ỨNG DỤNG
CÔNG NGHỆ THÔNG TIN TẠI THƢ VIỆN TỈNH VĨNH PHÚC
1.1 Những vấn đề chung về ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt
động Thƣ viện - Thông tin
1.1.1. Một số khái niệm cơ bản
1.1.1.1. Công nghệ thông tin (information technology)
Ngày nay, “Công nghệ thông tin” đã trở thành thuật ngữ không còn xa
lạ đối với chúng ta. Cùng với những lợi ích to lớn mà CNTT mang lại đã tác
động mạnh mẽ và làm cho xã hội loài người bước sang một thời kỳ mới - thời
kỳ phát triển rực rỡ trên mọi phương diện. Khi nhắc đến CNTT, trên thế giới
và ở Việt Nam đang tồn tại rất nhiều khái niệm khác nhau, điều đó thể hiện
quan điểm, nhận thức và cách tiếp cận khác nhau về vấn đề này của các nhà
khoa học cụ thể là:
Theo bách khoa toàn thư mở Wikipedia: “CNTT là ngành ứng dụng
công nghệ quản lý và xử lý lưu thông. Cụ thể là, CNTT là ngành sử dụng máy
tính và phần mềm máy tính để chuyển đổi, lưu trữ, bảo vệ, xử lý, truyền và
thu thập thông tin. Vì lý do đó, những người làm việc trong ngành này thường
gọi là các chuyên gia CNTT (IT specialist) hoặc cố vấn quy trình doanh
nghiệp và bộ phận của một công ty hay đại học chuyên làm việc với CNTT
thường được gọi là phòng CNTT”.
Theo từ điển bách khoa Việt nam: “CNTT (tin học) - thuật ngữ chỉ
chung cho tập hợp các ngành khoa học và công nghệ liên quan đến khái niệm
thông tin và xử lý thông tin. Theo nghĩa đó, CNTT cung cấp cho chúng ta các
quan điểm, các phương pháp khoa học, các phương tiện, công cụ và giải pháp
kỹ thuật hiện đại chủ yếu là các máy tính và công nghệ truyền thông nhằm tổ

5


chức, khai thác và sử dụng có hiệu quả các nguồn tài nguyên thông tin trong
mọi lĩnh vực hoạt động kinh tế, văn hoá, xã hội của con người”
Trong nghị quyết chính phủ số 49/CP ngày 04/8/1993, khái niệm
CNTT được định nghĩa như sau: “CNTT là tập hợp các phương pháp khoa
học, các phương tiện và công cụ kỹ thuật hiện đại - chủ yếu là kỹ thuật máy
tính và viễn thông nhằm tổ chức, khai thác và sử dụng có hiệu quả các nguồn
tài nguyên thông tin rất phong phú và tiềm năng trong mọi lĩnh vực hoạt động
của con người và xã hội”.
Chỉ thị 58 - CT/TW ngày 17/10/2000 của bộ chính trị về đẩy mạnh ứng
dụng và phát triển CNTT phục vụ sự nghiệp công nghiệp hoá hiện đại hoá đã
khẳng định: “CNTT là một trong các động lực quan trọng nhất của sự phát
triển, cùng với một số ngành công nghệ cao khác làm biến đổi sâu sắc đời
sống kinh tế, văn hoá của thế giới hiện đại”.
Như vậy, có thể hiểu CNTT là tập hợp các phương pháp khoa học,
phương tiện và công cụ kỹ thuật hiện đại để tổ chức, xử lý và khai thác hiệu quả
nguồn tài nguyên thông tin trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội. Ngày nay
CNTT đã có mặt trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, nhờ đó mà xã hội loài
người bước sang một thời kỳ mới - thời kỳ của xã hội thông tin tri thức.
1.1.1.2. Tin học
Theo bách khoa toàn thư mở Wikipedia: “Tin học là ngành nghiên cứu
về việc tự động hoá xử lý thông tin bởi một hệ thống máy tính cụ thể hoặc
trừu tượng. Với cách thể hiện này, tin học bao hàm tất cả các nghiên cứu và
kỹ thuật có liên quan đến việc xử lý thông tin. Trong nghĩa thông dụng, tin
học còn có thể bao hàm cả những gì liên quan đến các thiết bị máy tính hay
các ứng dụng tin học văn phòng”.
Theo từ điển bách khoa “Các lĩnh vực nghiên cứu chủ yếu của tin học bao
gồm: thuật toán và cấu trúc dữ liệu, kiến trúc máy tính, hệ điều hành, tính toán số
6


