Tải bản đầy đủ

Luận Văn Nho Giáo Đại Việt từ thế kỷ XI đến thế kỷ XV

LỜI CẢM ƠN
Thông qua khoá luận này, tôi muốn tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến các thầy
giáo, cô giáo trong khoa Lịch Sử, trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 đã dạy
dỗ, chỉ bảo và truyền đạt kiến thức cho tôi trong suốt quá trình học tập và rèn
luyện tại trường cũng như trong thời gian thực hiện khoá luận tốt nghiệp này.
Đặc biệt, tôi xin chân thành cảm ơn Th.S Trần Thị Thu Hà đã tận tình
quan tâm, chỉ bảo, hướng dẫn cho tôi hoàn thành tốt khoá luận này trong suốt
khoảng thời gian qua.
Cuối cùng, tôi xin gửi lời cảm ơn đến gia đình, bạn bè và những người
thân đã tạo mọi điều kiện thuận lợi nhất để tôi hoàn thành khoá luận tốt
nghiệp này.
Trong thời gian thực hiện khoá luận tốt nghiệp, do thời gian có hạn và
bước đầu làm quen với phương pháp nghiên cứu khoa học nên không thể
tránh khỏi những thiếu xót, rất mong được sự đóng góp ý kiến của thầy, cô
giáo và các bạn sinh viên.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, tháng 5 năm 2012
Sinh viên thực hiện

Đỗ Thị Thu Hằng



LỜI CAM ĐOAN
Khoá luận tốt nghiệp “Nho giáo Đại Việt từ thế kỷ XI đến thế kỷ XV”
được hoàn thành dưới sự hướng dẫn tận tình của Th.S Trần Thị Thu Hà.
Tôi xin cam đoan đây là kết quả nghiên cứu của riêng bản thân tôi. Các
kết quả trình bày trong khoá luận là hoàn toàn chân thực và chưa từng được ai
công bố trong bất kỳ công trình luận văn nào trước đó.
Hà Nội, tháng 5 năm 2012
Sinh viên thực hiện

Đỗ Thị Thu Hằng


MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN
LỜI CAM ĐOAN
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài ......................................................................................... 1
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề .......................................................................... 2
3. Mục đích, nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu ............................................... 5
4. Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu ................................................. 5
5. Đóng góp của khoá luận .............................................................................. 6
6. Bố cục của khoá luận .................................................................................. 6
NỘI DUNG
Chƣơng 1: TỔNG QUAN VỀ NHO GIÁO VÀ QUÁ TRÌNH DU NHẬP
NHO GIÁO VÀO VIỆT NAM ..................................................................... 7
1.1. Tổng quan về Nho giáo ............................................................................ 7
1.1.1. Quá trình hình thành và phát triển ........................................................ 7
1.1.2. Nội dung cơ bản của Nho giáo .............................................................. 12
1.2. Quá trình du nhập Nho giáo vào Việt Nam ............................................. 16
Chƣơng 2: NHO GIÁO ĐẠI VIỆT TỪ THẾ KỶ XI ĐẾN THẾ KỶ XV 24
2.1. Bối cảnh lịch sử Đại Việt từ thế kỷ XI đến thế kỷ XV ............................ 24
2.1.1. Tình hình chính trị ................................................................................. 24
2.1.2. Tình hình kinh tế ................................................................................... 31
2.1.3. Các cuộc kháng chiến chống ngoại xâm ............................................... 37
2.2. Nho giáo Đại Việt dưới các triều đại Lý, Trần, Lê (thế kỷ XI - XV) ...... 39
2.2.1. Nho giáo dưới triều đại Lý - Trần (thế kỷ XI - XIV)............................ 39
2.2.2. Nho giáo dưới triều Lê Sơ (thế kỷ XV) ................................................ 43
Chƣơng 3: ĐẶC TRƢNG VÀ VAI TRÒ CỦA NHO GIÁO ĐẠI VIỆT
TỪ THẾ KỶ XI ĐẾN THẾ KỶ XV ............................................................ 48




3.1. Đặc trưng của Nho giáo Đại Việt từ thế kỷ XI đến thế kỷ XV................ 48
3.2. Vai trò của Nho giáo đối với sự phát triển của Đại Việt từ thế kỷ XI đến
thế kỷ XV ........................................................................................................ 57
3.2.1. Vai trò củng cố bộ máy nhà nước phong kiến tập quyền ..................... 57
3.2.2. Vai trò đối với sự phát triển giáo dục Nho học .................................... 59
3.2.3. Vai trò đối với việc xây dựng nền văn học, nghệ thuật ........................ 68
KẾT LUẬN .................................................................................................... 75
TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................................ 78


1

MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Sau hơn 1000 năm Bắc thuộc, với sự đấu tranh kiên trì, bền bỉ và anh
dũng, nhân dân ta đã giành được độc lập. Trải qua các triều đại Ngô, Đinh,
Tiền Lê, quốc gia phong kiến độc lập tự chủ bước đầu được xây dựng và được
củng cố ở các thế kỷ sau đó. Đây là thời kỳ độc lập lâu dài nhưng không phải
trong thanh bình mà luôn luôn phải đối phó với giặc ngoại xâm. Trong 4 thế
kỷ (từ thế kỷ XI đến thế kỷ XV), các triều đại Lý - Trần - Hồ - Lê Sơ đều có ý
thức xây dựng triều đại vững mạnh để củng cố nền độc lập đã có. Việc tìm tòi
một mô hình quản lý xã hội thích hợp với hoàn cảnh đất nước là một việc cần
thiết. Mô hình quản lý của Trung Quốc với hệ tư tưởng Nho giáo từ hàng
nghìn năm đã chứng minh hiệu quả của nó trong việc tạo ra một trật tự xã hội
bền vững ở Trung Quốc nhất là từ Hán, Đường đến Tống, Nguyên, Minh, Thanh.
Ở Việt Nam, Nho giáo Trung Quốc du nhập vào rất sớm, ngay từ
những năm đầu công nguyên thông qua việc xác lập bộ máy xâm lược, cai trị
và thực hiện chính sách Hán hoá của nhiều vương triều phong kiến phương
Bắc ở nước ta. Tuy nhiên, sau khi giành độc lập và thành lập nhà nước phong
kiến dân tộc thì Nho giáo lại trở thành công cụ cai trị xã hội của giai cấp
phong kiến Việt Nam. Từ chỗ là công cụ xâm lược, nô dịch của ngoại xâm và
bắt buộc người Việt Nam phải tiếp nhận nó, thì đến lúc này và từ đó trở đi,
theo thời gian và yêu cầu phát triển của chế độ phong kiến Việt Nam, giai cấp
phong kiến Việt Nam đã chủ động tiếp nhận Nho giáo và sử dụng nó thành
công cụ của chính mình trong việc xây dựng, phát triển đất nước về mọi mặt,
trong việc dựng nước và giữ nước. Vì vậy mà Nho giáo đã tồn tại lâu dài, ảnh
hưởng và đóng vai trò quan trọng trong xã hội phong kiến Việt Nam, trong
nhiều tầng lớp người Việt Nam. Trải qua 10 thế kỷ cùng với những thăng


