Tải bản đầy đủ

Luận Văn Hoạt động của nhà máy Dệt Nam Định trong quá trình đổi mới (1986- 2011)

LỜI CẢM ƠN
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới thầy Bùi Ngọc Thạch và các thầy
cô trong khoa Lịch sử, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 đã tận tình hướng dẫn
tôi nghiên cứu và thực hiện Khóa luận tốt nghiệp này.
Tôi xin chân thành cảm ơn các cán bộ, nhân viên các phòng ban trong
Thư viện tỉnh Nam Định, Thư viện Quốc gia Hà Nội, các Ban lãnh đạo nhà
máy dệt Nam Định, Ban Quản lý các Khu công nghiệp…cùng những người đã
tận tình giúp đỡ và tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt quá trình tìm
hiểu, thu thập tài liệu phục vụ nghiên cứu đề tài khóa luận.
Trong quá trình thực hiện, nghiên cứu đề tài, do thời gian có hạn và
bước đầu làm quen với phương pháp nghiên cứu khoa học, nên tôi không thể
tránh khỏi những hạn chế, thiếu xót rất mong được sự đóng góp ý kiến của
các thầy cô và các bạn.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, tháng 03 năm 2012
Sinh viên

Trần Thị Thúy Vòng

1



LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan bài luận văn này là do tôi tự nghiên cứu và hoàn thành
dưới sự giúp đỡ của các thầy cô giáo trong Khoa Lịch sử Trường Sư phạm Hà
Nội 2
Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về lời cam đoan này
Hà Nội, tháng 03 năm 2012
Sinh viên

Trần Thị Thúy Vòng

2


MỤC LỤC
Mở Đầu
Chƣơng 1: Sự ra đời và hoạt động của nhà máy dệt Nam Định trƣớc năm
1986
1. 1. Sự ra đời của nhà máy dệt Nam Định ............................................
1. 1. 1. Tác động chính sách khai thác thuộc địa lần thứ hai của thực dân
Pháp ................................................................................................................
1. 1. 2. Sự ra đời của nhà máy dệt Nam Định ........................................
1. 2. Nhà máy dệt Nam Định trong thời kì (1930 - 1945) .....................
1. 2. 1. Chế độ áp bức, bóc lột của giới chủ Pháp..................................
1. 2. 2. Tổ chức Đảng Cộng Sản ra đời lãnh đạo phong trào công nhân
nhà máy đấu tranh giành chính quyền ...........................................................
1. 3. Nhà máy dệt Nam Định trong thời kì kháng chiến chống Pháp và
kháng chiến chống Mĩ (1945 - 1975) .............................................................
1. 3. 1. Thời kì kháng chiến chống Pháp (1945 - 1954) .......................
1. 3. 2 . Thời kì kháng chiến chốngMĩ (1954 - 1975) ............................
1. 4. Nhà máy dệt Nam Định trong thời kì xây dựng CNXH từ 1976 1985 ................................................................................................................
1. 4. 1. Thực hiện kế hoạch Nhà nước 5 năm (1976 - 1980) .................
1. 4. 2. Thực hiện kế hoạch Nhà nước 5 năm (1981 - 1985) .................
Chƣơng 2: Hoạt động của nhà máy dệt Nam Định trong thời kỳ đổi mới
(1986 - 2011)
2. 1. Chủ trương đổi mới của nhà máy dệt Nam Định ...........................
2. 1. 1. Đường lối đổi mới của Đảng về công nghiệp dệt ......................
2. 1. 2. Chủ trương đổi mới của nhà máy dệt Nam Định.......................
2. 2. Hoạt động đổi mới toàn diện ở nhà máy dệt Nam Định ................


3


2. 2. 1. Đổi mới cơ cấu tổ chức, quản lý nhà máy .................................
2. 2. 2. Xây dựng đội ngũ cán bộ kỹ thuật và đội ngũ công nhân lành
nghề ................................................................................................................
2. 2. 3. Thay đổi công nghệ sản xuất, lắp đặt lại thiết bị máy móc .......
2. 2. 4. Cải tiến mẫu mã, nâng cao chất lượng sản phẩm, xây dựng
thương hiệu nhà máy ......................................................................................
2. 2. 5. Chú trọng các phục lợi tập thể, chăm lo đời sống cán bộ, công
nhân ................................................................................................................
2. 3. Thành tựu và hạn chế của nhà máy trong thời kỳ đổi mới (1986 2011)...............................................................................................................
2. 3. 1. Thành tựu ...................................................................................
2. 3. 2. Hạn chế.......................................................................................
Chƣơng 3: Đặc điểm và vai trò của nhà máy dệt Nam Định trong thời kỳ
đổi mới
3. 1. Đặc điểm ........................................................................................
3. 1. 1. Nhà máy dệt Nam Định có bề dày lịch sử nhất trong ngành công
nghiệp dệt Việt Nam ......................................................................................
3. 1. 2. Nhà máy có khả năng cạnh tranh trong cơ chế thị trường trong và
ngoài nước ......................................................................................................
3.1.3 Nhà máy dệt Nam Định có truyền thống đấu tranh cách mạng nhất
trong lịch sử ngành dệt Việt Nam ..................................................................
3.1.4. Nhà máy dệt Nam Định là nơi đào tạo nhiều đội ngũ cán bộ cách
mạng trưởng thành từ giai cấp công nhân
3.1.5. Nhà máy dệt Nam Định tiêu biểu cho ngành dệt chuyển đổi từ cơ
chế quan liêu bao cấp sang cơ chế thị trường
3. 2. Vai trò

4


3.2.1. Nhà máy góp phần tích cực đưa nền công nghiệp dệt may Việt
Nam trở thành nền kinh tế mũi nhọn, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế địa phương
và ngành
3.2.2. Nhà máy dệt Nam Định góp phần thúc đẩy kinh tế - xã hội địa
phương và khu vực phát triển
Kết Luận........................................................................................................
Tài Liệu Tham khảo.....................................................................................
Phụ Lục ........................................................................................................

5


MỞ ĐẦU
1.

