Tải bản đầy đủ

THỰC TRẠNG VÀ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ CÔNG TÁC GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP, KHIẾU NẠI, TỐ CÁO VỀ ĐẤT ĐAI

i

THỰC TRẠNG VÀ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP
NÂNG CAO HIỆU QUẢ CÔNG TÁC GIẢI QUYẾT
TRANH CHẤP, KHIẾU NẠI, TỐ CÁO
VỀ ĐẤT ĐAI TẠI …..


ii

LỜI CAM ĐOAN


iii
LỜI CÁM ƠN

Trong thời gian thực hiện đề tài này, tôi đã nhận được sự quan tâm giúp đỡ quý
báu của các thầy cô giáo .... .... , Trường .... .... . Đặc biệt là thầy giáo,.... .... đã tận tình
chỉ bảo, giúp đỡ tôi hoàn thành được luận văn của mình.
Tôi xin ghi nhận và chân thành cám ơn sự giúp đỡ của các thầy, các cô.
Nhân đây, tôi cũng xin gửi lời cảm ơn tới các cán bộ, công chức của Văn phòng

Uỷ ban nhân dân tỉnh, Thanh tra tỉnh, Sở Tài nguyên và Môi trường cũng như các
đồng chí cán bộ, công chức của Thanh tra, Phòng Tài nguyên và Môi trường các
huyện, thành phố trên địa bàn .... .... đã tận tình giúp đỡ tôi trong quá trình thu thập
thông tin, số liệu.


iv
MỤC LỤC

MỤC LỤC..........................................................................................................iv
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT...............................................................iv
DANH MỤC CÁC BẢNG..................................................................................v
DANH MỤC CÁC HÌNH.................................................................................vi
3.1.1.2. Thực trạng phát triển kinh tế - xã hội...............................................31

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Chữ viết tắt

Cụm từ được viết tắt

ĐGHC

Địa giới hành chính

GPMB:

Giải phóng mặt bằng

HĐND

Hội đồng nhân dân

HCNN:

Hành chính nhà nước

KNTC:

Khiếu nại, tố cáo


QSDĐ:

Quyền sử dụng đất

QPPL:

Quy phạm pháp luật

UBND:

Uỷ ban nhân dân


v
DANH MỤC CÁC BẢNG

MỤC LỤC..........................................................................................................iv
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT...............................................................iv
DANH MỤC CÁC BẢNG..................................................................................v
DANH MỤC CÁC HÌNH.................................................................................vi
3.1.1.2. Thực trạng phát triển kinh tế - xã hội...............................................31


vi

DANH MỤC CÁC HÌNH

MỤC LỤC..........................................................................................................iv
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT...............................................................iv
DANH MỤC CÁC BẢNG..................................................................................v
DANH MỤC CÁC HÌNH.................................................................................vi
3.1.1.2. Thực trạng phát triển kinh tế - xã hội...............................................31


1
MỞ ĐẦU
1. Đặt vấn đề
Trong bất kỳ một xã hội nào, khi có các đối tượng quản lý, sử dụng đất khác
nhau cùng tồn tại và phát triển thì việc nảy sinh mâu thuẫn là một tất yếu khách quan.
Nguyên nhân của những mâu thuẫn đó, chủ yếu là do lợi ích chưa hài hòa hoặc do chủ
thể chưa đồng thuận trong quá trình thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình và những
người có liên quan. Từ những mâu thuẫn đó, xã hội chứng kiến hiện tượng tranh chấp,
khiếu nại, tố cáo trong lĩnh vực đất đai. Đòi hỏi các cơ quan công quyền của Nhà nước
phải xây dựng chế tài và công cụ để giải quyết.
Đối với nước ta hiện nay, khi đã hội nhập sâu vào nền kinh tế thị trường định
hướng xã hội chủ nghĩa, Nhà nước thực hiện cơ chế đất có giá thì tranh chấp đất đai,
khiếu nại, tố cáo có liên quan đến đất đai đang có xu hướng ngày càng tăng.
Nhiều nơi trong cả nước, tình hình tranh chấp, khiếu nại, tố cáo của công dân
trong lĩnh vực đất đai diễn ra gay gắt, phức tạp. Số lượng đơn vượt cấp gửi đến các cơ
quan ở Trung ương nhiều, nội dung thể hiện tính bức xúc gay gắt, không chấp nhận
với cách giải quyết của chính quyền địa phương. Số lượng công dân đến khiếu nại trực
tiếp tại phòng tiếp công dân của các địa phương, các cơ quan ở Trung ương hàng năm
cao. Một số vụ việc công dân tụ tập thành đoàn, đi xe, căng cờ, biểu ngữ… kéo đến
các cơ quan chính quyền, Đảng,… nhằm gây áp lực đòi được giải quyết quyền lợi theo
yêu cầu mà báo chí phản ánh. Số lượng công dân tập trung đông chủ yếu ở các kỳ họp
Hội đồng nhân dân, Quốc hội, Đại hội đảng, có nơi các đối tượng còn huy động cả phụ
nữ, người già, trẻ em bao vây trụ sở chính quyền xã, huyện, tỉnh, doanh nghiệp gây
ảnh hưởng đến an ninh trật tự và an toàn xã hội.
Về nội dung các vụ việc khiếu nại, tập trung chủ yếu các vụ liên quan đến việc
Nhà nước thu hồi đất để thực hiện các dự án phát triển kinh tế – xã hội, như đòi được
bồi thường đất ở, nâng giá bồi thường, tăng tiền hỗ trợ, bố trí tái định cư, giải quyết
việc làm; đòi lại đất cũ, nhà ở, tranh chấp ranh giới sử dụng đất, đòi quyền thừa kế đất
đai và tài sản gắn liền với đất, tranh chấp địa giới hành chính. Ngoài ra, có một số
khiếu nại liên quan đến việc thực hiện các thủ tục hành chính, về thái độ phục vụ của
cán bộ, công chức, viên chức hoặc thậm chí cả quyết định giải quyết khiếu nại của cơ
quan hành chính nhà nước có thẩm quyền mà người dân không thoả mãn…
Về nội dung tố cáo, chủ yếu là tố cáo cán bộ, công chức làm sai chính sách, tiêu
cực, tham nhũng trong quản lý đất đai; thiếu trách nhiệm trong việc giải quyết khiếu
nại, bao che người bị tố cáo, không xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm pháp luật.
Theo thống kê của Bộ Tài nguyên và Môi trường, hàng năm Bộ nhận được gần
10.000 lượt đơn tranh chấp, khiếu nại, tố cáo thuộc lĩnh vực tài nguyên và môi trường