2

trầm của lịch sử các triều đại phong kiến, Nho giáo đã để lại nhiều dấu ấn
trong đời sống chính trị - xã hội Việt Nam. Tìm hiểu những ảnh hưởng của
Nho giáo đối với đời sống chính trị - xã hội Việt Nam thời kỳ phong kiến nhất
là ảnh hưởng đối với giai đoạn từ thế kỷ XI đến thế kỷ XV là một nội dung
quan trọng. Đây là thời kỳ xác lập và phát triển đỉnh cao của chế độ phong
kiến Việt Nam.
Với những lý do trên, tôi chọn đề tài “Nho giáo Đại Việt từ thế kỷ XI
đến thế kỷ XV” làm đề tài cho khoá luận của mình.
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Nho giáo là đề tài đã thu hút được sự quan tâm của nhiều nhà khoa học
trong nước.
Ở Việt Nam có nhiều tác phẩm viết về Nho giáo, trước hết phải kể đến
các công trình nghiên cứu về Nho giáo thông qua các tác phẩm kinh điển, tiêu
biểu như: Tác phẩm “Nho giáo” của Trần Trọng Kim được xuất bản trước
năm 1930. Đây là bộ sách lớn giới thiệu về lịch sử Nho giáo ở Trung Quốc từ
Khổng Tử cho đến đời Thanh, trong đó có một số trang phụ lục tóm tắt sự du
nhập và phát triển đạo Nho ở Việt Nam. Đó là cuốn sách tiếng Việt đầu tiên
trình bày về sự phát triển của đạo Nho một cách có hệ thống. Hay cuốn
“Khổng học đăng” của Phan Bội Châu được soạn thảo vào những năm đầu
thập kỷ 30 của thế kỷ XX và được xuất bản năm 1957. Đây là cuốn sách đồ sộ
bàn luận và diễn giải về một số tác phẩm tiêu biểu của nhà Nho cũng như sự
nghiệp của họ thuộc các thời ở Trung Quốc.
Cuốn “Nho giáo xưa và nay” do giáo sư Vũ Khiêu chủ biên xuất bản
năm 1990, gồm một số bài viết của một số tác giả đề cập đến nhiều vấn đề
của Nho học, từ phương hướng, phương pháp tiếp cận đến quan hệ của Nho
giáo với kinh tế, với lịch sử, với văn hoá… Hay tác phẩm “Nho giáo và phát


3

triển ở Việt Nam” (1997) tác giả đã sơ lược trình bày quá trình du nhập của
Nho giáo vào Việt Nam và đánh giá vai trò của Nho giáo trong lịch sử Việt Nam.
Tác phẩm “Nho giáo xưa và nay” của nhà nghiên cứu Quang Đạm
(1994) đã nghiên cứu về một số vấn đề của đạo Nho, như đạo đức và chính
trị, nhà nước, thiên hạ…
Cuốn “Nho giáo tại Việt Nam” (1994) do tác giả Lê Sỹ Thắng chủ biên.
Các tác giả đã bàn một cách khái quát về ảnh hưởng và vai trò của Nho giáo tại
Việt Nam, trong đó đã chỉ ra được một số khác biệt giữa Nho giáo Trung Quốc và
Nho giáo ở Việt Nam, về ảnh hưởng của Nho giáo trong tiến trình lịch sử Việt
Nam cũng như trong một số lĩnh vực văn hoá, tư tưởng Việt Nam.
Trong cuốn “Nho học và Nho học ở Việt Nam - Một số vấn đề về lý
luận và thực tiễn” (1997), tác giả Nguyễn Tài Thư từ góc độ triết học đã vạch
ra và phân tích những nội dung chủ yếu của Nho học cũng như vai trò của nó
trong lịch sử và tư tưởng Việt Nam.
Tác phẩm “Nho học ở Việt Nam - Giáo dục và thi cử” của tác giả
Nguyễn Thế Long, đã trình bày tương đối có hệ thống những giai đoạn phát
triển của Nho giáo ở Việt Nam, nội dung giáo dục Nho học ở Việt Nam.
Trong đó, giáo dục Nho học ở Việt Nam được đề cập nhiều nhất về những
vấn đề: nội dung học, quan điểm giáo dục, các lối văn cử nghiệp, nhận định
về thi cử Nho học.
Luận án tiến sĩ “Học thuyết chính trị - xã hội của Nho giáo và sự thể
hiện của nó ở Việt Nam (từ thế kỷ XI đến nửa đầu thế kỷ XIX)” của tác giả
Nguyễn Thanh Bình đã trình bày một cách có hệ thống những nội dung cơ
bản của học thuyết chính trị xã hội của Nho giáo, sự thể hiện của Nho giáo
trong đời sống tinh thần của xã hội phong kiến và con người Việt Nam, phân
tích vai trò của Nho giáo trong tiến trình hình thành, phát triển của chế độ
phong kiến Việt Nam.


4

Hay luận án “Vai trò của Nho giáo dưới triều đại Lê Thánh Tông” của
Trần Việt Thắng đã trình bày một cách có hệ thống nội dung cơ bản trong học
thuyết của Nho giáo và vai trò của Nho giáo trong một số lĩnh vực của đời
sống xã hội và con người Việt Nam ở giai đoạn lịch sử toàn thịnh nhất của
chế độ phong kiến Việt Nam dưới thời vua Lê Thánh Tông trị vì.
Một số luận án tiến sĩ đề cập đến một số khía cạnh của Nho giáo về con
người và đạo đức, sự ảnh hưởng của nó ở Việt Nam như “Ảnh hưởng của
Nho giáo đối với chủ nghĩa yêu nước Việt Nam truyền thống” của Trần Thị
Hồng Thuý; “Một số nội dung cơ bản của tư tưởng Nho giáo Việt Nam thời
Trần” của Vũ Văn Vinh; “Vấn đề con người trong Nho học sơ kỳ” của
Nguyễn Tài Thư.
Luận văn thạc sỹ: “Những đặc điểm của Nho giáo Việt Nam thời Lý Trần” của Nguyễn Thị Như đã trình bày một cách có hệ thống về một số đặc
điểm của Nho giáo Việt Nam thời Lý Trần chủ yếu là trong lĩnh vực tư tưởng
chính trị - đạo đức.
Ngoài ra, còn có rất nhiều các bài báo nghiên cứu về Nho giáo ở Việt
Nam được đăng trên các tạp chí: tạp chí Triết học, tạp chí nghiên cứu Lịch sử,
tạp chí Hán Nôm. Tiêu biểu như: GS.TS Nguyễn Tài Thư có bài “Một số đặc
điểm của Nho giáo ở Việt Nam” (Tạp chí nghiên cứu Lịch sử, số 2/1999);
PGS.TS Đỗ Thị Hoà Hới có bài “Về một số đặc điểm của Nho giáo thời Lý”
(tạp chí Triết học, số 9/2001); Tôn Diễn Phong có bài “Sự truyền bá, phát
triển và biến đổi của tư tưởng Nho gia ở Việt Nam” (Tạp chí Hán Nôm, số
4/2004); Nguyễn Đức Sự có bài “Vị trí, vai trò của Nho giáo trong xã hội
Việt Nam” (tạp chí Triết học, số 10/2009).
Nhìn chung những công trình nói trên là tài liệu tham khảo hữu ích mà
tôi đã kế thừa để nghiên cứu về Nho giáo Việt Nam nói chung và Nho giáo
Đại Việt trong giai đoạn từ thế kỷ XI đến thế kỷ XV”.


