Tải bản đầy đủ

Luận Văn Biến đổi hình thức sở hữu ruộng đất ở miền nam Việt Nam từ 1954 đến 1975

Khóa luận tốt nghiệp

1

MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Việt Nam vốn là một nước nông nghiệp. Nông dân chiếm 90% dân số
và là lực lượng sản xuất cơ bản của cả nước. Do đó, vấn đề nông nghiệp, nông
dân và nông thôn luôn là một trong những vấn đề then chốt của cách mạng
nước ta.
Trong thời kỳ miền Nam đang tiến hành cuộc kháng chiến chống Mỹ
cứu nước, vấn đề ruộng đất, nông thôn luôn được coi là nhiệm vụ trọng tâm,
xuyên suốt của cuộc chiến đấu giữa ta và địch. Suốt 21 năm (1954 - 1975),
dưới sự lãnh đạo của Đảng, nông dân miền Nam đã đứng lên đấu tranh để
giành lại quyền làm chủ ruộng đất, làm chủ nông thôn. Kết quả bước đầu của
phong trào đã làm biến đổi hình thức sở hữu ruộng đất ở vùng nông thôn miền
Nam. Hình thức sở hữu ruộng đất thay đổi không những ảnh hưởng sâu sắc
đến bộ mặt xã hội ở các vùng nông thôn mà còn tạo điều kiện để nông nghiệp,
nông thôn miền Nam đi vào quĩ đạo của nền sản xuất tư bản chủ nghĩa. Đó là
tiền đề căn bản bước đầu cho sự phát triển nông nghiệp miền Nam trong giai
đoạn hiện nay.

Do đó, việc tiến hành nghiên cứu biến đổi hình thức sở hữu ruộng đất ở
miền Nam Việt Nam từ 1954 đến 1975 là một việc làm có ý nghĩa khoa học
và thực tiễn sâu sắc. Trên cơ sở phân tích, đánh giá sự biến đổi của hình thức
sở hữu ruộng đất nhằm khôi phục chân thực lại bức tranh lịch sử kinh tế nông
nghiệp miền Nam trong thời kỳ 1954 - 1975. Từ đó góp phần làm sáng tỏ lịch
sử cuộc kháng chiến chống Mỹ hào hùng của nhân dân miền Nam nói riêng
và dân tộc Việt Nam nói chung. Bên cạnh đó, nghiên cứu đề tài còn để lại
nhiều tư liệu, bài học kinh nghiệm quí báu cho công cuộc xây dựng, phát triển

SV: Nguyễn Thị Ngọc ánh

K34A CN Lịch sử


Khóa luận tốt nghiệp

2

kinh tế nông nghiệp, nông thôn mà Đảng và nhà nước đang tiến hành trong sự
nghiệp đổi mới đất nước hiện nay.
Chính vì lí do đó, em đã quyết định lựa chọn vấn đề: “Biến đổi hình
thức sở hữu ruộng đất ở miền Nam Việt Nam từ 1954 đến 1975” làm đề
tài khóa luận tốt nghiệp của mình.
2. Lịch sử nghiên cứu
Vấn đề ruộng đất cũng như vấn đề hình thái kinh tế - xã hội ở các vùng
nông thôn miền Nam Việt Nam nói chung từ 1954 đến 1975 đã thu hút được
khá nhiều các nhà nghiên cứu khoa học xã hội ở hai miền Nam - Bắc.
Ở miền Nam trước ngày giải phóng đã có một số công trình được biên
soạn như: Trần Lưu Dy với “Xây dựng kinh tế nông thôn Việt Nam” , (Sài
Gòn, 1966), Võ Hòa Khanh với “Kinh tế và xã hội Việt Nam”, (Sài Gòn,
1966). Song phần lớn các công trình này mới chỉ nêu khái quát đặc điểm hình
thái kinh tế - xã hội ở vùng nông thôn miền Nam Việt Nam mà chưa đi sâu
nghiên cứu vấn đề ruộng đất đặc biệt là hình thức sở hữu ruộng đất ở miền
Nam Việt Nam trong những năm 1954 - 1975
Ở miền Bắc, trước năm 1975 cũng có khá nhiều công trình nghiên cứu
về vấn đề ruộng đất ở miền Nam đã được xuất bản: “Vấn đề nông dân miền
Nam” của Nguyễn Phong - Hoàng Linh, (Hà Nội, 1962), Trần Phương với
“Cách mạng ruộng đất ở Việt Nam”, (NXB KHXH, 1968), Nghiên cứu Lịch
sử số 9 (1962). Các công trình nghiên cứu trên đây đã điểm qua tình hình cách
mạng ruộng đất từ sau Cách mạng tháng Tám và đi phân tích, vạch trần bản


chất phản động trong chính sách ruộng đất của Mỹ - Diệm. Tuy nhiên các
công trình trên mới chỉ dừng lại nghiên cứu về vấn đề ruộng đất của miền
Nam trong thời kỳ 1945 - 1954 mà chưa phác họa được bức tranh tổng quát
về vấn đề ruộng đất ở miền Nam trong suốt thời kỳ 1945 - 1975.

SV: Nguyễn Thị Ngọc ánh

K34A CN Lịch sử


Khóa luận tốt nghiệp

3

Sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng các nhà nghiên cứu có nhiều
điều kiện để tiếp tục tìm hiểu vấn đề một cách sâu sắc hơn, số lượng công
trình nghiên cứu về vấn đề ruộng đất miền Nam trong thời kỳ 1954 - 1975
khá nhiều: Cao Văn Lượng với “Chính sách ruộng đất của Mỹ - ngụy” đăng
trên tạp chí Nghiên cứu Lịch sử số 6(1976). Trong bài viết, tác giả đã trình
bày khá chi tiết và đầy đủ về chính sách ruộng đất của địch trong thời kỳ
kháng chiến chống Mỹ, đặc biệt đã nhấn mạnh và phê phán gay gắt chương
trình “Cải cách điền địa” mà Mỹ - ngụy thực hiện qua các thời kỳ. Đáng chú
ý là cuốn “Vấn đề ruộng đất ở Việt Nam” của Lâm Quang Huyên (NXB
KHXH, 2007) đã trình bày có hệ thống các sử liệu về toàn bộ cách mạng
ruộng đất ở hai miền Nam - Bắc trong suốt 30 năm (1954 - 1975), trong đó có
đi sâu vào phần cách mạng ruộng đất ở miền Nam. Tác giả đã phân tích, phê
phán chính sách ruộng đất phản động của chính quyền Mỹ - ngụy và bước đầu
làm rõ phong trào đấu tranh giành ruộng đất của nông dân miền Nam từ 1954
đến 1975.
Những năm gần đây, nhiều cuộc hội thảo, báo cáo có liên quan đến vấn
đề nông nghiệp, nông thôn miền Nam đã được tổ chức, thu hút được sự quan
tâm, tìm hiểu của nhiều nhà nghiên cứu khoa học trong và ngoài nước.
Như vậy, cho đến nay đã có một khối lượng đồ sộ các công trình
nghiên cứu về vấn đề ruộng đất, hình thái kinh tế - xã hội ở vùng nông thôn
miền Nam song vẫn chưa có công trình nào đi sâu nghiên cứu một cách đầy
đủ, kỹ lưỡng về biến đổi của hình thức sở hữu ruộng đất ở miền Nam Việt
Nam từ 1954 đến 1975.
3. Mục đích, nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu sâu sắc biến đổi hình thức sở hữu ruộng đất ở miền
Nam Việt Nam từ 1954 đến 1975; phân tích tác động của biến đổi hình thức
SV: Nguyễn Thị Ngọc ánh

