Tải bản đầy đủ

Luận Văn Nghệ thuật hát chầu văn trong nghi lễ hầu thánh

1

MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Hát chầu văn là một loại hình nghệ thuật độc đáo trong kho tàng âm nhạc cổ
truyền Việt Nam. Chầu văn được hình thành và lưu truyền từ rất lâu đời, gắn liền
với tiến trình lịch sử, các lễ hội, truyền thuyết theo tín ngưỡng dân gian. Đặc biệt cứ
nhắc tới nghệ thuật hát chầu văn, người ta nghĩ ngay tới một hình thức diễn xướng
bao gồm chầu văn và nghi lễ tôn giáo mà nhất là nghi lễ hầu thánh của tín ngưỡng
Tứ phủ.
Hình thức hát chầu văn được sử dụng trong nghi lễ hầu thánh Tứ phủ vẫn được
gọi với cái tên: hát nghi lễ hầu thánh Tứ phủ hay còn gọi nôm na là hát hầu bóng,
hát lên đồng. Hát nghi lễ hầu thánh Tứ phủ là sự kết hợp chặt chẽ giữa chầu văn với
hầu bóng – một nghi lễ, hình thức diễn xướng độc đáo của tín ngưỡng Tứ phủ. Đây
là một trong những hình thức ít ỏi của sinh hoạt hát chầu văn cổ truyền còn tồn tại
cho tới ngày nay.
Hát hầu bóng đã trở thành một bộ phận không thể thiếu trong nghi lễ hầu thánh
Tứ phủ. Nó tạo ra sự sinh động, chân thực và làm đậm màu sắc tôn giáo cho nghi lễ.
Hơn thế nữa hát hầu bóng còn trở thành một hiện tượng văn hóa dân gian tổng thể,
là một loại hình sinh hoạt tín ngưỡng, văn hóa cộng đồng. Thông qua nghiên cứu hát
nghi lễ hầu thánh Tứ phủ không chỉ giúp chúng ta hiểu thêm về loại hình âm nhạc

độc đáo này mà còn thấy được sự kết hợp chặt chẽ, đan xen hòa quyện của một loại
hình diễn xướng dân gian với tín ngưỡng dân gian tạo nên một hiện tượng văn hóa
dân gian tổng thể độc đáo, một đặc trưng của văn hóa.
Hát hầu bóng còn là một sinh hoạt tín ngưỡng, văn hóa cộng đồng còn tồn tại
khá phổ biến trong đời sống nhân dân ở nông thôn cũng như thành thị. Thậm chí, ở
các đô thị hình thức diễn xướng này lại con có phần phổ biến hơn. Như vậy có nghĩa
là khi nghiên cứu về nghệ thuật này là ta nghiên cứu một hiện tượng văn hóa dân
gian hiện đang còn tồn tại và phát triển trong môi trường đích thực của nó chứ
không phải chỉ là qua những hồi tưởng, những tư liệu trong sách vở.


2

Tuy nhiên, hát nghi lễ hầu thánh Tứ phủ cùng với hầu bóng đã cũng kéo theo
không ít những hủ tục, mê tín dị đoan gây ra những ảnh hưởng không tốt tới đời
sống xã hội mà chúng ta cần phải loại trừ. Nghiên cứu về nghệ thuật này sẽ giúp
chúng ta thấy được bản chất tôn giáo, tín ngưỡng ẩn chứa trong nó, thấy được những
giá trị văn hóa, khả năng khai thác vốn văn hóa qu‎í báu này của truyền thống để xây
dựng nền văn hóa mới.
Ngày nay, cùng với dòng chảy của thời gian và sự phát triển của khoa học kĩ
thuật, kinh tế thị trường, nghệ thuật này hiện đã không còn nhận được sự quan tâm
đúng mức. Hiện nay hát nghi lễ hầu thánh Tứ phủ nói riêng và hát chầu văn nói
chung đang bị rơi vào sự mai một, quên lãng giống như một số loại hình âm nhạc cổ
truyền khác như hát xẩm, hát xoan… Chúng ta cần có một giải pháp hiệu quả để
khai khác và bảo tồn loại hình nghệ thuật độc đáo này.
Để bảo tồn và phát triển bộ môn nghệ thuật này nhiều nhà nghiên cứu trong và
ngoài nước đã đi sâu vào nghiên cứu bộ môn nghệ thuật này như Giáo sư Ngô Đức
Thịnh, Tiến sĩ âm nhạc người Anh Barley Norton, tuy nhiên những nghiên cứu của
các chuyên gia này chỉ nghiên cứu về nghệ thuật hát chầu văn nói chung chứ chưa
có một nghiên cứu nào đi sâu vào nghệ thuật hát chầu văn trong nghi lễ hầu thánh
Tứ phủ - một thể loại được coi là độc đáo nhất của chầu văn.
Với tất cả những lí do trên tôi quyết định chọn đề tài “Nghệ thuật hát chầu
văn trong nghi lễ hầu thánh” làm đề tài khóa luận tốt nghiệp.

2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Hát chầu văn là một loại hình nghệ thuật cổ truyền độc đáo của dân tộc ta. Từ
trước tới nay có rất nhiều nhà nghiên cứu trong và ngoài nước nghiên cứu về loại
hình nghệ thuật độc đáo này. Nghệ sĩ Nhân dân Phạm Ty, Giáo sư Ngô Đức Thịnh
được coi là những nhà nghiên cứu về chầu văn đầu tiên ở nước ta. Đầu những năm
90 Giáo sư Ngô Đức Thịnh chủ biên công trình “Hát văn” (NXB Văn hóa Dân tộc,


1992) đã mở đầu cho trào lưu nghiên cứu về bộ môn nghệ thuật này. Công trình này
đã trình bày một cách khái quát về chầu văn, cấu trúc âm nhạc trong chầu văn, các
thể loại của hát chầu văn đặc biệt là loại hình hát chầu văn được sử dụng trong nghi


3

lễ hầu thánh Tứ phủ. Ngoài ra công trình còn sưu tầm được hơn 50 giá văn cổ
truyền.
Tiếp sau công trình của Giáo sư Ngô Đức Thịnh nhiều tác giả tiếp tục nghiên
cứu về hát chầu văn. Tác giả Thanh Hà xuất bản cuốn “Âm nhạc hát văn” (NXB
Âm nhạc, 1995). Cuốn sách đã giới thiệu khái quát những vấn đề âm nhạc trong hát
văn: Hình thức các đoạn nhạc; Liên khúc hát văn; Bàn về môtíp chủ đạo hát văn;
Phân tích các thủ pháp truyền thống của nghệ thuật hát văn; Tìm hiểu tư tưởng và
sinh hoạt văn hoá Tứ phủ của người Việt từ cuối thế kỷ XIX trử về trước.
Tiếp đó Nguyễn Quang Hải và Bùi Đình Thảo với công trình “Hát chầu văn”
(NXB Âm nhạc, 1996) đã trình bày một các khái quát về nguồn gốc lịch sử của nghệ
thuật hát chầu văn; Nghi thức hát chầu văn; Văn học và âm nhạc của hát chầu văn;
Kế thừa và phát triển hát chầu văn trong thời đại ngày nay.
Đặc biệt Tiến sĩ âm nhạc người Anh Barley Norton với luận án Tiến sĩ về Hát
chầu văn đã trình bày một cách chi tiết về bộ môn nghệ thuật này. Ông vẫn thường
được các nhà nghiên cứu chầu văn ở Việt Nam nhắc đến với cái tên “Ông Tây hát
văn”.
Tuy nhiên các công trình trên chỉ nghiên cứu chung về nghệ thuật hát chầu văn
chứ chưa có một công trình nào thức sự đi sâu vào nghiên cứu loại hình hát chầu
văn được sử dụng trong nghi lễ hầu thánh Tứ phủ - một thể loại độc đáo của nghệ
thuật hát chầu văn.

3. Mục đích và nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Khóa luận “Nghệ thuật hát chầu văn trong nghi lễ hầu thánh” nhằm tìm hiểu
về nghệ thuật hát chầu văn nói chung và đi sâu vào nghệ thuật hát chầu văn được sử
dụng trong nghi lễ hầu thánh Tứ phủ - hát hầu bóng để đưa ra một cái nhìn tổng quát
nhất về bộ môn nghệ thuật độc đáo này, giúp người đọc thấy được vai trò, ý nghĩa
của hát hầu bóng với nghi lễ hầu thánh Tứ phủ và tín ngưỡng Tứ phủ nói riêng cũng
như ý nghĩa của nó với đời sống, văn hóa, xã hội nói chung.