và ký hiệu, ngôn ngữ lập trình, phương pháp luận và công nghệ phần mềm, cơ sở
dữ liệu và các hệ tìm kiếm thông tin, trí tuệ nhân tạo và người máy”.
Trên thực tế, khái niệm tin học hoá và ứng dụng CNTT khá tương đồng
nên hai khái niệm tin học hoá thư viện và ứng dụng CNTT trong hoạt động
TV - TT có ý nghĩa tương đồng và thay thế lẫn nhau.
1.1.1.3. Tự động hoá Thƣ viện
Tin học hoá hoạt động TV - TT là xu thế phát triển tất yếu của sự
nghiệp TV - TT trên toàn thế giới. Ngày nay, xu thế này đang diễn ra trên quy
mô ngày càng rộng với tốc độ rất nhanh chóng. Đỉnh cao của việc ứng dụng
tin học trong quá trình hoạt động đã đưa sự nghiệp TV - TT tiến thêm một
bước quan trọng trên quy mô toàn cầu, đó là tự động hoá thư viện.
Tự động hoá thư viện có thể hiểu là việc ứng dụng CNTT vào các hoạt
động và dịch vụ của thư viện. Các chức năng có thể được tự động hoá là bất
kỳ hay tất cả các chức năng sau: bổ sung, biên mục, truy cập công cộng, đánh
chỉ mục và tóm tắt, lưu thông...
Tự động hoá thư viện có nhiều định nghĩa khác nhau:
Theo bách khoa toàn thư mở Wikipedia: “Hệ thống tự động hoá hoạt
động TV - TT là một hệ thống máy tính được thiết kế để tự động hoá hoạt
động nghiệp vụ và quản lý các cơ quan TV - TT bao gồm: chọn lọc, đặt mua
để bổ sung tài liệu, xử lý tài liệu/thông tin như: biên mục,tìm tin...
Theo từ điển thư viện học và thông tin học trực tuyến
(http://lu.coms/odlis): “Tự động hoá thư viện là việc sử dụng các hệ thống
máy tính được thiết kế và hoạt động nhằm thực hiện các công đoạn mà trước
đây được làm một cách thủ công trong các thư viện”.
Tự động hoá TV được định nghĩa đơn giản hơn đó là việc ứng dụng
CNTT, truyền thông và trang thiết bị hiện đại nhằm tăng cường chất lượng,
hiệu quả hoạt động TV - TT và trong đó ứng dụng CNTT đóng vai trò quan
trọng nhất.
7


1.1.2. Vai trò của ứng dụng CNTT trong hoạt động TV - TT
Từ việc ứng dụng CNTT trong quá trình hoạt động, sự nghiệp TV - TT
trên thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng đã, đang và sẽ có nhiều biến đổi
trên mọi phương diện. Những biến đổi mang tính tích cực đã khẳng định vai
trò của CNTT trong hoạt động TV - TT.
1.1.2.1. Làm biến đổi bản thân Thƣ viện
Hình ảnh thư viện truyền thống ra đời với chức năng lưu trữ, bảo quản
và phục vụ vốn tài liệu chủ yếu là giấy, đất sét, da thú, tre nứa... đã tồn tại
trong lịch sử xã hội loài người từ thế kỷ thứ III cho đến nay. Khi CNTT xuất
hiện đã tác động sâu sắc và làm biến đổi căn bản bản chất của thư viện. Hình
ảnh TV truyền thống dần biến đổi trở thành TV lưỡng tính, trong đó tồn tại cả
vốn tài liệu truyền thống (chủ yếu là giấy) và tài liệu điện tử. Hơn thế nữa mô
hình TV điện tử, TV số, TV ảo đang dần được hình thành trên quy mô toàn
thế giới, điều đó đã cho thấy sự khác biệt lớn giữa hình ảnh TV truyền thống
và hình ảnh TV hiện đại, cụ thể là:
+ Từ vốn tài liệu (VTL) truyền thống (chủ yếu là giấy) sang VTL điện
tử (tài liệu số)
+ Từ người dùng tin (NDT) đến với TV thì ngày nay, TV tự đến với NDT
+ Tài liệu/thông tin lấy chủ yếu từ nguồn trong nước nay đã bổ sung
được tài liệu nước ngoài và với tới nguồn lực thông tin toàn cầu.
+ Từ TV có nguồn lực thông tin khép kín sang TV có khả năng chia sẻ,
trao đổi nguồn lực thông tin giữa các cơ quan TV - TT với nhau.
+ Từ TV chỉ có khả năng cung cấp tài liệu/thông tin tại địa điểm, thời
gian nhất định thì ngày nay TV có thể thực hiện điều đó mọi nơi, mọi lúc.
1.1.2.2. Làm biến đổi chức năng, vai trò của ngƣời cán bộ TV
Trong TV truyền thống, cán bộ TV đóng vai trò là nhà tổ chức, bảo
quản và phục vụ sách cho bạn đọc, nhưng ở TV hiện đại, họ trở thành những
8