5

3. Mục đích, nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu
Mục đích
Đề tài “Nho giáo Đại Việt từ thế kỷ XI đến thế kỷ XV” làm rõ về quá
trình du nhập Nho giáo vào Việt Nam, những đặc trưng và vai trò của Nho
giáo đối với xã hội Đại Việt thế kỷ XI - XV, trải qua các triều đại Lý, Trần,
Hồ, Lê Sơ.
Nhiệm vụ
Khái quát lịch sử hình thành và phát triển của Nho giáo; nội dung cơ
bản của Nho giáo; quá trình Nho giáo du nhập vào Việt Nam.
Nghiên cứu về Nho giáo Đại Việt từ thế kỷ XI đến thế kỷ XV thông
qua việc tìm hiểu bối cảnh lịch sử của Đại Việt và sự phát triển của Nho giáo
Đại Việt dưới các thời Lý - Trần, Lê Sơ.
Đặc trưng và vai trò của Nho giáo Đại Việt từ thế kỷ XI đến thế kỷ XV.
Phạm vi
Không gian: Nho giáo Đại Việt dưới triều đại Lý, Trần, Hồ, Lê Sơ.
Thời gian: Đề tài nghiên cứu trong giai đoạn từ thế kỷ XI khi nhà Lý
được thành lập đến thế kỷ XV dưới triều đại nhà Lê Sơ.
4. Nguồn tƣ liệu và phƣơng pháp nghiên cứu
Khoá luận được thực hiện trên cơ sở thế giới quan duy vật biện chứng
của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và những nhận thức về
Nho giáo nói chung và Nho giáo ở Việt Nam.
Khoá luận có sự kết hợp giữa phương pháp lịch sử và phương pháp
logic, trong đó phương pháp lịch sử là chủ yếu. Ngoài ra, người viết còn sử
dụng các phương pháp khác như: phân tích, tổng hợp, đối chiếu, so sánh, quy
nạp, diễn dịch…


6

5. Đóng góp của khoá luận
Về mặt khoa học: Đề tài góp phần tìm hiểu về Nho giáo Đại Việt trong
thời kỳ phong kiến độc lập, tự chủ (thế kỷ XI - XV), qua đó thấy được đặc
trưng, vai trò, vị trí và những ảnh hưởng của Nho giáo ở Việt Nam trong thời
kỳ đó.
Về mặt thực tiễn: Những kết quả trong khoá luận có thể dùng làm tư
liệu cho những ai quan tâm đến Nho giáo, đặc biệt là Nho giáo thời phong
kiến độc lập tự chủ (từ thế kỷ XI đến thế kỷ XV).
6. Bố cục của khoá luận
Ngoài phần mở đầu và kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung
khoá luận bao gồm 3 chương:
Chƣơng 1: Tổng quan về Nho giáo và quá trình du nhập Nho giáo
vào Việt Nam
Chƣơng 2: Nho giáo Đại Việt từ thế kỷ XI đến thế kỷ XV
Chƣơng 3: Đặc trƣng và vai trò của Nho giáo Đại Việt từ thế kỷ XI
đến thế kỷ XV


7

NỘI DUNG
Chƣơng 1
TỔNG QUAN VỀ NHO GIÁO VÀ QUÁ TRÌNH DU NHẬP
NHO GIÁO VÀO VIỆT NAM
1.1. TỔNG QUAN VỀ NHO GIÁO
1.1.1. Quá trình hình thành và phát triển
Cơ sở của Nho giáo được hình thành từ thời Tây Chu, đặc biệt với sự
đóng góp của Chu Công Đán, còn gọi là Chu Công. Đến thời Xuân Thu, xã
hội loạn lạc, Khổng Tử (sinh năm 551 trước công nguyên) phát triển tư tưởng
của Chu Công, hệ thống hoá và tích cực truyền bá các tư tưởng đó. Chính vì
thế mà người đời sau coi ông là người sáng lập ra Nho giáo.
Cũng giống như nhiều nhà tư tưởng khác trên thế giới như Thích Ca
Mầu Ni, Giê –xu… người đời sau không thể nắm bắt các tư tưởng của Khổng
Tử một cách trực tiếp mà chỉ được biết các tư tưởng của ông bằng các ghi
chép do các học trò của ông để lại. Khó khăn nữa là thời kỳ “đốt sách chôn
Nho” của nhà Tần, hai trăm năm sau khi Khổng Tử qua đời khiến việc tìm
hiểu tư tưởng gốc của Khổng Tử càng khó khăn. Tuy nhiên các nhà nghiên cứu
đời sau vẫn cố gắng tìm hiểu và hệ thống các tư tưởng và cuộc đời của ông.
Thời Xuân Thu, Khổng Tử đã san định, hiệu đính và giải thích bộ Lục
Kinh gồm có Kinh Thi, Kinh Thư, Kinh Lễ, Kinh Dịch, Kinh Xuân Thu và
Kinh Nhạc. Về sau Kinh Nhạc bị thất lạc nên chỉ còn năm bộ kinh thường
được gọi là Ngũ Kinh. Sau khi Khổng Tử mất, học trò của ông tập hợp các lời
dạy để soạn ra cuốn Luận Ngữ. Học trò xuất sắc nhất của Khổng Tử là Tăng
Sâm, còn gọi là Tăng Tử dựa vào lời thầy mà soạn ra sách Đại học. Sau đó,
cháu nội của Khổng Tử là Khổng Cấp, còn gọi là Tử Tư viết ra cuốn Trung
Dung. Đến thời Chiến Quốc, Mạnh Tử đưa ra các tư tưởng mà sau này học trò