K34A CN Lịch sử


Khóa luận tốt nghiệp

4

sở hữu ruộng đất đến nền kinh tế - xã hội vùng nông thôn miền Nam trong
thời kỳ 1954 - 1975. Trên cơ sở đó, rút ra bài học kinh nghiệm cho công cuộc
phát triển kinh tế nông nghiệp miền Nam trong giai đoạn hiện nay.
3.2. Nhiệm vụng nghiên cứu
Nghiên cứu đề tài “Biến đổi hình thức sở hữu ruộng đất ở miền Nam
Việt Nam từ 1954 đến 1975” nhằm giải quyết những nhiệm vụ:
Thứ nhất: Trên cơ sở phân tích chính sách ruộng đất phản động của Mỹ
- Diệm và chính sách ruộng đất của Đảng ta, cần làm nổi bật được ảnh hưởng
của nó đến sự biến đổi của hình thức sở hữu ruộng đất ở miền Nam Việt Nam
từ 1954 đến 1970
Thứ hai: Phải làm rõ được sự biến đổi của hình thức sở hữu ruộng đất ở
miền Nam trong thời kỳ 1970 - 1975 so với thời kỳ 1954 - 1970.
Thứ ba: Nghiên cứu phải rút ra được tác động, ảnh hưởng của những
biến đổi hình thức sở hữu ruộng đất đến nền kinh tế - xã hội vùng nông thôn
miền Nam Việt Nam từ 1954 đến 1975
3.3. Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi không gian: Khóa luận nghiên cứu về biến đổi hình thức sở
hữu ruộng đất ở miền Nam Việt Nam
- Phạm vi thời gian: Giới hạn từ năm 1954 đến năm 1975
4. Nguồn tƣ liệu và phƣơng pháp nghiên cứu
4.1.Nguồn tư liệu
Để hoàn thành khóa luận, tác giả đã khai thác các nguồn tài liệu sau:
- Nguồn tài liệu thứ nhất: Là các tư liệu gốc gồm các hồ sơ, báo cáo
tổng kết về kinh tế miền Nam trong thời kỳ 1954 - 1975 của Đảng và các phái
đoàn điều tra kinh tế Mỹ, lưu trữ tại Thư viện quốc gia, Viện sử học.
- Nguồn tài liệu thứ hai: Là các văn kiện, nghị quyết của Đảng trong
việc giải quyết vấn đề ruộng đất ở miền Nam Việt Nam từ 1954 đến 1975.

SV: Nguyễn Thị Ngọc ánh

K34A CN Lịch sử


Khóa luận tốt nghiệp

5

- Nguồn tài liệu thứ ba: Là các bài báo, tạp chí nghiên cứu về nông
nghiệp, nông thôn miền Nam trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ cứu nước.
4.2. Phương pháp nghiên cứu
- Vận dụng lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí
Minh làm cơ sở tư tưởng và lý luận để nghiên cứu đề tài.
- Kết hợp giữa phương pháp lịch sử với phương pháp lôgic, trong đó
phương pháp lịch sử là chủ yếu.
- Sử dụng phương pháp thống kê, phương pháp đối chiếu so sánh,
phương pháp niên đại và đồng đại.
5. Đóng góp của đề tài
Cung cấp cái nhìn tương đối toàn diện và khách quan về biến đổi hình
thức sở hữu ruộng đất ở miền Nam Việt Nam từ 1954 đến 1975 và phân tích
tác động của những biến đổi đó đối với kinh tế - xã hội miền Nam. Về mặt ý
nghĩa khoa học lịch sử, khóa luận đã có những đóng góp nhất định:
Khóa luận đã hoàn thành nhiệm vụ khoa học tự đề ra là góp phần khôi
phục chân thực lại lịch sử bức tranh kinh tế nông nghiệp miền Nam trong thời
kỳ 1954 - 1975.
Kết quả nghiên cứu của khóa luận sẽ cung cấp những bài học kinh
nghiệm, tư liệu vào chiến lược phát triển kinh tế nông nghiệp miền Nam trong
giai đoạn hiện nay, góp phần hoàn thiện mục tiêu đưa nông nghiệp miền Nam
phát triển theo hướng hiện đại hóa.
6. Bố cục của khóa luận
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phần phụ lục, phần
nội dung chính của khóa luận gồm hai chương:
Chương 1: Biến đổi hình thức sở hữu ruộng đất ở miền Nam Việt
Nam từ 1954 đến 1970.
Chương 2: Biến đổi hình thức sở hữu ruộng đất ở miền Nam Việt
Nam từ 1970 đến 1975
SV: Nguyễn Thị Ngọc ánh

K34A CN Lịch sử


Khóa luận tốt nghiệp

6

Chƣơng 1
BIẾN ĐỔI HÌNH THỨC SỞ HỮU RUỘNG ĐẤT Ở MIỀN NAM
VIỆT NAM TỪ 1954 ĐẾN 1970
1.1. HÌNH THỨC SỞ HỮU RUỘNG ĐẤT Ở MIỀN NAM VIỆT NAM
TRƢỚC NĂM 1954
Đối với một nước đại đa số dân cư làm nông nghiệp như Việt Nam thì
ruộng đất là một vấn đề có tầm quan trọng đặc biệt. Do nhận thức được điều
đó nên ngay từ những ngày đầu xâm lược Việt Nam, thực dân Pháp đã đề ra
và thực hiện nhiều chính sách khác nhau để khai thác và cướp đoạt nguồn tài
nguyên đất đai giàu tiềm năng. Sự xâm lược của thực dân Pháp đã không xóa
bỏ chế độ phong kiến thối nát mà trái lại còn dựa vào giai cấp địa chủ phong
kiến để thống trị nhân dân ta, làm cho nền kinh tế Việt Nam tuy đã có sự xâm
nhập của những yếu tố tư bản chủ nghĩa nhưng đồng thời vẫn mang nặng tính
chất phong kiến, nhất là ở các vùng nông thôn. Vì thế nhân dân Việt Nam vừa
phải chịu sự bóc lột phong kiến vừa phải chịu sự bóc lột của cả thực dân.
Hiệp ước Patơnốt (1884) đã buộc triều đình Nguyễn phải công nhận
cho thực dân Pháp có quyền sở hữu ruộng đất ở Việt Nam. Quá trình chiếm
đoạt ruộng đất của chúng bắt đầu từ khi còn đang phải chật vật với công cuộc
“bình định”:
Nghị định của tên thống đốc Nam Kỳ tháng 3/1863 quy định: Tịch thu
ruộng đất của những người tham gia các phong trào khởi nghĩa chống Pháp
và của cả những người đi lánh nạn mà trong vòng một tháng mà không chịu
về đầu hàng chúng. Nghị định tháng 11/1878 cho phép bọn chủ đất người Âu
khai khẩn trong 4 năm mà không phải trả một đồng xu thuế nào và chỉ sau 4
năm khi đã trở thành chủ vĩnh viễn của những đất đai đó mới phải trả mỗi ha

SV: Nguyễn Thị Ngọc ánh

K34A CN Lịch sử


Khóa luận tốt nghiệp

7

là 10 Fr. Rõ ràng những nghị định như vậy là cơ sở để bọn thực dân tha hồ
chiếm đoạt ruộng đất của nhân dân ta [13, tr.24 - 25].
Ở Nam Bộ, vai trò của bọn thực dân trong việc tập trung ruộng đất nổi
bật hơn ở bất cứ nơi nào khác trong cả nước. Trước khi đế quốc Pháp xâm
chiếm, ở Nam Bộ cũng đã có những đại điền chủ nhưng số đất đai chưa được
khai thác vẫn còn rất lớn. Những địa chủ ấy chỉ nằm trong mấy tỉnh miền
Đông và miền Trung, nghĩa là trong vùng Tiền Giang. Sau khi đế quốc Pháp
xâm chiếm Việt Nam, ruộng đất mới tập trung mạnh mẽ và mau lẹ nhất là ở
miền Hậu Giang. Đặc biệt trong các tỉnh Rạch Giá, Bạc Liêu, Sóc Trăng, Cần
Thơ và các vùng phì nhiêu của miền Trung. Đất đai của Nam Bộ chủ yếu tập
trung theo các hình thức:
1. Để củng cố, duy trì chế độ xâm lược của chúng, thực dân Pháp buộc
phải dựa vào giai cấp địa chủ đương có thế lực lớn trong xã hội cho bọn này
làm quan lang, hội đồng. Như vậy, thực dân Pháp đã biến một số địa chủ
thành địa chủ quan liêu. Bọn này áp bức, bóc lột nhân dân để tập trung thêm
đất đai. Đồng thời thực dân Pháp cho những tay sai đắc lực của chúng cướp
đất của nông dân khai phá đất mới trở thành những địa chủ. Như vậy, đất đai
tập trung bằng cách hình thành một lớp địa chủ quan liêu, tay sai của Pháp.
2. Mục đích cướp đoạt của đế quốc là mở rộng thị trường tiêu thụ hàng
hóa và độc quyền mua sản vật. Hàng hóa có thâm nhập vào nông thôn làm
phá sản các ngành thủ công tăng thêm nhu cầu của nông dân thì thị trường
mới mở rộng, hàng hóa mới có chỗ tiêu thụ. Các ngành thủ công của nông
dân càng phá sản, nhu cầu càng tăng lên thì nông dân càng thiếu thốn phải
vay mượn cuối cùng phải bán ruộng để trả nợ. Ruộng đất của nông dân càng
tập trung vào địa chủ. Mặt khác với chế độ độc quyền mua nông sản để xuất
cảng, bọn tư bản thương nghiệp cùng với đế quốc, quan lang mua ép giá, lại
thêm những chính sách sưu cao thuế nặng làm cho nông dân càng thiếu thốn.
SV: Nguyễn Thị Ngọc ánh

