Tải bản đầy đủ

Luận Văn Quan hệ kinh tế asean - eu giai đoạn (1996 - 2008)

1
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA LỊCH SỬ
---------------------------

NGUYỄN THỊ HUYỀN

QUAN HỆ KINH TẾ ASEAN – EU
GIAI ĐOẠN (1996 - 2008)
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Lịch sử thế giới

GVHD: Nguyễn Thị Tuyết Nhung

HÀ NỘI - 2012


2

LỜI CẢM ƠN


Trong thời gian nghiên cứu hoàn thành khóa luận tốt nghiệp, Tôi đã nhận
được sự giúp đỡ tận tình của các Thầy Cô giáo trong khoa Lịch Sử – Trường
Đại Học Sư Phạm Hà Nội 2. Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới các
thầy cô. Đặc biệt, là cô giáo – Thạc Sỹ Nguyễn Thị Tuyết Nhung – Người đã
trực tiếp hướng dẫn tôi trong thời gian qua.
Qua đây, tôi cũng xin chân thành cảm ơn những ý kiến đóng góp của các
bạn sinh viên trong khoa Lịch Sử đã giúp đỡ tôi thực hiện khóa luận này.
Là một sinh viên lần đầu nghiên cứu khoa học, chắc chắn đề tài của tôi
không tránh khỏi những thiếu sót. Vì vậy, tôi rất mong sự đóng góp ý kiến
của quý thầy cô và các bạn sinh viên.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, Tháng 05 năm 2012
Sinh Viên

Nguyễn Thị Huyền


3

LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan những kết quả nghiên cứu trong khóa luận tốt nghiệp
này là thành quả của riêng tôi dưới sự hướng dẫn và giúp đỡ của cô giáo –
Thạc Sỹ Nguyễn Thị Tuyết Nhung. Nội dung khóa luận không trùng với bất
cứ một công trình nghiên cứu nào, nếu sai tôi xin chịu trách nhiệm.
Hà Nội, Tháng 05 năm 2012
Sinh Viên

Nguyễn Thị Huyền


4

MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Trước bối cảnh cuộc cách mạng công nghệ bùng nổ, quá trình chuyên
môn hóa được đẩy mạnh tạo ra xu hướng toàn cầu hóa, khu vực hóa. Các
quốc gia, các khu vực có mối quan hệ ngày càng gắn bó với nhau, phụ thuộc
lẫn nhau và không một quốc gia nào có thể phát triển tách rời ra khỏi hệ thống
kinh tế thế giới. Sự lớn mạnh về kinh tế của các quốc gia, tạo sự ổn định về
chính trị là cơ sở cho quá trình trao đổi, buôn bán giữa các quốc gia trong


khu vực.
Trước bối cảnh đó thì ở châu Âu đã thành lập Cộng đồng kinh tế châu
Âu (EEC) năm1957, rồi phát triển thành Cộng đồng châu Âu (EC) năm 1967,
sau đó tiếp tục phát triển thành Liên minh châu Âu (EU), với mức độ liên kết
cao hơn giữa các thành viên. Ở châu Á, dưới tác động của khu vực cũng đã
hình thành Hiệp hội các Quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) năm 1967. Liên
minh châu Âu và Hiệp hội các Quốc gia Đông Nam Á đã thiết lập quan hệ với
nhau từ những năm 70 của thế kỷ XX cho đến nay và không ngừng được củng
cố và phát triển.


5
Quan hệ ASEAN - EU là nòng cốt của quan hệ Á - Âu một mối quan
hệ mới được đánh dấu bằng Hội nghị thượng đỉnh Á - Âu, được tiến hành
tháng 3/1996, tại Bangkok nhằm thúc đẩy liên kết chặt chẽ giữa hai khu vực.
Tiến trình ASEAN - EU giữ vai trò quan trọng trong việc xúc tiến và phát
triển mối quan hệ này. Quan hệ ASEAN - EU đã thể hiện đặc điểm nổi bật
của thời kỳ mới là xu thế toàn cầu hóa, khu vực hóa, chủ nghĩa khu vực,
chủ nghĩa đa phương, sự phụ thuộc lẫn nhau chặt chẽ hơn bao giờ hết giữa
các quốc gia và xu hướng các quốc gia tập trung ưu tiên phát triển sức mạnh
kinh tế.
Dưới những tác động của khu vực và quốc tế thì quan hệ kinh tế ASEAN
- EU từ năm 1996 - 2008 đã có những bước tiến triển mới, mối quan hệ này
đã tác động đến nền kinh tế hai khu vực, Việt Nam là một thành viên của
ASEAN, vậy khi quan hệ ASEAN - EU được đẩy mạnh thì đã tác động đến
Việt Nam.
Từ những lý do trên, tôi chọn đề tài “Quan hệ kinh tế ASEAN - EU giai
đoạn (1996 - 2008)” làm khóa luận tốt nghiệp của mình.
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Quan hệ ASEAN - EU là nòng cốt của quan hệ Á - Âu. Vì vậy có rất
nhiều nhà nghiên cứu, tổ chức nghiên cứu quan tâm đến vấn đề này, đặc biệt
là các trung tâm nghiên cứu của các quốc gia EU cũng như ASEAN. Trong đó
có cả các công trình nghiên cứu có giá trị của các học giả Việt Nam. Các công
trình nghiên cứu này có quy mô từ nhỏ đến lớn, nghiên cứu về các khí cạnh
khác nhau, thời điểm khác nhau, về kinh tế, chính trị, đặc điểm quan hệ, cơ
hội và thách thức của mối quan hệ. Như trong đề tài “Hợp tác kinh tế EU với
ASEAN và Việt Nam” của Trần Mạnh Tảo, đã nói về quan hệ kinh tế ASEAN
- EU những năm trước thế kỷ XXI, nhấn mạnh về các vấn đề mậu dịch, đầu tư
và thương mại trước sự tác động của khủng hoảng tài chính tiền tệ châu Á.