Lý do chọn đề tài

Nói đến tỉnh Nam Định mọi người hẳn sẽ nhớ tới một tên gọi khác đó là
“Thành phố dệt anh hùng” bởi nơi đây có nhà máy dệt một thời huy hoàng
trong thời kỳ Pháp thuộc.
Nhà máy Sợi Nam Định sau là Liên hợp Dệt, nay là Công ty Dệt Nam
Định ra đời năm 1889, với ý đồ khai thác, bóc lột nhân công rẻ mạt của tư bản
Hoa kiều và Pháp. Những năm đầu thế kỷ XX nhà máy nhanh chóng được mở
rộng, với quy mô sản xuất lớn, số lượng nhân công đông. Nhà máy được xây
dựng lớn nhất Đông Dương và cung cấp một khối lượng lớn sản phẩm cho thị
trường trong và ngoài nước thời Pháp thuộc, nơi đây cùng là nơi nuôi dưỡng
tinh thần cách mạng kiên cường.Thời kỳ công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất
nước, nhà máy cũng đã tiến hành đổi mới cho phù hợp với hoàn cảnh lịch sử
lúc bấy giờ và đã đạt được những thành tựu đáng kể, công nhân Dệt Nam
Định đã không ngừng phấn đấu và trưởng thành, đi đầu trong các phong trào
thi đua xã hội chủ nghĩa, đã từng là điểm sáng của công cuộc cải tiến quản lý
trong công nghiệp, là nơi đào tạo được nhiều anh hùng lao động và cán bộ
lãnh đạo, cán bộ quản lý, cán bộ kỹ thuật cung cấp cho ngành công nghiệp dệt
cả nước. Truyền thống vẻ vang đó cho đến tận bây giờ vẫn được lãnh đạo
công nhân Công ty phát huy.
Đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về nhà máy nhưng chủ yếu tập
trung nghiên cứu sự hình thành và phát triển của nhà máy trước năm
1986.Những công trình nghiên cứu đó chưa phản ánh một cách toàn diện, hệ
thống và nhà máy trong quá trình đổi mới.
Xuất phát từ những ý nghĩa sâu sắc đó và để tì m hiểu rõ hơn về nhà máy
trong thời kỳ đổi mới , tôi đã chọn “Hoạt động của nhà máy dệt Nam Định

6


trong quá trình đổi mới (1986 - 2011)” làm đề tài cho luận văn tốt nghiệp của
mình.
2. Lịch sử vấn đề
Vấn đề “Hoạt động của nhà máy dệt Nam Định trong quá trình đổi mới
(1986 - 2011)” đã được các nhà nghiên cứu, nhà khoa học đề cập tới cụ thể:
- Năm 2000, Ban chấp hành Đảng bộ Công ty dệt Nam Định, Lịch sử
Đảng bộ Công ty dệt Nam Định (1930-1975).
Cuốn lịch sử Đảng bộ này đã đề cập được cụ thể sự ra đời và phát triển của
nhà máy giai đoạn 1930-1975.Nhưng nó lại không tổng quát mang tính liên
man và không đề cập tới được quá trình đổi mới của nhà máy trong thời thời
kỳ đất nước ta tiến hành đổi mới.
- Năm 2004, Ban chấp hành Đảng bộ Công ty dệt Nam Định, Lịch sử
Đảng bộ Công ty dệt Nam Định (1976-2000).
Tài liệu này nói rõ được quá trình đổi mới của nhà máy trên các mặt, thành
tựu mà lãnh đạo, công nhân nhà máy đạt được cũng như những mặt còn yếu
kém.Tuy nhiên các thời kỳ lại không liên tiếp, có sự gián đoạn và không nói
được giai đoạn tiếp từ 2000 đến năm 2011.
- Văn kiện Đại hội đại biểu Đảng tỉnh Nam Định lần thứ XV/44.
Văn kiện này đã đề ra được những giải pháp để nhà máy thoát khỏi khủng
hoảng, khó khăn.Tuy nhiên lại ở dạng tổng quát với những vấn đề chung và
phạm vi rộng.
- Công ty dệt Nam Định: đổi mới toàn diện để phát triển của Hồng
Phối/Dệt may và thời trang - 2005 - số 217/trang 60 - 61.
Tác phẩm này đã đề cập tới việc đổi mới trên tất cả các mặt của nhà máy
để tồn tại, phát triển.Tuy nhiên, nó đã không nêu được thành tựu nổi bật của
nhà máy trong thời kỳ đổi mới và những mặt còn hạn chế.

7


Đây là nguồn tài liệu tham khảo, học tập, kế thừa, trên cơ sở đó hoàn thành
bài luận văn của mình.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3. 1. Mục đích
Dựng lại bức tranh lịch sử một cách đầy đủ, khách quan về “Hoạt động
của nhà máy dệt Nam Định trong quá trình đổi mới (1986 - 2011)”.
Làm rõ những hoạt động của nhà máy dệt trong thời kỳ đổi mới.
Rút ra những đặc điểm và vai trò của nhà máy trong thời kỳ đổi mới.
3. 2. Nhiệm vụ
Sưu tầm, khai thác nguồn tài liệu đáng tin cậy, xây dựng thành một hệ
thống để phục vụ nghiên cứu đề tài.
- Trình bày sự ra đời và hoạt động của nhà máy dệt Nam Định trước
năm 1986.
- Nêu rõ hoạt động của nhà máy dệt Nam Định trong thời kỳ đổi mới
(1986 - 2011), những thuận lợi, hạn chế của nhà máy trong quá trình hoạt
động.
- Rút ra đặc điểm và vai trò của nhà máy trong thời kỳ đổi mới.
4. Nguồn tài liệu và phạm vi nghiên cứu
4. 1. Nguồn tài liệu
Để nghiên cứu đề tài, tôi đã khai thác nguồn tài liệu như sau:
- Tài liệu thông sử như Lịch sử Việt Nam tập I, II, III do nhà xuất bản
Giáo dục xuất bản, là những tài liệu cung cấp cho tôi những kiến thức cơ bản
về quá trình lịch sử dân tộc trải qua các thời cổ trung đại, cận đại, hiện đại, để
phục vụ nghiên cứu đề tài.
- Tài liệu lịch sử địa phương do Đảng bộ tỉnh Nam Định xuất bản, Lịch
sử nhà máy dệt Nam Định do Đảng bộ Công ty dệt Nam Định xuất bản, cung
cấp nguồn tư liệu cụ thể về hoạt động của nhà máy dệt Nam Định.

8


- Tài liệu chuyên sâu là những bài viết của các tác giả đăng tải trên các
Tạp chí chuyên ngành phản ánh về nhà máy dệt Nam Định.
- Tài liệu văn kiện của Đảng bộ địa phương các cấp như: Nghị quyết
Đại hội Đại biểu Đảng bộ tỉnh Nam Định, Nghị quyết Đại hội Đại biểu Đảng
bộ Công ty dệt Nam Định phản ánh chú trọng biện pháp xây dựng phát triển
sản xuất, đẩy mạnh công cuộc đổi mới của tỉnh cũng như của nhà máy.
- Tài liệu mạng Internet.
- Tài liệu điền giã.
4. 2. Phạm vi
Về không gian: nghiên cứu về “ Hoạt động của nhà máy dệt Nam Định
trong quá trình đổi mới” trên địa bàn tỉnh Nam Định.
Về thời gian: Từ 1986 đến 2011.
5.