K34A CN Lịch sử


Khóa luận tốt nghiệp

8

Do đó đất đai của nông dân càng mau tập trung vào địa chủ. Như vậy, bọn tư
bản thương nghiệp độc quyền đã giúp bọn địa chủ mau tập trung thêm đất đai.
Đối với địa chủ, điều then chốt để đảm bảo sản xuất là nhân công. Vì
không thể có được chế độ nông nô như xưa, chúng phải tìm những hình thức
bóc lột để làm cho nông dân trơ trụi, không có một khả năng tự lập, chỉ còn
một cách là bán sức lao động cho chúng. Như vậy, bọn địa chủ càng làm cho
nông dân phụ thuộc vào bọn tư bản thương nghiệp bao nhiêu thì càng đảm
bảo vững chắc có được sức lao động của nông dân bấy nhiêu. Từ đó, bọn địa
chủ lại mở thêm thị trường tiêu thụ cho bọn tư bản thương nghiệp
3. Hình thức đầu tư vào nông nghiệp của tư bản tài chính Pháp đã đẻ ra
mấy trình tự tập trung đất đai rất nhanh chóng như sau:
Bọn chủ ngân hàng dựa vào địa chủ, bắt địa chủ lấy đất đai làm đảm
bảo để vay tiền với lời rất nhẹ. Địa chủ tìm mọi cách cho trung bần nông vay
lại số tiền đó với lời nặng hơn, rồi cứ để cho vốn lời chồng chất lên, đến lúc
nông dân không thể trả được phải gán ruộng cho địa chủ. Hình thức tập trung
đất đai này rất phổ biến.
Một hình thức tập trung khác mạnh mẽ hơn là ngân hàng, địa ốc hùn
vốn với các đại điền chủ để khuyến khích việc mua thêm phân, đào thêm kênh
làm cho năng suất ruộng đất tăng thêm, chi phí về nhân công hạ xuống và giá
lúa tương đối rẻ. Bọn phú nông, tiểu địa chủ và trung tiểu địa chủ nếu không
vay tiền để bồi bổ thêm cho ruộng có khi bị lỗ vốn nên họ buộc phải vay tiền
của ngân hàng. Điều đó cho thấy, ngân hàng, địa ốc đã đầu tư vào nông
nghiệp, lũng đoạn đất đai và các phương tiện sản xuất khác. Trong những năm
lúa bán không chạy, giá lúa hạ, những người ít ruộng, phú nông cả tiểu địa
chủ phải bán ruộng cho bọn đại điền chủ để trả nợ hay bị ngân hàng tịch thu
ruộng đất giao cho bọn địa chủ của chúng. Với hình thức này ruộng đất của
phú nông và trung, tiểu địa chủ đã tập trung vào đại điền chủ và ngân hàng,
địa ốc.
SV: Nguyễn Thị Ngọc ánh

K34A CN Lịch sử


Khóa luận tốt nghiệp

9

Bằng các thủ đoạn trên, thực dân Pháp đã mở rộng phát triển được chế
độ sở hữu lớn về ruộng đất theo kiểu phong kiến ở Nam Kỳ. Quá trình tập
trung ruộng đất vào tay tầng lớp đại địa chủ và hình thành chế độ sở hữu
ruộng đất lớn đồng thời còn gắn liền với quá trình người nông dân Nam Bộ bị
tước đoạt hầu hết ruộng đất, bị bần cùng phá sản một cách nghiêm trọng.
Thực dân Pháp không chỉ cướp trắng đất đai là đồn lính, trại lính thuộc sở hữu
của nhà nước phong kiến mà ngay từ đầu chúng đã tìm đủ mọi hình thức để
chiếm đoạt ruộng đất của nông dân. Vì vậy ruộng đất của nông dân hầu hết
rơi vào tay bọn tay sai “có công” với thực dân Pháp. Nhờ được Pháp cho
không hoặc bán rẻ nên nhiều tay sai của Pháp phút chốc trở thành những địa
chủ có hàng trăm hàng ngàn ha ruộng đất:
Tính đến năm 1930 trong khi ở Bắc Kỳ chỉ có 1060 địa chủ có sở
hữu từ 50 mẫu (18 ha) trở lên, Trung Kỳ có 384 địa chủ sở hữu từ 50 mẫu (25
ha) trở lên thì Nam Kỳ số địa chủ sở hữu từ 50 mẫu (50 ha) trở lên từ 6316
người, trong đó 2449 người sở hữu từ 100 - 500 mẫu và 244 người sở hữu
trên 500 mẫu. Ở một số tỉnh Nam Kỳ người ta thấy xuất hiện những đại địa
chủ người Việt nắm trong tay những điền sản rộng lớn như Huỳnh Thiện Lộc
(Rạch Giá) có 12.000 ha, Trần Trinh Bạch (Bạc Liêu) có 17.000 ha, từ những
năm 1920 có thêm Trương Văn Bền với 18.000 ha, Bùi Quang Chiêu với
15.000 ha. Như vậy tầng lớp đại địa chủ ở Nam Kỳ chỉ chiếm 2,56% số chủ
đất nhưng đã nắm giữ 45% (= 1.035.000 ha) ruộng đất. Còn 71% chủ đất
nhỏ lại chỉ nắm 15% diện tích canh tác. Nếu tính vào thời điểm năm 1930 dân
số Nam Bộ có 4 triệu dân, diện tích canh tác là 2.300.000 ha với 255.000 chủ
đất thì trung bình mỗi chủ đất có 9 ha. Trong khi đó ở Bắc Kỳ cùng thời điểm
này dân số nông thôn có 6,5 triệu người và diện tích canh tác là 1.200.000 ha
với 964.180 chủ sở hữu. Tính bình quân mỗi chủ đất chỉ chiếm 1,2 ha ( bằng
1/7 diện tích sở hữu bình quân của một chủ đất ở Nam Kỳ [10, tr.24].
SV: Nguyễn Thị Ngọc ánh

K34A CN Lịch sử


Khóa luận tốt nghiệp

10

Do ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới (1929 - 1933) nên
từ năm 1930 trở đi sự chiếm đoạt tập trung ruộng đất vào tay bọn địa chủ tư
bản có phần chậm lại và có thể coi là đã dừng lại. Hầu như sự chiếm đoạt này
không có gì thay đổi quan trọng nữa.
“Đến trước Cách mạng tháng 8/1945, nếu ở Đồng bằng Bắc Bộ hơn
một nửa nông hộ có quyền sở hữu ruộng đất thì ở Nam Bộ có tới hơn 60% số
hộ nông dân hoàn toàn không có một tấc đất trong tay. Có nơi tỷ lệ nông dân
hoàn toàn không có ruộng đất còn cao hơn nhiều ví như tỉnh Gia Định, theo
số liệu thống kê của Pháp năm 1937 có 75.574 xuất đinh thì 75% là nông dân
không có ruộng đất” [2, tr.34]. Có thể nói, mức độ tập trung ruộng đất trong
thời kỳ này là rất lớn. Ruộng đất hầu hết tập trung vào tay địa chủ và tư bản
Pháp hình thành chế độ đại sở hữu ruộng đất. Mặc dù chủ nghĩa tư bản đã
sớm xâm nhập vào nông thôn, nông nghiệp miền Nam nhưng phương thức
canh tác trong nông nghiệp vẫn theo kiểu phong kiến, giai cấp địa chủ vẫn sử
dụng hình thức phát canh thu tô là chủ yếu. Chế độ đại sở hữu ruộng đất tuy
đã hình thành nhưng không được đầu tư theo kiểu tư bản chủ nghĩa, những
địa chủ có những địa sản lớn thay vì canh tác với phương pháp khoa học lại
chia nó thành những phần nhỏ để giao cho tá điền lĩnh canh và bóc lột tô tức.
Lối kinh doanh này không đem lại kết quả cao, không cho phép cải thiện kĩ
thuật canh tác, sản phẩm thu được ít, trường hợp một tá điền khai thác 5 ha
chỉ giữ được 1/2 hoa lợi để sinh sống nên họ không có khả năng cải tạo ruộng
đất mặt khác số ruộng đất họ đang trồng trọt cũng không phải thuộc quyền sở
hữu vĩnh viễn của họ nên họ cũng không có ý thức bồi bổ đất đai. Giai cấp địa
chủ người Việt và người Pháp thì chỉ chú ý khai thác bóc lột chứ không coi
trọng đầu tư sản xuất nên ruộng đất ngày càng bị bạc màu, năng suất ngày
càng giảm. Chế độ sưu cao thuế nặng, sự bóc lột hà khắc của địa chủ phong
kiến và tư bản thực dân đã đẩy người nông dân đi vào con đường kiệt quệ.
SV: Nguyễn Thị Ngọc ánh