6
Trong đề tài “Quan hệ ASEAN - EU thời hậu kỳ chiến tranh lạnh” của
Thân Phương Nga, cũng đã nói lên được quan hệ kinh tế ASEAN - EU sau
những năm 90 của thế kỷ XXI, và triển vọng của mối quan hệ này, nhưng
chưa nói lên được những tác động hay ảnh hưởng của bối cảnh khu vực và
quốc tế đối với mối quan hệ này.
Ngoài ra còn có các bài báo tạp chí nghiên cứu về quan hệ kinh tế
ASEAN - EU như: Bài “EU - ASEAN những quan hệ đang được thức đẩy”
của PGS.TS Bùi Huy Khoát (1995), bài viết đã đưa ra được một số nhu cầu
mà cả ASEAN và EU cần có sự hợp tác.
Năm 2001, Thạc sĩ Hoàng Xuân Hòa viết bài “Đặc điểm quan hệ
thương mại ASEAN - EU và những tác động đối với các chính sách thương
mại quốc tế của Việt Nam”, bài viết đã nói về đặc điểm quan hệ thương mại
ASEAN - EU.
Năm 2002, Trần Khánh viết bài “Liên kết ASEAN trong bối cảnh toàn
cầu hóa”, với nội dung viết về lịch sử hình hành và phát triển của ASEAN,
những tác động của toàn cầu hóa đến liên kết ASEAN; những thích ứng của
ASEAN trước toàn cầu hóa.
Năm 2003, TS. Hoàng Xuân Hòa đã viết bài “Thúc đẩy quan hệ kinh tế
EU - ASEAN: cơ hội phát triển cho các nước thành viên mới ASEAN” đã nói
lên tác động của quan hệ kinh tế EU - ASEAN với các nước thành viên mới
của ASEAN tạo điều kiện thuận lợi cho các nước này hội nhập kinh tế…
Ngoài các đề tài và bài báo tạp chí do các nhà nghiên cứu Việt Nam
nghiên cứu thì còn có các đề tài của các học giả nước ngoài như: “ASEAN
and EU Foring New Linkafer and Stratefic Alliancer”, Chia Siow Yue, 1997,
Đề tài này phân tích chính sách của ASEAN đối với liên minh châu Âu,
những ảnh hưởng qua lại của các ngành kinh tế vĩ mô và vi mô, về vấn đề


7
thương mại, những khó khăn, thuận lợi và những liên kết đầu tư; những liên
minh chiến lược giữa ASEAN - EU những kinh nghiệm được rút ra từ mối
quan hệ qua lại của ASEAN - EU.
Trong bài viết của Rolf J. Langhammer “giá trị biểu hiện của hợp tác
kinh tế ASEAN - EU sau khủng hoảng: phải trăng đó là sự hợp tác không
tương xứng, yếu kém hoặc không hiệu quả?” bài viết này đã nêu lên sự tác
động của khủng hoảng kinh tế tiền tệ đối với quan hệ kinh tế ASEAN - EU…
Tuy vậy, một câu hỏi nổi cộm vẫn còn đặt ra đó là: Dưới tác động của
bối cảnh mới của khu vực và quốc tế nửa sau những năm 90 của thế kỷ XX
đến đầu thế kỷ XXI, thì thực trạng phát trển quan hệ kinh tế ASEAN - EU
như thế nào? Tác động đến hai khối, trong đó có nền kinh tế Việt Nam ra sao?
Thì vẫn còn chưa có câu trả lời thỏa đáng.
3. Mục đích nghiên cứu
Với đề tài “Quan hệ kinh tế ASEAN - EU giai đoạn từ 1996 - 2008”
tác giả của khóa luận muốn dùng một cách khái quát, hệ thống và biện chứng,
dựa trên những cơ sở tư liệu thực tế để phân tích quan hệ kinh tế trong giai
đoạn này.
Nghiên cứu quan hệ kinh tế ASEAN - EU trong giai đoạn từ 1996 - 2008
người viết mong muốn trả lời các câu hỏi sau:
- Trong bối cảnh khu vực và quốc tế mới nó đã tác động đến quan hệ
kinh tế ASEAN - EU như thế nào?
- ASEAN và EU tại sao lại cần thiết lập mối quan hệ với nhau?
- Thực trạng của quan hệ kinh tế ASEAN - EU trong giai đoạn này như
thế nào? Nó có sự phát triển hay tụt hậu? Có tác động gì đến hai tổ chức?
- Việt Nam cũng là thành viên của tổ chức ASEAN, vậy quan hệ kinh tế
ASEAN - EU có tác động như thế nào đối với Việt Nam?


8
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu:
Đề tài nghiên cứu về “Quan hệ kinh tế ASEAN - EU (1996 - 2008)”, vì
vậy mà đối tượng nghiên cứu là quan hệ kinh tế đa phương giữa hai tổ chức
ASEAN và EU.
- Phạm vi nghiên cứu:
Xác định rõ được phạm vi nghiên cứu được coi là nhân tố quan trọng
nhất và thành công của đề tài. Vì vậy tác giả muốn giới hạn rõ nội dung vấn
đề nghiên cứu, đâu là vấn đề chính và đâu là vấn đề bổ xung. Vấn đề trọng
tâm của đề tài là nghiên cứu quan hệ kinh tế giữa hai khối và qua đó rút ra
những tác động. Ngoài ra đề tài còn đề cập đến các vấn đề khác giữ vai trò bổ
xung như về sự cần thiết và thiết chế chính trị…
+Thời gian: Đề tài nghiên cứu trong lĩnh vực quan hệ kinh tế, trong giai
đoạn từ năm 1996 đến năm 2008. Mốc đầu tiên được đánh dấu bằng hội nghị
thượng đỉnh Á - Âu (3/1996) và mốc cuối là khủng hoảng kinh tế thế giới
năm 2008.
+ Không gian: Tác giả đi sâu vào nghiên cứu quan hệ kinh tế đa phương
giữa hai khối ASEAN và EU vì vậy các nước trong hai khối đều được
nghiên cứu.
5. Phƣơng pháp nghiên cứu
Tác giả đã sử dụng phương pháp lịch sử như một phương pháp chủ yếu.
Trước hết, là việc sưu tầm, tập hợp nguồn tư liệu liên quan đến quan hệ kinh
tế ASEAN - EU (1996 - 2008), qua các sách báo, tạp chí, phương tiện truyền
thông đại chúng… Trên cơ sở đó chắt lọc nội dung phục phụ cho đề tài.
Nguồn tư liệu được sắp xếp, triển khai theo thứ tự thời gian, thống nhất chặt


9
chẽ với nhau tạo sự đồng bộ, hoàn chỉnh chặt chẽ về mặt nội dung của bài
khóa luận.
Tác giả còn kết hợp sử dụng phương pháp nghiên cứu liên nghành khác,
có cơ sở phương pháp chuyên nghành tương thích để giải quyết vấn đề. Như
thống kê, so sánh, logic…Để sử lý các nguồn tư liệu khác nhau và giải quyết
những nhiệm vụ của đề tài. Đặc biệt giữ vai trò quan trọng là phương pháp
logic nó giúp tác giả có thể quán xuyến được toàn bộ bài khóa luận một cách
logic hợp lý.
6. Đóng góp của đề tài
Quan hệ kinh tế ASEAN - EU là một vấn đề rất quan trọng, vì vậy có rất
nhiều nhà nghiên cứu cũng như các tổ chức nghiên cứu đã nghiên cứu vấn đề
này. Trên sự kế thừa những thành tựu đã đạt được của các nhà nghiên cứu
trước, tác giả khóa luận đã đi sâu vào nghiên cứu về quan hệ kinh tế đa
phương ASEAN - EU (1996 - 2008). Trên cơ sở đó đã đưa ra những nhận xét,
những thành tựu, những tác động của quan hệ kinh tế ASEAN - EU đối với
hai bên. Bài khóa luận đã đưa ra được một cách khái quát hơn, hệ thống hơn
về thực trạng quan hệ kinh tế ASEAN - EU từ trước đến nay, đặc biệt là trong
giai đoạn (1996 - 2008).
7. Kết cấu đề tài
Khóa luận ngoài phần Mở đầu và Kết luận thì gồm hai chương chính.
Chương 1. Bối cảnh khu vực và quốc tế tác động đến quan hệ kinh tế
ASEAN - EU.
Chương 2. Thực trạng của quan hệ kinh tế ASEAN - EU (1996 - 2008)
và tác động.