Phƣơng pháp nghiên cƣ́u

- Dựa trên một số quan điểm cơ bản của Chủ nghĩa Mác – Lênin và tư
tưởng Hồ Chí Minh được vận dụng vào nghiên cứu đề tài.
- Kết hợp phương pháp lịch sử với phương pháp lôgic, trong đó phương
pháp lịch sử là chủ yếu để nghiên cứu đề tài.
- Phương pháp phân tích tổng hợp, phương pháp so sánh, đối chiếu để
xác minh sự kiện.
- Ngoài ra còn sử dụng phương pháp thực địa, điền giã tại nhà máy.
6.

Đóng góp của đề tài

- Nghiên cứu hoạt động của nhà máy trong quá trình đổi mới từ 1986 đến
2011 có những đóng góp cả về mặt lý luận và thực tiễn đó là:
- Dựng lại bức tranh quá trình đổi mới của nhà máy dệt Nam Định từ
1986 đến 2011.

9


- Đánh giá những nét cơ bản về quá trình đổi mới của nhà máy dệt Nam
Định, làm nổi bật đặc điểm, vai trò của nhà máy dệt trong quá trình đổi mới.
- Khai thác được một nguồn tài liệu có giá trị, tập hợp thành một hệ
thống, phục vụ cho công tác nghiên cứu lịch sử địa phương.
7. Kết cấu của đề tài
Ngoài phầ n mở đầu , kết luận , tài liệu tham khảo, phụ lục, khóa luận
được kết cấu thành 3 chương:
Chương 1: Sự ra đời và hoạt động của nhà máy dệt Nam Định trước
năm 1986.
Chương 2: Hoạt động của nhà máy dệt Nam Định trong thời kỳ đổi mới
(1986 - 2011).
Chương 3: Đặc điểm và vai trò của nhà máy dệt Nam Định trong thời kỳ
đổi mới.

10


Chƣơng 1
SỰ RA ĐỜI VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA NHÀ MÁY DỆT NAM ĐỊNH
TRƢỚC NĂM 1986
1.1.SỰ RA ĐỜI CỦA NHÀ MÁY DỆT NAM ĐỊNH
Tỉnh Nam Định nằm ở phía đông nam đồng bằng sông Hồng, nơi có giao
thông thủy bộ đều thuận lợi, đất đai phì nhiêu, màu mỡ có thể trồng lúa và
nhiều cây công nghiệp đáp ứng sự phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh góp
phần cho sự phồn thịnh trong vùng châu thổ sông Hồng.
Từ thời Trần, miền đất Nam Định thuộc lộ Thiên Trường, lộ đứng đầu cả
nước về nguồn sản vật phong phú. Riêng hương Tức Mặc là nơi có hành cung
của Thượng Hoàng được đặc cách thành phủ Thiên Trường, mọi người coi là
“Thành Nam xưa”. Từ đây, những nghề thủ công đã phát triển ngay trên miền
đất này, vừa phục vụ cho triều đình, vừa cung cấp cho nhân dân quanh vùng
và cho quân doanh của triều Trần. Đặc biệt là những người thợ dệt khéo tay,
họ đã làm ra những tấm lụa là, gấm vóc bằng tơ tằm ở địa phương dùng vào
việc may y phục cho Thượng Hoàng và Vua quan cùng những người trong
dòng tộc triều Trần.
Nhà Trần lại cho phép thương nhân nước ngoài được cư trú làm ăn buôn
bán ở nhiều nơi, sự thông thương dễ dàng đã tạo điều kiện cho hàng hóa sản
vật vùng Nam Định vượt ra ngoài địa phương, tạo điều kiện nhiều làng nghề
quanh vùng phát triển.
Làng Phù Long xưa, nơi gần hương Tức Mặc nhất “Dù đi buôn đâu, bán
đâu - Cũng về giữ đất trồng dâu nuôi tằm” đã nổi tiếng là nơi có nghề trồng
dâu, nuôi tằm.
Nhiều làng làm nghề dệt được gọi là làng nghề “vành đai” của Thành
Nam như:làng Qủa Linh (Vụ Bản), làng Thịnh (Mỹ Hưng - Mỹ Lộc), làng

11


Nhân Hậu (Lý Nhân - Hà Nam), làng Báo Đáp(Nam Trực). . . và còn nhiều
làng dệt nơi khác đã có mối quan hệ chặt chẽ với các phường nghề, phố nghề
của “Thành Nam xưa”.
Thành phố Nam Định thời thuộc địa là nơi buôn bán các sản phẩm vải
sợi, tơ lụa nổi tiếng khắp cả nước “vải tơ Nam Định”. . . Tại nơi đây buôn bán
các sản phẩm dệt của địa phương, của tỉnh ngoài và của các nước quanh vùng
như: vải rồng (Văn Giang, Hưng Yên), vải nhuộm của Báo Đáp, Báo Thượng,
Hiệp Luật, Tương Lam (Nam Trực), vải màn và hàng dệt của Qủa Linh, Vân
Cát, Lập Vượng, Bảo Ngũ (Vụ Bản). . . Có cả hàng gấm vóc từ Trung Quốc
qua người Hoa mang sang, hàng vải Ấn Độ tới. Các sản phẩm dệt sợi bông, tơ
lụa đều được buôn bán ở phố Khách (Hoàng Văn Thụ), phố vải màn và đặc
biệt là ở chợ Rồng.
Năm 1883 thực dân Pháp đánh chiếm thành phố Nam Định.Sau khi giải
quyết xong về quân sự, chúng bắt tay vào thực hiện chính sách khai thác
thuộc địa để vơ vét tài nguyên. Qua một thời gian thăm dò nghiên cứu, thực
dân Pháp phát hiện ở Nam Định có những điều kiện thuận lợi. Ngoài những
yếu tố tự nhiên thì ở đây lao động đông, rẻ mạt, lại có nghề thủ công truyền
thống. . . về địa hình chúng coi Thành Nam là trọng điểm khống chế con
đường Hà Nội ra biển Đông bằng sông Hồng và thuận tiện giao lưu với các
tỉnh khác. Nam Định lại là vùng trọng điểm công giáo thế lực mạnh, sẽ có lợi
nếu mở được cảng Nam Định cho người Âu giao thương, cảng Nam Định sẽ
cạnh tranh với cảng Hải Phòng. Nghề dệt ở đây quả thực chiếm hàng đầu
trong số những công nghệ. Các công ty đã đổ xô vào xây dựng các cơ sở sợi,
vải, tơ lụa ở toàn cõi Đông Dương trong đó có Nam Định, do công ty bông
sợi của nhóm A.Đuypơre thành lập, đây là công ty mạnh. Dựa và ưu thế về
kinh tế, uy lực về chính trị, Công ty bông sợi Bắc Kỳ dần dần thâu tóm toàn
bộ việc sản xuất kinh doanh ngành sợi, dệt về mình, cạnh tranh dữ dội với