K34A CN Lịch sử


Khóa luận tốt nghiệp

11

Hình thức đại sở hữu ruộng đất theo kiểu phong kiến đã không phát triển
được tiềm năng đất nông nghiệp. Diện tích đất nông nghiệp ở miền Nam lớn
hơn ở miền Bắc song do lối kinh doanh lạc hậu nên năng suất lúa trong thời kỳ
này không tăng, sản lượng lúa tăng chủ yếu do tăng diện tích trồng cây. Sự phát
triển chế độ đại sở hữu ruộng đất theo kiểu phong kiến ở Nam Kỳ chẳng những
làm cho nền sản xuất nói chung không phát triển lên được mà nó còn đào hố
sâu ngăn cách giữa nông dân và địa chủ, thúc đẩy nông dân vùng dậy đấu tranh
dưới sự lãnh đạo của Đảng để lật đổ ách thống trị của đế quốc thực dân phong
kiến xóa bỏ chế độ đại sở hữu ruộng đất theo kiểu phong kiến.
Cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công đã mở ra kỷ nguyên mới
trong lịch sử dân tộc, kỷ nguyên độc lập tự do và chủ nghĩa xã hội đem lại
một cuộc đổi đời chưa từng có đối với mỗi người dân Việt Nam. Sau khi
giành được chính quyền và ngay từ những năm đầu của cuộc kháng chiến
chống thực dân Pháp xâm lược (1945 - 1954), Đảng ta rất quan tâm đến vấn
đề ruộng đất cho nông dân. Dưới sự chỉ đạo của Đảng, nông dân đã thực hiện
từng bước cải cách dân chủ, thu hẹp dần thế lực kinh tế và chính trị của giai
cấp địa chủ. Ở miền Nam, phong trào kháng Pháp của nhân dân lên rất cao.
Nông dân miền Nam đã nổi dậy đấu tranh chống lại sự thống trị của thực dân
Pháp và bè lũ tay sai, chống lại áp bức của địa chủ phong kiến, thực hiện cải
cách dân chủ từng phần. Trước khí thế đấu tranh của nhân dân, hầu hết trung
và đại địa chủ đã bỏ vào thành phố, ruộng đất của chúng đã về tay nông dân.
Vận dụng chính sách ruộng đất của Đảng, Đảng bộ miền Nam một mặt
tịch thu ruộng đất của thực dân Pháp và Việt gian phản động chia cho dân
nghèo, vận động địa chủ hiến điền và thực hiện giảm tô. Mặt khác, Đảng bộ
cũng chủ trương tạm giao ruộng đất vắng chủ cho nông dân. Những chủ
trương đó được quán triệt và thực hiện trong suốt thời kỳ kháng chiến chống
Pháp (1945 - 1954) và đã đạt được những kết quả to lớn. Tính đến 10/1954 số
SV: Nguyễn Thị Ngọc ánh

K34A CN Lịch sử


Khóa luận tốt nghiệp

12

ruộng đất của thực dân Pháp, Việt gian phản động và ruộng đất vắng chủ đã
được cách mạng cấp và tạm giao cho nông dân khoảng 750.000 ha ruộng đất.
Cùng với việc chia cấp ruộng đất, việc thực hiện giảm tô ở nông thôn miền
Nam có ý nghĩa to lớn về mặt kinh tế, nâng cao đời sống của nông dân tá
điền. Trong những năm (1946 - 1954) mức tô ở nông thôn miền Nam đã giảm
từ 25 đến 50% so với mức tô trước Cách mạng tháng Tám.
Rõ ràng qua chính sách giảm tô, chính sách ruộng đất của chính quyền
cách mạng, hình thức sở hữu ruộng đất theo kiểu phong kiến ở miền Nam đã
bắt đầu quá trình tan rã và sụp đổ. Nông dân được chia cấp và tạm giao ruộng
đất, đời sống được cải thiện. Thành quả về ruộng đất mà nông dân lao động
miền Nam giành được từ Cách mạng tháng Tám đến kháng chiến chống Pháp
thắng lợi mới chỉ là kết quả bước đầu. Tình hình ruộng đất ở miền Nam đã có
sự thay đổi nhưng chế độ đại sở hữu ruộng đất vẫn chưa bị xóa bỏ hẳn, phần
lớn địa chủ mới bỏ chạy vào thành phố chứ chưa bị tiêu diệt. Nông dân được
chia ruộng đất nhưng mới chỉ là tạm giao.
Tuy vậy, thành quả cách mạng ruộng đất từ sau Cách mạng tháng Tám
năm 1945 đã để lại ảnh hưởng sâu sắc đối với nông dân miền Nam, tạo nguồn
sức mạnh vô tận cho cuộc chiến đấu chống Mỹ sau này.
1.2. BIẾN ĐỔI HÌNH THỨC SỞ HỮU RUỘNG ĐẤT Ở MIỀN NAM
VIỆT NAM TỪ 1954 ĐẾN TRƢỚC NĂM 1959
1.2.1. Chính sách ruộng đất của Mỹ - Diệm
Sau hiệp định Giơ-ne-vơ (1954), Việt Nam tạm thời bị chia cắt thành
hai miền với hai chế độ chính trị - xã hội khác biệt nhau: miền Bắc được hoàn
toàn giải phóng tiến lên chủ nghĩa xã hội, miền Nam Việt Nam tạm thời đặt
dưới sự cai trị của chính quyền Việt Nam Cộng Hòa. Ngay từ khi tiến hành
công cuộc “bình định” miền Nam, đế quốc Mỹ đã đưa Ngô Đình Diệm lên
cầm đầu chính quyền Sài Gòn và ráo riết thực hiện âm mưu biến miền Nam
SV: Nguyễn Thị Ngọc ánh

K34A CN Lịch sử


Khóa luận tốt nghiệp

13

Việt Nam thành thuộc địa kiểu mới của chúng. Cả miền Nam bị dìm trong
máu lửa. Trong hàng loạt chính sách phản cách mạng của chính quyền tay sai
Mỹ ở miền Nam thì “Cải cách điền địa” đã được đặt lên hàng “quốc sách” và
được coi là “then chốt của cuộc cách mạng kinh tế ở miền Nam”.
Trong hai năm 1955 - 1956, chính phủ Mỹ đã cử một phái đoàn cố vấn
do W. Latdinxky sang miền Nam Việt Nam giúp chính quyền Sài Gòn soạn
thảo chính sách ruộng đất. Báo “Công luận” Sài Gòn ra ngày 7/7/1969 cho
biết : Từ năm 1955 đến 1960, Mỹ đã viện trợ 12 triệu đôla cho chính quyền
Sài Gòn để thực hiện “Cải cách điền địa” ý đồ của Mỹ thông qua cuộc cải
cách ruộng đất này là nhằm tranh thủ lôi kéo nông dân và tạo ra tầng lớp tư
sản nông thôn kinh doanh theo kiểu Mỹ hơn là duy trì giai cấp địa chủ canh
tác theo lối cổ hủ. Tuy nhiên do ý thức bảo thủ muốn duy trì chế độ địa chủ và
chế độ sở hữu ruộng đất theo kiểu phong kiến ở nông thôn để làm chỗ dựa
mới chính quyền Ngô Đình Diệm đã cho ra đời một chính sách ruộng đất
không đúng với ý đồ của Mỹ.
Chính sách “Cải cách điền địa” của Ngô Đình Diệm được thể hiện trong
ba đạo dụ: Dụ số 2 (8/1/1955), dụ số 7 (5/2/1955), dụ số 57 (22/10/1956). Ngô
Đình Diệm chia cuộc “Cải cách điền địa” ra làm 2 giai đoạn:
Giai đoạn 1 (1955 - 1956): thi hành quy chế tá điền
Giai đoạn 2 từ năm 1956: “tư hữu hóa nông dân”, “tiểu điền chủ hóa tá
điền”
Giai đoạn 1 được đánh dấu bằng hai đạo dụ sau đây:
Dụ số 2 ra ngày 8/1/1955 quy định:
- Lập khế ước tá điền loại A (đối với ruộng thực đang làm)
- Thời hạn khế ước là 5 năm
- Mức tô từ 15 đến 25 %