2
của công dân 63/63 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, trong đó đơn thuộc lĩnh
vực đất đai chiếm 98,6% tổng số đơn mà Bộ nhận được. Các địa phương có nhiều đơn
gửi đến Bộ Tài nguyên và Môi trường là thành phố Hồ Chí Minh, An Giang, Cần Thơ,
Bình Dương, Bà Rịa – Vũng Tàu, Long An, Đồng Tháp, Bến Tre, Bình Thuận, Đồng
Nai, Kiên Giang và Tây Ninh (bình quân mỗi địa phương có gần 500 lượt đơn
thư/năm) [7].
Một số vụ việc đặc biệt nghiêm trọng đã xảy ra, nổi lên trong số đó là vụ chính
quyền cưỡng chế đầm nuôi tôm ông Đoàn Văn Vương ở Tiên Lãng – Hải Phòng, vụ
ông Đặng Ngọc Viết xả súng ở Trung tâm phát triển quỹ đất thành phố Thái Bình đã
gây hoang mang dư luận.
Một trong những nguyên nhân gây ra tình trạng tranh chấp, khiếu nại, tố cáo
liên quan đến đất đai, theo đánh giá của Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường
Nguyễn Minh Quang, công tác quản lý nhà nước về đất đai còn một số hạn chế, nhất là
trong quy hoạch sử dụng đất, định giá đất, bồi thường giải phóng mặt bằng, hỗ trợ và
tái định cư, các thủ tục hành chính về đất đai. Lợi ích của nhà nước và người dân có
đất bị thu hồi chưa được đảm bảo tương xứng; nguồn lực về đất đai chưa được phát
huy đầy đủ; thị trường bất động sản phát triển không ổn định, thiếu lành mạnh, giao
dịch ngầm còn khá phổ biến; tình hình khiếu nại, tố cáo, tranh chấp đất đai còn diễn
biến phức tạp [36].
Về mặt pháp lý, khiếu nại, tố cáo là quyền cơ bản của công dân được quy định
trong Hiến pháp và pháp luật, là công cụ pháp lý để công dân bảo vệ quyền và lợi ích
của mình khi bị xâm phạm. Việc giải quyết tranh chấp, khiếu nại, tố cáo về đất đai
được Đảng và Nhà nước ta đặc biệt coi trọng, bằng việc ban hành các đường lối, chủ
trương chỉ đạo cũng như chính sách, pháp luật để quản lý. Gần đây nhất là Nghị quyết
số 19-NQ/TW, ngày 31/10/2012 của Hội nghị lần thứ sáu Ban chấp hành Trung ương
khóa XI về tiếp tục đổi mới chính sách, pháp luật về đất đai trong thời kỳ đẩy mạnh
toàn diện công cuộc đổi mới, tạo nền tảng để đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành
nước công nghiệp theo hướng hiện đại [4]. Đặc biệt chỉ đạo tập trung hoàn thiện dự
thảo Luật đất đai sửa đổi, bổ sung để trình kỳ họp 6, Quốc Hội Khoá XIII thông qua,
vào ngày 29/11/2013, chính thức có hiệu lực kể từ ngày 01/7/2014.
Giải quyết tranh chấp, khiếu nại và tố cáo về đất đai là một trong những nhiệm
vụ trọng tâm trong công tác quản lý nhà nước về đất đai. Kết quả giải quyết tranh
chấp, khiếu nại, tố cáo góp phần ổn định tình hình chính trị, trật tự an toàn xã hội tại
địa phương, đảm bảo pháp chế xã hội chủ nghĩa và kỷ luật trong quản lý nhà nước và
là phương thức để bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân,
cơ quan, tổ chức.


3
Trên địa bàn .... .... , tình hình tranh chấp, khiếu nại, tố cáo về đất đai cũng xảy
ra thường xuyên, số lượng đơn thư khiếu nại, tố cáo hàng năm khá cao. Từ năm 2004
đến 2013, các cơ quan trên địa bàn tỉnh đã có nhiều cố gắng giải quyết các vụ việc
tranh chấp, khiếu nại, tố cáo về đất đai, do đó đã đạt được những kết quả nhất định, tạo
cơ sở cho việc bảo đảm và nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước trong lĩnh
vực đất đai. Tuy nhiên, bên cạnh đó vẫn còn một số yếu kém, hạn chế như còn thiếu
trách nhiệm, chưa nhận thức đầy đủ về công tác giải quyết tranh chấp, khiếu nại, tố
cáo về đất đai của một bộ phận cán bộ; chất lượng giải quyết còn thấp, số lượng vụ
việc giải quyết sai còn nhiều; trong khi giải quyết còn vi phạm quy định về thẩm
quyền, về trình tự, thủ tục, thời hạn giải quyết khiếu nại, tố cáo; nhiều Quyết định giải
quyết khiếu nại, tranh chấp, Kết luận giải quyết tố cáo đã có hiệu lực pháp luật nhưng
chậm thi hành hoặc không thi hành; công tác thanh tra, kiểm tra việc thi hành pháp luật
khiếu nại, tố cáo chưa được quan tâm đúng mức; một số vi phạm pháp luật khiếu nại,
tố cáo chưa được xử lý nghiêm minh...
Để nâng cao tính hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý Nhà nước về đất đai thì
việc nghiên cứu, tìm hiểu các vụ việc tranh chấp, khiếu nại, tố cáo về đất đai là hết sức
rất cần thiết nhằm giúp các cơ quan liên quan bổ sung, hoàn thiện hệ thống chính sách,
pháp luật đất đai trong thời kỳ xây dựng nền kinh tế thị trường, định hướng xã hội chủ
nghĩa và đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước hiện nay.
Trên cơ sở các quy định của pháp luật đất đai, pháp luật khiếu nại, tố cáo và
xuất phát từ thực tiễn công tác giải quyết tranh chấp, khiếu nại, tố cáo về đất đai trên
địa bàn .... .... , với mục đích góp phần đổi mới, nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác
giải quyết tranh chấp, khiếu nại, tố cáo về đất đai, tôi chọn đề tài: “Thực trạng và đề
xuất giải pháp nâng cao hiệu quả công tác giải quyết tranh chấp, khiếu nại, tố cáo
về đất đai tại .... .... ” làm đề tài nghiên cứu cho Luận văn thạc sỹ chuyên ngành Quản
lý đất đai.
2. Mục đích
Mục tiêu nghiên cứu của của đề tài nhằm tìm ra những nguyên nhân, tồn tại,
khó khăn, vướng mắc trong công tác giải quyết tranh chấp, khiếu nại và tố cáo về đất
đai trên địa bàn .... .... . Từ đó, đề xuất những phương hướng, giải pháp nhằm nâng cao
hiệu lực, hiệu quả giải quyết các vụ việc. Đồng thời, đưa ra những giải pháp phòng
ngừa. Nhằm, hạn chế tình trạng tranh chấp, khiếu nại, tố cáo về đất đai.
3. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn
3.1. Ý nghĩa khoa học
Nghiên cứu, phân tích các khái niệm tranh chấp, khiếu nại, tố cáo về đất đai;
đặc điểm, nội dung các vụ việc trong thời gian qua; nghiên cứu hệ thống văn bản quy