12


Công ty Bông vải sợi khác ở Đông Dương cũng như trong chính quốc (nước
Pháp).
Tại Nam Định thế kỷ thứ XVII, nhiều lái buôn Trung Quốc đã xâm nhập
vào thị trường Nam Định. Lúc đầu số lái buôn này sống chủ yếu bằng nghề
kinh doanh thuốc bắc và buôn thóc gạo từ Nam Định để đưa về bán tại
Thượng Hải. Bên cạnh những mặt hàng trên, họ còn đặc biệt quan tâm đến
hàng tơ lụa. Năm 1889, một Hoa kiều tên Bá Chí Hội xuất thân từ mại bản
cho các hàng buôn người Pháp, đã lập ra một xưởng kéo sợi theo lối thủ công,
xưởng lúc này chỉ 9 chiếc máy kéo sợi và gần 100 công nhân với diện tích sản
xuất không đáng kể
Năm 1900 Công ty Bông sợi Bắc Kỳ thấy rõ Nam Định có nhiều ưu thế
thuận lợi cho công việc kinh doanh ngành dệt hơn bất kỳ nơi nào khác tại
Đông Dương. Một số lớn tư bản Pháp trong Công ty đứng đầu là A.Đuypơrê
đã hùn vốn với Bá Chí Hội để cùng kinh doanh. Trong quá trình Đuypơrê
dựa vào uy lực chính trị của Pháp và sự hiểu biết thị trường dần dần độc
chiếm quyền quản lý trở thành chủ nhà máy, gạt Bá Chí Hội xuống hàng phụ
thuộc, chúng khôn khéo dùng Bá Chí Hội chuyên giới thiệu bán hàng gần như
một đại lý. Kể từ lúc hợp tác làm ăn từ năm 1900 đến năm 1902, Công ty
Bông sợi Bắc Kỳ đã xây dựng được ban Trị sự tại Nam Định để điều hành
việc sản xuất tại nhà máy Sợi. Hội đồng quản trị lúc ít nhất có 5 ủy viên,
nhiều nhất là 9 ủy viên, thời hạn của các ủy viên là 6 năm. Số nhân viên trực
tiếp điều hành gồm 35 người Pháp và người Âu. Vốn ấn định cho nhà máy
Sợi Nam Định là 5 triệu Phờrăng, được chia làm 4000 cổ phần với giá mỗi cổ
phần là 1250 Phờrăng. Riêng A. Đuypơrê có tới 1570 cổ phần, được coi là
chủ Nhất của nhà máy Sợi Nam Định. Những ủy viên trong hội đồng quản trị
phải có chủ sỡ hữu của 15 cổ phần trở lên. Chủ tịch hội đồng quản trị là Bơ
noa (con rể của Đuypơrê). . .

13


Như vậy là đến trước chiến tranh thế giới thứ nhất, Công ty Bông sợi
Bắc Kỳ đã thâu tóm toàn bộ việc sản xuất kinh doanh dệt, sợi trên toàn cõi
Đông Dương. Do có nhiều thuận lợi, nhà máy sợi Nam Định trở thành cơ sở
hoạt động chủ yếu nhất của Công ty Bông sợi Bắc Kỳ.
Địa điểm của nhà máy sợi Nam Định được xây dựng ở một mặt bằng có
nhiều đầu mối giao thông lớn trong tỉnh như đường quốc lộ 10, 12, 21, 55. . .
Trục đường chính của thành phố đi giữa trung tâm của nhà máy, cách nhà
máy 500 mét về phía Tây là ga xe lửa Bắc - Nam, là tuyến đường chở hàng
hóa, nguyên liệu cho nhà máy, chuyển sản phẩm của nhà máy đến nhưng nơi
tiêu thụ. Cách 200 mét về phía Nam là sông Đào có cảng, đường sông lớn
nhất của tỉnh. Từ bến cảng thành phố, ca nô tàu thủy theo đường sông ra biển
hoặc đi các tỉnh, thành phố ở đồng bằng Bắc Bộ như Thái Bình, Hà Nội, Hải
Phòng. . .
Với phương pháp bóc lột và tích lũy tư bản chủ nghĩa đã mở rộng quy
mô sản xuất nhà máy sợi Nam Định với tốc độ khá nhanh.
- Năm 1900 xây dựng nhà máy sợi “A” và xưởng cơ khí
- Năm 1913 xây dựng nhà dệt A và xưởng tẩy nhuộm
- Năm 1918 xây dựng xưởng Chăn
- Năm 1922 xây dựng xưởng sợi “B”
- Năm 1924 xây dựng xưởng Dệt
- Năm 1927 xây dựng xưởng cán bông
- Năm 1929 xây dựng xưởng dệt “C”
- Năm 1931 xây dựng nhà máy Điện phục vụ nhành Sợi, Dệt (một nhà
máy điện lớn nhất Đông Dương)
- Năm 1937 xây dựng Sợi “C” với 51000 cọc sợi.
Tính đến năm 1940 nhà máy sợi Nam Định đã có 3 xưởng sợi gồm 28
máy với 106036 cọc sợi, 3 xưởng dệt 1400 máy, một xưởng Chăn 49 máy,

14


máy móc thiết bị phần lớn sản xuất tại Pháp, Đức. Ngoài ra bọn chủ còn xây
dựng hệ thống nhà kho lớn để chứa sản phẩm và nhiều biệt thự sang trọng
phục vụ cho việc cai trị và đời sống xa hoa của chúng.
Mục đích phát triển của nhà máy sợi Bắc Kỳ nói chung và nhà máy sợi
Nam Định nói riêng ngoài thu lợi nhuận cao, chúng còn nhằm bổ sung cho
công nghiệp chính quốc, vì sợi sản xuất ở Pháp đưa sang thì chi phí vận
chuyển cao hơn. . . “cho nên dù có đạo luật 1892 của hàng rào thuế quan thì
sợi của Pháp cũng không thể nào cạnh tranh nổi. Trái lại lập ra các nhà máy
sợi ở Việt Nam Pháp có điều kiện tuyển nhân công trong số những người thủ
công phá sản ở các làng nghề lân cận trong đó đa số là phụ nữ và trẻ em có
thể nhận tiền công rẻ mạt” [1,tr.13 ]. Mặt khác sợi sản xuất ra gặp được ngay
một thị trường tiêu thụ sẵn có.
Ở các vùng dệt địa phương, một phần sợi được bán cho các thương nhân
để buôn bán lại.Vào lúc đó các vùng dệt vải “có khoảng 5440050 khung dệt
tay và 3200 dệt máy và khung dệt kim. Việc mở rộng các xưởng dệt còn
nhằm lợi dụng nguồn vật liệu chủ yếu do nhà máy cung cấp để sản xuất vải tại
chỗ, với nguồn nhân công rẻ mạt, chủ nhà máy sợi còn nhằm cạnh tranh trực
tiếp với nghề dệt thủ công của nhân dân địa phương” [1, tr13-14] .
Điều đáng chú ý là: Mặc dù hoạt động của nhà máy sợi ngày càng quan
trọng, song bọn tư bản Pháp không hề nghĩ đến việc phát triển nghề trồng
bông để làm cho nước ta có khả năng tự cung, tự cấp về nguyên liệu cho nghề
kéo sợi. Phần lớn nguyên liệu phải nhập từ nhiều nước như Ấn Độ, Ai Cập,
Mỹ, Tây Phi (thuộc Pháp) Xu Đăng, Brazin, Trung Quốc. . . Mặc khác để giải
quyết mâu thuẫn chính ngay trong mục đích của tư bản Pháp vừa độc chiếm
thị trường sợi, vừa cạnh tranh thắng lợi trên thị trường vải ở Việt Nam, thì
biện pháp hàng đầu mà chúng nghĩ ra là phải hạn chế việc cung cấp sợi, hoặc
sản xuất ra loại vải tốt hơn mà giá trị hạ hơn, để tiêu diệt nghề dệt địa phương