10

Chƣơng 1
BỐI CẢNH KHU VỰC VÀ QUỐC TẾ TÁC ĐỘNG ĐẾN
QUAN HỆ KINH TẾ ASEAN - EU
1.1. BỐI CẢNH KHU VỰC VÀ QUỐC TẾ TÁC ĐỘNG ĐẾN QUAN HỆ
KINH TẾ ASEAN - EU
1.1.1. Bối cảnh quốc tế
Sau chiến tranh thế giới thứ hai, thế giới đã hình thành trật tự hai cực:
Một là các nước Xã hội chủ nghĩa do Liên Xô đứng đầu; Hai là các nước tư
bản chủ nghĩa do Mỹ đứng đầu. Thế giới diễn ra một cuộc chiến tranh lạnh
kéo dài gần nửa thế kỷ và các cuộc chạy đua vũ trang diễn ra gay gắt giữa hai
cực. Gắn liền với trật tự hai cực là sự kỳ thị giữa các quốc gia tư bản chủ
nghĩa và Xã hội chủ nghĩa, là ngọn cờ tập hợp lực lượng theo ý thức về việc
nền kinh tế thế giới bị chia thành 2 khối riêng rẽ. Trật tự hai cực đã tác động
to lớn và toàn diện mọi mặt đời sống kinh tế.
Sau khi trật tự hai cực chấm dứt bằng sự sụp đổ của Liên Xô và các
nước Xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu, thay đổi lớn đầu tiên là trong so sánh lực
lượng và phương thức dàn xếp lực lượng trên thế giới. Nước Mỹ trở thành
siêu cường quốc gia duy nhất còn lại, tuy nhiên lại bị cạnh tranh bởi nhiều
cường quốc khác đang vươn lên. Cục diện này xác định một trật tự mới đang
trong quá trình hình thành, một trật tự nhất siêu nhiều cường, đây là yếu tố cơ
bản của đời sống quốc tế trong thời kỳ mới.
Nền tảng cho những biến đổi to lớn trong quan hệ quốc tế đó là do tác
động của cuộc cách mạng khoa học công nghệ hiện đại và những thành tựu
của nó. Tạo sự phát triển vượt bậc của lực lượng sản xuất đã làm hình thành
nên những xu thế mới trong đời sống quốc tế. Nổi trội trong đó là xu thế toàn
cầu hóa như là một tất yếu và sự phụ thuộc lẫn nhau ngày càng lớn của các


11
quốc gia trên thế giới. Toàn cầu hóa kinh tế tác động đến các nền kinh tế. Sự
phát triển mạnh mẽ của lực lượng sản xuất đã dẫn đến một xu thế lớn đang
chi phối sự phát triển của thế giới hiện đại, đó là quá trình toàn cầu hóa. Toàn
cầu hóa (tiếng Anh là Globalization), xét về bản chất là quá trình gia tăng
mạnh mẽ những mối liên hệ ảnh hưởng, tác động lẫn nhau trên tất cả các lĩnh
vực của đời sống kinh tế, xã hội, chính trị giữa các quốc gia, các dân tộc trên
toàn thế giới. Trong các nội dung trên thì toàn cầu hóa kinh tế vừa là trung
tâm, vừa là động lực thúc đẩy quá trình toàn cầu hóa các lĩnh vực khác. Về
bản chất, toàn cầu hóa kinh tế là sự gia tăng nhanh chóng các hoạt động kinh
tế vượt qua mọi biên giới quốc gia và khu vực, tạo ra sự tùy thuộc lẫn nhau
giữa các nền kinh tế trong sự vận động phát triển hướng tới một nền kinh tế
thế giới hội nhập và thống nhất. Toàn cầu hóa có tác động tích cực và tiêu cực
đến nền kinh tế thế giới nói chung và quan hệ kinh tế ASEAN - EU nói riêng.
Như vậy trước bối cảnh xu thế toàn cầu hóa ngày càng mở rộng thì nó đã
tác động sâu sắc đến hai tổ chức ASEAN và EU. Chính vì những biến đổi cơ
bản trên, bối cảnh thế giới giai đoạn này mang những đặc điểm mới:
Thứ nhất, đó là sự khuyếch tán quyền lực trong quan hệ quốc tế. Một
thế giới đa cực đang hình thành. Các cường quốc đang vừa hợp tác vừa cạnh
tranh để gia tăng sức mạnh của bản thân, thiết lập vị trí thuận lợi cho mình.
Không chịu sự kiềm chế của hai phe, hai cực, các quốc gia vừa và nhỏ cũng
có cơ hội vươn lên, đóng vai trò ngày càng quan trọng trong đời sống quốc tế,
góp phần làm tăng cường xu thế dân chủ hóa trong quan hệ quốc tế. Bên cạnh
đó, các quốc gia đều có xu hướng đa phương, đa dạng hóa quan hệ, thể hiện
xu thế của chủ nghĩa đa phương trong quan hệ quốc tế.
Thứ hai, xu thế chủ đạo trên thế giới là xu thế hòa bình, “đối thoại thay
cho đối đầu”. Điều này xuất phát từ nhận thức mới về an ninh, về bạn thù và
đặc biệt là ý thức về sự phụ thuộc lẫn nhau ngày càng lớn giữa các quốc gia.


12
Các quốc gia đều nhận thức rằng phương thức để cạnh tranh và giải quyết
mâu thuẫn hiện nay không phải là giống nhau, xung đột với nhau mà phải lôi
kéo, dính líu, ràng buộc nhau, vừa hợp tác vừa đấu tranh với nhau. Vũ lực đã
không còn là phương thức hữu hiệu để giải quyết các vấn đề trong quan hệ
đối ngoại, vì một quốc gia trong thế giới ngày nay bị ràng buộc quá nhiều.
Thứ ba, yếu tố kinh tế trở thành yếu tố trung tâm trong xây dựng sức
mạnh quốc gia. Có thể gọi đây là một phần cơ bản của quy luật phát triển
trong thời kỳ mới. Trong mấy trục năm trước đây, nghĩ tới an ninh là người ta
nghĩ tới an ninh quốc phòng. Ngày nay, nếu các quốc gia không tập trung vào
phát triển kinh tế nâng cao thực lực quốc gia, thì đây là nguy cơ to lớn nhất
đối với an ninh của họ. Lý do của sự ưu tiên kinh tế này là sự giải phóng sức
sản xuất của cuộc cách mạng khoa học công nghệ hiện nay, với những phát
triển vượt bậc trong thông tin liên lạc, giao thông vận tải, nhu cầu chu chuyển
mạnh mẽ của các dòng tài nguyên, sự phân công lao động ở mức độ tinh vi
hơn trên thế giới khiến cho các quốc gia phải tập trung để đáp ứng. Nó cũng
tạo thuận lợi bởi sự thực khách quan là nền kinh tế thế giới đã không chịu
những ngăn cách của hai khối trong chiến tranh lạnh. Như một nhà nghiên
cứu đã nói, thế giới đang chuyển từ cách tiếp cận địa chính trị sang cách tiếp
cận địa kinh tế. Các quốc gia tư bản chủ nghĩa và chủ nghĩa xã hội vẫn cùng
tồn tại trên thế giới, nhưng họ không ngăn cách bởi ý thức hệ, mà lại ràng
buộc với nhau bởi lợi ích kinh tế.
Bước sang thế kỷ XXI, thế giới có nhiều biến đổi quan trọng. Điều này
cũng đã tác động mạnh mẽ đến sự phát triển của thế giới nói chung, quan hệ
giữa các quốc gia và khu vực nói riêng. Tác động đến quan hệ kinh tế
ASEAN - EU. Đó là chủ nghĩa khủng bố quốc tế xuất hiện. Đặc biệt là sự
kiện khủng bố tại Mỹ ngày 11/9/2001 đã thu hút sự quan tâm đặc biệt của mọi
quốc gia trên thế giới, do vậy nhu cầu hợp tác quốc tế trong việc chống khủng