4
định của pháp luật về giải quyết tranh chấp, khiếu nại, tố cáo về đất đai; phân tích,
tổng hợp kết quả giải quyết các vụ việc. Từ đó chỉ ra những điểm bất cập, chưa hợp lý
mang tính quy luật khách quan, cần phải điều chỉnh, bổ sung cho phù hợp.
3.2. Ý nghĩa thực tiễn
Kết quả thực hiện Đề tài là một văn bản tham khảo có ý nghĩa đối với các cấp
chính quyền trên địa bàn tỉnh Quảng Trị. Là một bức tranh sinh động thể hiện rõ thực
trạng tranh chấp, khiếu nại, tố cáo về đất đai; cho thấy tình hình giải quyết và kết quả
giải quyết các vụ việc đó của các cơ quan hành chính nhà nước (HCNN) các cấp. Đặc
biệt, chỉ ra những điểm hạn chế, bất cập trong giải quyết các vụ việc. Từ đó, đề xuất
những giải pháp điều chỉnh, cải tiến có giá trị thực tiễn cao.


5
Chương 1
TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1. Cơ sở lý luận của các vấn đề nghiên cứu
1.1.1. Tranh chấp và giải quyết tranh chấp đất đai
Tranh chấp đất đai, được hiểu đó là sự mâu thuẫn, bất đồng trong việc xác định
quyền quản lý, quyền sử dụng đối với đất đai, phát sinh trực tiếp hoặc gián tiếp trong
lĩnh vực quản lý và sử dụng đất đai.
Nhìn ở góc độ cụ thể hơn, tranh chấp đất đai là tranh chấp về quyền và nghĩa vụ
trong quá trình quản lý và sử dụng đất đai, phát sinh giữa các chủ thể tham gia quan hệ
pháp luật đất đai.
Trong thực tế, tranh chấp đất đai được hiểu là sự tranh chấp về quyền quản lý,
quyền sử dụng một khu đất, một thửa đất hoặc một phần của nó mà mỗi bên đều cho
rằng mình có quyền đó và được pháp luật quy định và bảo hộ.
Theo quy định của Luật Đất đai năm 2013: “Tranh chấp đất đai là tranh chấp về
quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất giữa hai hoặc nhiều bên trong quan hệ đất
đai” [48].
Có thể nói, tranh chấp đất đai là sự bất đồng, mâu thuẫn hay xung đột về lợi ích,
về quyền, nghĩa vụ giữa các chủ thể khi tham gia vào quan hệ pháp luật đất đai. Trong
đa số các trường hợp tranh chấp đất đai thì các bên không thể tự giải quyết được, mà
Nhà nước phải đứng ra giải quyết.
Hiện nay, có các dạng tranh chấp đất đai cơ bản sau: tranh chấp đòi lại đất, đòi
lại tài sản gắn liền với đất; tranh chấp về quyền thừa kế; tranh chấp khi vợ chồng ly
hôn; tranh chấp ranh giới liền kề; tranh chấp giữa người dân với các nông, lâm trường;
giữa đồng bào đi xây dựng kinh tế mới với đồng bào sở tại. Một dạng tranh chấp khác
nữa đó là tranh chấp đất đai liên quan đến địa giới hành chính.
Theo Nguyễn Ngọc Hoà (1999): "Giải quyết tranh chấp đất đai là giải quyết bất
đồng, mâu thuẫn trong nội bộ nhân dân, tổ chức và trên cơ sở đó phục hồi các quyền
lợi hợp pháp bị xâm hại đồng thời truy cứu trách nhiệm pháp lý đối với hành vi vi
phạm pháp luật về đất đai" [21].
Trong quan hệ pháp luật đất đai, việc xem xét giải quyết tranh chấp đất đai là
một trong những biện pháp quan trọng để pháp luật đất đai phát huy được vai trò trong
đời sống xã hội. Thông qua việc giải quyết tranh chấp đất đai, Nhà nước điều chỉnh
các quan hệ đất đai cho phù hợp với lợi ích của Nhà nước và của xã hội. Đồng thời,
giáo dục ý thức tuân thủ và tôn trọng pháp luật cho mọi công dân, ngăn ngừa những vi
phạm pháp luật có thể xảy ra.