nhà cung cấp thông tin có định hướng (các chuyên gia thông tin), tức là người
xử lý thông tin và tạo ra thông tin mới cùng với các sản phẩm và dịch vụ
thông tin đa dạng, có giá trị gia tăng cao nhằm đáp ứng, thu hút ngày càng
nhiều NDT đến với TV.
Bên cạnh trình độ chuyên môn nghiệp vụ TV, cán bộ TV phải có trình
độ và kỹ năng tin học thành thạo, phải thực hiện được những nhiệm vụ mới
như: quản trị thư viện điện tử, tổ chức, quản lý và phục vụ thông tin số, tạo
lập sản phẩm và dịch vụ thông tin hiện đại đáp ứng nhu cầu ngày càng đa
dạng, phong phú của NDT.
1.1.2.3. Làm biến đổi phƣơng thức hoạt động của thƣ viện
- Đối với hoạt động bổ sung
Ngoài những tài liệu được bổ sung thông qua phương thức đặt mua,
tặng biếu, các TV có thể khai thác nguồn thông tin lớn trên mạng. Hơn nữa,
các TV còn có thể làm phong phú VTL của mình bằng việc liên kết, trao đổi
và chia sẻ nguồn lực thông tin với các cơ quan TV - TT khác dưới sự hỗ trợ
của phần mềm chuyên dụng, hệ thống mạng LAN, WAN, INTERNET....
Nhờ việc đặt mua tài liệu qua mạng sẽ giúp cho các TV tiết kệm thời
gian, công sức và tài chính. Một đặc trưng rất quan trọng trong hoạt động bổ
sung tài liệu ở TV hiện đại là luôn chú trọng bổ sung tài liệu điện tử và hạn
chế bổ sung tài liệu in.
Xu hướng phát triển tất yếu trong các TV hiện đại là phối hợp bổ sung
VTL giữa các cơ quan với nhau, tức là liên kết để chia sẻ, trao đổi nguồn lực
thông tin.
- Đối với hoạt động xử lý kỹ thuật
Trong TV truyền thống, hoạt động xử lý kỹ thuật đòi hỏi nhiều thời
gian, công sức, mỗi mục đích, công đoạn phải xử lý kỹ thuật riêng. Nhưng khi
ứng dụng CNTT thì cần xử lý một lần, sử dụng nhiều lần với nhiều mục đích
9