15


thông qua thị trường. Song nếu nghề dệt bị tiêu diệt thì mục đích độc chiếm
thị trường sợi, tức sợi bán ra lại không không thực hiện được, chính vì thế mà
bọn chủ nhà máy Sợi đã chọn biện pháp vừa chung sống, vừa tiêu diệt đối với
nghề dệt vải ở địa phương. Kết quả tình trạng trên là nhu cầu về vải của nhân
dân cũng không được thỏa mãn ở mức thấp.
Bọn chủ Công ty Bông sợi Bắc Kỳ còn đặc biệt quan tâm đến vốn đầu
tư, lấy 25% số lãi hàng năm gộp vào vốn cũ làm vốn mới. Số vốn bỏ ra năm
1925 là 5000000 Phờrăng thì số lãi thu về của năm 1925 gấp 5,5 lần so với số
vốn bỏ ra. Điều đó thể hiện rõ Công ty Bông sợi Bắc Kỳ đã dùng mọi thủ
đoạn để bóc lột triệt để sức lao động của công nhân, đồng thời dùng bông nội
để hạ giá thành và phá thế cạnh tranh của sợi ngoại nhập vào Bắc Kỳ, Công ty
Bông sợi Bắc Kỳ đã để sợi đó tràn ra thị trường, rồi bất thình lình ra lệnh hạ
giá sợi nội 3 đến 10 đồng, làm như thế các nhà nhập sợi ngoại sẽ hoảng lên,
bán hạ giá dẫn đến lỗ vốn nặng, không giám nhập sợi ngoại trong một thời
gian dài.
Về mặt sản lượng từ 1935 đến 1940 trung bình mỗi năm nhà máy sản
xuất trên 20 triệu mét vải, 9 triệu cân sợi, hơn một triệu chiếc chăn và hàng
chục vạn cân bông thấm nước cho ngành y tế, phần lớn những sản phẩm này
được bán rộng rãi trên thị trường trong nước với giá cắt cổ. Ngoài ra một phần
những sản phẩm của nhà máy còn được phục vụ trực tiếp yêu cầu của quân
đội viễn chinh Pháp đang hoạt động ở Đông Dương và bán ra các thuộc địa
khác của Pháp từ Châu Á đến Châu Phi. . .
Sự hình thành và phát triển của khu công nghiệp Dệt Nam Định trong
quá trình thực dân Pháp khai thác thuộc địa đã theo đúng bản chất của nó là
phát triển công nghiệp nhẹ bóc lột nhân công rẻ mạt, thu lãi nhiều. Sự hoạt
động của nhà máy Sợi đã tác động trực tiếp mạnh mẽ đến đời sống kinh tế xã hội không chỉ ở Nam Định mà còn ở một số tỉnh chung quanh như ở Thái

16


Bình, Hưng Yên, Hà Nam, Ninh Bình và làm sản sinh ra một lớp người lao
động mới với phương thức sản xuất mới và mối quan hệ mới.
1.2.

NHÀ MÁY DỆT NAM ĐỊNH TRONG THỜI KỲ 1930 - 1945
1.2.1. Chế độ áp bức, bóc lột của giới chủ Pháp
Ngay từ đầu tuyển mộ công nhân bọn chủ tư bản đã cấu kết chặt chẽ với

chính quyền thực dân, chúng dùng pháp lý để cột chặt người thợ vào guồng
máy sản xuất của chúng, để cho bọn chúng có toàn quyền hành động đối với
người thợ trong một thời gian nhất định, chính quyền thực dân đã ban hành
liên tiếp 3 bản thể lệ về lao động. Chúng bắt người thợ phải có sổ lao động.
Chúng tuyển mộ công nhân với 2 biện pháp cưỡng bức và tình nguyện.Ở nhà
máy Sợi Nam Định bọn chúng dùng phương pháp tình nguyện, nhưng xét đến
cùng là người công nhân không có quyền nào khác là phải bán sức lao động
của mình.
Bọn chủ nhà máy Sợi còn thực hiện thủ đoạn tuyển mộ thợ dư thừa quá
mức nên tuy công nhân có tay nghề, có thẻ và có tên trong danh sách, nhưng
hàng ngày phải chầu trực ở ngoài cổng nhà máy để chờ đợi vào làm thay
những người yếu đau, thai sản, nghỉ việc.
Với thủ đoạn này, bọn chủ đã tạo ra thế chủ động, đảm bảo cho nhà máy
lúc nào cũng có lực lượng lao động dư thừa, chờ đợi ở hè phố, cổng máy mà
không phải trả lương. Thủ đoạn này chúng còn để đối phó với công nhân khi
đình công.
Trong việc quản lý để đảm bảo được chặt chẽ bọn chủ máy Sợi đã dùng
tầng lớp trung gian bản sứ, một phần vì ngôn ngữ bất đồng nhưng chủ yếu
vẫn là bảo đảm siêu lợi nhuận thu được. Đó là tầng lớp cai ký, bọn này là tay
sai đắc lực của bọn chủ, chúng bắt công nhân phải tuân theo những kỷ luật hà
khắc để thúc ép công nhân làm việc nhanh với một cường độ tối đa.