8

của ông chép thành sách Mạnh Tử. Từ Khổng Tử đến Mạnh Tử hình thành
nên Nho giáo nguyên thủy, còn gọi là Nho giáo tiền Tần (trước đời Tần).
Khổng giáo hay là "tư tưởng Khổng - Mạnh" từ đây mới hình thành nên hai
khái niệm Nho giáo và Nho gia. Nho gia mang tính học thuật, nội dung của nó
còn được gọi là Nho học. Còn Nho giáo mang tính chất tôn giáo. Ở Nho giáo,
Văn Miếu trở thành thánh đường và Khổng Tử trở thành giáo chủ, giáo lý
chính là các tín điều mà các nhà Nho cần phải thực hành.
Các sách kinh điển của Nho giáo đều hình thành từ thời kỳ Nho giáo
nguyên thủy. Sách kinh điển gồm hai bộ: Ngũ Kinh và Tứ Thư. Hệ thống
kinh điển đó hầu hết viết về xã hội, về những kinh nghiệm lịch sử Trung Hoa,
ít viết về tự nhiên. Điều này cho thấy rõ xu hướng biện luận về chính trị, xã
hội, về đạo đức là những tư tưởng cốt lõi của Nho gia.
Ngũ Kinh
Kinh Thi: Sưu tập các bài thơ dân gian có từ trước Khổng Tử, nói nhiều về
tình yêu nam nữ. Khổng Tử san định thành 3000 thiên nhằm giáo dục mọi người
tình cảm trong sáng lành mạnh và cách thức diễn đạt rõ ràng và trong sáng. Một
lần, Khổng Tử hỏi con trai “học Kinh Thi chưa?”, người con trả lời “chưa”.
Khổng Tử nói: “Không học Kinh Thư thì không biết nói năng ra sao” [3, Sđd].
Kinh Thư: Ghi lại các truyền thuyết, biến cố về các đời vua cổ có trước
Khổng Tử. Khổng Tử san định lại để các ông vua đời sau nên theo gương các
minh quân như Nghiêu, Thuấn chứ đừng tàn bạo như Kiệt, Trụ.
Kinh Lễ: Ghi chép các lễ nghi thời trước. Khổng Tử hiệu đính lại mong
dùng làm phương tiện để duy trì và ổn định trật tự. Khổng Tử nói: “Không
học Kinh Lễ thì không biết đi đứng ở đời” [3, Sđd].
Kinh Dịch: Nói về các tư tưởng triết học của người Trung Hoa cổ đại
dựa trên các khái niệm âm dương, bát quái… Đời Chu, Chu Văn Vương đặt
tên và giải thích các quẻ của bát quái gọi là Thoán từ. Chu Công Đán giải


9

thích chi tiết nghĩa của từng hào trong mỗi quẻ gọi là Hào từ. Kinh Dịch thời
Chu gọi là Chu Dịch. Khổng Tử giảng giải rộng thêm Hoán từ và Hào từ cho
dễ hiểu hơn và gọi là Thoán truyện và Hào truyện.
Kinh Xuân Thu: Ghi lại các biến cố xảy ra ở nước Lỗ, quê của Khổng
Tử. Khổng Tử không chỉ ghi chép như một sử gia mà theo đuổi mục đích trị
nước nên ông chọn lọc các sự kiện, ghi kèm các lời bình, sáng tác thêm lời
thoại để giáo dục các bậc vua chúa. Ông nói: “Thiên hạ biết đến ta bởi kinh
Xuân Thu, thiên hạ trách ta cũng sẽ ở kinh Xuân Thu này”. Đây là cuốn kinh
Khổng Tử tâm đắc nhất. (Xuân Thu có nghĩa là mùa xuân và mùa thu, ý nói
những sự việc xảy ra) [3, Sđd].
Kinh Nhạc: do Khổng Tử hiệu đính nhưng về sau bị thất lạc, chỉ còn
lại một ít làm thành một thiên trong Lễ gọi là Nhạc ký. Như vậy Lục kinh chỉ
còn lại Ngũ kinh.
Tứ Thƣ
Luận Ngữ: Ghi lại những lời dạy của Khổng Tử do học trò của ông ghi
chép lại sau khi ông mất. Luận ngữ còn có nghĩa là các lời bình.
Đại Học: Dạy phép làm người để trở thành bậc quân tử. Sách này do
Tăng Sâm còn gọi là Tăng Tử, học trò xuất sắc của Khổng Tử, dựa trên lời
dạy của thầy mà soạn ra. Đại học có nghĩa là sự học lớn.
Trung Dung: Dạy người ta cách sống trung hòa, không thiên lệch. Sách
này do người cháu nội của Khổng Tử là Khổng Cấp, học trò của Tăng Tử
soạn ra. Trung là ý muốn nói cái tâm không lệch bên này hay bên kia. Dung
có nghĩa là dung dưỡng, giữ mãi mức như vậy.
Mạnh Tử: Ghi lại những lời dạy của Mạnh Tử. Mạnh Tử tên thật là
Mạnh Kha (390-305 TCN). Ông là người đã phát triển tư tưởng của Khổng
Tử và là nhân vật tiêu biểu nhất của Nho giáo sau Khổng Tử.


10

Đến đời Hán, Đại Học và Trung Dung được gộp vào Lễ Ký. Hán Vũ
Đế đưa Nho giáo lên làm quốc giáo và dùng nó làm công cụ thống nhất đất
nước về tư tưởng. Nho giáo nhà Hán có sự khác biệt so với Nho giáo nguyên
thuỷ. Điểm khác biệt so với Nho giáo nguyên thủy là Hán Nho đề cao quyền
lực của giai cấp thống trị, thiên tử là con trời, dùng "lễ trị" để che đậy "pháp
trị". Vì vậy, Nho giáo thời kỳ này còn được gọi là Hán Nho. Và từ đây, Nho
giáo trở thành hệ tư tưởng chính thống bảo vệ chế độ phong kiến Trung Hoa
trong suốt hai ngàn năm.
Nho giáo truyền đến cuối đời Đông Hán, bề ngoài thì rất thịnh mà bên
trong thì thật là suy. Các học giả chỉ chăm chăm về lối chương cú. Mỗi phái
học theo một lối, rồi cãi nhau về nghĩa từng câu, từng chữ. Sách Hán Thư
Nghệ Văn Chỉ có nói: có khi một câu năm chữ mà bàn ra đến mấy vạn lời.
Đến đời nhà Tống, các vua rất sùng bái Nho học, Khổng Tử và Mạnh
Tử rất được tôn trọng. Thời kỳ này có những danh nho như Âu Dương Tu làm
bộ sử đời "Ngũ Quý", phân biệt rõ kẻ gian, người ngay, đem hai chữ liêm sĩ
đề xướng lên, dựng lại cái nền nho hạnh của sĩ phu.
Đời Tống, Đại học, Trung Dung được tách ra khỏi lễ ký và cùng với
Luận Ngữ và Mạnh Tử tạo nên bộ Tứ Thư. Lúc đó, Tứ Thư và Ngũ Kinh là
sách gối đầu giường của các nhà Nho. Nho giáo thời kỳ này được gọi là Tống
Nho, với các tên tuổi như Thiệu Ung, Chu Đôn Di, Trình Hạo và Trình Di.
Trong khi về đường học vấn có phái lý học phát triển thì về đường
chính trị cũng chia làm hai phái: Tân Đảng và Cựu Đảng. Tân Đảng có
Vương An Thạch đứng đầu, còn cựu Đảng đứng đầu là Tư Mã Quang. Hai
bên đều lấy cái chủ nghĩa Nho giáo mà công kích nhau kịch liệt. Tân Đảng thì
muốn theo thời mà sửa đổi, nhằm cho binh cường nước mạnh. Cựu Đảng thì
cho rằng việc trị nước cần theo chế độ đời trước, cốt làm cho dân chúng được