SV: Nguyễn Thị Ngọc ánh

K34A CN Lịch sử


Khóa luận tốt nghiệp

14

- Bãi bỏ ủy ban điều giải đã được thành lập theo dụ số 20 của Bảo Đại
để thay vào đó bằng “Ủy ban nông vụ” từ tổng, quận đến tỉnh. Do cai tổng,
quận trưởng, tỉnh trưởng làm chủ tịch, có đại diện của địa chủ, nông dân tham
gia để giải quyết các vụ tranh chấp đất đai hướng đến lập khế ước. Theo lời
của sách báo chính quyền Diệm thì nội dung cơ bản của dụ số 2 là “việc lập
khế ước tá điền là để bảo vệ quyền lợi tá điền”
Dụ số 7 ra ngày 5/2/1955 ra đời nhằm hoàn chỉnh việc cướp đoạt ruộng
đất của nông dân trên cơ sở dụ số 2. Nếu như dụ số 2 quy định việc ký khế
ước tá điền với loại ruộng thực đang làm thì dụ số 7 quy định việc ký khế ước
với ruộng bỏ hoang.
Trong vòng một tháng, kể từ khi dụ này được ban hành địa chủ phải
khai báo về việc khai thác ruộng đất không trồng trọt của mình và trực tiếp
cho tá điền mượn ruộng theo khế ước loại B.
Trường hợp vắng mặt hoặc địa chủ cam kết không khai thác lại ruộng
đất sẽ được cấp cho những người di cư, cựu binh hoặc tá điền khai thác trong
thời hạn 3 năm. Người được cấp phải ký khế ước tá điền loại C với hội đồng
hương chính được miễn tô trong năm đầu, năm thứ hai phải đóng 1/2 tô, năm
thứ ba đóng 3/4 tô.
Địa chủ có thể trở lại bất cứ lúc nào để tiếp tục thi hành khế ước.
Ruộng công của làng cũng cho mướn theo khế ước loại C (đối với
ruộng hoang như trường hợp địa chủ vắng mặt)
Giai đoạn hai của cuộc “Cải cách điền địa” tiếp tục được thực hiện
thông qua dụ số 57 ra ngày 22/10/1956:
Dụ số 57 quy định mỗi địa chủ chỉ được giữ lại 100 ha ruộng đất ngoài
ra có thể giữ thêm 15 ha làm ruộng hương hỏa. Trong số 115 ha này địa chủ
có quyền lựa chọn bất cứ thửa ruộng nào tùy ý.

SV: Nguyễn Thị Ngọc ánh

K34A CN Lịch sử


Khóa luận tốt nghiệp

15

Ruộng “truất hữu” được chính phủ Sài Gòn bồi thường theo giá hiện
hành, tiền bồi thường sẽ trả 10% bằng tiền mặt số còn lại trả bằng tín phiếu
với lãi 5% hàng năm trong 12 năm.
Số ruộng “truất hữu” này sẽ đem bán cho những người thiếu ruộng mỗi
hộ không quá 3 ha. Người mua phải trả tiền mua đất trong 6 năm, trong thời
gian ấy ruộng đất vẫn thuộc quyền sở hữu của chính quyền Diệm. Trong vòng
10 năm đất không được cho mướn hay đem bán lại.
Như vậy qua dụ số 57 và hai đạo dụ số 2, số 7 có thể tóm tắt nội dung
“Quốc sách cải cách điền địa” của Diệm trong hai điểm:
1. Xác định bằng pháp lý mối quan hệ giữa địa chủ và tá điền (dụ số 2
và dụ số 7) cụ thể là quy định một loạt mẫu khế ước tá điền cho các trường
hợp mướn ruộng của địa chủ, mướn ruộng công hay mướn ruộng bỏ hoang
trong đó có ấn định mức tô phải nộp.
2. Ấn định một giới hạn vừa phải có lợi cho chế độ sở hữu ruộng đất
của địa chủ, giúp họ bán đi những ruộng đất vượt quá giới hạn đó [3, tr.36].
Thông qua những nét cơ bản trên, ta thấy các đạo dụ mà chính quyền
Mỹ - Diệm đưa ra cũng không hề đi xa hơn các đạo dụ mà Pháp - Bảo Đại đã
từng nêu ra, có chăng chỉ là sự bổ sung và sửa đổi về chi tiết. Xét về bản chất,
cả hai cuộc cải cách điền địa này đều mang tính chất cải lương chủ nghĩa. Đặt
trong hoàn cảnh của miền Nam Việt Nam thời kỳ bấy giờ, nó không những là
một lực lượng kìm hãm sự phát triển của lịch sử mà còn là một bước thụt lùi
trong lịch sử, một thủ đoạn phản cách mạng.
1.2.2. Sự phục hồi quan hệ sở hữu ruộng đất của giai cấp địa chủ
miền Nam Việt Nam từ 1954 đến trƣớc năm 1959
Trong điều kiện lịch sử của miền Nam Việt Nam, nơi đã tiến hành một
bước quan trọng cuộc cách mạng ruộng đất do giai cấp công nhân lãnh đạo từ
sau Cách mạng tháng Tám năm 1945: “Vấn đề nông dân mà nội dung là vấn
SV: Nguyễn Thị Ngọc ánh

K34A CN Lịch sử


Khóa luận tốt nghiệp

16

đề ruộng đất đã được đặt ra và giải quyết theo đường lối cách mạng, giai cấp
địa chủ ở miền Nam căn bản đã bị xóa bỏ, kết cấu giai cấp nông thôn miền
Nam đã thay đổi người nông dân đã thật sự làm chủ ruộng đồng, làm chủ
ruộng đất thì các đạo dụ “Cải cách điền địa” của Diệm thực tế là muốn kéo
lùi bánh xe lịch sử” [13, tr.258]. Núp dưới chiêu bài “khế ước tá điền” Mỹ Diệm nhằm: “ hợp pháp hóa việc tước đoạt ruộng đất của nông dân xóa bỏ
ảnh hưởng của cách mạng trong nông thôn miền Nam, khôi phục lại quyền sở
hữu ruộng đất của giai cấp địa chủ” [9, tr.17].
Các loại ruộng đất mà chính quyền cách mạng đã tạm cấp, tạm giao cho
nông dân nghèo, nay theo dụ số 2 và dụ số 7 của Diệm đều phải lập lại khế
ước tá điền. Mặt khác, trong khi mà mức tô trên phần lớn ruộng đất còn phát
canh đã bị giảm xuống dưới mức 25% hoa lợi, có nhiều trường hợp chỉ còn từ
10 - 15% thì việc áp dụng mức tô của dụ số 2 (15 - 25% hoa lợi) có nghĩa là
chính quyền Diệm đã cho phép tăng tô một cách phổ biến. Như vậy, việc lập
“khế ước tá điền” - giai đoạn 1 của cuộc “Cải cách điền địa” ở miền Nam đã:
“đoạt lại cho giai cấp đại chủ và thực dân trên 65 vạn ha mà chính quyền
cách mạng đã trao cho nông dân, khôi phục lại chế độ tá canh bắt hàng chục
vạn hộ nông dân quay trở lại vị trí tá điền” [13, tr.36].
Cải cách điền địa của Ngô Đình Diệm trong thực tế đã không chia cấp
ruộng đất cho tá điền như cách mạng đã làm, mà tá điền phải mua ruộng đất
với giá qui định. Trong dụ “Cải cách điền địa” thì mỗi năm nông dân phải trả
2000 đồng tương đương 50 giạ lúa. Đây là một điều khó thực hiện được với
nông dân nghèo. Cuối cùng họ lại mất ruộng. Rõ ràng, chính sách ruộng đất
của Diệm không đem lại ruộng đất cho tá điền mà chỉ quy định lại hình thức
tá điền trong giai đoạn mới.
Được chính quyền Diệm che chở, lợi dụng chính sách “Cải cách điền
địa”, những địa chủ chạy vào thành phố trong thời kỳ kháng chiến chống thực
SV: Nguyễn Thị Ngọc ánh