6
Việc giải quyết tranh chấp đất đai là tìm ra giải pháp đúng đắn trên cơ sở pháp
luật nhằm giải quyết những bất đồng, mâu thuẫn trong nội bộ nhân dân. Trên cơ sở đó
phục hồi các quyền lợi hợp pháp cho bên bị xâm phạm đồng thời bắt buộc bên vi phạm
phải gánh chịu những hậu quả pháp lý do hành vi của họ gây ra.
Như vậy, giải quyết tranh chấp đất đai là việc vận dụng đúng đắn các quy định
của pháp luật để bảo vệ tốt nhất các quyền và lợi ích hợp pháp của người sử dụng đất.
Đối với tranh chấp địa giới hành chính, việc giải quyết được giao cho các cơ
quan hành chính và cơ quan lập pháp thực hiện. Đây là một kiểu tranh chấp đặc biệt vì
có liên quan đến nhiều nhóm đối tượng khác nhau và thường dai dẳng, khó giải quyết
dứt điểm. Do đó, trong quá trình giải quyết phải huy động sự tham gia của cả hệ thống
chính trị.
1.1.2. Khiếu nại và giải quyết khiếu nại về đất đai
Về lịch sử xuất hiện, thuật ngữ “khiếu nại” ở Việt Nam được sử dụng lần đầu
tiên trong văn bản chính thức của Nhà nước Việt Nam, đó là Sắc lệnh số 64/SL do Chủ
tịch Hồ Chí Minh ký ngày 23/11/1945 về Thành lập Ban Thanh tra đặc biệt. Tại Điều 2
Sắc lệnh số 64/SL quy định: “…Ban Thanh tra đặc biệt có toàn quyền: Nhận các đơn
khiếu nại của nhân dân…” [9]. Khiếu nại của nhân dân ở đây là sự khiếu nại đối với
chính quyền khi người khiếu nại cho rằng cán bộ, công nhân viên chức Nhà nước có
những hành vi vi phạm pháp luật hoặc vi phạm quyền lợi của mình. Thực chất, đó
chính là sự khiếu nại những hành vi nảy sinh trong bộ máy HCNN, do những người
làm trong các cơ quan HCNN thực hiện.
Ngày nay, khiếu nại là thuật ngữ thường được sử dụng trong các văn bản pháp
lý, trên các phương tiện thông tin đại chúng và trong cuộc sống. Trong các công trình
nghiên cứu, các tác giả đã đưa ra nhiều định nghĩa, khái niệm về khiếu nại. Theo
Hoàng Phê (2010), khiếu nại là: “đề nghị cơ quan có thẩm quyền xét một việc làm mà
mình không đồng ý, cho là trái phép hay không hợp lý” [34]. Theo Viện Khoa học
pháp lý - Bộ Tư pháp (2006): “Khiếu nại hành chính là yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá
nhân có thẩm quyền xem xét lại quyết định hành chính, hành vi hành chính hoặc quyết
định kỷ luật cán bộ công chức khi cho rằng các quyết định hay hành vi đó xâm phạm
đến quyền, lợi ích hợp pháp của mình” [63].
Theo Luật Khiếu nại năm 2011 thì: “Khiếu nại là việc công dân, cơ quan, tổ
chức hoặc cán bộ, công chức theo thủ tục do pháp luật quy định, đề nghị cơ quan, tổ
chức, cá nhân có thẩm quyền xem xét lại quyết định hành chính, hành vi hành chính
của cơ quan HCNN, của người có thẩm quyền trong cơ quan HCNN hoặc quyết định
kỷ luật cán bộ, công chức khi có căn cứ cho rằng quyết định hoặc hành vi đó là trái
pháp luật, xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của mình” [43].


7
Từ các khai niệm trên thì chúng ta thấy rằng việc khiếu nại hành chính phát sinh
khi quyền, lợi ích hợp pháp của công dân bị ảnh hưởng trực tiếp bởi quyết định hành
chính, hành vi hành chính. Người khiếu nại là công dân, cơ quan, tổ chức hoặc cán bộ,
công chức thực hiện quyền khiếu nại. Người bị khiếu nại là cơ quan HCNN hoặc
người có thẩm quyền trong cơ quan HCNN có quyết định hành chính, hành vi hành
chính bị khiếu nại; cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền có quyết định kỷ luật cán
bộ, công chức bị khiếu nại.
Trong lĩnh vực quản lý và sử dụng đất, việc giải quyết khiếu nại nhằm đảm bảo
cho mọi quan hệ giữa Nhà nước và người sử dụng đất và giữa những người sử dụng
đất với nhau được thực hiện theo đúng chính sách, pháp luật đất đai. Khiếu nại về đất
đai là việc công dân, cơ quan, tổ chức đề nghị cơ quan, cá nhân có thẩm quyền xem
xét lại những quyết định hành chính, hành vi hành chính trong quản lý đất đai khi có
căn cứ cho rằng những quyết định hành chính, hành vi hành chính đó là trái pháp luật,
xâm phạm đến quyền, lợi ích hợp pháp của mình.
Khoản 2 Điều 264 Luật số 64/2010/QH12 Luật Tố Tụng Hành chính đã được
Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XII, kỳ họp thứ 8 thông qua
ngày 24 tháng 11 năm 2010 nêu rõ: “Người sử dụng đất có quyền khiếu nại quyết định
hành chính hoặc hành vi hành chính về quản lý đất đai” [42].
Tại Điều 162 Nghị định 181/2004/NĐ-CP ngày 29/10/2004 của Chính phủ về
thi hành Luật đất đai thì các quyết định hành chính hoặc hành vi hành chính bị khiếu
nại bao gồm: Quyết định giao đất, cho thuê đất, thu hồi đất, trưng dụng đất, cho phép
chuyển mục đích sử dụng đất; Quyết định bồi thường, hỗ trợ, giải phóng mặt bằng
(GPMB), tái định cư; Quyết định cấp hoặc thu hồi giấy chứng nhận QSDĐ; Quyết
định gia hạn thời hạn sử dụng đất. hành vi hành chính trong quản lý đất đai bị khiếu
nại là hành vi của cán bộ công chức nhà nước khi thực hiện công việc liên quan trực
tiếp đến các quyết định hành chính về giao đất, cho thuê đất, thu hồi đất, trưng dụng
đất, chuyển mục đích sử dụng đất; cấp và thu hồi giấy chứng nhận QSDĐ, bồi thường,
hỗ trợ, tái định cư và hành vi gia hạn thời hạn sử dụng đất cho người sử dụng đất [10].
Các quyết định hành chính, hành vi hành chính nói trên nếu bị khiếu nại sẽ
được giải quyết theo quy định của Luật Đất đai. Ngoài các trường hợp đã viện dẫn ở
trên, nếu các quyết định hành chính, hành vi hành chính trong quản lý đất đai mà bị
khiếu nại thì việc giải quyết tuân thủ theo quy định của pháp luật khiếu nại, tố cáo
(KNTC).
Giải quyết khiếu nại là việc thụ lý, xác minh, kết luận và ra quyết định giải
quyết khiếu nại. Người giải quyết khiếu nại là cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm
quyền giải quyết khiếu nại theo quy định của pháp luật [63].