khác nhau. Hơn nữa các TV còn có thể tận dụng kết quả xử lý ở các cơ quan
khác trong quá trình thực hiện công việc.
Như vậy, dưới sự hỗ trợ của CNTT đã giúp cho hoạt động xử lý kỹ
thuật trong các cơ quan TV - TT được tiến hành nhanh chóng, chính xác, tiết
kiệm thời gian, công sức và tài chính.
- Hoạt động phục vụ NDT
Từ bộ máy tra cứu truyền thống, bao gồm hệ thống: mục lục chữ cái,
mục lục phân loại, mục lục chủ đề dần bị thay thế bằng bộ máy tra cứu hiện
đại với các cơ sở dữ liệu thư mục về VTL của TV. Ngoài ra, các TV còn tạo
lập nhiều CSDL khác như: CSDL sự kiện, nhân vật, toàn văn... nhằm giúp
NDT có thêm nhiều cơ hội để với tới nguồn tài nguyên thông tin vô cùng
phong phú và đa dạng về mọi lĩnh vực khoa học.
CNTT đã tác động làm mở rộng số lượng và phạm vi người sử dụng.
Nếu trong TV truyền thống, đối tượng phục vụ chủ yếu là cá nhân, tổ chức tại
một khu vực địa điểm nhất định thì ở TV hiện đại đối tượng NDT bao gồm
các cá nhân, tập thể cả trong và ngoài nước. Thông qua hệ thống mạng, NDT
có thể sử dụng VTL của TV tại bất kỳ địa điểm hay thời điểm cụ thể nào.
Các sản phẩm và dịch vụ thông tin hiện đại được tạo lập với nội dung
đảm bảo chất lượng và hình thức phong phú, đó là phương tiện đưa thông tin
đến với NDT một cách nhanh chóng, chính xác, kịp thời.
Số lượng NDT sử dụng TV ngày càng nhiều hơn, bởi đến với TV, họ
không chỉ được sử dụng VTL truyền thống mà còn được đáp ứng một cách
nhanh chóng, dễ dàng hơn. Hơn nữa, thông qua việc mượn liên thư viện giúp
cho các cơ quan TV - TT có được nguồn thông tin phong phú, đáp ứng ngày
càng cao nhu cầu của mọi đối tượng NDT.
Tuy nhiên, đến với TV hiện đại, NDT có thể phải:
+ Trả tiền: Khi sử dụng một số sản phẩm và dịch vụ thông tin mới, có
giá trị gia tăng cao.
10


+ Tự phục vụ: Khi TV phục vụ NDT theo phương thức mở.
1.1.3. Điều kiện ứng dụng công nghệ thông tin
Để ứng dụng CNTT trong quá trình hoạt động đạt hiệu quả đòi hỏi các
cơ quan thông tin phải không ngừng đầu tư, trang bị cả về nhân lực, vật lực và
tài lực.
1.1.3.1. Cơ sở hạ tầng thông tin
Về phần cứng:
Hạ tầng phần cứng của thư viện là các thiết bị phần cứng phục vụ cho
công tác TV - TT như: hạ tầng mạng, hệ thống máy chủ và máy trạm, các
thiết bị ngoại vi, các thiết bị an ninh. Trong đó:
* Hạ tầng mạng:
Hạ tầng mạng là thành phần cơ bản của mạng thông tin thực hiện chức
năng kết nối thiết bị như máy chủ, máy trạm, các thiết bị ngoại vi, các thiết bị
mạng thông qua đường kết nối vật lý. Hệ thống hạ tầng mạng bao gồm các
thiết bị kết nối và môi trường truyền. Các thiết bị kết nối hiện nay bao gồm:
switch, router, hub...
* Hệ thống máy chủ:
Hệ thống máy chủ đảm bảo cung cấp các dịch vụ phục vụ cho hệ thống
mạng. Máy chủ là một máy tính hay một thiết bị trên mạng, chức năng chủ
yếu của nó là quản lý các tài nguyên của mạng. Các máy chủ được sử dụng
cho nhiều máy tính khác nhau cùng truy cập, vì vậy thông thường chúng là
các máy tính có cấu trúc phần cứng rất mạnh và có các hệ thống phần mềm
chuyên biệt để phục vụ cho nhiều người cùng một lúc. Các máy chủ được sử
dụng để cung cấp nhiều dịch vụ cùng một thời điểm, nhưng để đảm bảo cho
các dịch vụ luôn hoạt động tốt, các nhà quản lý thường chuyên biệt hoá các
máy chủ theo từng mục đích khác nhau.
Hệ thống máy chủ bao gồm:
+ Máy chủ ứng dụng (Applycation Server): Là một chương trình điều
khiển tất cả các hoạt động ứng dụng giữa những người sử dụng và các ứng
11