3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu


4

Khóa luận làm rõ về nguồn gốc lịch sử, các thể loại, làn điệu, nhạc cụ, cấu trúc
âm nhạc…trong nghệ thuật hát chầu văn nói chung.
Khóa luận đi sâu làm rõ về nghệ thuật hát chầu văn được sử dụng trong nghi lễ
hầu thánh Tứ phủ, vai trò của chầu văn với tín ngưỡng Tứ phủ nói chung và nghi lễ
hầu thánh Tứ phủ nói riêng, các đặc điểm của hát hầu bóng, thực trạng của nghệ
thuật này trong xã hội đương đại và đưa ra những phương án nhằm bảo tồn, phát
huy bộ môn nghệ thuật độc đáo này.

3.3. Phạm vi nghiên cứu
Khóa luận nghiên cứu về nghệ thuật hát chầu văn được sử dụng trong nghi lễ
hầu thánh Tứ phủ.

4. Nguồn tƣ liệu và phƣơng pháp nghiên cứu
4.1. Nguồn tư liệu
Trong quá trình thực hiện khóa luận, tôi sử dụng nguồn tư liệu gốc ghi chép
về các giá văn được sử dụng trong nghi thức hầu thánh Tứ phủ do thanh đồng Thiều
Quang Tiền (47 tuổi thường trú tại Xuân Lộc – Thanh Thủy – Phú Thọ) cung cấp.
Bên cạnh đó còn có các cuốn sách nghiên cứu về nghệ thuật hát chầu văn của
các tác giả Ngô Đức Thịnh, Bùi Đình Thảo, Thanh Hà…
Ngoài ra, tôi còn sử dụng tư liệu là các bài nghiên cứu nghệ thuật hát chầu
văn trên các tạp chí Văn hóa Dân gian, Di sản Văn hóa.

4.2. Phương pháp nghiên cứu
Trong đề tài tôi sử dụng hai phương pháp nghiên cứu chính là phương pháp
lịch sử và phương pháp logic. Ngoài ra, tôi còn sử dụng một số phương pháp khác
như so sánh, tổng hợp, phân tích…

5. Đóng góp của khóa luận
Đề tài “Nghệ thuật hát chầu văn trong nghi lễ hầu thánh” cung cấp những
hiểu biết cơ bản nhất về hát chầu văn nói chung và hát nghi lễ hầu thánh Tứ phủ nói
riêng để mọi người cùng hiểu thêm về loại hình diễn xướng này và đưa ra một
phương hướng hiệu quả nhằm bảo tồn loại hình nghệ thuật độc đáo này.

6. Kết cấu khóa luận


5

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, nội
dung khóa luận này bao gồm hai chương:
Chương 1: Khái quát về nghệ thuật hát chầu văn
Chương 2: Nghệ thuật hát chầu văn trong nghi lễ hầu thánh


6

Chƣơng 1: KHÁI QUÁT VỀ NGHỆ THUẬT
HÁT CHẦU VĂN
1.1. NGUỒN GỐC CỦA NGHỆ THUẬT HÁT CHẦU VĂN
Chầu văn là một hình thức diễn xướng dân gian gồm hát và diễn xướng theo
các bài văn để hầu thánh. Trong sách “Kiến văn tiểu lục”, tác giả Lê Quý Đôn có
viết: “Thời Trần có lối hát trước mặt đế vương gọi là hát chầu”. Có thể lối hát chầu
này sau đó được vận dụng trong nghi lễ thờ cúng rồi được kết hợp với đồng bóng
gọi là chầu văn. Dẫu sao từ lúc hình thành cho đến khi được định hình về âm nhạc,
lời văn, lề lối diễn xướng và được lưu truyền cho đến ngày nay, mỗi loại hình nghệ
thuật, diễn xướng dân gian đều phải trải qua một thời gian rất dài, với sự bổ sung
của nhiều thế hệ và có sự tác động ảnh hưởng của nhiều loại hình văn hóa dân gian
khác cho nên thật khó có thể xác định được một thời điểm cụ thể về sự ra đời của
mỗi loại hình nghệ thuật cổ truyền hay của các loại diễn xướng, ca hát dân gian
trong tổng thể văn hóa nói chung.
Nghệ thuật hát chầu văn đã hình thành và lưu truyền từ lâu đời, trên một phạm
vi địa bàn rộng lớn, qua nhiều thời kì lịch sử phát triển và giao thoa với các loại hình
ca nhạc cổ truyền khác. Sự vận động, chuyển biến của nghệ thuật hát chầu văn là
khách quan, tất yếu, liên tục. Do nhu cầu về thưởng thức, phản ánh…mà chầu văn
cổ truyền đã không ngừng được bổ sung về nội dung các bài văn, lời văn, về lề lối
và những nghi thức, về làn điệu và kĩ thuật đàn hát cùng với nghệ thuật diễn xướng.
Mặt khác, chầu văn cổ truyền vốn đã mang sắc thái tổng hợp của các yếu tố nghệ
thuật và tín ngưỡng, tôn giáo…
Nam Hà từ lâu đã được không ít nhà nghiên cứu và những nghệ nhân chầu văn
coi là một trong những cái nôi của chầu văn. Song ngay trên mảnh đất này, việc
nghiên cứu về nguồn gốc, sự hình thành của nó cũng khá rắc rối, phức tạp. Sự suy
đoán về lại lịch của chầu văn trong dân gian tập trung ở nhiều ý kiến khác nhau,
hướng vào các thời điểm lịch sử và địa dư khác nhau.


7

Nếu chỉ tìm đến tài liệu trong sách vở hay những văn bia từ thời xưa còn tồn tại
đến nay để xác định cội nguồn của nghệ thuật hát chầu văn thì quả là rất khó khăn
không khác gì mò kim đáy bể.
Bằng phương pháp hệ thống hóa và phân tích nội dung các bài chầu văn cổ đã
sưu tầm được hoặc căn cứ vào chữ nghĩa, ngôn từ để tìm hiểu thời điểm ra đời cũng
như cái nôi đầu tiên của nghệ thuật hát chầu văn thì rõ ràng có khoa học nhưng cũng
khó hoàn chỉnh và đảm bảo chắc chắn. Bởi lẽ, không ít những bài chầu văn cổ còn
lưu lại cũng khó tránh khỏi pha tạp, thêm thắt, bổ sung trong dân gian.
Với hi vọng tìm đến nguồn gốc của nghệ thuật cổ truyền nói chung và dân ca
nói riêng, nhiều nhà nghiên cứu chẳng những căn cứ vào văn bia, sách vở mà còn
không quên dựa vào các truyền thuyết dân gian được lưu truyền từ đời này qua đời
khác. Nếu bóc đi những lớp vỏ hoang đường, thần bí tất sẽ cảm nhận được một nội
dung hiện thực nào đó có giá trị lịch sử. Trong thực tế nhiều truyền thuyết dân gian
không những là nguồn tài liệu quý giá đối với sử học, văn học và các khoa học xã
hội nói chung, mà còn gợi mở cho cả những đề tài khoa học tự nhiên. Đặc biệt trong
lĩnh vực văn hóa thì truyền thuyết dân gian có vai trò rất quan trọng.
Có không ít truyền thuyết nói về sự ra đời của nghệ thuật hát chầu văn với nội
dung khá phong phú, đa dạng. Dường như mỗi truyền thuyết đều cố gắng gắn liền
sự ra đời của nghệ thuật hát chầu văn với tên tuổi, lai lịch một ông hoàng, bà chúa
nào đó và địa danh của từng địa phương nhất định. Sự đa dạng của các truyền thuyết
ấy đã chứng tỏ sự phong phú và đa dạng của các giá chầu văn cổ truyền và tác động
của nó bấy lâu trong quần chúng nhân dân.
Truyền thuyết về nguồn gốc của nghệ thuật hát chầu văn có rất nhiều nhưng
tập trung, phổ biến ở một số truyền thuyết sau:
1.1.1. Hát chầu văn ra đời từ tục thờ Đức Thánh Trần
Tương truyền Đức Thánh Trần (tức Trần Hưng Đạo hay Hưng Đạo Đại Vương
Trần Quốc Tuấn) (thế kỉ XIII) là một người có tài thao lược, văn võ kiêm toàn. Ông
là con của An Sinh Vương Trần Liễu (anh ruột của Trần Thái Tông) và bà Thiện Từ
Quốc Mẫu. Vị anh hùng dân tộc này được người đời xem như một bậc kì nhân, là