K34A CN Lịch sử


Khóa luận tốt nghiệp

17

dân Pháp (1945 - 1954) nay trở về đòi lại ruộng đất, thu tô mấy năm trước
chúng không thu được. Đất đai nông dân khai phá được cũng bị bọn chúng
cướp mất.
Để thi hành dụ số 2 và dụ số 7, dựa vào bạo lực phản cách mạng, ngụy
quyền Diệm đã buộc nông dân miền Nam phải kí 812.473 khế ước tá điền liên
quan đến 1.469.200 ha bằng 1/2 tổng số diện tích canh tác ở miền Nam.
Thông qua dụ số 2 về “qui chế tá điền” và dụ số 7 về “điều kiện khai thác
ruộng bỏ hoang” núp dưới chiêu bài “giảm nhẹ số phận của người tá điền” và
chiêu bài “đẩy mạnh sản xuất nông nghiệp” chính quyền tay sai Mỹ ở miền
Nam đã làm công việc kiểm kê lại toàn bộ ruộng đất của địa chủ và khôi phục
lại chế độ chiếm hữu ruộng đất của địa chủ về cơ bản như hồi trước Cách
mạng tháng Tám.
Chính sách ruộng đất phản động của chính quyền Diệm bị nông dân
miền Nam phản đối quyết liệt. Phong trào đấu tranh của nông dân chống “quy
chế tá điền”, chống chính sách “đấu giá công điền” và mọi âm mưu cướp
đoạt ruộng đất của chính quyền Diệm đã diễn ra ở khắp nơi. Trước bối cảnh
đó, Mỹ - Diệm đã công bố dụ số 57 để xoa dịu phong trào đấu tranh của nông
dân, tô vẽ chế độ địa chủ được cải tổ lại cho hợp thời trang, đồng thời vẫn duy
trì được giai cấp địa chủ làm cơ sở chính trị - xã hội của chế độ tay sai Mỹ ở
miền Nam.
Nếu dụ số 2 và dụ số 7 có cải vẻ ngoài cải lương chủ nghĩa thì dụ số 57
lại có vẻ như là cách mạng thật sự. Nội dung của nó như người ta công bố là
“hạn chế đại điền sản” ở mức 100 ha và “truất hữu” số diện tích vượt ra
ngoài giới hạn đó? Nhằm mục đích phân chia ruộng đất cho công bằng giúp
các tá điền trở nên tiểu điền chủ, phát triển sản xuất nông nghiệp và hướng
dẫn các địa chủ qua hoạt động kỹ nghệ. Phải chăng bọn chúa đất ở miền Nam
sau khi đã đoạt lại trên nửa triệu ha và tăng tô một cách phổ biến nhờ ở công
SV: Nguyễn Thị Ngọc ánh

K34A CN Lịch sử


Khóa luận tốt nghiệp

18

cuộc “Cải cách điền địa” liền trở thành đối tượng “truất hữu” của chính công
cuộc cải cách ấy?
Theo mức qui định sở hữu ruộng đất của “Cải cách điền địa”, toàn
miền Nam có 2.683 địa chủ nằm trong diện “truất hữu”. Tuy nhiên, sau khi
loại trừ các điền chủ có dưới 100 ha cùng các đồn điền và đất đai trồng cây
công nghiệp ra khỏi diện “truất hữu” thì dụ số 57 chỉ còn động chạm đến
2.035 địa chủ, trong đó có 12 địa chủ ở Trung Bộ với số ruộng bị “truất hữu”
là 430.000 ha. Nếu cộng vào đấy 220.000 ha ruộng lúa của trên 200 địa chủ
Pháp thì tổng số diện tích có thể bị “truất hữu” là 650.000 ha, tương đương
1/3 toàn bộ ruộng đất phát canh ở miền Nam. Trong điều kiện ở Nam Bộ, số
người chiếm hữu một vài chục ha đã lấy địa tô làm nguồn sống chính và ở
Trung Bộ với 5 - 10 ha là có thể trở thành địa chủ thì dụ số 57 đã loại trừ số
địa chủ có dưới 100 ha ra khỏi diện “truất hữu” có nghĩa là vẫn duy trì đại bộ
phận giai cấp địa chủ phong kiến với 2/3 số diện tích họ chiếm và bóc lột tô.
Ngoài ra không phải bất cứ chủ ruộng nào có trên 100 ha cũng đều bị “truất
hữu”. “Luật “truất hữu” của chính quyền Diệm không áp dụng đối với đất
đai trồng cây công nghiệp, cây ăn quả, bãi chăn nuôi, rừng rú và những đất
đai trên đó xây dựng nhà cửa xưởng công nghệ thuộc đồn điền. Nên dụ số 57
đã bỏ qua lại trên 30 vạn ha diện tích đất trồng cây công nghiệp trong đó có
775 đồn điền chiếm 25 vạn ha” [3, tr.38].
Đó là chỉ nói về mặt lý thuyết, trên thực tế việc thực hiện chương trình
“Cải cách điền địa” càng bộc lộ rõ hơn tính chất phản động và nửa vời của
nó: “Trong vòng 4 tháng sau khi ban bố dụ số 57, có 26.000 địa chủ kê khai
là họ sở hữu 1.075.000 ha, bình quân 415 ha/người nhưng mãi tới năm 1970
số ruộng “truất hữu” đem bán cho nông dân chỉ có 298.347 ha, chiếm 28%
diện tích địa chủ đã kê khai từ năm 1956” [5, tr.143].

SV: Nguyễn Thị Ngọc ánh

K34A CN Lịch sử


Khóa luận tốt nghiệp

19

Bản chất phản động của chính sách Mỹ - Diệm đã bị chính báo chí của
Diệm vạch trần: Trên tạp chí “Chấn hưng kinh tế” số ra ngày 12/5/1960 đã
viết: “Tính đến tháng 4/1960 khi Diệm tuyên bố công cuộc “Cải cách điền
địa” đã kết thúc thì tại Nam Bộ 45% diện tích trồng trọt vẫn nằm trong tay
những địa chủ lớn (có từ 50 ha trở lên) gồm 2,5% dân số 42,5% diện tích tập
trung trong tay địa chủ vừa và nhỏ (từ 5 - 50 ha) gồm 11,1% dân số còn lại
12,5% diện tích là của phú nông và nông dân lao động”
Như vậy, chương trình “Cải cách điền địa” của Diệm hoàn toàn không
nhằm vào mục đích đem lại ruộng đất cho nông dân tá điền mà thực chất chỉ
là củng cố tầng lớp địa chủ. Chương trình “Cải cách điền địa” đã cướp lại
80% ruộng đất mà cách mạng đã chia cấp cho nông dân. Đến năm 1959, nông
dân chỉ giữ lại được 20% diện tích trong tổng số gần 75 vạn ha ruộng đất do
cách mạng chia cấp. Chính Bộ quốc phòng Mỹ cũng phải thừa nhận: “Chương
trình “Cải cách điền địa” của Diệm đã không phân chia lại ruộng đất cho
người nghèo mà rút cục chỉ lấy lại những thứ mà Việt Minh đã chia cho họ
rồi trả lại cho địa chủ” [13, tr.42 - 43].
Cùng với việc cướp đoạt ruộng đất của nông dân, địa chủ và ngụy
quyền ở địa phương đã cấu kết với nhau để tăng mạnh tô. Từ đó xóa bỏ thành
quả cách mạng ruộng đất mà nông dân lao động miền Nam đã đấu tranh giành
được trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp, mức tô đã giảm xuống 20 - 25
giạ/ ha đến năm 1959 chúng bắt nông dân phải nộp tô những năm chúng
không thu được. Những chính sách ruộng đất phản động của đế quốc Mỹ và
bè lũ tay sai nhằm cướp đoạt ruộng đất của nông dân và phục hồi giai cấp địa
chủ ở nông thôn, đã xua đuổi hàng triệu nông dân ra khỏi ruộng vườn, làng
mạc của họ.
Tóm lại, chính sách “Cải cách điền địa” phản động của Mỹ - Diệm
trong nửa cuối những năm 50 thông qua các dụ số 2, 7 và 57 đã không đem lại
SV: Nguyễn Thị Ngọc ánh