dụng tầng cuối của một tổ chức hoặc là các CSDL. Các dịch vụ ứng dụng điển
hình được sử dụng cho các ứng dụng liên hợp giao dịch cơ bản. Để hỗ trợ yêu
cầu cao, một dịch vụ ứng dụng phải có sự dư thừa bên trong, điều khiển cho
khả năng xuất hiện cao, phân bố các dịch vụ ứng dụng và hỗ trợ liên kết truy
cập CSDL.
+ Máy chủ in (print server): Dịch vụ in được cài đặt trên một mạng để
định tuyến các yêu cầu in từ các máy tính trạm của mạng đó. Các máy chủ
điều khiển in tập tin yêu cầu và gửi tập tin đó tới máy in được yêu cầu. Một
dịch vụ in cho phép nhiều người cùng sử dụng máy in trên mạng.
+ Máy chủ CSDL (database Server): Một dịch vụ CSDL là một ứng
dụng cơ bản trên mô hình kiến trúc máy chủ/máy trạm. Ứng dụng được chia
làm hai phần, một phần chạy trên một máy trạm và phần còn lại chạy trên
máy chủ. Máy chủ CSDL thực hiện chức năng quản trị hệ thống dữ liệu TV TT. Hệ thống dữ liệu này là nền tảng cơ sở của hệ thống mạng thư viện.
+ Máy chủ dữ liệu số: Chức năng là lưu trữ dữ liệu số và cung cấp các
dịch vụ trao đổi dữ liệu số. Máy chủ cho phép lưu trữ không những dữ liệu
thư mục, tóm tắt mà còn cho lưu trữ dữ liệu toàn văn, đầy đủ các thông tin của
tài liệu đó. Ngoài ra, còn lưu trữ được hình ảnh, audio/video được số hoá.
* Hệ thống máy trạm:
Hệ thống máy trạm là hệ thống máy tính được sử dụng để cập nhật, xử
lý và khai thác thông tin. Hệ thống máy trạm bao gồm:
+ Máy trạm nghiệp vụ: Phục vụ công tác của cán bộ TV như: bổ sung,
biên mục, cũng như biên tập thông tin
+ Máy trạm phòng đọc Multimedia: Sử dụng phục vụ bạn đọc tra cứu,
khai thác và sử dụng tài liệu multimedia.
+ Máy trạm quản trị mạng: Phục vụ công tác quản trị mạng của cán bộ
quản trị thông tin.

12


+ Máy trạm tra cứu: Phục vụ công tác tra cứu cho bạn đọc và cán bộ
thư viện.
* Thiết bị an toàn thông tin:
Thiết bị an toàn thông tin là các thiết bị hỗ trợ nhằm đảm bảo an toàn
cho hệ thống thông tin như: các thiết bị lưu điện, thiết bị chống sét, thiết bị
sao lưu dữ liệu, thiết bị bảo vệ, bảo mật...
Ngoài ra, hạ tầng phần cứng còn có các thiết bị khác như: thiết bị ngoại
vi (máy in Laze, máy scanner, máy đọc mã vạch, máy photocopy....), các thiết
bị nhập dữ liệu .
Về phần mềm: là phần rất quan trọng khi xây dựng TVĐT, bao gồm:
- Hệ điều hành và hệ quản trị CSDL: Là phần mềm nền tảng phục vụ
điều hành hoạt động hệ thống và các ứng dụng nghiệp vụ.
- Các phần mềm hệ thống, bảo mật và các phần mềm dịch vụ: Đây là
các phần mềm hỗ trợ để đảm bảo việc hoạt động cũng như tính an toàn của
toàn bộ hệ thống, gồm các phần mềm sao lưu dữ liệu, phần mềm bảo vệ, các
dịch vụ mạng, các tiện ích...
- Phần mềm thư viện tích hợp: Đây là phần mềm đóng vai trò quan
trọng nhất. Hiện nay ở Việt Nam có rất nhiều phần mềm khác nhau. Tuy
nhiên việc lựa chọn phần mềm nào cho mỗi thư viện lại phụ thuộc vào khả
năng và điều kiện thực tiễn của chính thư viện đó.
Đối với phần mềm TVĐT tích hợp phải thực hiện được các chức năng
cơ bản sau:
+ Tự động hoá hoạt động nghiệp vụ như: bổ sung, thu thập, xử lý, lưu
trữ, phổ biến và phân phối thông tin
+ Xây dựng các loại CSDL thư mục, tóm tắt. Tạo liên kết đến nguồn
CSDL số. Trao đổi nguồn dữ liệu thư mục
+ Xây dựng các sản phẩm và dịch vụ thông tin hiện đại
13