8

một vị tướng nhà trời giáng trần chuyển thế thành. Đêm nằm ngủ bà Thiện Từ Quốc
Mẫu mộng thấy người nhà trời là Sinh Vương Thái Công hiện ra xin được đầu thai
để xuống trần dẹp loạn. Thế rồi bà mang thai lâu hơn người thường và sinh ra một
cậu bé mặt mũi khôi ngô tuấn tú lạ thường đặt tên là Trần Quốc Tuấn.
Mới vừa một tuổi cậu bé Trần Quốc Tuấn đã biết nói, lên sáu tuổi cậu học hành
rất giỏi và đã biết tự mình bày ra những thế trận rất lạ. Lớn lên Trần Quốc Tuấn trở
thành một vị tướng tài đức toàn tài lập được nhiều chiến công hiển hách, từng ba lần
đại phá quân Nguyên Mông hết lòng phò tá vì đất nước được vua Trần vô cùng yêu
quý. Sau này ông được triều đình phong tước hiệu Đại Vương, người đời gọi ông là
Hưng Đạo Đại Vương.
Sinh thời Hưng Đạo Đại Vương không chỉ thông tuệ binh pháp, rất mực trung
quân, ái quốc mà còn là bậc hiền nhân đức cả, giàu lòng bác ái. Vì thế, khi trở về
trời rồi Ngài vẫn luôn để tâm phù hộ con cháu, tiếp sức cùng người đời trong các
cơn giặc giã binh đao hay các kì mất mùa vì thiên tai, hạn hán.
Ở những nơi thờ cúng, nhất là đền Bảo Lộc (còn gọi là đền Trần) ở thôn Tức
Mạc, phủ Thiên Trường (nay thuộc ngoại thành thành phố Nam Định), vào dịp lễ
hội người ta ngồi đồng để mong Ngài hóa thân, hiện diện ở thế gian, để ca ngợi
công đức của Ngài. Ngoài việc cúng lễ, cầu xin người xưa đã soạn ra một lối hát
chầu trước bàn thờ để hầu bóng Ngài. Đó chính là lối hát chầu văn.
1.1.2. Hát chầu văn ra đời cùng với tục thờ Liễu Hạnh công chúa
Bà chúa Liễu (tức Liễu Hạnh công chúa hay còn gọi là Thánh Mẫu Liễu Hạnh)
được thờ ở Phủ Giày ( nay thuộc xã Kim Thái, huyện Vụ Bản, Nam Định) và nhiều
đền, phủ thuộc tín ngưỡng Tứ phủ trên khắp cả nước. Có nhiều truyền thuyết khác
nhau nói về lai lịch, tiểu sử của bà được phổ biến trong nhân dân địa phương cũng
như trong tỉnh. Thậm chí còn có một số sách viết về Liễu Hạnh công chúa khi còn
sống cũng như sau khi bà thác. Có thể tóm lại như sau:
Bà Liễu Hạnh vốn là đệ nhị Tiên chúa Quỳnh Nương con gái Ngọc Hoàng vì
mắc tội làm vỡ chén ngọc mà bị giáng xuống trần gian.


9

Truyền thuyết kể rằng, vào thời Hậu Lê, ở thôn Vân Cát có gia đình Lê Thái
Công, vợ chồng hiền lành phúc hậu nên được Ngọc Hoàng cho tiên nữ xuống đầu
thai làm con. Năm Thiên Hựu thứ 9 đời vua Lê Anh Tông, bà vợ ông có mang đã
qua kì sinh nhưng mắc bệnh nặng, chữa mãi không khỏi. Có một đạo sĩ đến giúp,
làm phép cho ông nằm mộng được lên thiên đình. Tại đây ông chứng kiến đệ nhị
Tiên chúa Quỳnh Nương phạm lỗi đánh vỡ chén ngọc bị đày xuống trần gian. Khi
tỉnh giấc, vợ ông vừa trở dạ sinh được một con gái. Đêm ấy có hương thơm tỏa khắp
trong nhà. Nhớ lại giấc mộng, ông bà đặt tên con là Giáng Tiên. Cô gái lớn lên nhan
sắc xinh đẹp lạ thường mà có đủ cả tài văn thơ đàn nhạc. Ông bà gả con cho Đào
Lang – con nuôi của bạn ông là Trần Công. Lấy nhau được ba năm, nàng sinh hạ
được hai con, một trai, một gái. Cuộc sống gia đình đang đầm ấm thì bỗng dưng
ngày ba tháng ba nàng bị bệnh mà mất, năm ấy nàng mới hai mươi mốt tuổi.
Tuy về trời nhưng cuộc sống trần tục vẫn còn đầy nợ duyên, Giáng Tiên vẫn
mang nặng lòng trần, canh cánh nhớ thương chồng con. Ngọc Hoàng thấu hiểu sự
tình bèn cho nàng giáng trần trở lại.
Xuống trần lần này nàng lại tái ngộ với hậu thân của Đào Lang - người chồng
trước đã chết nay được đầu thai trở lại. Hai người ăn ở với nhau được một đứa con
trai nhưng chẳng bao lâu hạn trần đã hết, Tiên chúa lại phải trở về trời.
Truyền thuyết kể rằng, Tiên chúa sau khi hết hạn trần gian đã ẩn hiện, biến hóa
khôn lường, khi thì là một bà già chống cây gậy trúc bên đường, lại có lúc là một cô
gái đẹp thổi tiêu dưới ánh trăng. Tiên chúa thường đi du ngoạn khắp nơi có lần nàng
lên Lạng Sơn gặp đoàn sứ bộ do ông Phùng Khắc Khoan – Trạng nguyên đương
triều đi sứ từ Trung Hoa về, họ đã cùng nhau đề thơ, xướng họa. Nàng thường biến
hóa thành một cô gái đẹp lang thang rong chơi. Chẳng may có chàng trai nào dám
giở thói trăng hoa thả lời bỡn cợt liền bị nàng trừng trị bằng những tai nạn nguy
khốn. Người ta sợ oai Tiên chúa nên phải lập đền thờ. Tương truyền Tiên chúa còn
âm phù cho vua Lê đánh tan giặc Chiêm Thành nên được phong là Liễu Hạnh công
chúa. Đến thời nhà Nguyễn, bà được phong là Mẫu Nghi thiên hạ, dân gian vẫn
quen gọi bà là Mẫu Liễu.


10

Truyện còn kể rằng, một hôm nhà vua đi kinh lí qua vùng Tiên Hương vào
nghỉ chân trong quán xá. Sáng hôm sau, khi tỉnh giấc thấy mất đôi giày cũ lại được
thay thế bằng một đôi giày mới đẹp lạ lùng. Vua hỏi quan quân thì không một ai hay
biết. Thấy vậy vua sai làm lễ tạ ơn rồi truyền lập điện thờ gọi là Phủ Giày. Từ đó trở
đi ở đây hàng năm thường mở hội. Khách thập phương đến bái lễ rất đông.
Để nói lên uy danh của Tiên chúa và thỉnh Người về phù hộ độ trì cho con
nhang đệ tử, người ta đàn và hát lên những giá văn chầu, cùng với người lên đồng
hầu bóng làm đẹp lòng Thánh Mẫu, nghệ thuật hát chầu văn ra đời từ đó.
1.1.3. Hát chầu văn ra đời từ lối hát của nhà chùa
Một số nghệ nhân hát văn cho biết, được nghe truyền lại rằng đã từ lâu đời
trong các chùa vùng Xuân Trường, Giao Thủy thuộc Nam Hà trước kia và nhiều nơi
khác nữa vào những dịp lễ Phật, làm chay thường có những lối hát: kể hạnh, kể vãn,
chạy đàn,…Đặc biệt có những chùa như chùa Keo ở Hành Thiện, Xuân Thủy trước
kia, thường không có nhà sư mà chỉ có các ông tự, bà tự, ông thống, những người
chuyên cúng bái và làm sớ.
Cùng với việc cúng bái nhiều thầy cúng còn biết đàn hát những bài văn để
hành lễ. Nội dung những bài văn này nói về lòng từ bi của đức Phật và uy linh, công
đức của chư vị thánh thần theo tín ngưỡng dân gian hay còn gọi là đạo tự nhiên. Từ
đó, một số thầy cúng đã trở thành Cung văn. Thế rồi khoảng thời Hậu Lê, khi có hội
Phủ Giày và hội Đền Trần, các thầy cúng kiêm nghề Cung văn đã vận dụng lối hát
nhà chùa, cải biên nhạc điệu, đặt lời văn cho phù hợp với việc chầu các ông hoàng,
bà chúa ở những nơi họ hành nghề vì vậy mà có lối hát chầu văn như ngày nay.
1.1.4. Hát chầu văn đƣợc truyền lại từ những điệu hát của công chúa Thƣợng
Ngàn
Tục truyền rằng bà chúa Thượng Ngàn vốn là công chúa La Bình, con gái của
Tản Viên Sơn thánh và công chúa Mị Nương. La Bình công chúa vừa tuyệt sắc lại
có nhiều tài nghệ, nàng thường theo cha đi du ngoạn khắp nơi, quyến luyến với cây
cỏ, gió trăng làm bạn cùng muông thú rừng xanh. La Bình được các thần cai quản
rừng núi rất yêu mến chẳng những vì nàng ca hát rất hay mà còn dạy cho muông thú


