Tải bản đầy đủ

Luận Văn Quan hệ hợp tác đa phương Asean +3 từ năm 1997 đến năm 2010

TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA LỊCH SỬ

NGUYỄN THỊ XOAN

QUAN HỆ HỢP TÁC ĐA PHƢƠNG
ASEAN+3 TỪ NĂM 1997 ĐẾN NĂM 2010

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Lịch sử thế giới

Ngƣời hƣớng dẫn khoa học
NGUYỄN THỊ TUYẾT NHUNG

HÀ NỘI, 2012


TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA LỊCH SỬ

NGUYỄN THỊ XOAN


QUAN HỆ HỢP TÁC ĐA PHƢƠNG
ASEAN+3 TỪ NĂM 1997 ĐẾN NĂM 2010

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Lịch sử thế giới

MỞ ĐẦU
HÀ NỘI, 2012


1

LỜI CẢM ƠN
Trong thời gian nghiên cứu và hoàn thành khóa luận , em đã nhận được sự
quan tâm , giúp đỡ qu ý báu của các thầy giáo, cô giáo trong khoa Lịch sử,
trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2, và sự động viên của gia đình, bạn bè. Em
xin chân thành cảm ơn!
Em cũng xin gửi lời cảm ơn tới Thư viện Quốc gia, Thư viện Trường
Đại học Sư phạm Hà Nội 2… về những tài liệu sử dụng trong khóa luận.
Đặc biệt, em xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc nhất đến cô
giáo Nguyễn Thị Tuyết Nhung đã tận tình hướng dẫn em trong suốt thời gian
qua để em hoàn thành khóa luận.
Do thời gian và trình độ nhận thức còn hạn chế, mặc dù đã rất cố gắng
nhưng những vấn đề em trình bày trong khóa luận cũng không thể tránh khỏi
những thiếu sót. Vì vậy, em kính mong nhận được sự chỉ bảo tận tình của các
thầy – cô giáo và sự đóng góp ý kiến của các bạn sinh viên để khóa luận của
em có thể hoàn thiện hơn nữa.
Em xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày 04 tháng 05 năm 2012.

Sinh viên
Nguyễn Thị Xoan


2
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các kết quả
nghiên cứu, các số liệu trình bày trong khóa luận là trung thực và chưa được
công bố trong bất cứ công trình nào khác.



Hà Nội, ngày 04 tháng 05 năm 2012

Sinh viên
Nguyễn Thị Xoan



3

MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay, hợp tác là một xu thế nổi trội và
ngày càng phát triển của cục diện chính trị thế giới. Đặc biệt, trong những
năm gần đây, một xu hướng mới đã hình thành ở Đông Á – xu hướng tăng
cường hợp tác đa phương khu vực. Đây là một trong những thay đổi lớn nhất
ở Đông Á sau Chiến tranh lạnh, xu hướng này đang làm thay đổi bản đồ địa
chính trị, địa kinh tế cả trong khu vực và trên thế giới. Xu hướng này đã lôi
cuốn hầu hết quốc gia trong khu vực tham gia. Nhiều cố gắng thể chế và
chính sách thúc đẩy hợp tác đa phương Đông Á ngày càng trở thành đối
tượng quan trọng của các nhà chính trị, mối quan tâm của các nhà kinh tế và
đề tài nghiên cứu của các học giả.
Ở Đông Á, các cơ chế hợp tác đa phương khu vực đang hình thành và
ngày càng đa dạng như: Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN); Diễn
đàn khu vực ASEAN (ARF); Diễn đàn hợp tác kinh tế Châu Á – Thái Bình
Dương (APEC); Hội nghị thượng đỉnh Đông Á (EAS) … Đặc điểm chung
của các tổ chức này là sự có mặt của hầu hết các nước lớn trên thế giới và
hoạt động dựa trên cơ chế mở, sự ràng buộc lỏng lẻo và tính đa dạng cao.
Sự nổi lên của hợp tác Đông Á liên quan nhiều đến ASEAN+3.
ASEAN+3 là một hiện tượng hợp tác đa phương mới hình thành ở Đông Á
trong cuộc khủng hoảng tài chính 1997-1998. Vào cuối thập niên 1990, cùng
với sự phát triển mạnh mẽ của chủ nghĩa khu vực ở Đông Á, khuôn khổ hợp
tác ASEAN + 3 đã ra đời đánh dấu một mốc quan trọng trong lịch sử hợp tác
giữa các quốc gia trong khu vực. Có thể nói, đây là khuôn khổ thuần Đông Á
duy nhất từ trước đến nay với thành viên gồm mười nước thuộc Hiệp hội các
quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) và ba nước Đông Bắc Á là Nhật Bản, Trung
Quốc và Hàn Quốc. Kể từ sau khi hình thành và đặc biệt là sau khi được thể


4
chế hóa với việc ra Tuyên bố chung đầu tiên tại Hội nghị Thượng đỉnh lần thứ
3 năm 1999, ASEAN+3 ngày càng trở thành một khuôn khổ hợp tác toàn diện
và thiết yếu đối với các quốc gia Đông Á trên tất cả các lĩnh vực từ kinh tế,
chính trị, an ninh đến văn hóa – xã hội. Trong sự trưởng thành và lớn mạnh
của ASEAN+3, ngoài những nhân tố khách quan thuận lợi, không thể phủ
nhận những nỗ lực đóng góp nhiệt tình của tất cả các quốc gia thành viên.
Trong một khu vực đang vận động khá nhanh như Đông Á, ASEAN+3
là một cơ chế hợp tác mang bản sắc và có nhiều triển vọng của khu vực. Việc
tìm hiểu những vấn đề và triển vọng của ASEAN+3 có thể đóng góp phần nào
cho công cuộc hội nhập kinh tế quốc tế và tăng cường hợp tác khu vực của
các quốc gia ASEAN và ba nước Đông Bắc Á là Hàn Quốc, Trung Quốc và
Nhật Bản.
Với những lí do trên, tác giả chọn vấn đề “Quan hệ hợp tác đa phƣơng
ASEAN+3 từ năm 1997 đến năm 2010” làm đề tài khóa luận của mình.
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Trong những năm gần đây, hợp tác ASEAN+3 (Hợp tác Đông Á) trở
thành đối tượng được quan tâm của các nhà chính trị, kinh tế và đề tài nghiên
cứu của các nhà khoa học.
Nguyễn Thu Mỹ (chủ biên), Một số vấn đề cơ bản về Hợp tác
ASEAN+3, NXB Khoa học xã hội, 2008, 315 tr.
Nguyễn Thu Mỹ (Chủ biên), "Hợp tác ASEAN + 3 quá trình phát triển
– Thành tựu và triển vọng", NXB CTQG, HN- 2007.
Hai cuốn sách của tác giả đã khái quát lại quá trình thành lập Hợp tác
ASEAN+3 và phân tích những thành tựu, hạn chế của nó sau 10 năm phát
triển. Cuốn sách cũng đề cập tới vai trò và những đóng góp của ASEAN,
Trung Quốc, Hàn Quốc và Nhật Bản đối với Hợp tác ASEAN+3 trong 10
năm qua và đưa ra một số nhận xét về vai trò và những đóng góp của các đối
tác đó. Sau khi phân tích những thuận lợi và khó khăn mà Hợp tác ASEAN+3