8
Như vậy, có thể hiểu, giải quyết khiếu nại về đất đai của các cơ quan HCNN là
hoạt động kiểm tra, xác minh kết luận về tính hợp pháp và tính hợp lý của quyết định
hành chính, hành vi hành chính trong lĩnh vực đất đai bị khiếu nại thuộc thẩm quyền
giải quyết của các cơ quan HCNN để có biện pháp giải quyết theo quy định của pháp
luật nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, cơ quan, tổ chức và lợi ích
chung của nhà nước và xã hội.
1.1.3. Tố cáo và giải quyết tố cáo về đất đai
Theo Từ điển Tiếng Việt dành cho học sinh phổ thông thì tố cáo là “nói rõ việc
làm sai trái của ai trước cơ quan pháp luật hoặc trước dư luận” [49].
Theo Luật Tố cáo năm 2011, tố cáo được hiểu là việc công dân theo thủ tục do luật
này quy định báo cho cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền biết về hành vi vi phạm
pháp luật của bất cứ cơ quan, tổ chức, cá nhân nào gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại
lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, cơ quan, tổ chức [44].
Từ những khái niệm trên, chúng ta thấy rằng, tố cáo chính là vạch rõ tội của một
người trước dư luận, cộng đồng xã hội hoặc trước cơ quan quản lý nhà nước. Đối
tượng của tố cáo là người thực hiện hành vi trái đạo đức, phong tục tập quán, quy ước
của cộng đồng xã hội, vi phạm pháp luật của nhà nước, gây thiệt hại hoặc đe doạ gây
thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tập thể, công dân.
Mục đích của tố cáo là nhằm ngăn chặn hành vi vi phạm, bảo vệ lợi ích của Nhà nước,
quyền và lợi ích hợp pháp của tập thể, công dân.
Khi phát hiện hành vi vi phạm pháp luật của bất cứ cơ quan, tổ chức, cá nhân
trong việc quản lý, sử dụng đất gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại lợi ích của Nhà
nước, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, cơ quan, tổ chức thì mọi công dân có
quyền báo cho cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền biết để giải quyết theo quy
định của pháp luật. Tố cáo hành vi vi phạm pháp luật của cán bộ, công chức, viên chức
trong việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ là việc công dân báo cho cơ quan, tổ chức, cá
nhân có thẩm quyền biết về hành vi vi phạm pháp luật của cán bộ, công chức, viên
chức trong việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ.
Cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn
của mình có trách nhiệm tiếp người tố cáo, tiếp nhận và giải quyết tố cáo theo đúng
quy định của pháp luật; xử lý nghiêm minh người vi phạm; áp dụng biện pháp cần
thiết nhằm ngăn chặn thiệt hại có thể xảy ra, bảo đảm an toàn về tính mạng, sức khoẻ,
tài sản, danh dự, nhân phẩm, uy tín, việc làm, bí mật cho người tố cáo; bảo đảm quyết
định xử lý hành vi vi phạm bị tố cáo được thi hành nghiêm chỉnh và chịu trách nhiệm
trước pháp luật về quyết định xử lý của mình [44].


9
Giải quyết tố cáo là việc tiếp nhận, xác minh, kết luận của cơ quan Nhà nước có
thẩm quyền về nội dung tố cáo của tổ chức, công dân thực hiện quyền tố cáo. Người bị
tố cáo là cơ quan, tổ chức, cá nhân có hành vi bị tố cáo.
Theo Điều 139 Luật Đất đai năm 2003 quy định: “1. Cá nhân có quyền tố cáo vi
phạm pháp luật về quản lý và sử dụng đất đai; 2. Việc giải quyết tố cáo vi phạm pháp
luật về quản lý và sử dụng đất đai thực hiện theo quy định của pháp luật về khiếu nại,
tố cáo”. Như vậy, thẩm quyền, trình tự và thủ tục giải quyết tố cáo về đất đai được
thực hiện theo quy định của pháp luật về KNTC [38].
Từ những phân tích trên, có thể hiểu, tố cáo hành vi vi phạm pháp luật về quản
lý nhà nước trong lĩnh vực đất đai là việc tổ chức, công dân báo cho cơ quan quản lý
nhà nước có thẩm quyền biết về hành vi vi phạm pháp luật có liên quan đến đất đai của
cơ quan, tổ chức, cá nhân nào đó để xác minh, kết luận, giải quyết theo luật định.
Giải quyết tố cáo về đất đai của các cơ quan HCNN là việc kiểm tra, xác minh,
kết luận về tính hợp pháp của hành vi bị tố cáo thuộc thẩm quyền giải quyết của các cơ
quan HCNN để có biện pháp giải quyết đúng quy định nhằm bảo vệ quyền và lợi ích
hợp pháp của các bên liên quan.
1.2. Cơ sở thực tiễn của vấn đề nghiên cứu
1.2.1. Chủ trương, đường lối của Đảng về giải quyết tranh chấp, khiếu nại và tố
cáo về đất đai
Công tác giải quyết tranh chấp, KNTC về đất đai luôn được Đảng và Nhà nước
đặc biệt quan tâm từ trước đến nay. Xem đây là một nhiệm vụ không kém phần quan
trọng để giữ vững trật tự xã hội, ngăn chặn, xử lý các hành vi vi phạm pháp luật, góp
phần phát triển kinh tế xã hội và giữ vững an ninh quốc phòng của đất nước.
Để lãnh đạo, chỉ đạo công tác tiếp công dân và giải quyết tranh chấp, KNTC của
cả hệ thống chính trị, ngày 06/3/2002, Ban Bí thư Trung ương Đảng đã ban hành Chỉ
thị số 09- CT/TW về một số vấn đề cấp bách cần thực hiện trong việc giải quyết khiếu
nại hiện nay; ngày 10/01/2008 [2].
Năm 2008, Bộ Chính trị ban hành Kết luận số 130/TB-TW về tình hình kết quả
giải quyết khiếu nại tố cáo từ năm 2006 đến nay và giải pháp trong thời gian tới. Trong
đó, đã nhấn mạnh đến trách nhiệm của cấp uỷ và chính quyền các cấp trong công tác
tiếp công dân, giải quyết khiếu nại tố cáo mà trực tiếp là đồng chí Bí thư phải lãnh đạo
công tác này, phân công cho các đồng chí trong Ban thường vụ cấp uỷ theo dõi, chỉ
đạo công tác giải quyết KNTC và đưa ra những nhiệm vụ, giải pháp quan trọng nhằm
ngăn ngừa và giải quyết KNTC của công dân [5].