11

biết hát múa, leo trèo, ru con, kéo gỗ…Về sau này La Bình được Ngọc Hoàng
thượng đế ngỏ lời khen ngợi rồi ban cho làm Thượng Ngàn công chúa cai quản tám
mươi mốt cửa rừng trong cõi Nam Giao. Trong dân gian bà được tôn làm Mẫu
Thượng Ngàn. Đền chính thờ Mẫu Thượng Ngàn là đền Bắc Lệ (gần đường từ Bắc
Giang đi Lạng Sơn).
Vì phải cai quản tám mươi mốt cửa rừng nên Mẫu Thượng Ngàn thường ngao
du, ẩn hiện đây đó khắp nơi. Tiếng hát của Mẫu Thượng Ngàn quyến rũ đến mê hồn,
ai nghe thấy cũng đều mến phục. Nhân gian học được những điệu hát ấy. Với những
tiếng trầm tiếng bổng, giọng đục giọng trong rồi họ thêm thắt vào đó những âm điệu
trong thiên nhiên phong phú, dựa theo cảm nhận về phong khí núi sông thành những
bài hát ca ngợi chúa Tiên, và sau này hát chầu các chư vị thần thánh. Những điệu hát
ấy được truyền tụng mãi về sau gọi là hát chầu văn.

1.1.5. Hát chầu văn đƣợc hình thành từ những khúc hát làm đẹp lòng
bà Mẫu Thoải
Mẫu Thoải tức là bà mẹ Nước, nữ thần cai quản các vùng sông biển nước Nam.
Công việc của Mẫu Thoải là làm mưa chống hạn, phòng trừ thủy quái, ngăn chặn
cuồng phong, giúp nhân dân làm ăn sinh sống, đi lại trên sông nước. Tương truyền
Mẫu Thoải có tên tục là Nhữ Nương, lấy vua Thủy Tề và được Ngọc Hoàng phong
tước hiệu là Nhữ Nương Nam Nữ Nam Hải Đại Vương.
Lại có thuyết cho rằng Mẫu Thoải là các vị nữ thần, đều là con gái của Lạc
Long Quân – tổ tiên của giống nòi người Việt. Các bà có hiệu là Thủy Tinh Động
Đình Ngọc Nữ công chúa, Tam Giang công chúa, Hoàng Hà Đoan Khiết phu nhân
đều đóng dinh ở sông Nguyệt Đức.
Ngoài những buổi làm mưa, trị thủy Mẫu Thoải vẫn thường hay du ngoạn bằng
thuyền trên sông tìm những thú vui khi nhàn tản. Mỗi khi hạn hán, lụt lội người ta
lập đàn cúng tế cầu Mẫu Thoải dùng phép màu gia ân trợ giúp. Dân chúng còn thờ
Mẫu trong các đền miếu. Trong mỗi buổi chầu lễ cầu đảo người xưa đã biết đàn hát
các bài văn ngợi ca làm đẹp lòng Thánh Mẫu, đặc biệt có lối hát chèo đò – một


12

trong những điệu của lối hát chầu văn được truyền đến ngày nay. Nghệ thuật hát
chầu văn ra đời từ đó.

1.1.6. Hát chầu văn đƣợc hình thành từ cách thƣởng thức và giải trí ca
nhạc của tầng lớp quí tộc
Có một giả thuyết đáng lưu ‎ý là từ những thời Lí, Trần, việc xây dựng âm nhạc
trong cung đình rất thịnh hành. Đặc biệt dưới triều Lê, nhiều ông vua như Lê Thái
Tổ, Lê Thái Tông, Lê Thánh Tông…rất quan tâm đến âm nhạc. Chẳng những
thưởng thức âm nhạc khá thành thạo các ông vua này còn cho khôi phục nhiều loại
ca nhạc đã bị cấm dưới ách đô hộ nhà Minh.
Loại âm nhạc được sử dụng trong cung đình là đại nhạc gồm có trống, kèn,
thanh la, não bạt dùng trong các buổi lễ đăng quang, thiết triều hoặc tế lễ trời đất.
Trong dân gian thời ấy thịnh hành phổ biến các lối hát đúm, hát ví, những dàn
nhã nhạc, tiểu nhạc, phường bát âm dùng trong rước xách và sinh hoạt.
Khi ấy, các vương tôn công tử, con cháu vua chúa và các quan trong triều
ngoài việc học hành, ngâm thơ xướng họa thì họ rất rỗi rãi. Những lúc quần tụ với
nhau tại các tư dinh, tư phủ họ muốn có một hình thức âm nhạc để thưởng thức và
giải trí. Thứ đại nhạc nghi lễ tất nhiên đã không thể đem lại cho họ sự vừa ý và say
mê. Bởi vậy hình thức ca nhạc nhỏ nhẹ, một vài người đàn hát được tổ chức ngay
trong các tư dinh, tư phủ là rất phù hợp.
Có thể ban đầu chỉ là đàn và hát, rồi về sau là đã thêm cách diễn trò miêu tả lại
diện mạo, hành vi thậm chí bắt chước theo những cuộc dạo chơi, những lời phán bảo
của các ông hoàng, bà chúa, các bà cô, quan lớn…Điều này được thể hiện rõ trong
nội dung các giá văn cổ mà hiện nay sưu tầm được.
Cách đàn, hát và diễn xướng được tổ chức ở các tư dinh tư phủ ấy về sau được
đưa vào các đền, miếu, phủ và được lưu truyền cho đến ngày nay gồm cả hát múa và
lên đồng gọi là hát chầu văn.
Qua những phần đã trình bày trên đây, để đi đến việc xác định về lịch sử ra đời
của nghệ thuật hát chầu văn, hay nói cách khác là thử tìm đến cội nguồn của loại
hình nghệ thuật này rõ rằng phải căn cứ vào nhiều cơ sở.


13

Theo truyền thuyết và giả thuyết thì nói chung chầu văn ra đời từ tục thờ các
chư vị thánh thần, là kết quả của trí tưởng tượng và tín ngưỡng dân gian. Nếu nói
đến cơ sở để hình thành giai điệu chầu văn thì một điều hợp lẽ là, từ cách đọc sớ của
thầy cúng, từ các lối hát của nhà chùa như đọc kinh, kể hạnh. Bản thân các lối đọc,
hát này đã có sự trầm, bổng, to, nhỏ từ những dấu giọng của ngôn ngữ tạo nên, rồi
có sự giao thoa và tiếp nhận những giai điệu của dân ca mà trở thành những làn điệu
đặc trưng, tiếp tục được bổ sung, hoàn chỉnh.
Giả thuyết cho rằng chầu văn ra đời từ sinh hoạt ca nhạc của tầng lớp quí‎ tộc,
quan lại ngày xưa nhất là từ thời Lê Thái Tông trở đi cũng không phải không có cơ
sở. Tất nhiên chúng ta cũng phải nhìn nhận, ở thời kì này dường như đã có sự hoàn
chỉnh tương đối về âm nhạc, mà có lẽ nó nặng về góp vào việc hoàn thành nội dung
miêu tả các đối tượng.
Ở Nam Hà truyền thuyết phổ biến cho rằng chầu văn gắn liền với tục thờ Đức
Thánh Trần và Liễu Hạnh công chúa, chủ yếu tập trung ở hai lễ hội Đền Trần và
Phủ Giày, mà hai lễ hội này thịnh hành từ thời Lê trở đi.
Theo lịch sử văn học Việt Nam thì những câu thơ lục bát tương truyền là của
Lê Đức Mao và một số ca dao thể lục bát cũng được xác định là ra đời từ giai đoạn
đầu thời Hậu Lê, khoảng thế kỉ XV. Sau này thể lục bát còn được biến đổi ít nhiều
gọi là lục bát biến thể, hoặc kết hợp với thơ thất ngôn gọi là song thất lục bát. Từ sở
cứ này, đối chiếu với thể văn của các bài chầu văn cổ truyền chủ yếu là thể thơ lục
bát, lục bát biến thể và song thất lục bát thì chầu văn chỉ có thể ra đời từ thế kỉ XV
và sau đó mà thôi.
ĐỊA BÀN SỬ DỤNG VÀ LƢU TRUYỀN NGHỆ THUẬT HÁT CHẦU