5
đang phải đối diện trên con đường của nó, tác giả đã đề xuất các kiến nghị
nhằm góp phần thúc đẩy Hợp tác ASEAN+3 tiến lên phía trước.
Ts Hoàng Khắc Nam (chủ biên), Hợp tác đa phương ASEAN+3 – Vấn
đề và triển vọng, 2008, 266 tr. Cuốn sách đã phân tích các tiền đề cơ sở của
Hợp tác đa phương ASEAN+3, đánh giá khái quát những phát triển nổi bật
của ASEAN+3 trong 10 năm qua. Cuốn sách cũng có nhiều đánh giá triển
vọng của tiến trình Hợp tác ASEAN+3, đồng thời xem xét cơ hội và thách
thức đối với ASEAN và Việt Nam khi tham gia Hợp tác ASEAN+3.
Phan Huy Lê, Các giá trị Đông Á qua tiến tình lịch sử , Tạp chí Khoa
học ĐHQGHN – Khoa học Xã hội và Nhân văn , số 3 – 2002. Những vấn đề
được đề cập trong cuốn sách này là những vấn đề mới và phức tạp. Cuốn sách
là tập hợp của nhiều công trình nghiên cứu về các giá trị Đông Á của nhiều
tác giả.
Đại học Quốc gia Hà Nội , Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân
văn (2001). Đông Á – Đông Nam Á : Những vấn đề lị ch sử và hiện tại , NXB
Thế giới , Hà Nội . Trong cuốn sách này có một số bài viết về Hợp tác
ASEAN+3 đã nhận diện các vấn đề trên nhiều phương diện khác nhau như
lịch sử, an ninh – chính trị, kinh tế và văn hóa – xã hội tác động đến tiến trình
Hợp tác đa phương ASEAN+3. Mộ số bài viết còn đi sâu tìm hiểu những
thuận lợi và khó khăn của Việt Nam khi tham gia hợp tác trong khuôn khổ
ASEAN+3.
Các bài viết về Hợp tác ASEAN+3 trong các tạp chí nghiên cứu Đông
Nam Á; tạp chí nghiên cứu Đông Bắc Á; tạp chí nghiên cứu Nhật Bản và
Đông Bắc Á…
Như vậy, với những tác phẩm, chuyên đề nghiên cứu trên của các học
giả trong nước cũng như nước ngoài đều đem đến cho người đọc hiểu biết
một cách khái lược nhất định về Hợp tác ASEAN+3. Các tác giả đã phân tích
khá cụ thể thực trạng Hợp tác ASEAN+3 sau hơn 10 năm thành lập; đồng thời
qua đó cũng chỉ ra vai trò và những đóng góp của các đối tác trong quá trình


6
phát triển của Hợp tác ASEAN+3. Tuy nhiên, những tác phẩm và bài viết trên
mới chỉ đề cập đến một số khía cạnh chứ chưa đi sâu nghiên cứu một cách
toàn diện, có hệ thống về Hợp tác ASEAN+3.
3. Mục đích, nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu đề tài này cho chúng ta hiểu rõ hơn về:
Cơ sở hình thành hợp tác đa phương ASEAN+3.
Quá trình hình thành và phát triển của ASEAN+3.
Nghiên cứu quan hệ hợp tác đa phương giữa ASEAN và ba nước Đông
Bắc Á là Trung Quốc, Hàn Quốc và Nhật Bản trong tất cả các lĩnh vực kinh
tế, chính trị, an ninh, văn hóa – xã hội, từ đó đánh giá được những tác động và
ảnh hưởng của quan hệ hợp tác đa phương này đến sự phát triển kinh tế, chính
trị, an ninh, văn hóa – xã hội của ASEAN cũng như ba nước Đông Bắc Á.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Sưu tầm, xử lý các nguồn tư liệu để xây dựng thành khóa luận.
Nghiên cứu cơ sở hình thành hợp tác đa phương ASEAN+3, quá trình
hình thành và phát triển của ASEAN+3.
Trình bày một cách có hệ thống, toàn diện quan hệ hợp tác đa phương
giữa ASEAN và ba nước Đông Bắc Á là Trung Quốc, Hàn Quốc và Nhật Bản.
Nêu rõ triển vọng của hợp tác ASEAN+3.
3.3. Phạm vi nghiên cứu
Đề tài trên đề cập đến một vấn đề rất rộng lớn cả về không gian và thời
gian, và việc hợp tác trên mọi lĩnh vực khác nhau.
Không gian: Khóa luận tập trung nghiên cứu chủ yếu trên phạm vi khu
vực Đông Á, đặc biệt là đi sâu nghiên cứu về quan hệ hợp tác đa phương giữa
ASEAN và ba nước Đông Bắc Á trong các lĩnh vực kinh tế, chính trị, an ninh,
văn hóa – xã hội.
Thời gian: Đề tài tập trung nghiên cứu tiến trình hợp tác ASEAN+3 từ
khi thành lập năm 1997 đến năm 2010.
4. Nguồn tƣ liệu và phƣơng pháp nghiên cứu


7
4.1. Nguồn tư liệu
Nguồn tài liệu thứ nhất: Một số vấn đề cơ bản về Hợp tác ASEAN+3;
Hợp tác đa phương ASEAN+3 – Vấn đề và triển vọng…là các tài liệu chuyên
sâu nghiên cứu, phản ánh về Hợp tác đa phương ASEAN+3
Nguồn tài liệu thứ hai: Các văn kiện công bố sau các Hội nghị các cấp
của ASEAN, ASEAN+3… Các thông tin và bình luận liên quan của Thông
tấn xa Việt Nam, các tạp chí nghiên cứu Đông Nam Á, tạp chí nghiên cứu
Đông Bắc Á… báo trong và ngoài nước.
Nguồn tài liệu thứ ba: Là nguồn tài liệu điền dã, thực tế tại Thư viện
Quốc gia, Thư viện trường ĐHSP Hà Nội 2, Viện nghiên cứu Đông Nam Á,
Viện nghiên cứu Đông Bắc Á…
Nguồn tài liệu thứ tư: Là khai thác các trang Web có đăng tải các bài
viết về Hợp tác ASEAN+3.
4.2. Phương pháp nghiên cứu
Vận dụng lý luận của chủ nghĩa Mac – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh
làm cơ sở tư tưởng và lý luận để nghiên cứu đề tài.
Kết hợp giữa phương pháp lịch sử với phương pháp logic, trong đó
phương pháp lịch sử là chủ yếu.
Sử dụng phương pháp thống kê, phương pháp đối chiếu, so sánh, liệt kê,
phân tích, sử dụng hình ảnh trực quan để xác minh sự kiện, nội dung lịch sử.
5. Đóng góp của đề tài
Khóa luận trình bày về quan hệ Hợp tác đa phương ASEAN+3 từ năm
1997 đến năm 2010. Từ đó giúp người đọc hiểu biết về cơ sở hình thành cũng
như quá trình hình thành và phát triển của ASEAN+3.
Khóa luận khái quát tổng thể và hệ thống hóa các thành tựu trong các
lĩnh vực hợp tác về chính trị, an ninh, kinh tế, văn hóa – xã hội của
ASEAN+3.