17


Để bóc lột được nhiều, từ năm 1900 đến năm 1924 chủ bắt công nhân
làm việc mỗi ngày từ 14 đến 15 giờ (từ 5 rưỡi sáng đến 8 giờ tối). Năm 1925
do công nhân đấu tranh, chúng hạ xuống 12 giờ và bố trí làm hai ca. Công
nhân phải làm việc liên tục cả ngày không có giờ giải lao.
Để bắt công nhân làm việc thêm giờ, chúng còn dùng những thủ đoạn
gian lận.Trường hợp hai buổi, hai ca sản xuất không liên tục nhau, chúng vặn
đồng hồ nhanh lên khi công nhân vào làm và vặn chậm lại khi công nhân ra
về.
Chúng còn đặt ra những chế độ hết sức vô lý như: Phạt những công nhân
hỏi chuyện nhau, hoặc đi đại tiểu tiện trong giờ làm việc, phạt công nhân có
máy hỏng không rõ nguyên nhân gì. Công nhân làm việc không có giờ nghỉ
ăn cơm, phải vừa làm vừa ăn, nhưng cũng phải ăn giấu, nếu chúng nhìn thấy
cũng bị phạt. . . Mức phạt ít nhất cũng là một ngày công, nhiều thì đến trên
dưới một tháng lương.
Do chạy theo lợi nhuận, nên bọn chủ nhà máy chẳng bao giờ quan tâm
đến điều kiện làm việc, đến sức khỏe và tính mạng của công nhân. Hầu hết
các nhà máy đều lợp tôn, không trần, không có hệ thống hơi, thông gió, mùa
hè nhiệt độ trong xưởng rất cao, nhiều ngày lên trên 400C, công nhân phải đội
nón, mũ đắp khăn ướt lên đầu, nhiều người ngất tại chỗ, nhiều nữ công nhân
bị trụy thai. Máy móc không có thiết bị che chắn nên luôn luôn xảy ra tai nạn
vọt thoi vào đầu vào mặt, dây đai truyền lực quấn người. Một số công nhân có
sáng kiến làm những tấm lưới bằng sợi che chắn vọt thoi, nhưng bọn chủ bắt
tháo đi vì không làm được việc nhanh. . . Do đó tai nạn thường xuyên xảy ra
thê thảm. Ở xưởng Dệt, chị Rịnh vọt thoi mù mắt, chị Chuân tóc bị quấn vào
máy lột cả da đầu và da mặt. Riêng năm 1926 nhà máy Dệt, có anh Hậu và
anh Nhỡ bị dây da quấn vào người, quật ngã chết ngay tại chỗ. Gia đình hai
anh chỉ được trợ cấp 30 đồng, trong khi tên đốc công Đờraye bị ngã gẫy chân

18


chủ nhà máy đã chi tới 2396 đồng để chạy chữa. Điều đó đủ thấy bọn chủ nhà
máy coi mạng sống của người dân bản sứ quá rẻ mạt. Không đầy 5 năm từ
1926 - 1930 theo thống kê của chủ Pháp có tới 417 công nhân bị tai nạn, trong
đó có 8 người chết, 154 người bị cụt chân tay. Sức khỏe của công nhân càng
không được quan tâm. Trong khu vực nhà máy, bọn chủ cũng thành lập một
nhà thương, nhưng chỉ để phục vụ cho bọn tay sai có quyền thế, công nhân
không được bước đến cửa. Đến năm 1927, do áp lực đấu tranh của công nhân
bọn chủ buộc phải xây dựng một trạm phát thuốc nhưng công nhân đến xin
thuốc, dù bệnh nặng thế nào cũng chỉ có vài viên thuốc rẻ tiền.
Trong nhà máy công nhân nữ rất đông, nhưng tuyệt nhiên không có một
chế dộ riêng nào cho phụ nữ. Sợ nghỉ là mất việc, nhiều chị em sắp đẻ cũng
cố phải đi làm, đẻ con nghỉ ít ngày cũng phải đi làm. Chị Khán ở xưởng Dệt
đẻ rơi con trong nhà xí, con chết, mẹ ngất sỉu vì sức yếu (báo “Tin tức” ngày
27 - 9 - 1924 lưu tại Bảo tàng công ty). Bọn chủ máy Sợi còn tìm mọi cách
không thi hành luật lao động chúng biện bạch: Người Việt Nam thích làm
đêm vì mát; phụ nữ không có việc làm sẽ khổ; trẻ em không có việc làm sẽ là
gánh nặng cho gia đình. . .
Chúng còn triệt để lợi dụng sức lao động của phụ nữ và trẻ em là một
chính sách lớn của tư bản Pháp tại nhà máy.Chúng còn nói phụ nữ Việt Nam
cần cù chịu khó, khéo tay, nên nhà máy có tới 70% là phụ nữ và trẻ em, nhiều
em mới 12, 13 tuổi, cá biệt có trường hợp 6 tuổi đã vào nhà máy như Đoàn
Thị Mỹ (tài liệu tại Bảo tàng số 1750).Những công nhân này bị bóc lột dã
man và đem đến cho chúng nhiều lợi nhuận.Chính chủ máy Dệt đã viết thư
gửi Ban trị sự nhà máy Sợi đã nói lên điều này: “Công nhân trẻ em dẫu rằng
chúng còn rất trẻ, hiện nay đã đem đến cho chúng ta nhiều kết quả tốt đẹp, về
phương tiện lương trả thấp lẫn học nghề làm cho chúng ta chỉ trong một thời
[1, tr.23-24].

19


Về thu nhập và mức sống: công nhân nhà máy phải làm việc hết sức
nhưng chỉ được lĩnh đồng lương chết đói, mà cũng chẳng mấy khi được lĩnh
đủ.Có tháng tiền lương bị cúp phạt gần một nửa, lại còn phải chịu một chế độ
thuế khóa nặng nề.
Lương công nhân nhà máy Sợi thời kỳ đầu đến 1924 chỉ được 4 xu một
ngày; năm 1925 là 5 xu; năm 1928 được 6 đến 9 xu.Năm 1930 lương thợ dệt
cao nhất mới được 2 hào 4.Lương phụ nữ và trẻ em chỉ được 1 hào 2 đến 1
hào 4; trong khi đó một công nhân làm lợi cho chúng một ngày là 5 đồng 6
hào. Lương đã thấp song chúng lại luôn trả chậm và trả thiếu.Đối với thợ học
việc phải làm đầu sai không lương trong 3 tháng đầu, sau đó phải đút lót cho
cai ký mới được đứng máy.Nếu dệt vải xấu thì lại tập việc thêm 3 tháng
không lương.
Về ở: đa số công nhân nhà máy Sợi Nam Định sinh sống cùng gia đình.
Ở ngoại thành đến làm việc trong nhà máy phải đi bộ 1 đến 2 giờ không có
đồng hồ nên ngủ ở nhà cũng không yên tâm sợ đến muộn bị phạt. Không ít
người đi làm kíp sáng mà đã đi từ đêm, ra đến cổng nhà máy thấy còn sớm
tìm xó xỉnh để ngủ thêm. Mãi đến năm 1926, chủ nhà máy Sợi mới làm được
một khu nhà tranh tre nứa, lá cho công nhân ở. Đồng thời chúng lập ra một
màng lưới chỉ điểm ngay khu gia đình ngày đem rình rập, dò xét các hoạt
động của công nhân và gia đình họ, làm cho người thợ đã đói khổ lại luôn
luôn thấp thỏm lo âu.
Bên cạch những biện pháp thâm độc, bọn chủ nhà máy Sợi còn dùng
nhiều thủ đoạn mua chuộc, dụ dỗ công nhân. Lúc đầu chúng đặt ra chế độ
khen thưởng, trao tặng “mề đay” của nước Pháp cho những công nhân tích
cực, trung thành với chính quốc. Tuy nhiên, biện pháp này chúng áp dụng rất
hạn chế, mỗi năm chỉ được vài người.