11

an cư lạc nghiệp. Tân Đảng và Cựu Đảng tranh giành nhau lúc tiến, lúc thoái,
mãi đến cuối đời Nam Tống mới thôi.
Nho học thời Nguyên không được thịnh hành như thời Tống nhưng vẫn
có nhiều danh nho như Triệu Phục, Hứa Hành và Hứa Khiêm. Nho giáo đời
nhà Nguyên tuy so với đời trước thì không bằng, nhưng cũng rất thịnh đạt.
Những học giả như Triệu Phục, Hứa Hành và Hứa Khiêm đều là người có đức
hạnh, rất xứng đáng là danh nho một thời. Tuy nhiên, Nho học trong thời
Nguyên chỉ bó hẹp trong phạm vi Trình Chu mà thôi, bởi ai cũng cho rằng
Nho học đến đó là cùng cực rồi. Bởi vậy, Nho học thời Nguyên chỉ nhằm giữ
lấy cái danh tiết cho trong sạch chứ không ai phát triển thêm được điều gì cao
minh hơn nữa.
Đến thời nhà Minh, sau khi Chu Nguyên Chương lấy được đất Kim
Lăng, đón mời các nho sĩ, mở nhà quốc tử học và làm miếu thờ Khổng Tử thì
nền Nho học có nhiều bước phát triển. Thời kỳ đầu, các học giả vẫn còn theo
lối học của nhà Nguyên, chưa ai đề xướng ra học thuyết nào mới cả. Thời kỳ
này có những danh nho như Lưu Cơ, Tống Liêm tự là Cảnh Liêm. Đến thời
kỳ thứ hai, từ đời vua Nhân Tông đến vua Mục Tông, trong khoảng thời gian
hơn một thế kỉ rưỡi đó, Nho giáo thịnh hành hơn trước và có nhiều học giả trứ
danh. Người thì ra làm quan, người thì ẩn cư ở chốn quê mùa nhưng ai nấy
đều có chí làm sáng rõ đạo của thánh hiền. Đến quãng thời gian suy tàn của
nhà Minh, kể từ đời vua Thần Tông nền Nho học tuy không thịnh đạt như
trước, nhưng nhiều người muốn lấy sự học để cứu vớt nhân tâm con người
nên đã lập ra nhiều học phái để giảng dạy đạo thánh hiền. Trong đó có Đông
Lâm phái với người sáng lập là Cố Hiến Thành và Cao Phan Long, Thủ Thiện
phái với người sáng lập là Châu Nguyên Tiêu. Xét ra, Nho học đời Minh
không ra ngoài phạm vi Tống học dù có phái Diêu Giang chuyên về mặt tâm
học hay phái Hà Đông tôn sùng cái học của Trình Chu. "Cái học ấy từng chia


12

ra chi nọ, phái kia nhưng kết cục vẫn theo cái tôn chỉ thiên địa vạn vật nhất
thể, và về đường thiết thực vẫn cố giữ cái khí tiết của học giả" [12, tr.669].
Thời nhà Thanh, nhất là đời vua Khang Hy, không những các phái
trong Nho giáo như phái Hán học và phái Tống học đều thịnh hành mà phái
Tây học cũng có thế lực. Thời kỳ này vẫn chú ý để dạy Nho học nhưng vẫn
bảo thủ các văn hóa cũ của người Mãn Châu nhà Thanh. Trong lúc đó, có
nhiều nhà Nho học không chịu ra làm quan với nhà Thanh, mà ở nhà chuyên
tâm học tập. Lại có nhiều học giả thấy sự học của Nho gia cuối đời Minh đã
suy đồi nên tìm phương pháp sửa đổi. Nho học đời nhà Thanh tuy là rất thịnh
nhưng đa số các học giả đều làm sách vở, nghiên cứu tường tận theo phương
pháp khoa học nên "Thanh Nho chỉ có cái tư cách khoa học mà không có cái
tinh thần triết học. Những danh nho trong khoảng ba thế kỷ đó đều là người
bác học, song không có mấy người hiểu biết chỗ uyên thâm của Nho giáo như
đời Tống và đời Minh" [12, tr.720].
1.1.2. Nội dung cơ bản của Nho giáo
Cốt lõi của Nho giáo là Nho gia. Đó là một học thuyết chính trị nhằm tổ
chức xã hội. Để tổ chức xã hội có hiệu quả, điều quan trọng nhất là phải đào
tạo cho được người cai trị kiểu mẫu - người lý tưởng này gọi là quân tử (quân
là kẻ làm vua, quân tử là chỉ tầng lớp trên trong xã hội, phân biệt với “tiểu
nhân”, những người thấp kém về địa vị xã hội; sau “quân tử” còn chỉ cả phẩm
chất đạo đức: những người cao thượng, phẩm chất tốt đẹp, phân biệt với “tiểu
nhân” là những người thiếu đạo đức hoặc đạo đức chưa hoàn thiện. Điều này
có thể được lý giải bởi đối tượng mà Nho giáo hướng đến trước tiên là những
người cầm quyền). Để trở thành người quân tử, con người ta trước hết phải
“tự đào tạo”, phải “tu thân”. Sau khi tu thân xong, người quân tử phải có bốn
phận phải “hành đạo” (Đạo không đơn giản chỉ là đạo lí. Nho gia hình dung
cả vũ trụ được cấu thành từ các nhân tố đạo đức, và Đạo ở đây bao chứa cả


13

nguyên lí vận hành chung của vũ trụ, vấn đề là nguyên lí đó là những nguyên
lý đạo đức do Nho gia đề xướng (hoặc như họ tự nhận là phát hiện ra) và cần
phải tuân theo. Trời giáng mệnh làm vua cho kẻ nào có Đạo, tức là nắm được
đạo trời, biết sợ mệnh trời. Đạo vận hành trong vũ trụ khi giáng vào con
người sẽ được gọi là Mệnh). Cần phải hiểu cơ sở triết lí của Nho giáo mới
nắm được logic phát triển và tồn tại của nó.
Tu thân
Khổng Tử đặt ra một loạt Tam cương, Ngũ Thường, Tam Tòng, Tứ Đức…
để làm chuẩn mực cho mọi sinh hoạt chính trị và an sinh xã hội. Tam Cương và
Ngũ Thường là lẽ đạo đức mà nam giới phải theo. Tam Tòng và Tứ Đức là lẽ đạo
đức mà nữ giới phải theo. Khổng Tử cho rằng người trong xã hội giữ được Tam
Cương, Ngũ Thường, Tam Tòng, Tứ Đức thì xã hội được an bình.
Tam Cƣơng
Tam là ba; Cương là giềng mối. Tam Cương là ba mối quan hệ: quân
thần (vua tôi), phụ tử (cha con), phu phụ (vợ chồng).
- Quân thần: Trong quan hệ vua tôi, vua thường phạt công minh, tôi
trung thành một dạ.
- Cha con: Cha hiền con hiếu. Cha có nghĩa vụ nuôi dạy con cái, con
phải hiếu đễ và nuôi dưỡng cha khi cha về già.
- Vợ chồng: Chồng phải yêu thương và đối xử công bằng với vợ, vợ
chung thuỷ tuyệt đối với chồng.
Ngũ thƣờng
Ngũ là năm; Thường là hằng có. Ngũ Thường là năm điều phải hằng
có trong khi ở đời, gồm: Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí, Tín.
- Nhân: Lòng yêu thương đối với muôn loài vạn vật.
- Nghĩa: Cư xử với mọi người công bình theo lẽ phải.
- Lễ: Sự tôn trọng, hoà nhã trong khi cư xử với mọi người.