13
bố là khách quan, được đặt ra với mọi quốc gia, khu vực và toàn cầu. Nhiều
vấn đề phức tạp nảy sinh như : vấn đề vũ khí hạt nhân trên bán đảo Triều Tiên,
Iran, cuộc chiến ở Irắc, chủ nghĩa khủng bố quốc tế gia tăng mạnh mẽ trong
thời gian gần đây như khủng bố ở Madrid, Tây Ba Nha năm 2004, ở Anh và
Ai cập, tình hình bất ổn ở Irắc và Trung Đông… Đang đặt ra trước thế giới
nói chung, quan hệ EU - ASEAN nói riêng nhu cầu tăng cường hợp tác về
mọi mặt nhất là lĩnh vực an ninh chính trị chống khủng bố quốc tế tạo môi
trường ổn định cho phát triển kinh tế.
1.1.2. Bối cảnh khu vực
Trước những tác động to lớn của quốc tế thì bối cảnh khu vực cũng tác
động không nhỏ đến mối quan hệ của hai khối ASEAN và EU. Khi trật tự thế
giới mới đang được hình thành còn nhiều biến đổi to lớn về cả chính trị và
kinh tế nó tác động đến quan hệ kinh tế ASEAN - EU như cuộc khủng kinh tế
- tiền tệ châu Á bắt đầu từ tháng 6/1997. Sau một thời kỳ tăng trưởng cao và
ổn định khoảng 10 năm, tưởng rằng các nước ASEAN sẽ tiếp tục tăng trưởng
và trở thành NICS. Hậu quả khắc nghiệt của cuộc khủng hoảng đối với tăng
trưởng kinh tế đã hủy bỏ nhiều những thành tựu đã đạt được trong những năm
tăng trưởng nhanh. Bắt đầu từ cuộc khủng hoảng tiền tệ, nó đã tác động một
cách nghiêm trọng tới toàn bộ cơ cấu kinh tế của từng nước ASEAN đặc biệt
là lĩnh vực tài chính. Cuộc khủng hoảng này đã ảnh hưởng không chỉ tới nội
bộ trong các thành viên như nạn thất nghiệp, giảm lương chi phí công cộng…
Nó còn ảnh hưởng tới quan hệ kinh tế của ASEAN - EU. Vì khi bị khủng
hoảng kinh tế các nước ASEAN sẽ bị suy giảm về các hoạt động kinh tế cả
nhật khẩu và xuất khẩu, sự sụp đổ của một số ngành công nghiệp, sự bất ổn
về hệ thống ngân hàng và các nước ASEAN đã đưa ra các chính sách mậu
dịch hướng nội. Như vậy, trước ảnh hưởng to lớn của cuộc khủng hoảng kinh


14
tế thì tất yếu nó sẽ ảnh hưởng đến quan hệ kinh tế ASEAN - EU, đặc biệt là
trong quan hệ mậu dịch và đầu tư.
Thứ nhất, mậu dịch: Mậu dịch là bộ phận bị phê phán trong trách
nhiệm của ASEAN trong cuộc khủng hoảng này nhưng có sự khác nhau giữa
xuất khẩu và nhập khẩu. Do các nước ASEAN theo đuổi chiến lược công
nghiệp hóa hướng về xuất khẩu nên hoạt động xuất khẩu đã trở thành động
lực tăng trưởng. Ở mức độ lớn thì các nền kinh tế ASEAN đặt sự phục hồi
của mình trên cơ sở mở rộng xuất khẩu do nhu cầu trong nước có hạn là
nguồn gốc của sự tăng trưởng. Tuy nhiên, đối với nhập khẩu sẽ có cách tiếp
cận khác. Nhập khẩu về thực chất có liên quan tới việc cải thiện cán cân thanh
toán hiện hành. Bởi vậy ASEAN muốn thực hiện mậu dịch của mình bằng 2
con đường tăng xuất khẩu từ ASEAN sang EU trong khi muốn giảm nhập
khẩu từ tất cả các nguồn kể cả EU.
EU có thể giữ vai trò quan trọng giúp cho việc mở rộng xuất khẩu của
ASEAN. Trong cuộc khủng hoảng Mê-hi-cô 1994, khu vực mậu dịch tự do
Bắc Mỹ là nơi cung cấp thị trường cho việc nhập khẩu của Mê-hi-cô. ASEAN
cần một giải pháp tương tự nhưng không giống như Mê-hi-cô, họ không có
lợi thế của nhóm khu vực với những thành viên có thị trường rộng lớn. Nhật
Bản có thể giữ vai trò này bằng việc mở rộng thị trường kinh tế trong nước
của mình nhưng với những biện pháp mà chính phủ Nhật đưa ra thì rất khó có
thể dựa theo đó để phục hồi nền kinh tế. EU có thể giữ vai trò này bằng việc
tạo thuận lợi cho hàng xuất khẩu của ASEAN, loại bỏ mọi hàng rào phi thuế
quan như những biện pháp phá giá và những chừng phạt mậu dịch liên quan
tới môi trường.
Một lĩnh vực khác nơi mà EU có thể tham gia là nâng cấp hàng chế tạo
xuất khẩu của ASEAN để duy trì sức mạnh của chúng. Sự bào mòn tính cạnh
tranh của hàng chế tạo là do sự tăng lương nhanh hơn tăng năng suất và tính