K34A CN Lịch sử


Khóa luận tốt nghiệp

20

quyền sở hữu ruộng đất cho người nông dân mà trái lại còn làm cho tình hình
sở hữu ruộng đất ở nông thôn miền Nam về cơ bản như thời kỳ trước Cách
mạng tháng Tám. Đó là hình thức sở hữu ruộng đất lớn theo kiểu phong kiến,
giai cấp địa chủ và chế độ tá canh không những không bị tiêu diệt mà còn
được phục hồi, tầng lớp trung nông bị đả kích nặng nề và giảm sút nghiêm
trọng, đại bộ phận trung nông mới hình thành trong thời kỳ kháng chiến
chống Pháp lại trở về vị trí tá điền.
1.3. BIẾN ĐỔI HÌNH THỨC SỞ HỮU RUỘNG ĐẤT Ở MIỀN NAM
VIỆT NAM TỪ 1959 ĐẾN 1970
1.3.1. Chính sách ruộng đất của Đảng ta từ 1959 đến 1970
Chính sách về ruộng đất và tiếp đó là cuộc phản công của Mỹ - Diệm
vào nông thôn, nông dân miền Nam bằng các “quốc sách”: dinh điền, khu trù
mật, ấp chiến lược…càng làm cho vấn đề dân chủ, vấn đề ruộng đất đối với
nông dân trở lên gay gắt hơn bao giờ hết. Trước tình hình đó, Đảng ta đã nhận
thức được rằng không giải quyết vấn đề dân chủ, vấn đề ruộng đất cho nông
dân thì không lôi kéo được nông dân đi với cách mạng, không thực hiện được
chính sách liên minh công - nông, khó tiến hành thắng lợi cuộc kháng chiến
chống Mỹ cứu nước. Do đó khẩu hiệu “độc lập dân tộc”, “người cày có
ruộng” luôn được nêu lên và thực hiện trong suốt cuộc chiến tranh cách mạng
hơn 20 năm ròng.
Ngay từ những ngày đầu khi cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước còn
đang ở thời kỳ gay go nhất, Hội nghị Ban chấp hành trung ương Đảng lần thứ
15 (5/1959) đã vạch rõ nhiệm vụ cơ bản của cách mạng miền Nam là: “Giải
phóng miền Nam thoát khỏi ách thống trị của đế quốc và phong kiến thực
hiện độc lập dân tộc và người cày có ruộng hoàn thành cách mạng dân tộc,
dân chủ ở miền Nam”. Tư tưởng chỉ đạo trên đã trở thành nghị quyết của
Đảng và được chính thức tuyên bố tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III
tháng 9/1960.
SV: Nguyễn Thị Ngọc ánh

K34A CN Lịch sử


Khóa luận tốt nghiệp

21

Quán triệt tinh thần của nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ III (9/1960)
ngay sau khi ra đời, Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam đã
tuyên bố chương trình hành động 10 điểm, trong đó nhiệm vụ cách mạng
ruộng đất được đề ra: “thực hiện giảm tô, tiến tới giải quyết vấn đề ruộng đất
cho nông dân làm cho người cày có ruộng”. Cương lĩnh mặt trận trên đây là
biểu hiện tập trung nguyện vọng của nông dân miền Nam về vấn đề độc lập
dân tộc và vấn đề ruộng đất vì vậy nó được nông dân hưởng ứng nhiệt liệt.
Cuộc đấu tranh của nông dân dưới sự lãnh đạo của mặt trận dân tộc giải
phóng miền Nam Việt Nam ngày càng phát triển theo hướng của một cuộc
cách mạng ruộng đất triệt để.
Tháng 11/1961, để chỉ đạo các địa phương chấp hành đúng đắn chính
sách ruộng đất của Đảng và chương trình hành động của mặt trận, Hội nghị
lần thứ nhất Trung ương Cục miền Nam đã ra nghị quyết thực hiện các vấn đề
ruộng đất. Những nội dung và nhiệm vụ thực hiện giảm tô, cải cách ruộng đất
lần lượt được bổ sung từ Hội nghị lần thứ II đến thứ V của Trung ương Cục.
Về việc giảm tô, Hội nghị Trung ương Cục lần thứ I (1961) quy định:
“Cần mô phỏng theo mức giảm tô cao nhất ở vùng căn cứ du kích hồi cuối
thời kỳ kháng chiến chống Pháp mà lãnh đạo nông dân đấu tranh thực hiện”
Đến Hội nghị Trung ương Cục lần thứ IV (3/1966) việc giảm tô được
quy định cụ thể hơn: “Ruộng đất phát canh thu tô của địa chủ, phú nông đều
thực hiện giảm tô đúng mức qui định. Tô suất tối đa không quá 15 %”
Về vấn đề ruộng đất, các Hội nghị Trung ương Cục miền Nam đã đề ra
những nội dung, hình thức và biện pháp cụ thể đối với từng loại ruộng.
Đối với ruộng đất địa chủ, Hội nghị Trung ương Cục tháng 11/1961
vạch rõ: Ruộng đất của thực dân và địa chủ Việt gian đã cấp cho nông dân hồi
kháng chiến chống Pháp nay kiên quyết đòi lại, khôi phục quyền sở hữu của

SV: Nguyễn Thị Ngọc ánh

K34A CN Lịch sử


Khóa luận tốt nghiệp

22

nông dân trên số ruộng đó, tịch thu ruộng đất của bọn địa chủ gian ác hiện hành
bị nhân dân lên án để chia cho nông dân, có để lại một phần cho vợ con chúng.
Đối với ruộng đất vắng chủ, tạm giao cho nông dân cày cấy và hưởng
hoa lợi. Hội nghị Trung ương Cục lần thứ IV (1966) giải thích rõ thêm:
Ruộng đất của địa chủ vắng mặt đều giao cho nông dân quản lý và sản xuất.
Sau này khi cách mạng thành công sẽ căn cứ vào thái độ chính trị cụ thể của
từng người mà đối xử.
Đối với ruộng đất công, phải đấu tranh giành lại công điền, chia công
điền cho nông dân, ưu tiên cho nông dân không có ruộng và thiếu ruộng.
Đối với ruộng đất của các tôn giáo, Hội nghị Trung ương Cục lần thứ
III (1964) quy định rõ: Bảo đảm quyền sở hữu ruộng đất chính đáng của nhà
thờ và nhà chùa.
Đối với các đồn điền trồng cây công nghiệp, Hội nghị Trung ương Cục
lần thứ IV (1966) nêu rõ: Giải quyết theo nguyên tắc chung là đảm bảo đời
sống của công nhân lao động, tiếp tục chăm bồi cây công nghiệp đã trồng,
khuyến khích chủ đồn điền tiếp tục kinh doanh và quản lý.
Nhờ giải quyết tốt chính sách ruộng đất, thực hiện quyền dân chủ cho
nhân dân, chính quyền cách mạng đã huy động được đông đảo nông dân tham
gia vào phong trào đấu tranh chống lại chính sách phản động của Mĩ - Diệm,
giành lại quyền làm chủ ruộng đất của người nông dân.
1.3.2. Quyền làm chủ ruộng đất của ngƣời nông dân miền Nam từ
1959 đến 1970
Chính sách phản động về ruộng đất và chính sách đàn áp khủng bố hết
sức dã man của chính quyền Ngô Đình Diệm đã làm cho vấn đề dân chủ, vấn
đề ruộng đất đối với nông dân trở nên gay gắt hơn bao giờ hết. Đó là một
trong những nguyên nhân cơ bản làm bùng nổ phong trào “Đồng khởi” trên
toàn miền Nam từ cuối năm 1959 đến năm 1960.
SV: Nguyễn Thị Ngọc ánh