20


Chúng còn lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để mê hoặc và chia rẽ công
nhân, như bố trí người Hoa kiều vào các vị trí có quyền giám sát thợ Việt
Nam, cho thợ theo đạo Thiên chúa giáo có thời giờ nghỉ đi lễ, khuyến khích
họ trung thành với chủ, tố cáo những người có mưu toan chống lại ông chủ. . .
Cho thợ sửa chữa máy và thợ nối gỡ trông coi từng nhóm thợ và có quyền tự
do đánh đập thợ đứng máy. Ngoài ra, chúng còn xây miếu thần linh cho thợ
đến cúng tế, cho tay sai tổ chức tế bái linh đình vào các dịp cầu mát đầu mùa
hạ. . . Khuyến khích công nhân đến dự làm cho họ tin vào số mệnh, trời, phật,
mà lãng quên những tội ác tày trời của chúng. Dần dần công nhân nhà máy
Sợi được một số anh em có trình độ văn hóa giác ngộ, đã hiểu được âm mưu
của bọn chủ, công nhân bàn với nhau: Biến cuộc lễ bái thành một dịp hội họp
bàn cách chống lại chúng. Sau này ở hầu hết các xưởng đều hình thành các
nhóm học võ, múa sư tử, uống nước chè, ăn cơm nắm. . .
Sống trong cảnh nước mất nhà tan, người công nhân nhà máy Sợi Nam
Định từng bước đã thấu hiểu được nỗi nhục của dân tộc mình và của giai cấp
mình.Chính từ thực tế trong cuộc sống thất nghiệp của người làm thuê, ý thức
dân tộc và ý thức giai cấp của công nhân nhà máy đã nảy sinh, hòa quyện vào
nhau ngày càng sâu sắc.Từ những năm 1920 của thế kỷ XX, nhà máy chia hẳn
thành hai trận tuyến: Một bên là bọn tư bản và tay sai đại diện cho các thế lực
phản động; một bên là đội ngũ công nhân bị tước đoạt quyền sống, quyền làm
người. Mâu thuẫn gay gắt giữa thế lực tư bản và đội ngũ công nhân tất yếu
dẫn đến các cuộc đấu tranh quyết liệt một mất, một còn của công nhân chống
lại chúng.Chính tên thống đốc LaMốt (Lamothe) khi viết báo cáo gửi Đuma
cũng đã nói đến điều này như sau:
“Khốn thay huân chương cũng có hai mặt, cũng có mặt trái của nó, sự
phát triển những đô thị lớn. . . Cho ta thấy nảy sinh ra một thứ vô sản ở thành
thị và ngoại ô, thái độ và hành động của đám vô sản này làm cho những

21


người Châu Âu và những giai cấp giàu có bản sứ đều lo sợ một cách nghiêm
trọng và hứu lý” [1, tr.27 ].
1.2.2. Tổ chức Đảng Cộng Sản ra đời lãnh đạo phong trào công
nhân nhà máy đấu tranh giành chính quyền
Sự truyền bá chủ nghĩa Mác - Lênin cùng với phong trào đấu tranh sôi
nổi của giai cấp công nhân đã tạo nên khuynh hướng cộng sản ngày càng rõ
rệt trong những hội viên tiên tiến của tổ chức Việt Nam cách mạng thanh
niên. Nhiều cuộc tranh luận về quan điểm cách mạng vô sản và cách mạng
quốc gia giữa hội viên thanh niên và những người chịu ảnh hưởng cửa Việt
Nam Quốc dân Đảng đã diễn ra sôi nổi. Những cuộc đấu tranh về lý luận này
đã đem lại thắng lợi cho học thuyết cộng sản, học thuyết Mác - Lênin, nhất là
qua các buổi học tập nội bộ, qua sách báo, qua sự truyền đạt của các hội viên
về “vô sản hóa” ở nhà máy. Một số hội viên tiên tiến của tổ chức thanh niên
trong nhà máy đã bắt đầu nhận ra rằng: phải có Đảng Cộng sản lãnh đạo thì
phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân, của quần chúng yêu nước mới
có thể giành thắng lợi nhất định.
Ngày 17 - 6 - 1929, Đông Dương cộng sản Đảng thành lập ở Bắc Kỳ và
ra tuyên ngôn chỉ sau hai ngày (ngày 19 - 6 - 1929) cờ đỏ búa liềm và tuyên
ngôn đã xuất hiện ở Nam Định, các hội viên Việt Nam cách mạng thanh niên
ưu tú ở Nam Định trong đó có hội viên ở nhà máy Sợi được tham gia phân
phát tuyên ngôn. Một số cán bộ do Đông Dương cộng sản Đảng phái về đã
khẩn trương xúc tiến thành lập Đảng trong toàn tỉnh.
Việc xây dựng cơ sở Đảng ở nhà máy Sợi Nam Định được Tỉnh ủy đặc
biệt quan tâm. Đầu tháng 7 - 1929 các chi bộ Việt Nam Cách mạng thanh niên
của nhà máy Sợi khai hội, có cán bộ tỉnh tới dự và thông báo rộng rãi sự kiện
Đông Dương cộng sản Đảng ra đời.