15
cạnh tranh về công nghệ gây ra. Việc phá giá từng bước đồng tiền có thể coi
là giải pháp lâu dài để phục hồi cạnh tranh. Thực tế, câu trả lời nằm trong việc
cải thiện công nghệ. EU có thể hợp tác với các nước ASEAN để nâng cấp
công nghệ việc làm này cho phép tìm thấy lợi thế cạnh tranh mới.
Thứ hai, đầu tư: Cuộc khủng hoảng kinh tế - tiền tệ đã ảnh hưởng tiêu
cực tới đầu tư của EU trong khu vực Đông Nam Á nhưng nó đã đưa ra những
cơ hội mới cũng như những thay đổi cơ cấu và hình thức đầu tư tương lai của
EU ở ASEAN. Những thất bại kinh doanh do tăng trưởng kinh tế thấp đi đã
làm giảm giá trị đầu tư của EU và điều này có thể sẽ ảnh hưởng tới dòng đầu
tư trực tiếp EU trong khu vực. Điều kiện kinh doanh mới ở ASEAN đã làm
cạn kiệt nguồn vốn duy trì hoạt động của mình và đối với những nhà xuất
khẩu, phải mở rộng để đáp ứng những sự tăng trưởng xuất khẩu có thể. Ngoài
những lĩnh vực đầu tư truyền thống. Nguồn vốn của EU cũng có thể đổ về
lĩnh vực tài chính. Ở Thái Lan, cuộc khủng hoảng này đã cho phép đầu tư
nước ngoài tham gia vào các ngành như ngân hàng, một lĩnh vực mà trước
đây là đóng cửa đối với bên ngoài.
Cùng với đầu tư trực tiếp, tập hợp những đầu tư của EU cũng có thể
giúp ASEAN hướng đầu tư vào thời kỳ tương đối dài hơn do vậy cần neo
chúng vào nền kinh tế trong nước. Mô hình đầu tư này sẽ giảm nhanh. Để
thực hiện chiến lược này, cần có một cơ cấu thị trường vốn sâu sắc hơn.
Trước hết là việc phát triển thị trường chứng khoán để tài trợ cho những đầu
tư dài hạn. Những nguồn vốn ngắn hạn của EU kể cả lương hưu và quỹ
thường xuyên cũng cần được khuyến khích ra nhập vào mô hình đầu tư này.
Trong 8 năm gần đây, ASEAN đã có những chương trình phát triển hạ
tầng rộng rãi. Chúng có ảnh hưởng bất lợi do yêu cầu của một lượng tài chính
quá lớn và dung lượng nhập khẩu cao. Rất nhiều trong số các dự án đó được
tư nhân hóa như hệ thống điện, nước, giao thông, công cộng. Nhiều chương


16
trình đó đã bị ngừng lại và hiện rất cần những nguồn vốn mới. Để tiếp tục
những dự án này, chính phủ các ASEAN cho phép đầu tư nước ngoài lớn hơn
và những cơ hội mới cho các nhà đầu tư EU.
Cuộc khủng hoảng kinh tế và tiền tệ ở ASEAN đã gây ra thay đổi căn
bản về cơ cấu kinh tế, tiềm năng tăng trưởng và khuynh hướng phát triển. Với
tư cách là những đối tác mậu dịch và đầu tư truyền thống, EU có thể hỗ trợ để
cải thiện những ảnh hưởng tiêu cực của cuộc khủng hoảng và giúp cho việc
phục hồi. Mặc dù ASEAN chỉ chiếm một phần nhỏ trong mậu dịch và đầu tư
của EU nhưng EU có thể giữ một vai trò quan trọng trong sự phục hồi của
ASEAN. Thực tế, quan hệ giữa hai khối cần được củng cố hơn nữa qua việc
phát triển mậu dịch và mở rộng quy mô đầu tư. Mậu dịch giữa hai nhóm nước
nên mở rộng quy mô theo hướng mở cửa cho hàng xuất khẩu của ASEAN vào
thị trường EU. Sự phát triển hơn nữa liên kết EU cũng góp phần cải thiện
quan hệ mậu dịch.
Ngoài bị tác động bởi cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ châu Á thì quan
hệ kinh tế ASEAN - EU còn bị tác động bởi chính bản thân các khối:
Thứ nhất, Liên minh châu Âu đang trong quá trình phát triển mạnh mẽ
cả về chiều rộng và chiều sâu, quá trình này đã đạt được những thành tựu cực
kỳ to lớn nhưng cũng đang nảy sinh nhiều vấn đề phức tạp đòi hỏi phải giải
quyết. Sau khi Hiệp ước Maastricht được thông qua, EU đã có bước phát triển
về chất, đặc biệt đáng chú ý là việc hình thành Liên minh Kinh tế - Tiền tệ với
việc ra đời của đồng tiền chung châu Âu - đồng Euro. Cho đến nay khu vực
đồng Euro đã có 12 nước tham gia, đồng Euro đã trở thành phương tiện thanh
toán và dự trữ ngoại tệ quan trọng của nhiều nước. Hiện nay liên minh châu
Âu đang tích cực chuẩn bị các điều kiện để đưa quan hệ giữa các nước lên
tầm cao mới bằng việc gắn kết chặt chẽ hơn quan hệ các nước trong khu vực
quốc phòng an ninh, tư pháp. Việc các nước thành viên cùng nhau phê chuẩn


17
Hiến pháp mới của châu Âu vừa qua thể hiện bước tiến trong qua trình liên
kết về chiều sâu. Tuy nhiên, những khó khăn trong thời gian gần đây đặc biệt
việc một số nước nói không với bản Hiến pháp mới, những mâu thuẫn lợi ích
của các nước thành viên liên quan tới ngân sách của EU làm cho EU lâm vào
tình trạng khủng hoảng sâu sắc. Hiện nay sự mâu thuẫn của các nước thành
viên EU cho thấy sự thống nhất lãnh đạo giữa Pháp và Đức không đủ sức lôi
kéo con tầu EU đi theo một hướng mà đã xuất hiện rất nhiều lực cản từ chính
mâu thuẫn trong bản thân các nước thành viên EU.
Vấn đề EU mở rộng vào ngày 1/5/2004 vừa qua cũng đã tác động mạnh
mẽ đến quan hệ kinh tế ASEAN - EU. Trong lịch sử phát triển của mình, đây
là lần mở rộng lớn nhất với việc kết nạp thêm 10 thành viên mới từ Đông Âu
và vùng Ban Tích, đưa dân số EU tăng thêm 20%, lãnh thổ tăng thêm 34%,
GDP tăng thêm 5%. Mở rộng EU có ý nghĩa chính trị hết sức to lớn, bởi vì
lần đầu tiên các nước Đông Âu đối lập với chính thể chính trị trong nhiều thập
kỷ đã trở thành thành viên của EU, ý tưởng thống nhất châu Âu đã trở thành
hiện thực, vị trí vai trò của EU trên thế giới được tăng cường rõ rệt. Về kinh tế
EU trở thành khối kinh tế thương mại lớn nhất thế giới. Tuy nhiên, mở rộng
EU hiện nay cũng đặt ra nhiều thách thức cho EU. Nhưng rõ ràng với khối
liên kết ngày càng mở rộng và phát triển như vậy sẽ có tác động mạnh mẽ đến
quan hệ với bên ngoài nói chung, với quan hệ kinh tế ASEAN nói riêng.
Thứ hai, trong những năm qua ASEAN không ngừng phát triển cả về
chiều rộng và chiều sâu. Hiện nay ASEAN bao gồm 10 các quốc gia và đang
tích cực hoàn thiện việc xây dựng Khu vực Mậu dịch tự do ASEAN (AFTA)
và Khu vực Đầu tư ASEAN (AIA), cũng như việc tăng cường hợp tác với các
nước láng giềng Đông Bắc Á. Đặc biệt, ý tưởng về xây dựng cộng đồng
ASEAN là bước phát triển về chất trong quan hệ hợp tác giữa các nước thành
viên. Việc xây dựng Cộng đồng ASEAN được các nhà lãnh đạo ASEAN