+ Tổ chức bộ máy tra cứu khai thác tìm tin đến các nguồn thông tin
trong TV.
+ Tích hợp một số thiết bị chuyên dụng: mã vạch, cổng từ...
Phần mềm TVĐT tích hợp được thiết kế gồm các module sau:
+ Bổ sung
+ Biên mục
+ Lưu thông
+ Tra cứu
+ Quản lý xuất bản phẩm nhiều kỳ
+ Quản lý kho
+ Quản lý bạn đọc
+ Quản lý hệ thống
- Phần mềm quản lý tài liệu số cho phép lưu trữ và khai thác các loại tài
liệu đã được số hoá âm thanh, hình ảnh, phim, dữ liệu toàn văn với nhiều định
dạng khác nhau. Hỗ trợ xây dựng các giáo trình, bài giảng, sách điện tử, biến
các loại tài liệu này trở thành các dữ liệu của TV. Cho phép NDT truy cập và
khai thác thông tin trực tuyến.
Phần mềm quản lý tài liệu số có các tính năng cơ bản sau:
+ Thu thập và bổ sung các tư liệu: Thư viện số cung cấp quy trình số
hoá và xử lý các dạng tài liệu khác nhau như văn bản, hình ảnh, âm thanh,
phim và các định dạng khác
+ Lưu trữ: Hệ thống TV - TT số cho phép lưu trữ các tư liệu thuộc
nhiều dạng khác nhau (văn bản, hình ảnh, âm thanh).
+ Biên mục theo chuẩn: Nguyên tắc chung của việc biên mục dữ liệu số
là xây dựng các bộ nhãn trường cá biệt cho mỗi loại tài liệu cần số hoá. Các
nhãn trường này tuân theo các thành phần do tổ chức sáng kiến siêu dữ liệu
Dublin Core quy định hoặc theo chuẩn RDF (resource Desciption
Framework) của W3C.
14


- Phần mềm mục lục liên hợp
Mục lục liên hợp là hình thức tập hợp toàn bộ CSDL các bản ghi thư
mục của nhiều thư viện hoặc tổ chức thành một mục lục chung, nhằm mục
đích chia sẻ nguồn lực giữa các cơ quan TV - TT trong công tác biên mục,
kiểm soát nguồn lực thông tin, đồng thời tạo điều kiện dễ dàng cho NDT tìm
kếm tài liệu. Đặc biệt với xu hướng ngày càng nhiều tài liệu được số hoá và
có thể được truy cập online, mục lục liên hợp có thể trở thành một cổng thông
tin thư mục thống nhất giúp bạn đọc tiếp cận với toàn bộ CSDL của các đơn
đơn vị thành viên tham gia mục lục liên hợp.
- Phần mềm cổng thông tin tích hợp.
Cổng thông tin là đầu mối thông tin của mọi nguồn thông tin trong hệ
thống, có khả năng chuẩn hoá, chia sẻ và phổ biến thông tin. Hệ thống phải
đảm bảo các tính năng sau:
+ Tập hợp và liên kết thông tin từ nhiều nguồn khác nhau.
+ Phân loại và tập hợp thông tin theo chủ đề phục vụ cho tìm kiếm.
+ Quản lý quá trình cộng tác đóng góp thông tin vào hệ thống.
+ Cá nhân hoá, thông tin được cung cấp theo các yêu cầu đặc thù.
+ Điểm truy cập duy nhất tới mọi thông tin.
+ Cung cấp cho NDT một số dịch vụ thông tin cơ bản như: lựa chọn
nguồn thông tin sử dụng, đăng ký xem thông tin, tìm kiếm thông tin...
- Phần mềm xuất bản thông tin điện tử
Phần mềm xuất bản CD-ROOM thông tin cho phép người dùng xây dựng
và xuất bản ấn phẩm thông tin trên các CD-ROOM theo nội dung tuỳ chọn.
Hỗ trợ đầy đủ các công cụ cần thiết từ khâu tìm kiếm đến tổ chức và
xây dựng ấn phẩm thông tin hoàn chỉnh trên đĩa CD-ROOM.
1.1.3.2. Trình độ và năng lực của đội ngũ cán bộ
Ngoài việc đầu tư, xây dựng cơ sở hạ tầng thông tin đủ mạnh, để ứng
dụng CNTT vào trong quá trình hoạt động đạt hiệu quả thì vấn đề đào tạo,
nâng cao trình độ, năng lực cho đội ngũ cán bộ đóng vai trò quan trọng.
15