1.2.
VĂN

Mỗi loại hình ca nhạc cổ truyền do đặc trưng về nguồn gốc ra đời, do tính chất,
mục đích sử dụng của con người nên được thể hiện và lưu truyền trên những địa bàn
nhất định.
Có nhiều lối ca hát và diễn xướng dân gian gắn liền với sinh hoạt, lao động,
tâm tư, tình cảm của nhân dân nhưng về sau chỉ được lưu truyền ở một số địa


14

phương, trở thành đặc sản và mang đậm bản sắc của mỗi vùng. Đó là các lối hát như
hát ví, hát quan họ, hát ả đào…Trong số đó có không ít các loại hình ca hát được
người xưa sử dụng trong nghi lễ và sau này lưu hành chuyển hóa từ thiêng đến tục.
Bản thân tên gọi của các loại hình ca hát đã nói lên địa điểm, địa bàn lưu
truyền như hát cửa đền, cửa đình Lỗ Khê…Một số loại ca hát thì tên gọi của nó
phản ánh lề lối và cách thức như hát ví, hát đúm. Có những lối hát mà tên gọi gợi
nhớ về vị tổ sư của nó như hát ả đào (Đào Nương được coi là người sinh ra lối hát
này, còn gọi là ca trù)…
Những lối hát và diễn xướng gắn liền với lễ tiết tôn giáo thì từ cổ xưa được sử
dụng ở những nơi thờ cúng, tế tự. Có thể coi việc tế thần, tế trời đất, tế Nam Giao ở
nhiều nơi xưa kia cũng là một loại diễn xướng sử dụng âm nhạc gồm phường bát âm
cộng với bộ gõ cùng với người chủ tế, bồi tế được tiến hành theo một nghi thức có
trình tự. Ở Lỗ Khê có hát cửa đình (cửa đền), ở Quyển Sơn (Nam Hà cũ) có hát
Giậm thờ Lí Thường Kiệt là một lối hát ở cửa đền.
Chầu văn cũng là một loại hình ca nhạc cổ truyền, có kết hợp với diễn xướng
múa (xưa kia là múa lên đồng) chuyên dùng trong lễ tiết tôn giáo ở những đền,
miếu, phủ thờ các ông hoàng, bà chúa, các quan lớn, các cô, các cậu. Một số vị trong
đó chính là những nhân vật lịch sử đã được người đời sau thần thánh hóa, tạo nên
những vẻ thần bí, hoang đường và xếp chung hàng ngũ với các chư vị thần thánh
khác vốn hoàn toàn do trí tưởng tượng của người xưa sáng tạo ra.
Qua tưởng tượng hoang đường với những truyền thuyết li kì, hấp dẫn dường
như các vị thần thánh này có mặt ở khắp nơi, du ngoạn đây đó và vẫn thường hiển
linh để phù hộ hay trừng phạt con người. Tuy nhiên mỗi vị thần, thánh đều có một
hộ tịch trần gian mà ở những nơi đó đều có lập đền, phủ, miếu thờ, có tế lễ và cầu
đảo. Hệ thống các đền, phủ, miếu này phân bố rải rác ở khắp mọi nơi từ vùng rừng
núi đến miền đồng bằng, ven sông, từ nơi thôn dã đến phố phường, đô thị sầm uất.
Nó được bảo lưu, giữ gìn qua nhiều thế hệ. Trong vô số các di tích ấy có rất nhiều
công trình có giá trị về mặt nghệ thuật, kiến trúc.


15

Từ thuở bình minh của nhân loại, con người đã biết quan niệm thông qua ca
hát và diễn xướng để giao tiếp với thần linh và các lực lượng siêu nhiên huyền bí.
Về sau, các tôn giáo chính thống cũng không ngừng sử dụng âm nhạc dân gian nói
riêng và nghệ thuật dân gian nói chung như các phương tiện đắc lực và thần diệu để
tự củng cố, mở rộng và tăng cường sức sống lâu bền. Từ chỗ múa hát ngoài trời để
tế thần, tế trời đất và diễn xướng lại những chiến tích trong chiến đấu và lao động
sản xuất, đáp ứng nhu cầu thưởng thức nghệ thuật và nhu cầu cộng cảm, nhu cầu tự
thể hiện, nhiều loại diễn xướng và ca hát đã chuyển vào không gian kín trong những
nơi thờ cúng, trong các đền, phủ, miếu. Sự chuyển dịch này không những làm cho
ca nhạc, diễn xướng nói chung và chầu văn nói riêng trở thành nghệ thuật thính
phòng mà còn là điều kiện để chúng trở thành chuyên nghiệp và chuyên dụng. Đó là
một điều kiện ổn định để bảo lưu nhiều loại hình nghệ thuật, ca nhạc và diễn xướng.
Thực tế trước kia cho thấy ở rất nhiều địa điểm thờ các nhân vật thuộc Tam
phủ, Tứ phủ, các chư vị thánh thuộc tín ngưỡng cổ truyền của người Việt xưa (đạo
tự nhiên kết hợp với đạo giáo) là địa bàn lưu truyền và sử dụng của chầu văn, bên
cạnh nhiều loại diễn xướng khác. Ngoài ra trong một số chùa chiền, nơi thờ Phật sau
này có thể kết hợp thờ thành hoàng bản địa, bên cạnh một số hình thức diễn xướng,
ca hát của nhà Phật như chèo nhà Phật, hát kể hạnh,…chầu văn cũng xuất hiện trong
một số lễ tiết với những giá văn chầu (tiêu biểu là ở chùa Keo – Xuân Thủy). Khái
niệm chầu văn đã nói lên tính chất, mục đích sử dụng của lối hát này từ thời xưa.
Hát chầu văn có nghĩa là hát những bài văn để chầu thánh, chầu các chư vị thánh
thần bằng những giá văn ở nơi cúng lễ.
Qua nội dung của các bài văn chầu cổ được lưu truyền cho tới ngày nay và qua
lời kể của các nghệ nhân hát chầu văn ở Nam Hà về những nơi mà họ đã đến hát thì
chầu văn chủ yếu tập trung ở những địa phận có thờ Tam phủ, Tứ phủ, thờ các
thượng đẳng thần tức là các ông hoàng, bà chúa, bà cô, quan lớn…được các triều
đình phong kiến xưa phong sắc.
Ngoài Nam Hà những vùng có lưu truyền nghệ thuật hát chầu văn phổ biến
phải kể đến một số địa danh của một số tỉnh như Bắc Lệ, Suối Ngang, Đồng Mỏ,


16

Yên Tử, Đền Sòng, Phố Cát…Những người chuyên hát chầu văn cùng các thầy
cúng và những người chuyên nghề hầu bóng thường đến các nơi này vào dịp lễ hội
để hầu thánh nhưng thực chất là hành nghề chuyên nghiệp. Do đó, địa bàn lưu
truyền của chầu văn không chỉ phụ thuộc vào nơi hiện diện của chư vị đẳng thần,
các ông hoàng, bà chúa mà còn phải kể đến những vùng có cung văn (người hát
chầu văn) và bóng rỗi (người hầu bóng).
Nếu so sánh chầu văn với nhiều loại hình múa hát có gắn với nghi lễ tôn giáo
như hát cửa đình, hát Giậm…kể cả so với chèo cổ thì chầu văn nói chung có địa bàn
lưu truyền rộng rãi hơn. Trước hết đó là đối tượng phản ánh và ngợi ca của chầu văn
từ xưa đã phong phú. Rất nhiều các ông hoàng, bà chúa, các chư vị đẳng thần dù là
nhân vật lịch sử hay chỉ do tưởng tượng của người xưa sáng tạo nên, đã được thờ ở
nhiều địa phận, nhiều vùng quê từ Bắc chí Nam chứ không riêng gì ở một địa
phương nào đó.
Một điều đáng quan tâm nữa là phạm vi và địa bàn lưu truyền của chầu văn
không chỉ tập trung ở những nơi có thờ các chư vị thánh thần mà trước đây ở kinh
đô các vương triều phong kiến cũng đã thu hút các nghệ nhân đàn hát, trong đó có
nghệ nhân hát chầu văn để phục vụ các vua chúa và quan lại triều thần. Bởi lẽ nó
không chỉ đáp ứng nhu cầu thưởng thức mà nó còn được sử dụng trong nghi lễ. Nghi
lễ chính là biểu hiện giữa dân và thần, mà quan hệ ấy thực chất là một biến thể của
quan hệ dân và vua. Đến thế kỉ XIX điều này thể hiện khá rõ với sự xác lập triều
Nguyễn cùng với kinh đô Huế (1802), khi ấy nền âm nhạc nhất là âm nhạc cung
đình được sử dụng một cách phổ biến ở kinh đô Huế, đã có một loại ca hát phục vụ
vương triều gọi là hầu văn nay gọi là chầu văn Huế. Đây là lối hát trước mặt vua,
quan, rồi đi vào cõi linh thiêng là hát trước điện thờ chư vị thần thánh. Vì vậy không
chỉ ở Bắc Bộ, Trung Bộ mà ngay cả ở Nam Bộ nghệ thuật hát chầu văn cũng rất
thịnh hành.
Như vậy, chầu văn được lưu truyền trong địa bàn cả nước. Tất nhiên tùy theo
từng phong tục, tập quán, tùy giọng nói và chất liệu âm nhạc của từng miền mà có
sự khác nhau về làn điệu cũng như về lề lối của cuộc hát. Sự phân bố trên địa bàn