K34A CN Lịch sử


Khóa luận tốt nghiệp

23

Đồng khởi thực chất là: “Phong trào khởi nghĩa của quần chúng nông
dân, một cuộc khởi nghĩa từng phần phát triển từng bước ở nông thôn nhằm
giành lấy chính quyền cơ sở và một lần nữa giành lại quyền lợi ruộng đất về
tay mình”. Phong trào “Đồng khởi” nổ ra đầu tiên ở tỉnh Bến Tre, sau đó làn
sóng khởi nghĩa như nước lũ tràn về và lan ra khắp các tỉnh Nam Bộ, Tây
Nguyên và Trung Trung Bộ. “Tính đến cuối năm 1960 gần 800 xã trong tổng
số 1.296 xã, 3.200 thôn trong tổng số 5.721 thôn toàn Nam Bộ đã giành được
quyền làm chủ ở những mức độ khác nhau trong đó hơn 100 xã hoàn toàn
được giải phóng” [14, tr.103].
Đi đôi với đà tiến công về quân sự và chính trị, từ năm 1959 đến năm
1960 trong cuộc đấu tranh dưới khẩu hiệu “chính quyền và ruộng đất”, nông
dân miền Nam cũng đã giành được quyền lợi rất to lớn. Ruộng đất của địa chủ
phản động bị tịch thu và chia cho nông dân nghèo. Ruộng đất bị cướp đoạt lại
trở về tay nông dân.
Ở Bến Tre từ sau ngày Đồng khởi, 2/3 số dân trong tỉnh khoảng
600.000 người đã thoát khỏi ách kìm kẹp của Mỹ - ngụy và về cơ bản đã
giành lại quyền làm chủ ruộng đất. Qua kết quả điều tra ở một số xã, nông dân
đã làm chủ từ 95 - 100% ruộng đất ở địa phương.
Tại Mỹ Tho, thời Diệm nông dân bị cướp đoạt gần hết ruộng đất nhưng
từ ngày Đồng khởi đến cuối năm 1965, quần chúng đã giành lại được số
ruộng bị cướp và còn mở rộng thêm quyền làm chủ tổng cộng được 126.623
ha tức 77% diện tích ruộng đất trong tỉnh.
Tại các tỉnh Sóc Trăng, Cà Mau, Vĩnh Long…nông dân đã làm chủ từ
70 - 80% ruộng đất trong tỉnh.
Vùng giải phóng ngày càng được mở rộng, việc giải quyết vấn đề ruộng
đất cho nông dân ngày càng được đẩy mạnh. Đến cuối năm 1965 ở miền Tây
Nam Bộ nông dân đã giành quyền làm chủ ruộng đất ở các tỉnh như sau: Trà
SV: Nguyễn Thị Ngọc ánh

K34A CN Lịch sử


Khóa luận tốt nghiệp

24

Vinh: 136.626 ha, Cần Thơ: 109.662 ha, Cà Mau: 131.762 ha, Sóc Trăng:
106.748 ha, Vĩnh Long: 126.813 ha, Rạch Giá: 87.079 ha.
Trong những năm 1965 - 1966, ở miền Nam Trung Bộ, tại các huyện
Hàm Thuận, Lê Hồng Phong, Thuận Phong, Phan Lý thuộc tỉnh Bình Thuận,
cách mạng đã chia cấp 2.688 ha ruộng đất cho 2.165 hộ với 11.857 nhân
khẩu, bao gồm ruộng đất của thực dân Pháp, địa chủ Việt gian, của địa chủ
hiến và công điền. Ở Trung Trung Bộ: trong suốt năm 1965 giải phóng đến
đâu cách mạng đã giải quyết ruộng đất đến đó cho nông dân, các loại ruộng
đất được chia cấp khoảng 60.000 ha, riêng công điền có 26.590 ha.
Có thể nói, từ sau phong trào “Đồng khởi” (1959 - 1960) cách mạng
dân tộc dân chủ ở miền Nam đã giành được những thắng lợi có ý nghĩa quan
trọng, trên 7 triệu nông dân đã giành được quyền làm chủ trên 2 triệu ha
ruộng đất. Đối với số ruộng đất chưa giành được quyền làm chủ, cách mạng
đã hướng dẫn nông dân đấu tranh đòi giảm tô làm cho mức tô trong vùng giải
phóng từ sau “Đồng khởi” đã giảm xuống còn từ 3 - 20% sản lượng, trung
bình là 10%. Có nơi nông dân không còn phải đóng tô cho địa chủ nữa.
Như vậy, gắn liền với quá trình đấu tranh chống đế quốc Mỹ cứu nước
giành độc lập dân tộc, chính quyền cách mạng ở miền Nam đã kịp thời đáp
ứng yêu cầu ruộng đất cho nông dân, thực hiện khẩu hiệu “giải phóng đến
đâu chia ruộng đến đó”. Do giải quyết đúng đắn vấn đề dân tộc dân chủ, gắn
mục tiêu đấu tranh chống Mỹ và chính quyền tay sai với mục tiêu giành
quyền làm chủ ruộng đất, xã ấp Đảng ta đã huy động được hàng triệu nông
dân vùng lên khởi nghĩa từng phần, phá bỏ từng mảng hệ thống cai trị của
địch ở cơ sở. Dư luận phương Tây cũng phải thừa nhận rằng: “Việt cộng đã
thắng lợi vì họ đã mang lại cho nông dân những cái mà nông dân mong
muốn, nhất là ruộng đất…Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam
đã có chương trình rõ ràng để giải quyết vấn đề ruộng đất ở miền Nam đã và
SV: Nguyễn Thị Ngọc ánh

K34A CN Lịch sử


Khóa luận tốt nghiệp

25

đang thực hiện chương trình đó bằng cách đem lại hàng triệu ha ruộng đất
cho nông dân ở các vùng giải phóng [14, tr.104].
Từ năm 1965, đế quốc Mỹ đã đưa quân trực tiếp xâm lược miền Nam
Việt Nam và gây ra cuộc “Chiến tranh cục bộ”. Song cuộc đấu tranh vì mục
tiêu ruộng đất của nông dân vẫn tiếp tục diễn ra mạnh mẽ chủ yếu là để bảo
vệ thành quả đã đạt được trong những năm trước đó.
Nhìn chung, phong trào đấu tranh giành quyền làm chủ ruộng đất của
nông dân miền Nam từ 1959 đến 1970 đã làm cho nông thôn miền Nam có
nhiều biến đổi, nhất là về hình thức sở hữu ruộng đất: “Chế độ đại sở hữu
ruộng đất phong kiến tiến gần đến sự diệt vong và chế độ sở hữu nhỏ về
ruộng đất của người nông dân đang dần khẳng định sự tồn tại của mình”
[7, tr.98 - 99].
1.4. TÁC ĐỘNG CỦA NHỮNG BIẾN ĐỔI HÌNH THỨC SỞ HỮU
RUỘNG ĐẤT ĐẾN NỀN KINH TẾ NÔNG NGHIỆP VÀ XÃ HỘI
NÔNG THÔN MIỀN NAM VIỆT NAM TỪ 1954 ĐẾN 1970
1.4.1. Tác động của những biến đổi hình thức sở hữu ruộng đất đến
nền kinh tế nông nghiệp miền Nam Việt Nam từ 1954 đến 1970
 Sở hữu ruộng đất của giai cấp địa chủ và phương thức bóc lột địa tô
phong kiến từng bước bị xóa bỏ trong vùng giải phóng. Ruộng đất
trở về tay người nông dân lao động.
Do chính sách phản động của chính quyền Mỹ - Diệm đã đi ngược lại
xu thế phát triển của lịch sử. Nó không đem lại quyền lợi cho nông dân lao
động mà lại khôi phục quyền lợi của giai cấp địa chủ cùng với lối kinh doanh
ruộng đất lạc hậu. Chính vì thế, nông dân miền Nam dưới sự lãnh đạo của
Đảng đã vùng dậy đấu tranh giành lấy quyền làm chủ ruộng đất và thu được
thắng lợi to lớn: Giai cấp địa chủ cùng lối kinh doanh ruộng đất theo kiểu

SV: Nguyễn Thị Ngọc ánh

K34A CN Lịch sử


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×