10
Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã ban hành Nghị quyết Trung ương bảy khoá
IX về tiếp tục đổi mới chính sách, pháp luật về đất đai trong thời kỳ đẩy mạnh công
nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước nhằm tăng cường sự chỉ đạo, lãnh đạo. Trong đó,
nhấn mạnh nội dung công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo trong lĩnh vực đất đai [3].
Năm 2012, Hội nghị Ban chấp hành Trung ương lần thứ sáu khóa XI đã ban
hành Nghị quyết số 19-NQ/TW ngày 31/10/2012 về tiếp tục đổi mới chính sách, pháp
luật về đất đai trong thời kỳ đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới, tạo nền tảng để
đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại. Trong
đó, đã nhấn mạnh:
“Các cơ quan có thẩm quyền phải tập trung giải quyết kịp thời, dứt điểm các
tranh chấp, KNTC về đất đai theo đúng quy định của pháp luật về KNTC, tố tụng hành
chính, tố tụng dân sự; công bố công khai kết quả giải quyết.
Củng cố, kiện toàn hệ thống thanh tra đất đai, tòa án các cấp; nâng cao năng lực
đội ngũ cán bộ xét xử đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ. Quan tâm đào tạo, nâng cao trình độ
cho đội ngũ thanh tra viên, cán bộ xét xử, giải quyết tranh chấp, KNTC về đất đai. Rà
soát, sửa đổi bổ sung chế tài xử lý đủ mạnh đối với các trường hợp vi phạm” [4].
Ngày 26/5/2014, Bộ Chính trị ban hành Chỉ thị số 35/CT-TW về tăng cường sự
lãnh đạo của Đảng đối với công tác tiếp công dân và giải quyết khiếu nại, tố cáo.
Trong đó, đã đánh giá lại 10 năm thực hiện Chỉ thị số 09-CT/TW ngày 06/3/2002 của
Ban Bí thư và hơn 5 năm thực hiện Thông báo số 130 – TB/TW, ngày 10/01/2008 của
Bộ Chính trị. Đồng thời, để nâng cao hơn nữa chất lượng, hiệu quả công tác tiếp công
dân và giải quyết KNTC, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong tình hình mới, Bộ Chính trị
đã đề ra một số nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu để chỉ đạo thực hiện [6].
Có thể nói, tranh chấp, KNTC về đất đai đang là một thách thức, một vấn đề lớn
đối với toàn bộ hệ thống chính trị của nước ta, đòi hỏi phải có sự chỉ đạo quyết liệt, tập
trung thống nhất của Trung ương Đảng, sự quyết tâm đồng sức, đồng lòng của các cấp
ủy đảng và chính quyền các cấp, kể cả hệ thống các cơ quan trong khối mặt trận tổ
quốc Việt Nam. Việc giải quyết dứt điểm, có hiệu quả các vụ việc tranh chấp, KNTC
về đất đai có ý nghĩa hết sức quan trọng trong việc duy trì sự ổn định chính trị, trật tự
an toàn xã hội trong cả nước và ở từng địa phương, cơ sở. Để làm được việc này, Đảng
ta đã xác định và đề ra những quyết sách sát đúng, kịp thời, phù hợp với tình hình mới
để chỉ đạo toàn bộ hệ thống chính trị triển khai thực hiện. Cho nên, vấn đề đổi mới
công tác giải quyết tranh chấp, KNTC trong lĩnh vực đất đai, hoàn thiện và xây dựng
hệ thống pháp luật quản lý đất đai, tăng cường năng lực cho tổ chức bộ máy làm công
tác này là yêu cầu khách quan mà Đảng ta phải tập trung lãnh đạo.


11
1.2.2. Chính sách, pháp luật hiện hành của Nhà nước quy định về giải quyết tranh
chấp, khiếu nại và tố cáo về đất đai
Để những chủ trương, đường lối của Đảng đi vào cuộc sống, Quốc Hội, Chính
phủ đã cụ thể hoá thành các văn bản quy định về trách nhiệm, quyền hạn của các cơ
quan Nhà nước; trình tự, thủ tục, thời hạn giải quyết các vụ việc tranh chấp KNTC liên
quan đến đất đai. Các văn bản này có sự sửa đổi, bổ sung, hoặc thay thế để phù hợp
với các văn bản cấp trên và tình hình đất nước. Đặc biệt, các quy định này ngày càng
hoàn thiện, chi tiết hơn, từng bước khắc phục sự mâu thuẫn, chồng chéo lẫn nhau.
Hệ thống văn bản pháp luật liên quan đến giải quyết tranh chấp, KNTC về đất
đai được hệ thống hóa ở bảng 1.1:
Bảng 1.1. Danh mục các văn bản pháp luật quy định về giải quyết tranh chấp,
khiếu nại và tố cáo liên quan đến đất đai
TT