14

- Trí: Sự thông biết lý lẽ, phân biệt thiện ác, đúng sai.
- Tín: Giữ đúng lời, đáng tin cậy.
Tam Tòng
Tam là ba; Tòng là theo. Tam Tòng là ba điều người phụ nữ phải theo,
gồm: “tại gia tòng phụ, xuất giá tòng phu, phu tử tòng tử”.
- Tại gia tòng phụ: người phụ nữ khi còn ở nhà phải theo cha.
- Xuất giá tòng phu: lúc lấy chồng phải theo chồng.
- Phu tử tòng tử: nếu chồng qua đời phải theo con.
Tứ Đức
Tứ là bốn; Đức là tính tốt. Tứ Đức là bốn tính nết tốt người phụ nữ
phải có: Công - Dung - Ngôn - Hạnh.
Công: khéo léo trong việc làm.
Dung: hoà nhã trong sắc diện.
Ngôn: hoà nhã trong lời nói.
Hạnh: nhu mì trong tính nết.
Người quân tử phải đạt ba điều trong quá trình tu thân:
Đạt Đạo
Đạo có nghĩa là “con đường”, hay “phương cách” ứng xử mà người
quân tử phải thực hiện trong cuộc sống. “Đạt đạo trong thiên hạ có năm điều:
đạo vua tôi, đạo cha con, đạo vợ chồng, đạo anh em, đạo bạn bè” [4, tr.131],
tương đương với “quân thần, phụ tử, phu phụ, huynh đệ, bằng hữu”. Đó chính
là Ngũ thường, hay Ngũ luân. Trong xã hội cách cư xử tốt nhất là “trung
dung”. Tuy nhiên, đến Hán Nho ngũ luân được tập chung lại chỉ còn ba mối
quan hệ quan trọng nhất được gọi là Tam thường hay còn gọi là Tam tòng.
Đạt Đức
Quân tử phải đạt được ba đức: “nhân - trí - dũng”. Khổng Tử nói: “Đức
của người quân tử có ba mà ta chưa làm được. Người nhân không lo buồn,


15

người trí không nghi ngại, người dũng không sợ hãi” [3, tr.190]. Về sau,
Mạnh Tử thay “dũng” bằng “lễ, nghĩa” nên ba đức trở thành bốn đức: “nhân,
nghĩa, lễ, trí”. Hán Nho thêm một đức là “tín” nên có tất cả năm đức là “nhân,
nghĩa, lễ, trí, tín”. Năm đức này còn gọi là Ngũ thường.
Biết Thi, Thƣ, Lễ, Nhạc
Ngoài các tiêu chuẩn về “đạo” và “đức”, người quân tử còn phải biết “Thi,
Thư, Lễ, Nhạc”. Tức là người quân tử còn phải có một vốn văn hoá toàn diện.
Hành đạo
Sau khi tu thân, người quân tử phải hành đạo, tức là phải làm quan, làm
chính trị. Nội dung của công việc này được công thức hoá thành “tề gia, trị
quốc, bình thiên hạ”. Tức là phải hoàn thành những việc nhỏ - gia đình, cho
đến lớn - trị quốc, và đạt đến mức cuối cùng là bình thiên hạ (thống nhất thiên
hạ). Kim chỉ nam cho mọi hành động của người quân tử trong việc cai trị là
hai phương châm:
Nhân trị
Nhân là tình người, nhân trị là cai trị bằng tình người, là yêu người và
coi người như bản thân mình. Khi Trọng Cung hỏi thế nào là nhân thì Khổng
Tử nói: “Kỷ sở bất dục, vật thi ư nhân - Điều gì mình không muốn thì đừng
làm cho người khác” [3, tr.123]. Nhân được coi là điều cao nhất của luân lý,
đạo đức, Khổng Tử nói: “người không có nhân thì lễ mà làm gì? Người không
có nhân thì nhạc mà làm gì?” [3, tr.123].
Chính danh
Chính danh là mỗi sự vật phải được gọi đúng tên của nó, mỗi người
phải làm đúng chức phận của mình. “Danh không chính thì lời không thuận,
lời không thuận thì tất việc không thành” [3, tr.150]. Khổng Tử nói với vua
Tề Cảnh Công: “Quân quân, thần thần, phụ phụ, tử tử - vua ra vua, tôi ra tôi,
cha ra cha, con ra con” [3, tr.153].


16

Đó là những điều quan trọng nhất trong các kinh sách của Nho giáo,
chúng được tóm gọi lại trong chín chữ: tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ;
chín chữ đó chỉ nhằm phục vụ mục đích cai trị mà thôi.
Quân tử ban đầu có nghĩa là người cai trị, người có đạo đức và biết thi,
thư, lễ, nhạc. Tuy nhiên, sau này từ đó còn có thể chỉ những người có đạo đức
mà không cần phải có quyền. Ngược lại, những người có quyền mà không có
đạo đức thì được gọi là tiểu nhân (như dân thường).
1.2. QUÁ TRÌNH DU NHẬP NHO GIÁO VÀO VIỆT NAM
Vào cuối đời Tây Hán và đầu đời Đông Hán, cùng với chính sách cai trị
và "Hán hóa" vùng đất cổ Việt Nam thời đó gọi là Giao Chỉ, Cửu Chân, văn
hóa Hán bắt đầu được truyền bá vào Việt Nam từ tên tuổi hai tên quan mà
sách sử Việt Nam cũng như sách sử Trung Hoa đều ca ngợi họ có công trong
việc "khai hóa", mở mang phong tục mới là Tích Quang và Nhâm Diên.
Nhưng sự hiện diện tương đối rõ nét của Nho giáo ở nước ta chỉ thật sự bắt
đầu vào cuối thời Đông Hán với vai trò tích cực của Sĩ Nhiếp (187-226). Sĩ
Nhiếp là người gốc huyện Quảng Tín, quận Thương Ngô nay thuộc Quảng
Tây, Trung Quốc. Ông từng được phong làm quan huyện lệnh của huyện Vũ
Dương (Trung Quốc) sau đổi sang làm thái thú Giao Chỉ (vùng Bắc Bộ nước
ta ngày nay). Đó là những năm cuối thời hậu Hán (khoảng cuối thế kỉ thứ II).
Tại đây, Sĩ Nhiếp đã ra sức quảng bá Nho giáo vào Việt Nam, tự mình mở
mang việc học Nho giáo. Vì thế, ông được nhiều thế hệ Nho giáo tôn là Nam
giao học tổ (vị tổ của nền Nam giao, tức đất nước ta). Những cây đại bút như
Bảng nhãn Lê Văn Hưu, Tiến sĩ Ngô Sĩ Liên, Hoàng giáp Ngô Thì Sĩ… đều
đánh giá rất cao vai trò của Sĩ Nhiếp trong việc truyền bá Nho giáo. Ngô Sĩ
Liên đã từng bình luận trong sách "Đại Việt sử kí toàn thư" về vai trò của Sĩ
Nhiếp với nước ta là "thông thi thư, tập lễ nhạc". Từ thời Tích Quang - Nhâm
Diên rồi Sĩ Nhiếp đến trước đời Đường (618-907), Nho giáo được truyền bá