18
thông qua tại Hội nghị Bali IX (10/2003), quan hệ giữa các nước ASEAN
được xây dựng trên 3 trụ cột: chính trị - an ninh, kinh tế và văn hóa - xã hội.
Sự phát triển năng động và mạnh mẽ của ASEAN vừa là kết quả phát triển
nội tại hợp tác trong khối, vừa là áp lực tác động bên ngoài khi quá trình toàn
cầu hóa phát triển mạnh mẽ mang lại. Chẳng hạn, xu hướng tăng cường hợp
tác ASEAN với các nước Đông Bắc Á và Mỹ, xu hướng hình thành các FTA
song phương giữa một số nước thành viên ASEAN với các nước ngoài khối.
Tất cả những điều đó vừa đòi hỏi ASEAN phải có sự tăng cường hợp tác
nội khối hơn nữa để thích ứng được xu thế phát triển hiện nay, vừa tác động
mạnh mẽ đến quan hệ của ASEAN với bên ngoài, trong đó có quan hệ
ASEAN - EU.
Thứ ba, quan hệ hợp tác Á - Âu ngày càng phát triển mạnh mẽ, đặc biệt
là sau hội nghị thượng đỉnh ASEM V tại Hà Nội tháng 10/2004. Sau khi EU
công bố chiến lược mới với khu vực châu Á năm 1994, sáng kiến của
ASEAN về việc hình thành Diễn đàn hợp tác Á - Âu đã được các nước EU,
Hàn Quốc, Nhật Bản và Trung Quốc hưởng ứng nhiệt liệt. Kết quả là tháng 3
- 1996 Hội nghị ASEM đầu tiên đã được tổ chức tại thủ đô Bangkok (Thái
Lan) với sự tham gia của 7 nước ASEAN, 15 nước EU, Trung Quốc, Hàn
Quốc và Nhật Bản. Có thể nói ASEM I là Hội nghị mang tính lịch sử, mở đầu
cho quan hệ hợp tác Á - Âu mà EU và ASEAN là nòng cốt, các ASEM tiếp
theo là bước tiến theo chiều sâu của quá trình đó. Tại Hội nghị này, các nhà
lãnh đạo Á - Âu đã thỏa thuận về các biện pháp nhằm thúc đẩy đối thoại
chính trị, tăng cường hợp tác kinh tế, hợp tác tài chính, triển vọng của hợp tác
Á - Âu trong bối cảnh toàn cầu hóa và sự ra đời của đồng Euro. Tiếp theo
ASEM III và IV đã tìm kiếm những biện pháp thúc đẩy hơn nữa hợp tác Á Âu trong bối cảnh mới, đặc biệt là sau sự kiện khủng bố 11 - 9 tại Mỹ. ASEM
V tại Hà Nội tháng 10 - 2004 là thành tựu rõ rệt nhất trong việc thúc đẩy hợp


19
tác Á - Âu đi vào thực chất và hiệu quả hơn. Đặc biệt tại Hội nghị này, lần
đầu tiên ASEM đã làm thủ tục kết nạp thành viên mới. Mười nước thành viên
chính thức của nước còn lại của EU và 3 nước còn lại của ASEAN đã trở
thành thành viên chính thức của ASEM. Như vậy việc tăng cường hợp tác Á Âu là nhân tố quan trọng thúc đẩy mạnh mẽ quan hệ kinh tế EU - ASEAN
trong thời gian gần qua và tương lai.
Như vậy, sự phát triển quan hệ kinh tế ASEAN - EU chịu sự tác động
của rất nhiều yếu tố, trong đó xu thế tác động theo hướng tăng cường sự hợp
tác giữa hai khối thể hiện ngày càng rõ nét. Điều đó xuất phát từ yêu cầu và
mục đích của hai phía. Trong bối cảnh toàn cầu hóa phát triển mạnh mẽ hiện
nay, sự tăng cường về chiều rộng và chiều sâu của cả hai khối tạo nhiều cơ
hội mở rộng hơn nữa quan hệ hợp tác giữa hai khu vực trong tương lai.
1.2. SỰ CẦN THIẾT CỦA QUAN HỆ KINH TẾ ASEAN - EU
1.2.1. Sự cần thiết quan hệ kinh tế ASEAN - EU từ phía ASEAN
Trước bối cảnh thế giới mới, một xu thế khu vực hóa toàn cầu hóa nó đã
dẫn đến sự chuyển biến nhiều mặt trong quan hệ ASEAN - EU. Nó đã đem lại
nhu cầu hợp tác của cả hai bên, đặc biệt là từ phía các nước ASEAN vì.
* Mục đích kinh tế
Các nước ASEAN là các nước đang phát triển vì vậy mà đứng trước xu
thế toàn cầu hóa thì các nước ASEAN gặp phải những thách thức không nhỏ
đó là thiếu vốn, thiếu kỹ thuật công nghệ. Trong khi đó các nước EU lại là
những nước phát triển. EU bao gồm 15 quốc gia ở châu Âu là Anh, Pháp, Đức,
Itala, Đan Mạch, Bỉ, Hà Lan, Lúcxămbua, Hy Lạp, Tây Ba Nha, Bồ Đào Nha,
Ai Len, Thụy Điển, Áo và Phần Lan. Đây là khối kinh tế hùng mạnh và là
một trong những trung tâm chính trị, kinh tế quan trọng của thế giới, chiếm
1/6 diện tích địa cầu, với dân số 386 triệu người, GDP khoảng 8.000 tỷ USD.
Trong 15 nước thành viên có 4 nước đứng trong hàng ngũ các nước công