8
Khóa luận phân tích đánh giá một cách khách quan, khoa học triển vọng
phát triển của quan hệ Hợp tác đa phương ASEAN+3 trong những năm sắp
tới.
Kết quả nghiên cứu của khóa luận có thể dùng tham khảo trong nghiên
cứu về quan hệ hợp tác đa phương ASEAN+ từ năm 1997 đến năm 2010, đặc
biệt là những năm đầu thế kỷ XXI.
6. Bố cục của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục va danh mục tài liệu tham khảo,
báo cáo gồm 2 chương:
Chương 1: Cơ sở hình thành hợp tác đa phương ASEAN+3
Chương 2: Quá trình hợp tác đa phương ASEAN+3


9

NỘI DUNG
Chƣơng 1
CƠ SỞ HÌNH THÀNH HỢP TÁC ĐA PHƢƠNG ASEAN+3
1.1. CƠ SỞ CHÍNH TRỊ VÀ AN NINH
Cuối thế kỷ XX – đầu thế kỷ XXI, Đông Á đã có sự hiện diện trên
nhiều bình diện, khía cạnh khác nhau, đặc biệt là nhìn Đông Á từ góc độ trong
quan hệ với nền chính trị, an ninh thế gới.
Đông Á được nhận thức như một khu vực địa – chính trị bao gồm cả
Đông Bắc Á và Đông Nam Á, như thực tế lịch sử đã chứng tỏ những mối
quan hệ mật thiết cả về chính trị và kinh tế giữa Đông Bắc Á và Đông Nam
Á, mặc dầu khái niệm Đông Á còn nhiều ý kiến khác nhau xét từ các tiêu chí
khu vực địa - văn hóa, địa – lịch sử - văn hóa… Khu vực Đông Á về mặt địa
lý bao gồm hai bộ phận Đông Bắc Á và Đông Nam Á; Đông Bắc Á bao gồm
Trung Quốc, Nhật Bản, hai quốc gia trên Bán đảo Triều Tiên và Mông Cổ,
còn Đông Nam Á thì bao gồm 11 nước thành viên ASEAN. Khu vực này là
một điểm phát triển năng động nhất của vành đai Châu Á – Thái Bình Dương
và được dự đoán là “khu vực của thế kỷ XXI”. Đông Á có hai nền kinh tế
hàng đầu của thế giới (chỉ đứng sau Mỹ) là Trung Quốc và Nhật Bản và các
nền kinh tế mới nổi như Singapore, Malaysia, Hàn Quốc, Thái Lan. Đông Á
là một khu vực phát triển năng động và có tiềm năng cạnh tranh với Châu Âu
và Bắc Mỹ trong tương lai gần. Càng ngày người ta càng nói nhiều về “chủ
nghĩa khu vực Đông Á” (East Asian Regionalism), “Khu vực hóa Đông Á”
(East Asian Regionalization), “Cộng đồng Đông Á” (East Asian Community),
“Phục hưng Châu Á” (Asian Renaissance), Chủ nghĩa Châu Á mới (Neo –
Asianism), sự nổi lên của “Bản sắc Đông Á” (East Asian Identity)… Tuy
nhiên, giữa thực tế và nội hàm của các thuật ngữ này vẫn tồn tại một khoảng
cách không nhỏ.


10
Chủ nghĩa quốc gia có vai trò to lớn đối với công cuộc xây dựng và bảo
vệ đất nước của các quốc gia Đông Á. Chủ nghĩa quốc gia sẽ tiếp tục duy trì
và phát huy giá trị của mình trong thời đại ngày nay, khi thế giới vẫn trong
tình trạng phức tạp, khi quốc gia vẫn là chủ thể cơ bản trong quan hệ quốc tế.
Tuy nhiên, do lịch sử đơn giản là sự tiếp tục của cái đã cáo chung, do tình
hình đã không còn như trước, chủ nghĩa quốc gia này đang góp phần tạo nên
những vấn đề nhất định đối với tiến trình hợp tác khu vực. Sự mạnh mẽ và
tính hướng nội của chủ nghĩa quốc gia ở Đông Á thường đẫn đến quan niệm
tập trung cao độ vào quốc gia và tuyệt đối hóa lợi ích quốc gia. Chủ nghĩa
quốc gia đã ít nhiều gây cản trở về mặt nhận thức đối với hợp tác khu vực
Đông Á. Việc theo đuổi lợi ích quốc gia nhiều khi coi nhẹ sự hài hòa giữa lợi
ích đối nội và đối ngoại, hạ thấp khả năng dung hòa với lợi ích nước khác và
thậm chí là bất chấp cả lợi ích khu vực. Sự ích kỷ vẫn ngự trị trong chính sách
hợp tác khu vực của nhiều nước. Đây là một lý do làm cho các nước Đông Á
không chỉ khó khăn trong việc tìm tiếng nói chung, khó khăn trong việc giải
quyết các vấn đề tồn tại mà nhiều khi còn làm cản trở việc xây dựng thể chế
hợp tác khu vực.
Như trên đã đề cập, chủ nghĩa quốc gia mạnh mẽ và tính hướng nội
cũng là nhân tố hạn chế các quan hệ đối ngoại. Trong khu vực chưa từng tồn
tại một sự thống nhất chính trị như đã từng có ở Châu Âu dưới thời đế chế
Rôma hay Đế chế thần thánh. Các đế quốc ở Đông Á chỉ có ảnh hưởng tầm
tiểu khu vực. Hơn nữa, ngoại vi thường có tính độc lập cao. Ở Đông Á, cơ sở
lịch sử cho sự liên kết chính trị khu vực gần như là không có.
Từ đầu những năm 90 của thế kỷ trước, sau sự chấm dứt của Chiến
tranh lạnh và tan rã của trật tự hai cực, nền chính trị thế giới đã có những
thay đổi lớn. Một trật tự quốc tế mới đang hình thành mà dư luận chung
mong muốn và cho rằng sẽ là một Trật tự đa cực, nhiều trung tâm. Khu vực
Đông Á cũng trong dòng chảy đó và thật sự đứng trước không ít thách thức