Đối với mỗi người cán bộ ở mỗi đơn vị công tác khác nhau trong lĩnh
vực CNTT đều phải đáp ứng những yêu cầu nhất định, cụ thể là:
- Đối với cán bộ lãnh đạo:
+ Nâng cao năng lực quản lý, có trình độ điều hành TVĐT, phải nắm
bắt được sự phát triển của hoạt động TV - TT dưới tác động của CNTT.
+ Đánh giá được khả năng của TV khi ứng dụng CNTT để từ đó đưa ra
những quyết định đúng đắn trong việc lựa chọn, đầu tư cơ sở vật chất, trang
thiết bị phù hợp nhất.
+ Sử dụng thành thạo ngoại ngữ và máy tính để có thể giao dịch, đối
ngoại, điều hành hoạt động của TV.
- Đối với cán bộ chuyên trách:
+ Phải có trình độ chuyên môn về khoa học TV – TT, về CNTT
+ Có kiến thức và kỹ năng xử lý, bao gói thông tin
+ Sử dụng thành thạo máy tính để tra cứu và khai thác thông tin
+ Biết sử dụng và khai thác các phần mềm chuyên dụng
+ Có khả năng phân tích, đánh giá nhu cầu tin, đồng thời tư vấn, hướng
dẫn và đào tạo NDT để họ có kỹ năng nhất định khi tra cứu, khai thác và sử
dụng thông tin.
+ Có khả năng sử dụng thành thạo ít nhất 01 ngoại ngữ
1.1.3.3. Quan điểm, chủ trƣơng, đƣờng lối, chính sách, pháp luật của
Đảng - nhà nƣớc và nguồn tài chính
Quan điểm, chủ trương, đường lối, chính sách, pháp luật của Đảng Nhà nước được thể hiện:
+ Trước hết thông qua các chỉ thị, nghị quyết của Đảng và Nhà nước về
CNTT và ứng dụng công nghệ thông tin trong mọi lĩnh vực nói chung và sự
nghiệp TV - TT nói riêng.
+ Thứ hai là việc xây dựng, ban hành các kế hoạch, nghị quyết, quyết
định, luật... về ứng dụng CNTT trong hoạt động TV - TT.
16


+ Thứ ba là cơ chế, giải pháp của chính bản thân mỗi cơ quan TV - TT
để ứng dụng CNTT theo một kế hoạch nhất định
Nguồn tài chính
Để ứng dụng CNTT vào quá trình hoạt động, các cơ quan TV - TT
nhất thiết phải có sự đầu tư lớn về tài chính vì các thiết bị tin học chóng lạc
hậu. Nguồn tài chính đó có thể lấy từ:
- Ngân sách của Nhà nước
- Cộng đồng
- Từ các tổ chức quốc tế
- Vốn tự có của bản thân các cơ quan TV - TT
1.1.4. Các lĩnh vực hoạt động TV - TT cần ứng dụng CNTT
1.1.4.1. Phạm vi ứng dụng CNTT
- Ứng dụng CNTT trong các hoạt động như: bổ sung, biên mục, quản lý
NDT, tra cứu, bảo quản, phục vụ NDT...
- Khai thác và sử dụng các tài nguyên, tài liệu điện tử như: CD-ROOM,
Web... có trong TV
- Truy cập các tài nguyên số về mọi lĩnh vực trên phạm vi toàn thế giới.
- Trao đổi nguồn lực thông tin giữa các cơ quan TV - TT thông qua hệ
thống mạng.
- Sử dụng máy tính trong công tác hành chính, tạo lập CSDL...
- Tạo lập các sản phẩm và dịch vụ thông tin phục vụ nhu cầu của NDT.
1.1.4.2. Mục tiêu của ứng dụng CNTT
- Tạo lập CSDL thư mục cho VTL của TV, tiến tới tạo lập CSDL dữ
kiện, CSDL toàn văn.
- Hiện đại hoá các quá trình bổ sung, xử lý tài liệu và tìm kiếm thông tin.
- Tạo lập các sản phẩm và dịch vụ thông tin có giá trị gia tăng cao, đáp
ứng cho nhu cầu ngày càng phong phú và đa dạng của mọi đối tượng NDT.
17