22


Sau buổi khai hội này, một số hội viên nhà máy Sợi có đủ tiêu chuẩn
được tỉnh ủy chọn lọc đưa vào danh sách đối tượng phát triển Đảng trước.
Thực hiện nghị quyết của Trung ương, cuối tháng 6 - 1929, đồng chí
Trần Học Hải về xây dựng công hội ở Nam Định. Đầu tháng 7 - 1929 đồng
chí Hải đã tổ chức hội nghị đại biểu các nhà máy tại làng Mỹ Trọng và quyết
định thành lập Tổng công hội đỏ của tỉnh. Đồng chí Trần Văn Lan lúc đó là
công nhân nhà máy Sợi được bầu làm trưởng ban trị sự Tổng công hội đỏ
Nam Định.
Ngay sau Tổng công hội đỏ Nam Định thành lập xong các cán bộ, hội
viên thành lập ngay việc xây dựng công hội đỏ ở nhà máy Sợi làm cơ sở
thành lập sớm nhất trong tỉnh.
Sau khi chi bộ Đông Dương cộng sản Đảng ra đời tổ chức công hội đỏ
được thành lập, trong nhà máy phong trào đấu tranh của công nhân như có
thêm một luồng sinh khí mới, phát triển mạnh mẽ và rầm rộ. Chỉ tính từ tháng
7 đến tháng 10 năm 1929 ở nhà máy đã nổ ra 4 cuộc đấu tranh liên tiếp dưới
sự lãnh đạo của Đảng và công hội chống lại bọn chủ tư bản.
Ngày 4 - 7 công nhân nề nghỉ việc phản đối tên đốc công đánh thợ.
Ngày 7 - 7 công nhân xưởng Nhuộm bãi công, phản đối đánh đập, đòi
tăng lương.
Ngày 20 - 7 toàn bộ nữ công nhân máy lờ bãi công phản đối đánh đập.
Tháng 10 - 1929, cuộc bãi công của 400 công nhân xưởng Sợi đòi tăng
lương, đòi quyền lợi của phụ nữ khi sinh đẻ.
Trong hoàn cảnh đất nước có 3 tổ chức cộng sản cùng tồn tại hoạt động
thì sự kiện Đảng cộng sản Việt Nam ra đời ngày 3 - 2 - 1930 là bước ngoặt vĩ
đại của cách mạng Việt Nam. Thực hiện chủ trương của Tỉnh ủy Nam Định,
nhà máy chuẩn bị tổ chức một cuộc đấu tranh lớn chào mừng Đảng ra đời
đồng thời để kỷ niệm ngày Quốc tế lao động 1 - 5.

23


Giữa lúc việc chuẩn bị đang tiến hành khẩn trương, tổ chức công nhân
Công hội đỏ ở các xưởng đang tích cực động viên tinh thần công nhân thì một
sự việc bất ngờ xảy ra trong nhà máy làm cho cuộc đấu tranh của hơn 4000
công nhân đã nhất loạt nổi dậy tổng bãi công sớm hơn dự định.
Sự việc xảy ra lúc 10 giờ đêm ngày 25 - 3 - 1930 tại nhà Dệt A, tên đốc
công Rinne đã vô lý đánh anh Phạn Văn Chi và phạt anh 5 hào chỉ vì can
thiệp vào câu chuyện đang tranh cãi của hai người khác. Anh Chi cãi lại, tên
Rinne lấy ngay thanh gỗ quật vào đầu anh, lôi anh đến một cái ao gần đó rồi
đẩy xuống, đồng thời Rinne còn phạt đuổi việc thêm hai công nhân khác.
Trước tình hình đó, đồng chí Thỉnh (tức Tộ) nhà Dệt A đã cử người sang báo
đồng chí Hoàng Công Môn ở nhà Dệt B, đồng chí Môn tiếp tục báo cho đồng
chí Trần Đăng Bái ở Dệt C. Vốn căm thù tên Rinne hung ác, đồng thời đã có
quy ước trước với nhau, các đồng chí đã thổi còi báo động đóng máy. Lập tức
toàn xưởng A đình công ngay tại chỗ. Trước tình hình này đồng chí Trần
Trọng Hợp đã kịp thời báo ngay cho đồng chí Khuất Duy Tiến, Tỉnh ủy viên
và đồng chí Ngô Huy Ngụ trước đã “vô sản hóa” ở nhà máy. Các đồng chí đã
triệu tập đảng viên của chi bộ nhà máy hiện có mặt tới bàn bạc và quyết định:
Lấy hành động đấu tranh của công nhân nhà Dệt A mở đầu cho cuộc đấu
tranh của toàn nhà máy [1, tr.53].
Dưới sự lãnh đạo chặt chẽ, đúng đắn của Tỉnh ủy, quyết tâm cao của
chi bộ Đảng, sau 21 ngày gian khổ đấu tranh với tinh thần đoàn kết không lùi
bước, không khoan nhượng, đội ngũ công nhà nhà máy đã vượt qua khó khăn
thử thách, giành thắng lợi lớn.
Về kinh tế: công nhân được tăng lương 10% được rút nửa giờ làm việc
mỗi ngày để ăn cơm. Cuộc đình công này đã làm cho nhà máy Sợi trong năm
1930 bị lỗ vốn tới 1 triệu 47 nghìn Phờrăng.

24


Về chính trị: đây là cuộc đấu tranh có quy mô lớn nhất, dài ngày và
quyết liệt nhất, khẳng định uy tín lớn của tổ chức Đảng, nâng cao trình độ
giác ngộ, tổ chức tinh thần đấu tranh mạnh mẽ của nhân dân trong tỉnh, không
những thế cuộc bãi công làm trấn động mạnh mẽ dư luận trong nước và cả
nước Pháp.
Hòa chung với cao trào cách mạng của cả nước, đội ngũ công nhân nhà
máy dưới sự lãnh đạo của chi bộ Đảng liên tiếp tổ chức các cuộc đấu tranh
với nhiều hình thức phong phú, buộc bọn chủ tư bản Pháp, cai ký phải hạn
chế những hành động thô bạo với công nhân. Như vậy chỉ trong 9 tháng đầu
năm 1930, công nhân nhà máy đã tiến hành 6 cuộc đấu tranh với chủ nhà máy
và chính quyền thống trị.
Từ năm 1932 - 1936, tình hình thế giới có nhiều chuyển biến tác động
đến tình hình trong nước, vì thế Đảng ta có những chủ trương chuyển hướng
chiến lược đúng đắn và sách lược mềm dẻo đã tạo điều kiện cho phong trào
cách mạng toàn quốc cũng như ở Nam Định phục hồi nhanh chóng và phát
triển lên một cao trào mới.
Lúc này ở Nam Định, một số tổ chức cơ sở quần chúng được gây dựng
lại và tiếp tục hoạt động. Mùa thu năm 1936, chính quyền thuộc địa ở Đông
Dương buộc phải thả hầu hết chính trị phạm. Thành phố Nam Định có hàng
chục đảng viên và quần chúng cách mạng từ nhà tù trở về và tiếp tục hoạt
động cách mạng.
Đến tháng 5 - 1939 cuộc đấu tranh không còn mang tính hợp pháp nữa,
nó chấm dứt thời kỳ đấu tranh đòi dân sinh, dân chủ, chuyển phong trào công
nhân nhà máy sang thời kỳ xây dựng lực lượng, tiến lên cùng toàn khởi nghĩa
giành chính quyền. Từ năm 1936 đến năm 1939, tổ chức đảng của nhà máy đã
lãnh đạo công nhân liên tục tiến hành những cuộc đấu tranh đầy sáng tạo.
Thời kỳ này trong hoàn cảnh bất lợi, chủ nhà máy vô cùng lúng túng, chúng

25


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×