17

rộng lớn như vậy là nét độc đáo, đặc biệt của chầu văn so với các loại hình ca nhạc
và diễn xướng dân gian khác. Chẳng hạn như Chèo được xem là đặc sản của vùng
châu thổ sông Hồng hay đồng bằng Bắc Bộ. Tuồng vốn có nguồn gốc xưa kia ở
Nam Bộ nhưng sau này thịnh hành ở Trung Bộ, nhất là vùng Quảng Nam…
Nếu so sánh trong phạm vi các tỉnh miền Bắc trước đây thì Nam Hà được coi
là xứ sở của hát chầu văn, mặc dù ở các vùng khác như Hà Nội, Thanh Hóa, Hải
Phòng, Thái Bình không phải là không có. Điều này tất nhiên cũng có những sở cứ
nhất định. Sự phát triển trội lên của một loại hình âm nhạc cổ truyền ở một địa
phương nào đó so với các vùng khác là bởi một số điều kiện như phong tục tập quán
sinh hoạt của nhân dân hay các điều kiện của lễ hội truyền thống như quy mô của lễ
hội, có nhiều nghệ nhân nổi tiếng và các trào lưu xã hội mang tính địa phương…
Với câu ca “tháng tám giỗ cha, tháng ba giỗ mẹ”, hai địa điểm Đền Trần và
Phủ Giày của Nam Hà đã trở thành những trung tâm lễ hội lớn của tín ngưỡng dân
gian. Hàng năm, các lễ hội ấy thu hút biết bao con nhang đệ tử, đồng cốt cùng du
khách thập phương đến lễ bái, trẩy hội. Dĩ nhiên, đã là lễ hội cổ truyền thì có rất
nhiều hình thức diễn xướng nghệ thuật phục vụ cho giải trí, thưởng thức, cộng cảm
và phục vụ lễ giáo như kéo chữ, cờ người, múa lân, đấu vật…Nhưng ở hai trung tâm
lễ hội lớn Đền Trần và Phủ Giày không thể thiếu vắng một hình thức ca nhạc, diễn
xướng cổ truyền là chầu văn. Nếu xét về chức năng nghệ thuật thì chầu văn đã đáp
ứng nhu cầu thưởng thức, thẩm mĩ của số đông người trẩy hội. Nếu nhìn ở góc độ
tín ngưỡng, tôn giáo thì đó chính là phương tiện giao tiếp giữa dân gian với thần
linh. Đối với thầy cúng và cung văn thì đây chính là dịp để họ hành nghề kiếm sống.
Tuy nhiên những chân đồng, con nhang đệ tử, những thầy cúng và cung văn
đến hành nghề ở hai trung tâm lễ hội này hàng năm không chỉ có những người dân
địa phương mà bao gồm cả những khách thập phương tới hầu thánh và xin lộc.
Ngoài hai trung tâm lễ hội lớn là Đền Trần và Phủ Giày ở Nam Hà còn có
nhiều địa điểm rải rác có hát chầu văn vào các ngày lễ, ngày hội ở nhiều quy mô
khác nhau. Theo lời kể của các nghệ nhân hát chầu văn thì ngoài những hội lớn vào
tháng tám và tháng ba họ đã từng đi hầu bóng ở nhiều nơi khác như đền Lân, đền


18

Gò (Lạng Sơn), đền Dâu, đền Cháo (Tam Điệp, Ninh Bình) hay một số đền, phủ
vùng Lí Nhân, Xuân Thủy, Nam Ninh…Cá biệt có chùa như chùa Keo (Hành Thiện
– Xuân Thủy) thờ vị thành hoàng Không Lộ (tức Nguyễn Minh Không thời Lí) cũng
có chầu văn trong ngày lễ hội cùng với các loại diễn xướng khác như bơi trải, cờ
người…
Tóm lại, chầu văn được lưu truyền trên một địa bàn rộng lớn. Dường như ở đâu
có thờ các ông hoàng, bà chúa nhất là thờ Tam phủ, Tứ phủ thì trong các dịp lễ hội
đều có hát chầu văn.

1.3. CÁC HÌNH THỨC HÁT CHẦU VĂN
1.3.1. Hát chầu văn phục vụ tín ngƣỡng Tứ phủ
Đây được coi là bộ phận quan trọng nhất của nghệ thuật hát chầu văn. Có nhà
nghiên cứu văn hóa dân gian từng cho rằng nghệ thuật hát chầu văn sinh ra là để gắn
bó với các lễ thức của tín ngưỡng Tứ phủ, là nghệ thuật để phục vụ thánh thần. Hát
chầu văn phục vụ tín ngưỡng Tứ phủ cũng được chia làm hai loại hình:

1.3.1.1. Hát nghi lễ hầu Thánh Tứ phủ
Đây là loại hình hát chầu văn sử dụng trong nghi lễ hầu thánh Tứ phủ, hát hầu
thánh thông qua vai trò trung gian của chân đồng. Loại hình này thường được gọi là
hát lên đồng, hát hầu bóng… Đây là hình thức quan trọng nhất trong nghệ thuật hát
chầu văn.
Trong hệ thống các vị thánh thần của tín ngưỡng Tứ phủ có bốn vị vua đều
không giáng đồng còn lại gần sáu mươi vị từ Mẫu tới các thánh mỗi vị đều có những
điệu hát phù hợp cả về nội dung, giai điệu, tiết tấu với cá tính, phong cách, nơi cư
trú, giới tính mà tư duy dân gian hình dung về mỗi vị. Những điệu hát đó cũng sắp
xếp theo tư duy Tứ phủ - tư duy dân gian về cấu trúc hệ thống thánh thần của tín
ngưỡng Tứ phủ.

1.3.1.2. Hát chầu thờ
Hát chầu thờ được coi là một hình thức chầu văn hầu thánh trực tiếp, dâng văn
vọng bái thần điện mà không thông qua vai trò trung gian của người hầu đồng. Hát
chầu thờ thường có mặt trong những ngày khánh tiết quan trọng của tín ngưỡng Tứ


19

phủ. Đó là những ngày tiệc, ngày rằm, mùng một, tất niên, thượng nguyên, tán hạ,
nhập hạ và trước khi lên đồng…Mở đầu hát chầu thờ là hát Văn Công Đồng. Đây là
điệu hát mở đầu cho bất cứ cuộc tế lễ nào của tín ngưỡng Tứ phủ. Trong cuộc lễ,
nếu không có nghi thức hầu bóng cũng vẫn có thể hát Văn Công Đồng. Đây là một
điệu hát có tính tổng hợp nhằm cung thỉnh toàn bộ chư vị thánh thần tới chứng giám
cho buổi lễ. Tiếp sau Văn Công Đồng là hát văn Mẫu, vua cha Bát Hải, thập vị
hoàng tử, Trần Triều…
Ngoài ra trong các cuộc tế lễ tùy theo từng nơi, từng ngày lễ mà cung văn sẽ
hát tiếp bản văn có nội dung ứng với vị thánh bản đền hay vị thánh được thờ trong
ngày tiệc đó. Kết thúc buổi hát chầu thờ cung văn phải dâng bản văn tạ ơn gọi là
Văn Chầu Thủ Đền nhằm bày tỏ lòng tôn kính tới các vị thánh.