1

2

3

Tên văn bản, số
hiệu, ngày tháng
năm ban hành
Luật số
09/1998/QH10
ngày 02/12/1998
Luật số
26/2004/QH11
ngày 15/6/2004
Luật số
58/2005/QH11
ngày 29/11/2005

4

Luật số
13/2003/QH11
ngày 26/11/2003

5

Luật số:
64/2010/QH12
ngày 24/11/2010

6

Luật số:
56/2010/QH12
ngày 15/11/2010

7

Luật số
02/2011/QH13
ngày 11/11/2011

8

Luật số


quan
BH

Trích yếu nội dung

Luật Khiếu nại, tố cáo: quy định về khiếu nại, tố cáo và
Quốc
giải quyết KNTC. Hết hiệu lực thi hành [37]
hội
Hết hiệu lực thi hành
Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Khiếu nại, tố
Quốc
cáo năm 1998. Hết hiệu lực thi hành [39]
hội
Hết hiệu lực thi hành
Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Khiếu nại, tố
Quốc
cáo năm 1998 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2004) [40]
hội
Hết hiệu lực thi hành
Luật Đất đai: quy định về quản lý và sử dụng đất đai.
Quốc Trong đó Chương VI, mục 2 quy định về giải quyết tranh
hội chấp, KNTC về đất đai [38]
Hết hiệu lực thi hành
Luật Tố tụng hành chính: quy định về hoạt động tố tụng
hành chính. Trong đó, có các điều sửa đổi, bổ sung một số
Quốc
điều của Luật đất đai năm 2003 về thẩm quyền giải quyết
hội
TCĐĐ và khiếu nại, khởi kiện đối với quyết định hành
chính, hành vi hành chính về quản lý đất đai [42]
Luật Thanh tra: quy định về tổ chức, hoạt động thanh tra
Quốc nhà nước và thanh tra nhân dân, trong đó có quy định về
hội chức năng, nhiệm vụ giải quyết khiếu nại tố cáo của
Thanh tra tỉnh, huyện và Thanh tra Sở [41]
Luật Khiếu nại: quy định về khiếu nại và giải quyết khiếu
Quốc nại đối với quyết định hành chính, hành vi hành chính
hội của cơ quan HCNN, của người có thẩm quyền trong cơ
quan HCNN [43]
Quốc Luật Tố cáo: quy định về tố cáo và giải quyết tố cáo đối


12
03/2011/QH13
ngày 11/11/2011

9

Luật số
35/2013/QH13
ngày 20/6/2013

10

Luật số
42/2013/QH13
ngày 25/11/2013

11

Luật số
45/2013/QH13
ngày 29/11/2013

với hành vi vi phạm pháp luật của cán bộ công chức,
viên chức trong thực hiện nhiệm vụ, công vụ và đối với
hội
hành vi vi phạm pháp luật của cơ quan, tổ chức, cá nhân
về quản lý nhà nước trong các lĩnh vực [44]
Luật hoà giải cơ sở: quy định nguyên tắc, chính sách của
Quốc Nhà nước về hòa giải ở cơ sở, hòa giải viên, tổ hòa giải;
hội hoạt động hòa giải ở cơ sở; trách nhiệm của cơ quan, tổ
chức trong hoạt động hòa giải ở cơ sở [46]
Luật tiếp công dân: quy định về trách nhiệm tiếp công
dân; quyền và nghĩa vụ của người đến khiếu nại, tố cáo,
Quốc kiến nghị, phản ánh; việc tổ chức hoạt động tiếp công dân
hội tại Trụ sở tiếp công dân, địa điểm tiếp công dân của cơ
quan, tổ chức, đơn vị và điều kiện bảo đảm cho hoạt động
tiếp công dân [47]
Luật Đất đai: quy định về chế độ sở hữu đất đai, quyền
hạn và trách nhiệm của Nhà nước đại diện chủ sở hữu toàn
dân về đất đai và thống nhất quản lý về đất đai, chế độ
Quốc quản lý và sử dụng đất đai, quyền và nghĩa vụ của người
hội sử dụng đất đối với đất đai. Trong đó Chương 13 quy định
về giám sát, thanh tra, giải quyết tranh chấp, khiếu nại, tố
cáo và xử lý vi phạm pháp luật về đất đai. (Luật này có
hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2014 [48]

Nghị định số
12 181/2004/NĐ-CP
ngày 29/10/2004

Chính Về thi hành Luật Đất đai, trong đó Chương XII quy định
phủ về giải quyết tranh chấp, khiếu nại về đất đai [10]

Nghị định số
13 84/2007/NĐ-CP
ngày 25/5/2007

Quy định bổ sung về việc cấp Giấy chứng nhận QSDĐ,
thu hồi đất, thực hiện QSDĐ, trình tự, thủ tục bồi thường,
Chính
hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất và giải quyết
phủ
khiếu nại về đất đai. Chương VI bổ sung một số quy định
đối với giải quyết khiếu nại về đất đai [11]

Nghị định số
14 69/2009/NĐ-CP
ngày 13/8/2009

Chính Quy định bổ sung về quy hoạch sử dụng đất, giá đất, thu
phủ hồi đất, bồi thường, hỗ trợ và tái định cư [12]

Nghị định số
15 75/2012/NĐ-CP
ngày 03/10/2012
Nghị định số
16 76/2012/NĐ-CP
ngày 03/10/2012
Nghị định số
17 15/2014/NĐ-CP
ngày 27/02/2014
Nghị định số
18 43/2014/NĐ-CP
ngày 15/5/2014