- Nâng cao chất lượng phục vụ NDT bằng việc cung cấp nguồn lực
thông tin chất lượng cao dưới mọi dạng thức, các phương tiện tra cứu cùng
với các sản phẩm và dịch vụ thông tin hiện đại.
- Tự động hoá các công tác thống kê (lượt mượn, lượt đọc), kiểm kê tài
liệu có trong TV.
- Liên kết, trao đổi, chia sẻ nguồn lực thông tin giữa các cơ quan TV TT với nhau.
- Tạo điều kiện cho NDT tiếp cận và khai thác tối đa thông tin/tài liệu
dưới dạng truyền thống (giấy...) và hiện đại (tài liệu điện tử, tài liệu số).
1.1.4.3. Lợi ích của ứng dụng CNTT
Đối với TV
- Nâng cao năng suất hiệu quả hoạt động của các cơ quan TV - TT
- Tiết kiệm thời gian, công sức và kinh phí trong quá trình hoạt động.
- Chia sẻ nguồn lực thông tin được cải thiện thông qua mục lục ảo
- Tạo thuận lợi cho việc mượn liên TV
- Giảm sự trùng lặp trong quá trình bổ sung
- Tránh sự trùng lặp trong biên mục
- Tối ưu hoá việc sử dụng nhân lực và các nguồn lực khác
- Tăng cường hạ tầng cơ sở thông tin Quốc gia và khu vực
Đối với NDT
- Sử dụng tốt hơn nguồn thông tin qua việc cải thiện truy cập
- Nhận được đầy đủ, chính xác và nhanh chóng thông tin/tài liệu về mọi
lĩnh vực dưới sự hỗ trợ của các công cụ, phương tiện tra cứu thông tin hiện đại.
- Tiết kiệm thời gian công sức của NDT trong quá trình khai thác, tìm
kiếm thông tin. Điều đó có nghĩa là thúc đẩy quá trình sản xuất, học tập,
nghiên cứu khoa học… của toàn xã hội.
- Tạo khả năng tiếp cận và sử dụng ngang nhau về mọi thông tin/tài liệu
cho những đối tượng ở những vùng khác nhau trong khu vực và trên thế giới.
18


Đối với cán bộ TV
Tất cả cán bộ TV làm việc ở các công đoạn như: bổ sung, biên mục,
lưu thông, tra cứu, cho mượn liên TV… đều được hưởng lợi nhờ việc ứng
dụng CNTT, cụ thể là:
- Tạo nên sự phát triển của một phương thức mới về giao tiếp giữa cán
bộ trong TV (đặc biệt là giữa các dịch vụ máy tính và nhân viên TV).
- Cải thiện việc ra quyết định của cán bộ TV
- Bổ sung kiến thức và kỹ năng làm việc mới
- Cải thiện hình ảnh TV nhờ công nghệ.
1.2. Khái quát về TV tỉnh Vĩnh Phúc
1.2.1. Quá trình hình thành và phát triển
Thư viện khoa học tổng hợp tỉnh Vĩnh Phúc được thành lập tháng 31956, là một bộ phận nghiệp vụ nằm trong phòng văn hoá quần chúng. Qua
hơn 50 năm xây dựng và phát triển TV luôn là một trung tâm văn hóa, giáo
dục, tuyên truyền đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước góp phần
nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài cho địa phương, cho
đất nước.
Nhìn lại những ngày đầu mới thành lập, TV chỉ có vài nghìn bản sách
và một số báo tạp chí với cơ sở hạ tầng nghèo nàn lúc đầu chỉ có hai người
nhưng với lòng nhiệt tình, yêu nghề các cán bộ TV đã khắc phục mọi khó
khăn thiếu thốn đưa TV tỉnh Vĩnh Phúc ngày một đi lên.
Khi đế quốc Mỹ tăng cường đánh phá ác liệt trên địa bàn Vĩnh Phúc.
TV đã nhiều lần phải sơ tán kho sách ra khỏi thị xã Vĩnh Yên, chuyển về các
huyện, các vùng nông thôn nên công tác phục vụ bạn đọc gặp rất nhiều khó
khăn. Song với sự cố gắng và lòng nhiệt tình của đội ngũ cán bộ, TV vẫn mở
cửa phục vụ sách báo cho bạn đọc. TV đã góp phần to lớn vào việc bồi dưỡng
tinh thần yêu nước và chủ nghĩa anh hùng cách mạng cho cán bộ chiến sỹ và
19


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×