1.3.2. Hát văn thi
Trong xã hội Việt Nam từ nửa đầu thế kỉ XX về trước, khi môi trường văn hóa
nghệ thuật cổ truyền dân tộc còn ổn định Hà Nội và Hải Phòng được coi là hai trung
tâm thu hút, quy tụ nhiều nhân tài lão luyện trong nghệ thuật hát chầu văn. Giới
cung văn nhà nghề những nơi ấy thường tổ chức thi hát chầu văn lấy giải.
Thông thường bất cứ một cuộc thi nghề nghiệp nào cũng không nằm ngoài
mục đích kiểm tra, nâng cao trình độ tay nghề và khẳng định vị trí của các cá thể
trong cộng đồng, thi hát chầu văn cũng vậy. Mục đích của hát văn thi là để tạo nên
không khí đua tài tưng bừng, sôi nổi trong các ngày lễ lớn của tín ngưỡng Tứ phủ
đồng thời đây cũng là dịp khẳng định, đánh giá tài năng nhiều mặt của các cung văn
từ đó thúc đẩy khả năng trình diễn của họ ngày một hoàn thiện, tăng cường tính hấp
dẫn của tín ngưỡng. Đây được coi là điểm nhấn quan trọng biểu hiện tính tổ chức
nghề nghiệp ở tầng bậc cao của nghệ thuật hát chầu văn.
Có một quy định bất thành văn trong nghề, cung văn nào tài giỏi thì được "giữ"
nhiều đền. Các vị thủ nhang đồng đền luôn phải chiêu mộ những cung văn tài giỏi
về làm ở bản đền, bởi lẽ "hát hay, đàn ngọt, phách giòn" luôn là một yếu tố quan
trọng để thu hút các chân đồng. Thông thường, các ông đồng, bà đồng sẽ lựa chọn
những đền phủ nào có cung văn nổi tiếng để “bắc ghế” hầu thánh. Mà cung văn


20

muốn nổi tiếng thì phải cố chiếm lấy nhiều giải thi hát văn. Giải thi luôn được coi là
"chứng chỉ" danh giá của các nghệ sĩ. Do vậy, ngày xưa các cuộc thi hát chầu văn
thường được tổ chức hàng năm tại nhiều đền phủ khác nhau. Các thí sinh có thể thi
mỗi năm một lần tại một đền. Bên cạnh đó, có nhiều thí sinh đã được giải ở đền này
rồi lại có thể sang đền khác để thi tiếp. Các cụ kể rằng xưa nếu cung văn không thi
thì rất khó hành nghề, ít được mọi người mời vì ít được biết tới.
Thi hát chầu văn được tổ chức vào dịp tiệc thánh các bản đền hay những dịp có
việc làng.., thường không theo định kỳ thống nhất. Trong đó, có những đền mỗi năm
có thể tổ chức một vài cho đến dăm bảy cuộc thi. Đây thực sự là những cơ hội để
khuyến khích các cung văn khẳng định tài năng của mình. Người thi hỏng sẽ có cơ
hội thi lại, người đoạt giải sẽ có thể khẳng định tiếp vị trí của mình…
Quy chuẩn cuộc thi bắt buộc thí sinh phải vừa đàn nguyệt vừa hát. Nó được coi
là một trong những chuẩn mực của một cung văn có đẳng cấp. Còn việc dóc phách
giữ nhịp thì nhờ người ngoài đảm nhiệm. Các thí sinh có thể nhờ người thân trong
nghề hoặc cũng có khi nhờ một người bạn thi cùng giúp đỡ.
Bên cạnh mục đính cấp "chứng chỉ" hành nghề, cuộc thi hát chầu văn còn có
tác dụng kích thích, thúc đẩy, nâng cao trình độ tay nghề các cung văn, là dịp để họ
học hỏi và gia tăng sự hiểu biết vốn nghề của mình. Nó thể hiện sự cạnh tranh nghề
nghiệp cao mang tính thị trường, quyết định vị thế, ảnh hưởng trực tiếp đến miếng
cơm manh áo của các cung văn.

1.3.3. Những sinh hoạt hát chầu văn ngoài tín ngƣỡng Tứ phủ
1.3.3.1. Hát thờ phục vụ những sinh hoạt tâm linh ngoài tín ngưỡng Tứ
phủ
Thể loại đầu tiên chúng ta phải kể đến trong loại hình này là những bài chầu
văn được dùng để ca ngợi cụ tổ của dòng họ. Thông thường, khi một dòng họ nào đó
trong cộng đồng có nhu cầu, họ mời cung văn đến để soạn một bản văn phù hợp với
điển tích của cụ tổ. Sau đó, người cung văn sẽ phải nắn vần, sắp điệu sao cho phù
hợp để có được một bản văn hoàn chỉnh. Tiếp đó, trong ngày giỗ tổ họ, cung văn sẽ
đến nhà thờ tổ họ dâng bản văn đó dưới hình thức hát thờ. Tất nhiên, hình thức sinh


21

hoạt này thường chỉ diễn ra ở những dòng tộc mà con cháu có đời sống khá giả, đủ
điều kiện vật chất để biện lễ. Bởi lẽ, mỗi bản văn đó trên thực tế đều là một tác
phẩm mới, nằm ngoài hệ thống văn chầu Tứ phủ. Nó thực sự là một đơn đặt hàng
cho những sáng tạo riêng của người cung văn, luôn có sức hấp dẫn khác biệt.
Thể loại tiếp theo là các khúc hát được dùng để ca ngợi đức Thành Hoàng làng.
Trong dịp lễ cúng đình, thường thì người ta tổ chức lễ tế Thành Hoàng trước, sau đó
mới dâng bản văn chầu thờ ca ngợi Đức Ngài.
Hát thờ phục vụ những sinh hoạt tín ngưỡng nằm ngoài tín ngưỡng Tứ phủ tuy
đến nay vẫn còn tồn tại nhưng không phổ biến, nó được ít người biết đến và đang có
nguy cơ bị thất truyền.

1.3.3.2. Hát chầu văn tự do
Đây là một loại hình ca nhạc mang tính sinh hoạt rất phát triển ở vùng Hà Nam
Ninh. Ở đây có nhiều vùng nhân dân tự tập hợp thành những đội hát chầu văn để
đáp ứng nhu cầu văn hóa, tinh thần của nhân dân.
Trên đây là những hình thức sinh hoạt của nghệ thuật hát chầu văn thuở xưa.
Có thể nói, đó là một bức tranh toàn cảnh phản ánh sống động thời kỳ hoàng kim
của một thể loại âm nhạc dân tộc cổ truyền Việt Nam. Tính nghệ thuật, tính phổ
quát, tính kinh điển của hát chầu văn là điều đã được khẳng định trong lịch sử.

1.4. NHỮNG LÀN ĐIỆU TRONG HÁT CHẦU VĂN
Các làn điệu của hát chầu văn được cấu trúc theo kiểu phổ nhạc vào lời thơ.
Nói cách khác, tức là căn cứ vào nội dung của các bài thơ mà hát lên những giai
điệu phù hợp. Mặt khác, mỗi giá văn là một hình thức diễn xướng tương đối hoàn
chỉnh. Sự cấu trúc đó đã hình thành nên ba nhóm làn điệu cơ bản đó là: Những điệu
mở đầu, điệu gốc chính cách và điệu gốc biến cách cụ thể như sau:

1.4.1. Những điệu mở đầu
Đây là những làn điệu mở đầu cho một giá văn. Mỗi giá văn được mở đầu bằng
một làn điệu khác nhau tùy theo nội dung của giá văn đó. Về cơ bản có ba làn điệu
mở đầu là Khải, Kiều Bóng và Bỉ.


22

Nếu là Văn Công Đồng hát chầu thánh thì cung văn hát bốn câu mở đầu gọi là
Khải.
Nếu hát có hầu đồng thì hát mở đầu gọi là Phụ Đồng hoặc Kiều Bóng bằng câu
văn lục bát mang tính thỉnh mời.
Trước khi vào điệu chèo đò hầu Cô Bơ Thoải câu mở đầu gọi là Bỉ hoặc Vỉa.
Mặc dù tên gọi khác nhau nhưng tính chất của các điệu này đều là mở đầu cho
một giá văn.