20
nghiệp phát triển nhất thế giới: Đức, Pháp, Anh và Italia. Về kinh tế EU đạt
trình độ phát triển cao, đặc biệt là ngành chế tạo cơ khí, hóa chất, dược phẩm
dệt, điện tử, nguyên tử, năng lượng, khai khoáng dầu khí, chế biến, nông sản.
Thương mại, EU là một trung tâm buôn bán hàng đầu thế giới chiếm
1/5 kim ngạch toàn cầu. Các bạn hàng chính là Mỹ, Nhật Bản và ASEAN.
Các nước thành viên EU đạt trình độ phát triển khá tương đồng, hiện đang ở
giai đoạn phát triển cao của quá trình nhất thể hóa kinh tế, xóa bỏ hàng rào
thuế quan, sử dụng một đồng tiền chung cho các nước thành viên. Hiện nay,
EU đang hoạt động với tư cách là một khối thống nhất có thể coi như một
quốc gia khổng lồ - siêu quốc gia. Tại nhiều diễn đàn quốc tế, EU chỉ cử đại
diện duy nhất của mình với tư cách cả khối như tại diễn đàn hợp tác kinh tế
châu Á - Thái Bình Dương (APEC) hoạt động như một bên đối thoại của
ASEAN.
Như vậy, bản thân các nước EU là những nước có nền kinh tế phát triển,
khoa học công nghệ hiện đại đáp ứng được yêu cầu cấp thiết mà ASEAN
đang cần. Đặc biệt trong giai đoạn này, với những thành tựu trong phát triển
công nghệ mà ASEAN đã đạt được cuối thập kỷ 80, các nước này đều đặt
mục tiêu phấn đấu trở thành các nước công nghiệp mới NICs, vì thế nhu cầu
thu hút các nguồn lực từ bên ngoài như ODA, FDI, công nghệ, thị trường, trở
nên vô cùng cấp thiết với các nước ASEAN. Ngoài Mỹ, Nhật đều là đối tác
lớn của ASEAN, ASEAN phụ thuộc khá nặng nề vào thị trường EU và nguồn
vốn đầu tư của EU. Thực tế hiện nay, EU vẫn là khu vực dẫn đầu thế giới về
đầu tư nước ngoài. Tổng đầu tư nước ngoài của EU chiếm tới 45% tổng giá trị
đầu tư trực tiếp trên thế giới. Trong khi đó đầu tư trực tiếp nước ngoài của
Nhật là 12% và Mỹ là 16%. Trong nhiều lĩnh vực công nghệ, các nước EU
hiện đang dẫn đầu trên thế giới. Do vậy mà EU có tầm quan trọng lớn đối với
chính sách đối ngoại của ASEAN.


21
* Mục đích chính trị
Trong chiến tranh lạnh, sự công nhận của EU đối với ASEAN mang ý
nghĩa không nhỏ cho ASEAN bớt bị cô lập và phụ thuộc, thì sau chiến tranh
lạnh EU tiếp tục là một trong những đối tác, không những còn là đối tác lớn,
mà ASEAN luôn cần để đa dạng hóa quan hệ của mình. Quan hệ ASEAN EU chính trị không mang ý nghĩa trọng tâm nhưng nó vẫn có ý nghĩa trong
việc nâng cao vị thế của ASEAN và giúp ASEAN giảm sự phụ thuộc vào Mỹ,
Nhật Bản và Trung Quốc. Đặc biệt là từ sau khi Liên Xô sụp đổ và vấn đề
Campuchia được giải quyết, Mỹ và Nga đã quyết định rút bỏ sự có mặt về
quân sự ở Đông Nam Á, đã tạo nên “khoản trống quyền lực” trong khu vực
khiến các cường quốc khu vực Trung Quốc và Nhật Bản muốn nhảy vào lấp
chỗ trống. Đây dĩ nhiên không phải là điều ASEAN mong muốn, vì thế nhu
cầu cần quan hệ với EU để tạo sự cân bằng ảnh hưởng trong khu vực trở nên
cấp thiết hơn. Trong những năm 80, ASEAN cần EU ủng hộ trong vấn đề
Campuchia và người tị nạn. Sau chiến tranh lạnh, ASEAN lại chứng kiến một
đảo lộn lớn nữa về cân bằng lực lượng trong khu vực khi Mỹ rút khỏi
Philippin và Nga giảm sự có mặt ở khu vực này. ASEAN phản ứng bằng cách
lập ra ARF, nhằm lôi kéo tất cả các cường quốc lớn vào một cơ chế an ninh
"mềm" ở Đông Nam Á và châu Á - Thái Bình Dương, trong đó EU cũng có
vai trò. Sự lo lắng về lợi thế của bên thứ ba cũng là một động cơ khiến
ASEAN thúc đẩy quan hệ với EU. Hơn nữa, đối với ASEAN, EU là một
cường quốc đặc biệt - một cường quốc “lành”, nghĩa là không có những tham
vọng nguy hiểm ở khu vực, cho nên sự hiện diện của EU ở khu vực sẽ là một
sự hiện diện tích cực đối với ASEAN.
1.2.2. Sự cần thiết quan hệ kinh tế ASEAN - EU từ EU
* Mục đích kinh tế
Đối với EU, khu vực Đông Nam Á là nơi cung cấp chủ yếu một số
những sản phẩm quan trọng của thế giới. Các nước ASEAN bao gồm 10 quốc


22
gia trong vùng Đông Nam Á: Brunei, Indonesia, Malaysia, Phillipin,
Singapore, Thái Lan, Việt Nam, Lào, Campuchia, Myanmar với hơn 433 triệu
người, GDP khoảng 600 tỷ USD/năm (năm 1995). Có nhiều nguồn tài nguyên
thiên nhiên và lao động rồi rào. Sau thời thực dân, một số nước châu Âu vẫn
duy trì mối quan hệ thương mại và đầu tư khá chặt chẽ với các nước ĐNA.
EU cũng rất khâm phục những thành tựu công nghiệp hoá của các nước
ASEAN trong những năm 70 và 80. Những năm 90, cùng với quá trình nhất
thể hoá châu Âu, EU cơ cấu lại các mối quan hệ kinh tế của mình, trong đó
khẳng định quan hệ truyền thống với những khu vực có nhiều tiềm năng như
Đông Nam Á vốn có tốc độ phát triển nhanh nhất thế giới cho đến trước cuộc
khủng hoảng tài chính - tiền tệ gần đây. Trong những năm 70, sự lo ngại trước
việc quan hệ EU - ACP thu hút hết luồng thương mại và đầu tư đã khiến
ASEAN phải thiết lập cơ chế hợp tác ASEAN - EU. Trong những năm 90, khi
chiến tranh lạnh kết thúc, thế giới diễn ra theo một xu thế mới. Địa vị của Mỹ
đang được củng cố và mạnh lên. Vị thế này liên quan chặt chẽ với cuộc cách
mạng tin học, với công cuộc cải cách và điều chỉnh kinh tế của Mỹ. Thêm vào
đó là chiến lược tiến vào châu Á, Mỹ đã không ngừng củng cố được địa vị
của mình trong quan hệ quốc tế.
* Mục đích chính trị
EU có nhiều lý do chính trị hơn khi quan hệ với ASEAN. Trong một thời
gian dài sau chiến tranh thế giới thứ hai, mối quan tâm chính của EU là hồi
phục kinh tế. Sau khi đã hồi phục trong những năm 50, và thời kỳ "Hoàng
kim" trong thập kỷ 60, sang những năm 70, châu Âu tự tin hơn và bắt đầu tìm
kiếm vai trò quốc tế và sự có mặt trên thế giới. Vì mục đích đó cơ chế Hợp
tác chính trị châu Âu (EPC) đã ra đời năm 1969. Ngay lập tức, những biến
động tại Đông Nam Á những năm 70 đã thu hút sự chú ý của châu Âu. Châu
Âu cũng thấy rõ hơn sự trưởng thành của ASEAN khi lần đầu tiên tổ chức
này tiến hành Hội nghị thượng đỉnh tại Bali năm 1976. Sau chiến tranh lạnh,