11
đang đặt ra cùng những cơ hội tiến tới. Cũng như nhiều nước trên thế giới,
các quốc gia Đông Á đều ra sức điều chỉnh chiến lược phát triển và giải
quyết những rối ren , xung đột nhằm tạo nên một môi trường hòa bình ổn
định nhất thiết phải có . Trước mắt , có thể nhận thấy những nhân tố chính
Đông Á có nghĩa hàng đầu đối với khu vực. Đó là việc không thể phủ nhận
sự gia tăng các mối quan hệ nội khối, hay nói một cách khác đó chính là sự
phát triển mạnh mẽ của ASEAN như một tổ chức khu vực trong thập kỷ
vừa qua. ASEAN đã đạt được nhiều thành tựu không thể phủ nhận trong
nhiều lĩnh vực như chính trị và an ninh, kinh tế và hợp tác quốc tế. Theo đó
là mối quan tâm đối với tổ chức này từ phía Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật
Bản. Quan hệ giữa các nước này với các nước Đông Nam Á đã vượt qua
phạm vi mang tính song phương, chuyển dịch dần sang tính đa phương. Hệ
quả của quá trình toàn cầu làm nảy sinh ý thức muốn tham dự vào khối
ASEAN từ phía các nước này, và đương nhiên người ta không thể không
quan tâm tới ý đồ của ba nước Đông Bắc Á muốn giữ một vai trò chủ yếu
hoặc chí ít chi phối được sự phát triển các quan hệ quốc tế ở khu vực Đông
Nam Á trên cơ sở các mối quan hệ vốn đã có truyền thống.
Sự bất đồng về hệ thống chính trị giữa các nước trong bối cảnh Chiến
tranh lạnh cũng hạn chế quan hệ đối ngoại giữa các nước trong khu vực. Tuy
nhiên, sau khi Chiến tranh lạnh kết thúc, quan hệ quốc tế khu vực có điều kiện
mở rộng, các quốc gia và vùng lãnh thổ khu vực Đông Á đã tăng cường quan
hệ hợp tác. Các quan hệ này diễn ra trên nhiều cấp độ và với các hình thức đa
dạng khác nhau. Chính điều này càng tạo ra sự gắn kết, tuỳ thuộc lẫn nhau
giữa các quốc gia khu vực.
Đông Á sau Chiến tranh lạnh còn ngổn ngang bao thách thức, nguy
cơ và cả những “điểm nóng” trên bản đồ chính trị khu vực. Đó là những
diễn biến phức tạp ở bán đảo Triều Tiên và eo biển Đài Loan; là những
tranh chấp về lãnh thổ, lãnh hải ở quần đảo Điếu Ngư (Senkaku) giữaTrung


12
Quốc và Nhật Bản, ở quần đảo Kurin giữa Nhật Bản và Liên bang Nga,
Trường Sa – Biển Đông giữa nhiều bên, nhiều nước trong khu vực. Đó là
sự bùng nổ của làn sóng ly khai và chủ nghĩa khủng bố đầy tệ hại diễn ra ở
nhiều nước như Indonesia. Philippines… Những mâu thuẫn, tranh chấp đó
đều thật khó dễ dàng giải quyết, nhanh chóng khắc phục vì chúng có những
căn nguyên lịch sử. Chúng như những nguy cơ tiềm ẩn đe dọa sự an ninh
ổn định và hợp tác phát triển đối với mỗi quốc gia cũng như cả khu vực.
Đó là chưa kể tới những tác động không nhỏ của tình hình thế giới dội vào
khu vực.
Như vậy, bước vào thế kỷ XXI, Đông Á đang phải đối mặt với nhiều
vấn đề chính trị - an ninh: nguy cơ khủng bố gia tăng, ly khai lan rộng, nội
bộ nhiều nước bất ổn, xuất hiện bất đồng trong quan điểm của một số nước
thành viên, xu hướng các nước lớn can dự vào công việc nội bộ của các
nước nhỏ gia tăng. Tình hình đó đặt các nước Đông Á trước yêu cầu hợp tác,
phối hợp nhằm đối phó với các thách thức, đảm bảo hòa bình và an ninh khu
vực. Bên cạnh đó các vấn đề an ninh phi truyền thống như tội phạm xuyên
quốc gia, chủ nghĩa khủng bố, khủng hoảng môi trường… trở thành nguy cơ
đe dọa hòa bình, ổn định của mỗi nước cũng như cả khu vực mà nỗ lực riêng
lẻ của từng nước không thể giải quyết triệt để, đòi hỏi Đông Á phải có nỗ
lực và đối sách chung. Để đối phó với những thách thức và trở ngại về chính
trị - an ninh mới, Đông Á có nhu cầu phải có một cơ chế hợp tác chặt chẽ
hơn, mạnh mẽ hơn. Rõ ràng yếu tố chính trị - an ninh luôn là chất keo gắn
kết các nước Đông Á và cũng là động lực chủ yếu thúc đẩy sự ra đời, tồn tại
và phát triển của Hợp tác ASEAN+3.
1.2. CƠ SỞ KINH TẾ
Trong lịch sử, sự phát triển mạnh mẽ và lâu dài của nền văn minh nông
nghiệp ở khu vực Đông Á đã chi phối tính chất tự cung tự cấp của nền kinh