1.4.2. Điệu gốc chính cách
Sau làn điệu mở đầu là những làn điệu gốc chính cách. Đây được coi là những
làn điệu chính của nghệ thuật hát chầu văn cổ truyền mà cho tới hiện nay giá văn
nào cũng sử dụng. Các điệu gốc chính cách gồm có 9 làn điệu cơ bản là:
-

Điệu Dọc

-

Điệu Xá

-

Điệu Chèo Đò

-

Điệu Cờn

-

Điệu Mưỡu

-

Điệu Thổng

-

Điệu Nhịp Một

-

Điệu Phú

-

Điệu Hát Sai

1.4.3. Những điệu biến cách
Trong nghệ thuật hát chầu văn bên cạnh những điệu gốc chính cách mà giá văn
nào cũng sử dụng, để cho phong phú, trong quá trình diễn xướng các nghệ nhân hát
chầu văn lại ứng tác thêm những làn điệu phụ biến cách hoặc những điệu chỉ dùng
riêng cho giá văn ấy. Sở dĩ gọi là điệu biến cách vì so với điệu gốc chính cách nó có
khác đôi chút nhưng nó vẫn mang âm hưởng, chất liệu từ điệu gốc chính cách mà ra.
Thông thường những làn điệu biến cách có mấy dạng sau:


23

 Mang tên điệu gốc chính cách: Do thay đổi thể thơ từ lục bát sang song thất
lục bát mà có sự mở rộng cả về câu hát lẫn trổ hát. Các nghệ nhân gọi kiểu này là
hát gối hạc. Hát gối hạc có ba làn điệu chính:
- Điệu Dọc hát trên thể song thất lục bát
- Điệu Cờn hát trên thể song thất lục bát
- Điệu Xá hát trên thể thơ song thất lục bát
 Sau tên làn điệu chính cách có thêm tên phụ để nói lên tính chất khác nhau
so với điệu gốc hoặc so chúng với nhau. Các làn điệu này phong phú đa dạng tiêu
biểu là một số làn điệu sau:
- Điệu Cờn Luyện
- Điệu Cờn Xuân
- Điệu Cờn Oán
- Điệu Xá Thượng hát trên văn lục bát và trên văn song thất lục bát
- Điệu Xá Nghệ
- Điệu Xá Nam
- Điệu Phú Chênh
- Điệu Phú Dồn
- Điệu Phú Dựng
 Du nhập các chất liệu ca nhạc dân tộc vào hát chầu văn: Một số làn điệu hát
chầu văn có quy nạp những môtíp âm nhạc của các làn điệu dân ca, chèo, quan họ,
ca trù…Có khi do tính cách của chư vị thánh giáng đồng mà sử dụng dân ca hoặc
ngôn ngữ miền đó. Trong kiểu này ta thường gặp một số làn điệu sau:
- Điệu “Bến Tầm Dương” (mang chất liệu và phong cách của ca trù)
- Điệu “Dù ai phụ ngãi quên công” (mang âm hưởng của chèo)
- Điệu “Chén trà Ô Long” (sử dụng chất liệu Xẩm Xoan)
- Điệu “Nào là lưu thủy đào hoa” (sự biến dạng của điệu Cửu khúc)
- Điệu “Bốn cô múa lượn cánh tiên” (dùng hò và ngữ điệu dân ca Nghệ An
trong văn ông Hoàng Mười)


24

- Điệu “Dầu chi tầu lá che sương” (giai điệu dùng âm hưởng giọng miền
Trung)

1.5. CÁC LOẠI NHẠC CỤ TRONG HÁT CHẦU VĂN
Hát chầu văn là nghệ thuật hát nghi lễ chủ yếu được sử dụng trước bàn thờ
thánh và trong nghi thức lên đồng, hầu bóng. Chính vì vậy nhạc cụ đệm cho hát
chầu văn chẳng những phải làm tôn lên giọng hát của cung văn mà còn phải diễn tấu
những đoạn nhạc không lời phục vụ cho các con đồng khi ngồi hầu bóng và sau khi
thánh nhập thì múa hoặc phụ họa cho lúc ban tài phát lộc.
Nhạc cụ chính sử dụng trong hát chầu văn có đàn Nguyệt và một bộ gõ.
Đàn Nguyệt là nhạc cụ quan trọng nhất trong hát chầu văn. Đây là một loại
nhạc cụ cổ truyền được sử dụng trong cả nước, nó có ngón kĩ thuật để độc tấu cũng
như hòa tấu trong dàn nhạc. Đặc biệt đối với hát chầu văn nó là nhạc cụ độc đáo
mang tính cách đặc trưng. Nếu hát chầu văn mà không có đàn Nguyệt thì không ra
hát chầu văn và hát chầu văn cũng không tìm thấy một loại nhạc cụ nào giúp nó biểu
hiện được tính cách âm nhạc độc đáo bằng đàn Nguyệt.
Người ta gọi là đàn Nguyệt có lẽ do bởi mặt đàn tròn như mặt trăng, nguyệt
trong âm Hán Việt có nghĩa là trăng. Mặt đàn có đường kính 36 – 37cm; dày 6cm;
cần cao 68 – 70cm. Đàn Nguyệt có tám đến mười một phím bằng tre, có khi được
làm bằng gỗ hoặc trên mặt phím gắn một miếng xương nhỏ cho khỏi mòn. Đàn
Nguyệt có hai dây nhưng lại có bốn chiếc trục vặn dây. Sở dĩ có bốn trục vì trước
đây người ta dùng bốn dây tơ chia làm hai cặp. Đến đầu thế kỉ XX người ta chỉ dùng
hai dây cước cho nên còn thừa hai trục văn dây.
Tiếng đàn Nguyệt ở khu thấp thì trầm lắng, ở khu giữa thì ngân vang, ở khu
cao thì tiếng đanh và sáng. Khi đệm cho hát chầu văn thường dùng tiếng đàn ở âm
khu giữa. Những chỗ giãn tấu giữa hai trổ hát hoặc những đoạn nhạc cho
múa…thường mở rộng lên âm khu cao. Tiếng đàn vê giòn, cộng với tiếng phách và
đồng la gây được hiệu quả lôi cuốn, hấp dẫn người nghe.


25

Trong hát chầu văn thì đàn Nguyệt có hai kiểu lên dây là dây lệch và dây bằng.
Dây lệch là hai dây có quan hệ quãng bốn, dây bằng là hai dây có quan hệ quãng
năm (tính từ dây thấp lên).
Bên cạnh đàn Nguyệt còn có một bộ gõ gồm trống ban, phách, thanh la, cảnh:
-Trống ban: trống ban là loại trống sử dụng đệm cho hát chầu văn. Đây là loại
trống nhỏ, có tang bằng gỗ. Mặt da hai bên được căng bằng đinh tre. Trống cao
9,5cm, mặt trống có đường kính 18,3cm, dùi trống phách là hai dài tre dài 25cm một
đầu to, một đầu nhỏ.
-Phách: phách đệm cho hát chầu văn bằng tre già, hai dùi, có đầu mặt, phách
dài 20 – 23cm, mặt rộng hơn 4cm, cao 2,5cm.
-Cảnh: là nhạc cụ bằng đồng có đường kính 13cm, cạnh 10cm, cao 0,9cm. Dùi
cảnh bằng tre dài 26cm có mấu nhỏ.
-Thanh la: được làm bằng đồng có đường kính từ 18,5 – 20cm, co từ 2 – 3cm.
Ngoài ra hát chầu văn còn sử dụng nhiều khạc cụ dân tộc khác như: trống cái,
sáo, đàn thập lục, nhị, kèn tàu, chuông, mõ…

1.6. CẤU TRÚC ÂM NHẠC TRONG HÁT CHẦU VĂN
1.6.1. Phổ thơ
Hát chầu văn là loại hình nghệ thuật ca hát với sự gắn bó mật thiết giữa nhạc
và thơ, giữa thơ và nhạc, nó là một trong những loại hình ca nhạc dân tộc nên cấu
trúc âm nhạc hát chầu văn cũng mang những đặc trưng và có sự giao lưu với các
loại hình ca nhạc dân tộc khác như quan họ, chèo, ca trù…
Tiếng nói của chúng ta đều có năm dấu, sáu âm. Mỗi miền, mỗi vùng lại có
cách phát âm mang một nhữ điệu riêng nên càng thêm phong phú về nhạc điệu. Ông
cha ta đã triệt để khai thác lợi thế này, hình thành phương pháp phổ thơ để tạo nên
giai điệu của các loại hình ca nhạc. Phương pháp này đã trở thành cách làm truyền
thống mang được đặc trưng, đặc điểm, ngữ điệu dân tộc một cách đậm đà, rõ nét.
Làn điệu của hát chầu văn được tạo nên do nghệ thuật phổ thơ. Tuy cũng phổ
thơ như các loại hình ca nhạc khác nhưng phổ thơ của hát chầu văn lại có những nét


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×