17

sang Việt Nam là Hán Nho. Từ thời Tùy - Đường thống trị nước ta đến khi
Ngô Quyền giành lại được quyền độc lập năm 938, Nho giáo cùng văn hóa
Hán vẫn tiếp tục được truyền bá vào Việt Nam, nhưng trong mấy trăm năm
nay, diện mạo Nho giáo như thế nào không được sử sách đề cập đến.
Trong thời kì Bắc thuộc, lực lượng truyền bá Nho giáo chủ yếu là quan
lại phong kiến Trung Quốc đô hộ. Sát cánh cùng quan lại đô hộ là các nho sĩ
Trung Quốc di cư sang nước ta. Tất cả họ đều có mối quan hệ với bộ máy
chính quyền đương thời. Những sĩ Nho này được quan lại đô hộ huy động vào
thực hiện âm mưu đồng hóa dân tộc ta. "Thời Bắc thuộc, Nho giáo chỉ được
coi là một trong những vũ khí lợi hại, được nhà nước phong kiến Trung Quốc
sử dụng để đồng hóa và nô dịch nhân dân ta. Không ai phủ nhận rằng để có
thể truyền bá, quan lại đô hộ phải mở trường và dạy chữ nhưng mục đích tối
cao và bao trùm của Trung Quốc lúc bấy giờ vẫn coi Nho giáo là một thứ
công cụ nô dịch" [20, tr.52]. Giai đoạn này, chỉ một số người nhất định trong
số một số địa phương nhất định, thuộc tầng lớp trên của xã hội mới được tiếp
xúc với Nho giáo. Đa số họ đều là con em của đội ngũ quý tộc thống trị cũ.
Nội dung truyền bá chủ yếu của Nho giáo ở nước ta thời kì Bắc thuộc
cũng chỉ gói gọn trong mấy điều nhỏ hẹp. Đó là tìm cách khẳng định và cổ vũ
mạnh mẽ cho tiếng nói tôn quân mà đỉnh cao của nền tôn quân này là Hoàng
đế Trung Hoa. Những tư tưởng cực đoan nhất của Nho giáo đã được triệt để
khai thác để phục vụ cho ý tưởng này. Bên cạnh đó, sự truyền bá nội dung của
Nho giáo vào nước ta liên tục gieo rắc tư tưởng trọng nam khinh nữ, nam quý
nữ tiện, làm băng hoại nền đạo lí tốt đẹp vốn có ngàn đời của ông cha ta.
Khuôn mẫu “tứ đức” được đem ra để đánh giá đức hạnh của người phụ nữ.
Sợi dây “tam tòng” được đem ra để trói buộc phụ nữ ta. Điều đáng chú ý là
những khái niệm như “tam tòng tứ đức”… đều được hiểu và vận dụng với
tinh thần lạc hậu, bảo thủ và cực đoan nhất. Các Nho sĩ chỉ lo cổ vũ mạnh mẽ


18

cho tiếng nói tôn quân, cho tư tưởng trọng nam khinh nữ, cho nên nền Nho
giáo nước ta thời Bắc thuộc chỉ là một quá trình lợi dụng, cắt xén và áp đặt
thô bạo chứ chưa thật sự có được một quá trình truyền bá tự nhiên đúng
nghĩa. Bấy giờ, chỉ có một bộ phận rất nhỏ tầng lớp trên của xã hội chịu tiếp
nhận của Nho giáo. Người ta học Nho giáo không phải để học phép đối nhân
xử thế, học làm người (như những thế hệ học trò theo Nho giáo ở Trung Quốc
thời Tiền Hán). Cũng không phải để học để làm quan, để có thể “chăn dân”
“trị dân” mà học để có thể cộng tác, có thể làm tay sai cho chính quyền đô hộ
Trung Quốc. Trải qua hơn một ngàn năm, Nho giáo chỉ bước đầu xác lập
được một vị trí hết sức khiêm tốn trong đời sống tư tưởng của xã hội nước ta
lúc bấy giờ.
Năm 938, Ngô Quyền chiến thắng quân Nam Hán trên sông Bạch
Đằng. Từ đó trở đi, một kỉ nguyên mới của lịch sử nước nhà bắt đầu được mở
ra. Đó là kỉ nguyên của độc lập, tự do và thống nhất. Một cuộc vận động ráo
riết nhằm nhanh chóng chiếm lĩnh vũ đài chính trị và tư tưởng nước ta bắt
đầu. Trong bối cảnh hoàn toàn mới mẻ như vậy, quá trình quảng bá, du nhập
của Nho giáo hẳn nhiên cũng phải khác trước. Lúc này, lực lượng truyền bá
Nho giáo ở nước ta chủ yếu là Nho sĩ người Việt, mặc dù ở giai đoạn đầu thì
số Nho sĩ ở Trung Quốc di cư sang vẫn giữ một vai trò nhất định. “Trong kỉ
nguyên độc lập, tự chủ và thống nhất, Nho giáo có vị trí hoàn toàn khác hẳn.
Từ đây, Nho giáo được coi là hệ thống tri thức quan trọng nhất của xã hội. Về
sau, Nho giáo còn được coi là một hệ thống những bậc thang danh vọng,
những quy phạm về đạo đức và những định chế của pháp luật. Người ta
dường như quên đi nguồn gốc ngoại lai và những nội dung truyền bá vừa hạn
hẹp vừa mang tính áp đặt thô bạo của Nho giáo trong thời kì Bắc thuộc trước
đó” [20, tr.52]. Nho giáo đã tự tìm cho mình một con đường thâm nhập vào
xã hội Việt Nam có vẻ chậm chạp nhưng khá chắc chắn. Đó là con đường đi