13
tế. Thương nghiệp yếu ớt không tạo nên các mối liên hệ mạnh mẽ giữa các
quốc gia. Cơ sở kinh tế này đã góp phần quy định tâm tính hướng nội trong
nhận thức đối ngoại với biểu hiện lớn nhất là chính sách đóng cửa trong quan
hệ với bên ngoài.
Khoảng cách trình độ giữa các nước trong khu vực quá lớn ( Nhật Bản
là siêu cường kinh tế, còn hầu hết các nước ASEAN là các nước đang phát
triển) dẫn đến tình trạng kinh tế khác nhau, từ đó tạo ra những lợi ích và ưu
tiên khác nhau trong chính sách liên kết khu vực.
Chiến tranh lạnh kết thúc đầu thập niên 90 của thế kỷ XX mang đến
nhiều thay đổi cho thế giới. Xu hướng đối đầu giữa hai phe TBCN và XHCN
tạm thời lắng xuống, hợp tác và tự do hóa thương mại giữa các nước và khu
vực phát triển theo hướng liên kết, ràng buộc ngày càng chặt chẽ với nhau.
Trước tình hình như vậy, vai trò của các tổ chức trong khu vực ngày càng
được đề cao, góp phần không nhỏ tới trao đổi thương mại, đầu tư, thúc đẩy
nền kinh tế các nước phát triển. Đồng thời cũng là cơ sở hình thành nên
những khu vực với nền kinh tế mạnh, có ảnh hưởng chi phối đến tiến trình
phát triển chung của thế giới. Điển hình của hợp tác kinh tế khu vực này là sự
hình thành của khu mậu dịch tự do Bắc Mỹ (NAFTA), Liên minh châu Âu
(EU)… Đăc biệt trong đó có khu mậu dịch tự do ASEAN – Trung Quốc
(ACFTA)…
Cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ Châu Á (1997 – 1998) đã giúp các
nước Đông Á nhận thấy rõ hơn mức độ phụ thuộc lẫn nhau giữa các nền kinh
tế trong khu vực của họ. Nhu cầu thể chế hóa một sự liên kết kinh tế khu vực
vốn đã diễn ra trong thực tế, được đặt ra cấp bách hơn bao giờ hết. Sau cuộc
khủng hoảng Châu Á nổ ra, chính sách đối ngoại nói chung, chính sách đối
với Đông Á của Trung Quốc đã được điều chỉnh. Một trong những nguyên
nhân quan trọng nhất dẫn tới sự điều chỉnh chính sách đó là nhận thức của các
nhà lãnh đạo Trung Quốc cho rằng Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa là một


14
nước châu Á – Thái Bình Dương. Vận mệnh của Trung Quốc gắn bó chặt chẽ
với vận mệnh của khu vực rộng lớn này. Chính nhận thức mới trên đã làm
thay đổi cách tiếp cận của Trung Quốc đối với các tiến trình hợp tác đa
phương trên thế giới nói chung và ở Đông Á nói riêng. Cuộc khủng hoảng
này cũng đã khiến các nhà lãnh đạo Tôkyô thấy rõ hơn vận mệnh chung giữa
các nước Đông Á với Nhật Bản. Điều này đã khiến Nhật Bản nhận thấy sự
cần thiết lập một thể chế riêng của Đông Á để giải quyết các vấn đề của khu
vực Đông Á. Tuy nhiên, sau cuộc khủng hoảng tài chính châu Á xảy ra năm
1997, dự kiến ASEAN+3 ra đời như một nỗ lực nhằm ngăn chặn những rủi ro
tài chính tái diễn. Như vậy, cuộc khủng hoảng tài chính khu vực năm 1997
cho thấy hợp tác tài chính giữa các nước trong khu vực là hết sức cần thiết
nhằm đảm bảo sự phát triển ổn định của khu vực trong tương lai. Chính vì
vậy, hợp tác tài chính cần được tăng cường trong tiến trình ASEAN+3.
Hội nhập kinh tế quốc tế đang diễn ra trong bối cảnh toàn cầu hoá ngày
một gia tăng. Đây là quá trình tìm kiếm lợi ích trong khuôn khổ hợp tác và
cạnh tranh. Trong quá trình đó, bên cạnh những lợi thế có được do mở rộng
quan hệ, tiếp thu kinh nghiệm, tìm kiếm đối tác, tranh thủ sự hỗ trợ của các
nước tiên tiến và các tổ chức quốc tế, các nước đang phát triển cũng gặp
không ít khó khăn, thách thức về thị trường, vốn, trình độ quản lý, trình độ
khoa học và công nghệ, buộc phải nhanh chóng đổi mới một cách toàn diện cả
về phương thức lãnh đạo, quản lý, xây dựng định hướng, chiến lược phát triển
kinh tế - xã hội để rút ngắn khoảng cách phát triển. Nhận thức được tính tất
yếu hội nhập kinh tế quốc tế đối với công cuộc phát triển đất nước, hầu hết
các quốc gia đều tích cực mở rộng quan hệ hợp tác quốc tế dưới nhiều hình
thức và mức độ khác nhau. Trong bối cảnh đó, ASEAN+3 ra đời như một
hình thức quan hệ giữa các đối tác trong khu vực và trên thế giới.
Xu hướng hợp tác khu vực là xu hướng chung của thời đại, không một
quốc gia nào có thể tồn tại một cách riêng biệt, độc lập mà không giao lưu với


15
bên ngoài. Hợp tác ASEAN+3 bao gồm các quốc gia ASEAN, Trung Quốc,
Hàn Quốc, Nhật Bản là xu hướng hợp tác tuân theo quy luật ấy.
1.3. CƠ SỞ VĂN HOÁ – XÃ HỘI
Trên phương diện lịch sử quan hệ quốc tế, Đông Á là khu vực phát
triển tương đối biệt lập. Về mặt xã hội, các quốc gia Đông Á thường được xây
dựng trên cơ sở các dân tộc trung tâm khác nhau, tạo nên tính khép kín tương
đối của quốc gia. Các quan hệ đồng tộc tuy có nhưng nhỏ bé và không đủ sức
lấn át chiều hướng trên trong quan hệ giữa các quốc gia.
Về mặt văn hóa, ngôn ngữ với tư cách là công cụ giao tiếp và phương
diện chuyển tải văn hóa lại rất phức tạp và khá khác nhau. Đó là cách trở lớn
cho sự giao lưu để hình thành nên những giá trị mang tính khu vực. Hơn nữa,
quá trình phát tán và hội nhập văn hóa thường mang tính tự nhiên, manh mún
và dàn trải nên không đóng được vai trò cầu nối hữu hiệu cho quan hệ hợp tác
khu vực.
Chiến tranh và xung đột đã để lại nhiều vấn đề lịch sử trong quan hệ
quốc tế khu vực Đông Á. Các vấn đề do lịch sử để lại thường là các vấn đề
song phương gây cản trở chủ yếu cho hợp tác đa phương ở Đông Á. Đặc biệt
là quá khứ xung đột vẫn ít nhiều chi phối tình cảm và nhận thức, khiến cho
việc giải quyết các vấn đề này gặp thêm khó khăn khi chúng dễ bị đẩy lên
thành sự “xung đột tinh thần quốc gia”. Các vấn đề này giải quyết đặc biệt
khó khăn giữa những nước có quá khứ bành trướng và những “nạn nhân lịch
sử” của nó. Lịch sử đã làm tăng thêm tính phức tạp của vấn đề. Thiếu nền
tảng quan hệ tạo nên sự thiếu hiểu biết lẫn nhau. Sự đè nặng của quá khứ
xung đột tạo nên sự thiếu tin cậy lẫn nhau. Tuy nhiên, cái giá của lịch sử xung
đột kéo dài đã khiến mọi quốc gia đều có chung một nhận thức: Hợp tác khu
vực vì hòa bình và phát triển.
Trong xu thế quốc tế hóa và toàn cầu hóa như hiện nay, văn hóa là
chiếc cầu nối trong quan hệ quốc tế của mỗi nước. Hợp tác văn hóa đa
phương giữa các nước ASEAN và ba nước Đông Bắc Á là một nhu cầu tất