23
EU thúc đẩy hợp tác ASEAN - EU là nhằm đối phó với những thách thức mới
trên thế giới. EU cũng muốn dùng quan hệ với ASEAN đối trọng lại ảnh
hưởng ngày càng tăng của Mỹ và Nhật ở châu Á - Thái Bình Dương. EU lo
rằng ASEAN tăng cường quan hệ với NAFTA, thông qua APEC sẽ tạo ra sân
chơi không bình đẳng, làm tổn hại lợi ích của EU. Vì thế để đối lại, cơ chế
hợp tác ASEAN - EU phải được duy trì. Hợp tác ASEAN - EU còn là đầu cầu
cho EU tiến vào các thị trường khác ở châu Á - Thái Bình Dương. Sự tham
gia của EU vào ARF là cơ hội cho EU lấy lại vai trò chính trị và an ninh mà
nó đã bị mất ở khu vực này từ sau chiến tranh thế giới thứ hai.
Như vậy, rõ ràng cả hai bên Âu - Á, ASEAN - EU đã và đang cần đến
bên nhau. EU không muốn trực tiếp bị tụt hậu sau Bắc Mỹ và Nhật Bản ở khu
vực châu Á khi Mỹ công khai tuyên bố “gắn chặt” tương lai của mình với
khu vực này. Còn châu Á hiện nay cũng đang mong muốn mở rộng cơ hội
đầu tư ở châu Âu. Trong buôn bán thế giới ASEAN muốn có EU như một đối
trọng với Mỹ ở một số lĩnh vực. Về chính trị các nước này cũng mong muốn
tiếp tục sự hiện diện của EU tại các diễn đàn khu vực để tạo đà cho nỗ lực của
ASEAN trong các cuộc thảo luận về an ninh khu vực.
Tiểu kết
Trước bối cảnh quốc tế và khu vực có nhiều thay đổi nó đã tác động đến
quan hệ kinh tế ASEAN - EU giai đoạn 1996 - 2008. Nhất là sau chiến tranh
lạnh kết thúc, Xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và các nước Đông Âu sụp đổ, thế
giới hình thành trật tự đa cực. Cùng với đó là xu thế toàn cầu hóa lan rộng ra
khắp thế giới khiến cho không một quốc gia nào có thể phát triển một cách
độc lập, các quốc gia có sự gắn bó và phụ thuộc lẫn nhau. Trước những bối
cảnh đó thì nhu cầu hợp tác giữa các quốc gia, các khu vực là rất cần thiết vì
vậy mà cả ASEAN và EU đều tìm mọi lý do để thiết lập mối quan hệ với
nhau. Đặc biệt là trước xu thế lấy kinh tế là yếu tố trung tâm để khẳng định


24
sức mạnh quốc gia thì hai khối ASEAN và EU đã không ngừng tăng cường
đẩy mạnh mối quan hệ hợp tác giữa hai khối.
Quan hệ ASEAN - EU ngày càng được đẩy mạnh vì cả ASEAN và EU
đều hiểu rõ vai trò quan trọng của mối quan hệ này. ASEAN tuy là nhóm
nước thuộc nền kinh tế đang phát triển, nhưng lại là một thị trường khá rộng
lớn và đầy tiềm năng có thể cung cấp nguyên nhiên liệu cho các nước EU.
ASEAN là những nước có nền kinh tế đang phát triển vì vậy mà rất cần
nguồn vốn của các nước EU, hơn nữa thị trường EU lại rất rộng lớn. Vì vậy,
để đẩy nhanh quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa thì ASEAN rất cần thiết
lập quan hệ kinh tế với EU. Các nước EU thuộc nhóm nước có nền kinh tế
phát triển nhưng vẫn thiết lập quan hệ với ASEAN bởi vì mục tiêu chính trị là
chủ yếu. Tuy nhiên, thì quan hệ với ASEAN sẽ tạo điều kiện cho EU tiến vào
thị trường khác ở châu Á - Thái Bình Dương.


25

Chƣơng 2
THỰC TRẠNG QUAN HỆ KINH TẾ ASEAN - EU (1996 - 2008)
VÀ NHỮNG TÁC ĐỘNG
2.1. THỰC TRẠNG QUAN HỆ KINH TẾ ASEAN - EU
2.1.1. Lịch sử và thể chế quan hệ ASEAN - EU
Cộng đồng kinh tế châu Âu (EEC) là đối tác đối thoại đầu tiên đã thiết
lập quan hệ không chính thức với các nước ASEAN năm 1972. Từ đó, Nhóm
nghiên cứu chung giữa ASEAN - ECC (JSG) đã được thiết lập để tìm ra
những nỗ lực hợp tác chung giữ hai khu vực. Vào tháng 2 - 1977, cuộc họp
đặc biệt của các ngoại trưởng ECC và Ủy ban Đại Diện thường trực
(COREPER), để qua đó ASEAN có thể tăng cường tiếng nói của mình đối với
chủ nghĩa bảo hộ đang gia tăng tại các nước ECC. Khi đó quan hệ hợp tác
ASEAN và ECC cũng chính thức được thành lập. Quan hệ này được đánh dấu
bởi bước tiến quan trọng khi phó thủ tướng kiêm ngoại trưởng Cộng hòa Liên
bang Đức, ngài Hans - Dietrich Genscher đề xuất với Ngoại trưởng Thái Lan
kiêm chủ tịch Uỷ ban thường trực ASEAN, Tiến sĩ Upadit Panchriyangkun
việc thúc đẩy quan hệ thường xuyên ở cấp Bộ trưởng giữa ASEAN và ECC.
Sau đó, Hội nghị bộ trưởng ASEAN - EEC lần thứ nhất đã được tổ chức tại
Brusels vào tháng 9/1978. Hợp tác với ECC được thể chế hóa vào ngày 7 - 3 1980 bằng việc ký kết Hiệp định hợp tác EC - ASEAN tại Hội nghị Bộ trưởng
ASEAN - EEC lần thứ hai tại Kuala Lumpur (Malaysia). Hiệp định hợp tác
ASEAN - EU đã nâng mối quan hệ giữa hai liên kết này lên một tầm cao mới.
Các hội nghị ASEAN - EU gồm các hội nghị ngoại trưởng và các Hội
nghị Bộ trưởng kinh tế. Kể từ lần tiếp xúc, đã có 12 hội nghị ngoại trưởng
được tổ chức. Các hội nghị này thường kéo dài trong hai ngày: Một ngày
giành cho quan hệ kinh tế và một ngày giành cho các vấn đề chính trị. Về vấn
đề kinh tế, tại hội nghị ngoại trưởng. Người ta thường bàn đến những vướng


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×