19

từ chiếm lĩnh dần địa hạt giáo dục, tiến tới chiếm lĩnh địa hạt chính trị và tư
tưởng. Từ đó, Nho giáo đã được người dân Việt Nam chủ động thừa nhận như
một văn hóa chủ thể và xác lập địa vị cao sang của nó khi nền độc lập dân tộc
hoàn toàn ổn định vững chắc và đi vào phục hưng dân tộc ở vương triều Lý,
bắt đầu từ năm 1010 - Năm triều Lý dời đô từ Hoa Lư (Ninh Bình) về Thăng
Long (Hà Nội ngày nay).
Năm 1070 dưới thời Lý Thánh Tông (1054-1072) triều đình cho xây
miếu thờ Khổng Tử tức Văn Miếu. Ngay sau khi xây Văn Miếu, Thái tử đã
đến học tập, mở đầu quá trình rèn luyện trước khi lên ngôi chí tôn ở địa điểm này.
Năm 1075, dưới thời vua Lý Nhân Tông, triều đình cho mở khoa thi
Minh Kinh bác sĩ và thi Nho học tam trường. Khoa thi này Lê Văn Thịnh đỗ
đầu. Lịch sử thi cử Nho giáo ở nước ta chính thức khai sinh kể từ đó.
Năm 1076, nhà Lý cho xây Quốc Tử Giám. Từ đây con em quý tộc họ
Lý bắt đầu được chính thức đào tạo chủ yếu theo Nho giáo. Tuy đối tượng
đào tạo có phần hạn hẹp, nhưng bản thân sự có mặt của Quốc Tử Giám đã là
nguồn khích lệ lớn lao cho nền giáo dục Nho giáo đương thời. Tất cả sự kiện
này trở thành mốc quan trọng đánh dấu một bước phát triển có ý nghĩa lịch sử
đối với vai trò của Nho giáo trong đời sống văn hóa, giáo dục ở Việt Nam.
Thời nhà Trần đã đặt ra những học vị cao cấp của Nho học. Năm 1232,
nhà Trần đặt ra học vị đầu tiên cho thi cử Nho giáo ở nước ta, đó là học vị
Thái Học Sinh. Xét về đẳng cấp, Thái Học Sinh là học vị thuộc hàng cao nhất.
Năm 1242, nhà Trần đặt ra lệ Tam Khôi (tức là học vị) riêng cho 3 người đỗ
cao nhất khoa thi Thái Học Sinh. Tương tự như Trung Quốc, Tam Khôi nước
ta gồm: Trạng Nguyên, Bảng Nhãn và Thám Hoa. Năm 1304, nhà Trần thêm
một học vị mới là Hoàng Giáp, xét về thứ bậc, Hoàng Giáp xếp thứ tự sau
Trạng Nguyên, Bảng Nhãn và Thám Hoa nhưng lại trên Thái Học sinh. Tới
đây hệ thống học vị trong thi cử học tập của Nho giáo gần như đã hoàn chỉnh.


20

Sau khi đánh đuổi quân Minh, giải phóng đất nước, vương triều Lê
chính thức được thành lập (1428) và bắt đầu công việc xây dựng, phát triển
nền văn hóa độc lập dân tộc. Lê Thái Tông lên ngôi năm Giáp Dần (1434).
Thái Tông đã cho họp triều đình bàn về việc mở khoa thi tiến sĩ và đưa điều lệ
thi Hương, thi Hội cùng phép thi ở các kì. Nhưng phải tới tháng 3 năm Nhâm
Tuất (1442) thời Lê nhân Tông, triều Lê mới chính thức cho thi đối sách ở sân
điện để lấy tiến sĩ. Năm này, nhà Lê đã đổi Thái Học Sinh thành Tiến sĩ và
nước ta quen gọi Tiến sĩ từ đó. Cũng từ năm này, nhà Lê cho soạn văn bia và
chứng bia để khắc ghi tên những người đỗ Tiến sĩ. Bia Tiến sĩ bắt đầu có từ
đây để tôn vinh Nho học, tôn vinh người đỗ đại và biểu thị lòng kính trọng kẻ
sĩ chân Nho của triều đình nhà Lê. Khoa thi Tiến sĩ năm Nhâm Tuất là cột
mốc quan trọng xác lập vị trí độc tôn của Nho giáo ở Việt Nam hồi thế kỉ XV.
Để tỏ lòng tôn sùng Nho học, vào tháng 2 mùa xuân năm Ất Mão
(1435), vua Lê Thái Tông cho chọn ngày Thượng đinh, sai thiếu bảo Lê Quốc
Hưng làm lễ cúng Khổng Tử ở Văn Miếu, vị tổ khai sáng ra đạo Nho, từ đó
về sau định làm thường lệ. Văn Miếu thờ Khổng Tử tại các bộ được nhà nước
cấp phụ trông nom quét dọn. Đạo đức Nho giáo như lòng trung thành với vua,
sự tiết hạnh của phụ nữ được cổ vũ, tuyên dương. Nho giáo ở thời Lê thế kỉ
XV đến triều Thánh Tôn Thuần Hoàng Đế (1460-1497) thì đạt đỉnh cao thịnh
vượng. Đến đời Lê Thánh Tông, diện mạo Nho giáo đã rõ ràng với những đặc
điểm cụ thể, dễ nhận biết. Người xưa học Nho có hai phép: Học nghĩa lý và
học từ chương. Học nghĩa lý là học chuyên sâu với mục đích dò tới nguồn gốc
của Khổng giáo. Còn lại từ chương là học kinh nghĩa, thơ phú, văn sách cốt
để thi làm quan, cũng được gọi là học khoa cử.
Trong khoảng thời gian này, Nho giáo đã giành trọng trách biên soạn
luật, khôn khéo biến một số tư tưởng về một phép trị nước của Nho giáo
thành pháp luật xã hội. Bộ luật thành văn đầu tiên của nước ta là Hình thư


21

được biên soạn xong vào năm 1042 dưới thời trị vì của vua Lý Thái Tông
(1028-1054). Thời Lê Thánh Tông, bộ luật Hồng Đức được biên soạn xong
vào năm 1483. Nội dung cơ bản của luật Hồng Đức là bảo vệ quốc gia thống
nhất, bảo vệ thể chế tập quyền mà đỉnh cao là thể chế ấy là Hoàng đế nhà Lê.
Quy mô quảng bá của Nho giáo càng mở rộng, nhất là từ buổi đầu của thời Lê
sơ trở đi. Bất cứ ai, dù ở đâu và thuộc tầng lớp nào trong xã hội, nếu có điều
kiện cũng đều có thể tiếp nhận Nho giáo. Học trò nước ta cũng được học
những sách kinh điển của Nho giáo như Tứ thư, Ngũ kinh, Bách gia chư tử…
Nền Nho giáo ở nước ta và Trung Quốc đã không còn khác nhau bao nhiêu.
Nếu vào thời Bắc thuộc, Nho giáo được truyền bá vào đất nước ta chủ
yếu là Hán Nho thì trong kỉ nguyên độc lập, tự chủ và thống nhất, Tống Nho
chi phối ảnh hưởng ở nước ta. Tuy nhiên, ảnh hưởng của Tống Nho thời này
là không lớn. Từ thế kỉ X đến thế kỉ XIII, vị trí Nho giáo rất khiêm nhường,
chỉ ở địa hạt giáo dục chứ chưa tìm đến chính trị và tư tưởng. Ngay trong thế
kỉ XIV, ảnh hưởng của phái Tống Nho đã thể hiện khá rõ ràng trong một bộ
phận Nho gia ở nước ta nhưng đã vấp phải sự phản đối từ đông đảo các Nho
gia khác. Đỉnh cao nhất của sự truyền bá Tống Nho là vào thời trị vì của Lê
Thánh Tông (1460-1497). Nhưng với thời gian ngắn ngủi như vậy cũng
không đủ để Tống Nho tạo ảnh hưởng sâu sắc trong việc truyền bá Nho giáo
vào Việt Nam.
Từ thế kỉ X đến thế kỉ XV, Nho giáo đã dần dần xác lập vị trí độc tôn
của mình trong xã hội Việt Nam. Thời kì này, ở nước ta đã xuất hiện rất nhiều
nhà Nho nổi tiếng như Lý Thường Kiệt (1019-1105), Trần Quốc Tuấn (13801442), Lê Thánh Tông. Họ đã làm cho Nho giáo ở nước ta trong kỉ nguyên
này ngày một thịnh đạt và có ảnh hưởng ngày một rộng lớn, sâu sắc đối với
xã hội Đại Việt.


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×