16
yếu và rất được coi trọng. Đây là một trong những trọng tâm của Hợp tác
ASEAN+3. Việc hợp tác văn hóa đa phương làm tăng cường sự hiểu biết lẫn
nhau giữa nhân dân các nước ASEAN với ba nước Đông Bắc Á. Những thành
tựu mà việc hợp tác văn hóa đa phương đem lại không chỉ tăng cường sự hiểu
biết giữa các nước mà còn thúc đẩy tinh thần đoàn kết giữa nhân dân các nước
ASEAN và ba nước Đông Bắc Á. Bên cạnh đó, các quốc gia đang nỗ lực để
xây dựng một hình ảnh tốt đẹp về Đông Á để thế giới nhìn nhận và đánh giá.
Tiểu kết
Sự phát triển của chủ nghĩa khu vực ở những khu vực khác, đặc biệt là
ở Châu Âu (với việc làm sâu sắc và mở rộng hơn nữa quá trình hội nhập khu
vực ở châu Âu) và Bắc Mỹ (thông qua kế hoạch xây dựng khu Mậu dịch tự do
châu Mỹ vào năm 2005) đã thúc đẩy các nước Đông Á khai sinh cho chủ
nghĩa khu vực của mình, nhằm nâng cao vị thế của Đông Á trong nền kinh tế
và chính trị thế giới.
Đông Á đã bước vào thế kỷ XXI. Với bản lĩnh đã trải qua nhiều thử
thách và phong cách ứng xử bắt nguồn từ những nền văn hóa lâu đời có chung
nhiều giá trị tương đồng, các quốc gia – dân tộc Đông Á không ngừng vươn
tới, cùng nhau hợp tác phát triển của một “chủ nghĩa khu vực mở” (về hợp tác
kinh tế) và “mềm dẻo” (về hợp tác an ninh) để Đông Á trở thành một trung
tâm quan trọng về kinh tế, chính trị vì một thế giới hòa bình ổn định và hợp
tác phồn vinh.
Đặc biệt, sự thất vọng của các nước thành viên APEC ở Đông Á về
những tiến bộ chậm chạp của tiến trình liên kết kinh tế châu Á – Thái Bình
Dương do Mỹ lãnh đạo, đã khiến cho các nước Đông Á quyết tâm hơn trong
việc thành lập một tổ chức hợp tác khu vực riêng cho mình và vì mình. Với
những lý do trên, các nhà lãnh đạo Đông Á đã gặp nhau tại Hội nghị Thượng
đỉnh không chính thức ASEAN lần thứ hai ở Kuala Lumpur ngày 15/12/1997.
Sau cuộc họp trên, ngày 16/12, các nhà lãnh đạo ASEAN đã họp riêng
với từng nhà lãnh đạo Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản. Kết quả của các Hội


17
nghi Thượng đỉnh song phương giữa ASEAN và 3 nước Đông Bắc Á được
phản ánh trong các Tuyên bố chung được đưa ra sau mỗi hội nghị.
Như vậy, với Hội nghị thượng đỉnh giữa các nguyên thủ ASEAN và
các nhà lãnh đạo 3 quốc gia ở Đông Bắc Á, tiến trình Hợp tác ASEAN+3 đã
được thành lập. Từ sáng kiến của Malaysia (12 – 1997), ASEAN+3 đã trở
thành một hình thức hợp tác đặc sắc và tiêu biểu cho quan hệ giữa các nước
Đông Á. Dù còn những khó khăn chênh lệch, một hình thức hợp tác mới giữa
các nước Đông Á đã được hình thành trong thưc tế. Sự hợp tác ấy bao gồm kể
cả chính trị, an ninh và kinh tế với những hứa hẹn đầy tiến triển và có hiệu
quả.


18

Chƣơng 2
QUÁ TRÌNH HỢP TÁC ĐA PHƢƠNG ASEAN + 3
2.1. TỔNG QUAN VỀ QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN
CỦA ASEAN +3
2.1.1. Quá trình hình thành Hợp tác ASEAN+3
Ý tưởng thiết lập một cơ chế hợp tác giữa các nước Đông Á được Thủ
tướng Mahathia Mohamat của Malaysia đưa ra vào năm 1990. Theo sự hình
dung của Thủ tướng Malaysia, Nhóm kinh tế Đông Á (EAEG) sẽ bao gồm 6
nước thành viên ASEAN, Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc, Hồng Kông,
Trung Hoa Đài Bắc và Việt Nam. Nhóm này sẽ gặp nhau nếu và khi cần thiết,
hoặc ngay sau Hội nghị Ngoại trưởng ASEAN (AMM) hàng năm, hoặc sau
Hội nghị thường niên các Bộ trưởng kinh tế ASEAN để thảo luận các vấn đề
thuộc mối quan ngại chung đối với các nền kinh tế Đông Á.
Ý tưởng Nhóm kinh tế Đông Á của Malaysia được xây dựng dựa trên
hai tiền đề chính. Một là, quá trình liên kết kinh tế giữa ASEAN với các nền
kinh tế Đông Bắc Á đã hình thành trong thực tế và do các lực lượng thị
trường dẫn dắt. Hai là, sự gần gũi về lịch sử, văn hóa và vận mệnh chung giữa
các nước Đông Á với nhau.
Để thực hiện hóa ‎ý tưởng EAEG của mình, Malaysia đã tiến hành vận
động sự ủng hộ của các nước ASEAN khác. Kết quả của các nỗ lực đó là
EAEG đã được thảo luận chính thức tại Hội nghị các quan chức kinh tế cao
cấp đặc biệt ở Bangdung, Indonesia vào ngày 15 – 16/3/1991 và tại AEM lần
thứ 23 tại Malaysia tháng 10/1991. Tại các cuộc thảo luận này, EAEG đã
được cải biến thành Diễn đàn kinh tế Đông Á (EAEC). Hội nghị Thượng đỉnh
ASEAN lần thứ tư họp ở Singapore tháng 1/1992 đã tán thành ‎ý tưởng EAEC
và giao nhiệm vụ cho Tổng thư k‎ý ASEAN nghiên cứu thể thức thích hợp để
thực hiện hóa ‎ý tưởng trên.


19
Sau khi xem xét các thể thức triển khai EAEC do Tổng thư k‎ý ASEAN
trình bày, Hội nghị Ngoại trưởng ASEAN (AMM) lần thứ 26 họp vào tháng
7/ 1993 đã quyết định EAEC sẽ là “một diễn đàn trong APEC” và AEM sẽ
cung cấp sự hỗ trợ và phương hướng cho EAEC. Với quyết định của AMM
26, ASEAN đã xây dựng được một phiên bản mới của EAEG [Nguồn: 18,
trang 20].
Cho tới cuối năm 1997, không chỉ ASEAN mà tất cả 3 nước lớn ở
Đông Bắc Á bao gồm Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản đã không thể do dự
hơn nữa trong việc thiết lập một cơ chế hợp tác khu vực ở Đông Á.
Các nhà lãnh đạo Đông Á đã gặp nhau tại Hội nghị Thượng đỉnh không
chính thức ASEAN lần thứ hai ở Kuala Lumpur ngày 15/12/1997. Sau cuộc
họp trên, ngày 16/12, các nhà lãnh đạo ASEAN đã họp riêng với từng nhà
lãnh đạo Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản. Kết quả của các Hội nghị
Thượng đỉnh song phương giữa ASEAN và 3 nước Đông Bắc Á được phản
ánh trong các Tuyên bố chung được đưa ra sau mỗi Hội nghị.
Như vậy, Hội nghị thượng đỉnh giữa các nguyên thủ ASEAN và các
nhà lãnh đạo 3 quốc gia ở Đông Bắc Á đã đánh dấu cho sự khởi động của cơ
chế ASEAN+3, tiến trình Hợp tác ASEAN+3 được thành lập. Hội nghị
Thượng đỉnh Đông Á sau đó mỗi năm tổ chức một lần tại một nước làm chủ
tịch luân phiên. Cho đến năm 2010, ASEAN+3 đã tổ chức 13 Hội nghị
Thượng đỉnh.
Sự ra đời của hợp tác ASEAN+3 là kết quả của những nỗ lực không
mệt mỏi của các nước Đông Á, nhất là ASEAN trong nuôi dưỡng và thúc đẩy
chủ nghĩa khu vực ở Đông Á. Lần đầu tiên, trong lịch sử Đông Á, các quốc
gia ở khu vực này đã có được một tổ chức hợp tác riêng của mình, cho mình
và vì mình.
Hợp tác ASEAN+3 là sự thể hiện của tinh thần tự tôn, tự cường khu
vực của các quốc gia Đông Á. Với việc thành lập một tổ chức hợp tác riêng
của khu vực mình, các nhà lãnh đạo Đông Á đã cho thế giới thấy quyết tâm


20
của họ trong việc nâng cao vị thế Đông Á trong nền kinh tế và chính trị thế
giới, tương xứng với tầm vóc văn hóa và tiềm năng phát triển to lớn của nó
trong thế kỷ XXI.
2.1.2. Quá trình phát triển của Hợp tác ASEAN+3
Hơn 10 năm qua, Hợp tác ASEAN+3 đã phát triển qua hai giai đoạn:
- Giai đoạn 1 (1997 – 2005);
- Giai đoạn 2 (2005 – 2010).
Hợp tác ASEAN+3 ở giai đoạn 1997 – 2005 tiến triển qua hai giai đoạn
nhỏ là:
- Giai đoạn 1997 – 2002;
- Giai đoạn 2003 – 2005.
Trong giai đoạn từ năm 1997 – 2002, những nỗ lực của các nước
ASEAN+3 được lập trình vào ba hoạt động chính:
Một là, xác định mục đích, mục tiêu hợp tác và đề xuất các biện pháp
nhằm đạt tới các mục tiêu của Hợp tác Đông Á. Hoạt động này đã thực hiện
trong suốt 6 Hội nghị Thượng đỉnh đầu tiên của Hợp tác ASEAN+3.
Tại Hội nghị Thượng đỉnh đầu tiên (12/1997), các nhà lãnh đạo chưa có
quyết định gì về tương lai của Hợp tác ASEAN+3. Tuy nhiên, tới Hội nghị
Thượng đỉnh ASEAN+3 lần thứ hai họp tại Hà Nội (12/1998). Các nhà lãnh
đạo đã quyết định thường niên hóa Hội nghị của họ và nhất trí rằng
ASEAN+3 là một tiến trình phi chính thức hóa và được theo đuổi ở các cấp
độ khác nhau. Hội nghị Thượng đỉnh ASEAN+3 lần thứ ba họp tại Manila
ngày 29/11/1999 đã đánh dấu một bước quan trọng trong sự phát triển của
Hợp tác ASEAN+3. Tại hội nghị này, hai quyết định quan trọng đã được
thông qua là: Ra Tuyên bố chung về Hợp tác Đông Á và thành lập Nhóm Tầm
nhìn Đông Á (EAVG). Tiếp đó, tại Hội nghị Thượng đỉnh ASEAN+3 tổ chức
tại Singapore ngày 24/11/2000, các nhà lãnh đạo còn quyết định thành lập
Nhóm Nghiên cứu Đông Á (EASG). Sau 2 năm hoạt động, EAVG đã trình
báo cáo của họ cho Hội nghị Thượng đỉnh ASEAN+3 lần thứ 5 tổ chức tại


21
Brunei tháng 11/2001. Trong báo cáo trên, EAVG đã đề ra mục tiêu cuối cùng
của Hợp tác Đông Á là xây dựng Cộng đồng Đông Á hòa bình, thịnh vượng
và tiến bộ, đồng thời đề xuất 57 biện pháp nhằm thực hiện hóa tầm nhìn trên.
Báo cáo của EAVG đã được EASG xem xét, đánh giá một cách thận trọng.
Các kết quả làm việc của EASG đã được trình cho Hội nghị Thượng đỉnh
ASEAN+3 lần thứ 6 họp tại Phnôm Pênh tháng 11/2002.
Như vậy, với 6 Hội nghị Thượng đỉnh ASEAN+3 họp hằng năm từ
năm 1997 tới 2002, các nhà lãnh đạo ASEAN+3 đã hoạch định được Tầm
nhìn của Hợp tác Đông Á và một số các biện pháp nhằm thực hiện hóa Tầm
nhìn trên.
Hai là, xây dựng các thể chế hợp tác. Ngay từ đầu, khuôn khổ APT đã
bao gồm 2 cơ chế: ASEAN+3 và các tiến trình ASEAN+1. Tới Hội nghị
Thượng đỉnh Manila năm 1999, một cơ chế hợp tác mới đã được thành lập.
Đó là tiến trình Thượng đỉnh Cộng 3 giữa Trung Quốc, Nhật Bản, và Hàn
Quốc. Sự ra đời của tiến trình này vừa là kết quả sớm của Hợp tác ASEAN+3
vừa cung cấp thêm động lực cho sự phát triển của nó. Như vậy, đến đây, Hợp
tác ASEAN+3 đã xây dựng xong, về cơ bản, khuôn khổ thể chế của nó.
Khuôn khổ đó bao gồm 3 cơ chế: ASEAN+3; các ASEAN+1 và Cộng 3.
Trong khuôn khổ APT, Hội nghị Thượng đỉnh ASEAN+3 là cơ quan
quyền lực cao nhất. Chức năng của Thượng đỉnh ASEAN+3 là “hướng dẫn và
cung cấp xung lực chính trị cho việc xây dựng Cộng đồng Đông Á [Nguồn:
12, trang 31]. Kết quả của Hội nghị Thượng đỉnh ASEAN+3 được công bố
dưới hình thức Tuyên bố báo chí của Chủ tịch. Hội nghị Bộ trưởng Ngoại
giao ASEAN+3 được tiến hành trong thời gian Hội nghị Bộ trưởng Ngoại
giao ASEAN.
Việc thể chế hóa tiến trình Hợp tác ASEAN+3 đã có bước tiến mới với
quyết định của Hội nghị Ngoại trưởng ASEAN+3 họp tháng 7/2000. Theo
quyết định này, hợp tác kinh tế do Hội nghị Bộ trưởng kinh tế ASEAN+3
(EAM+3) tiến hành; hợp tác tài chính, tiền tệ do Hội nghị Bộ trưởng Tài


22
chính ASEAN+3 phụ trách, hợp tác về chính trị, an ninh và các lĩnh vực khác
do Hội nghị Bộ Ngoại giao ASEAN+3 (AMM+3). Kết quả của tất cả các Hội
nghị trên phải báo cáo lên Hội nghị Thượng đỉnh. Sau 10 năm hoạt động, các
thể chế hợp tác trong khuôn khổ ASEAN+3 ngày càng được mở rộng. Cho tới
nay đã có 48 cơ chế dưới tiến trình ASEAN+3, điều phối 16 lĩnh vực hợp tác,
bao gồm kinh tế, tiền tệ - tài chính, chính trị - an ninh, du lịch, nông nghiệp,
môi trường, năng lượng và công nghệ thông tin liên lạc.
Ba là, Triển khai một số hoạt động hợp tác cụ thể.
Tài chính - tiền tệ là lĩnh vực hợp tác đầu tiên của Hợp tác ASEAN+3.
Hợp tác tài chính ASEAN+3 được tiến hành chủ yếu qua các Hội nghị Bộ
trưởng Tài chính họp hàng năm và dựa trên cơ sở mở rộng các hình thức hợp
tác tài chính sẵn có ở Đông Á. Hợp tác tài chính ASEAN+3 đã được tiến hành
thông qua nhiều hình thức , nhiều hoạt động khác nhau . Hoạt động đáng chú
nhất là Sáng kiến Chiang Mai (CMI). Thực hiện sáng kiến này, vào tháng
11/2000, Thỏa thuận Hoán đổi ASEAN (ASA) đã được mở rộng tới tất cả các
nước thành viên ASEAN với tổng số vốn tăng từ 200 triệu USD lên đến 1 tỷ
USD.
Hợp tác kinh tế ASEAN+3: Ngay từ năm 1999, Hội nghị Bộ trưởng
kinh tế ASEAN+3 (AEM+3) đã họp thường kỳ. Hội nghị đầu tiên họp tháng
11/1999 trong thời gian họp Thượng đỉnh ASEAN+3. Tại AEM+3 lần thứ hai
tổ chức vào tháng 5/2000 tại Chiang Mai, các Bộ trưởng Kinh tế ASEAN+3
đã quyết định các phương hướng, các nguyên tắc triển khai các dự án hợp tác
kinh tế.
Nội dung Hợp tác ASEAN+3 từ cuối năm 2003 – 2005 được xác định
là: thực hiện 17 biện pháp ngắn hạn. ASEAN có thể đặt năm 2006 là khung
thời gian để hoàn thành việc thực hiện những biện pháp trên. Việc thực hiện
thành công các biện pháp đó sẽ đưa tới thời kỳ thực hiện 9 biện pháp trung và


23
dài hạn, vốn sẽ giúp ASEAN+3 vận động sang giai đoạn tiếp theo của Hợp
tác Đông Á.
Thực hiện nhiệm vụ trên, tại Hội nghị Thượng đỉnh ASEAN+3 lần thứ
7 tổ chức ở Bali ngày 7/10/2003, các nhà lãnh đạo đã tán thành việc thực hiện
Chiến lược về các biện pháp ngắn hạn của Báo cáo hoàn thiện của EASG và
thăm dò một vài ý tưởng mới như nghiên cứu về tính khả thi của EAFTA.
Hợp tác ASEAN+3 đã có bước tiến đột phá tại Hội nghị Thượng đỉnh
ASEAN+3 lần thứ 8 tổ chức ở Viêng Chăn ngày 29/11/2004. Các kết quả của
Hội nghị đã được công bố trong một tuyên bố riêng được gọi là Tuyên bố của
Chủ tịch Hội nghị Thượng đỉnh ASEAN+3 lần thứ 8. Điều này có nghĩa là
Hội nghị Thượng đỉnh ASEAN+3 đã trở thành một hội nghị riêng, độc lập
chứ không phải là một cuộc họp chung giữa các nhà lãnh đạo ASEAN và 3
nhà lãnh đạo đến từ Đông Á như trước . Các nội dung được thảo luận trong
Hội nghị này có nghĩa rất quan trọng. Ngoài việc thảo luận các vấn đề khu
vực và quốc tế như các Hội nghị trước, Hội nghị đã khuyến khích việc thực
hiện nhanh các biện pháp ngắn và dài hạn của EASG; mở rộng và làm sâu sắc
hơn hợp tác chuyên ngành của ASEAN+3; thảo luận việc triển khai xây dựng
Khu mậu dịch tự do Đông Á(EAFTA) và triệu tập Hội nghị Thượng đỉnh
Đông Á, theo đề nghị của các nước ASEAN.
Thực hiện quyết định trên của Hội nghị, Hội nghị Thượng đỉnh Đông Á
(EAS) đầu tiên đã được triệu tập tại Kuala Lumpur ngày 15/12/2005. Việc tổ
chức EAS nhằm thực hiện 1 trong 9 biện pháp ở tầm trung và dài hạn do
EASG đề xuất.
Các biện pháp ngắn hạn vẫn được tiếp tực triển khai. Cho tới năm
2005, 14 biện pháp ngắn hạn đã được thực hiện, trong đó có một biện pháp đã
được thực hiện xong như: Chương trình phát triển nguồn nhân lực toàn diện
cho Đông Á do Nhật Bản thực hiện; xây dựng Mạng lưới kho tư tưởng Đông
Á (NEAT) do Trung Quốc và Thái Lan thực hiện; thiết lập Diễn đàn Đông Á


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×