Quy định chi tiết một số điều của Luật Khiếu nại: quy
Chính định cụ thể về nhiều người cùng khiếu nại về một nội
phủ dung, công khai và thi hành quyết định giải quyết khiếu
nại, quy định về tiếp công dân…[13]
Quy định chi tiết một số điều của Luật Tố cáo: quy định
về trường hợp nhiều người cùng tố cáo về một nội dung,
Chính
công khai kết luận nội dung tố cáo, quyết định xử lý hành
phủ
vi vi phạm bị tố cáo, bảo vệ người tố cáo và chế độ khen
thưởng đối với người có thành tích trong tố cáo [14]
Chính Quy định chi tiết thi hành một số điều và biện pháp thi
phủ hành của Luật hoà giải cơ sở [15]
Quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Đất đai,
Chính
trong đó Mục 3 thuộc Chương VII quy định về trình tự,
phủ
thủ tục giải quyết tranh chấp đất đai [16]


13
Hệ thống chính sách pháp luật về quản lý đất đai và giải quyết tranh chấp,
KNTC về đất đai là nội dung giữ vị trí quan trọng nhất trong trong công tác quản lý
Nhà nước về tài nguyên đất, ngăn chặn các hành vi vi phạm pháp luật đất đai, vi phạm
quyền và lợi ích hợp pháp của người sử dụng đất.
1.2.3. Trình tự, thủ tục, thẩm quyền giải quyết tranh chấp, khiếu nại và tố cáo về đất đai
Trong giải quyết các vụ việc tranh chấp, KNTC về đất đai, chúng ta tuân thủ
trình tự, thủ tục và thẩm quyền giải quyết theo Luật định. Cụ thể như sau:
1.2.3.1. Về giải quyết tranh chấp đất đai
Trong giải quyết tranh chấp đất đai, chúng ta có hai dạng tranh chấp cơ bản sau:
a. Đối với tranh chấp quyền sử dụng đất (QSDĐ)
Xét về bản chất, tranh chấp đất đai loại này là một dạng tranh chấp dân sự và
nguyên tắc tôn trọng sự thỏa thuận tự nguyện phải được đặt lên hàng đầu [52].
Trong trường hợp các bên không hoà giải được thì gửi đơn đến Uỷ ban nhân dân
(UBND) xã, phường, thị trấn nơi có đất tranh chấp. UBND xã, phường, thị trấn có
trách nhiệm phối hợp với Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên của
Mặt trận, các tổ chức xã hội khác để hoà giải tranh chấp đất đai. Thời hạn hoà giải là
ba mươi ngày làm việc, kể từ ngày UBND xã, phường, thị trấn nhận được đơn. Kết
quả hoà giải tranh chấp đất đai phải được lập thành biên bản có chữ ký của các bên
tranh chấp và xác nhận của UBND xã, phường, thị trấn nơi có đất. Trường hợp kết quả
hoà giải khác với hiện trạng sử dụng đất thì UBND xã, phường, thị trấn chuyển kết quả
hoà giải đến cơ quan nhà nước có thẩm quyền để giải quyết theo quy định về quản lý
đất đai [10].
- Theo Luật Đất đai năm 2003, tranh chấp đất đai đã được hoà giải tại UBND
xã, phường, thị trấn mà một bên hoặc các bên đương sự không nhất trí thì được giải
quyết như sau:
+ Tranh chấp về QSDĐ mà đương sự có giấy chứng nhận QSDĐ hoặc có một
trong các loại giấy tờ quy định tại các khoản 1, 2 và 5 Điều 50 của Luật Đất đai năm
2003 và tranh chấp về tài sản gắn liền với đất thì do Toà án nhân dân giải quyết;
+ Tranh chấp về QSDĐ mà đương sự không có giấy chứng nhận QSDĐ hoặc
không có một trong các loại giấy tờ quy định tại các khoản 1, 2 và 5 Điều 50 của Luật
Đất đai năm 2003 thì các bên tranh chấp gửi đơn đến cơ quan hành chính để được giải
quyết. Chủ tịch UBND huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh giải quyết đối với
TCĐĐ giữa hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư với nhau. Trường hợp Chủ tịch
UBND cấp huyện giải quyết mà một bên hoặc các bên đương sự không đồng ý với
quyết định giải quyết thì có quyền khiếu nại đến Chủ tịch UBND tỉnh, thành phố trực


14
thuộc trung ương giải quyết hoặc khởi kiện ra Toà án theo quy định của Luật tố tụng
hành chính.
Chủ tịch UBND tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương giải quyết đối với TCĐĐ
giữa tổ chức, cơ sở tôn giáo, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, tổ chức nước
ngoài, cá nhân nước ngoài với nhau hoặc giữa tổ chức, cơ sở tôn giáo, người Việt Nam
định cư ở nước ngoài, tổ chức nước ngoài, cá nhân nước ngoài với hộ gia đình, cá
nhân, cộng đồng dân cư. Trường hợp Chủ tịch UBND tỉnh, thành phố trực thuộc trung
ương giải quyết mà một bên hoặc các bên đương sự không đồng ý với quyết định giải
quyết thì có quyền khiếu nại đến Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường hoặc khởi
kiện ra Toà án nhân dân theo quy định của Luật tố tụng hành chính [38].
- Theo Luật đất đai 2013, việc hòa giải tranh chấp đất đai quy định như sau: (1)
Nhà nước khuyến khích các bên tranh chấp đất đai tự hòa giải hoặc giải quyết tranh
chấp đất đai thông qua hòa giải ở cơ sở; (2) Tranh chấp đất đai mà các bên tranh chấp
không hòa giải được thì gửi đơn đến Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có đất tranh chấp để
hòa giải; (3) Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã có trách nhiệm tổ chức việc hòa giải
tranh chấp đất đai tại địa phương mình; trong quá trình tổ chức thực hiện phải phối
hợp với Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp xã và các tổ chức thành viên của Mặt
trận, các tổ chức xã hội khác. Thủ tục hòa giải tranh chấp đất đai tại Ủy ban nhân cấp
xã được thực hiện trong thời hạn không quá 45 ngày, kể từ ngày nhận được đơn yêu
cầu giải quyết tranh chấp đất đai; (4) Việc hòa giải phải được lập thành biên bản có
chữ ký của các bên và có xác nhận hòa giải thành hoặc hòa giải không thành của Ủy
ban nhân dân cấp xã. Biên bản hòa giải được gửi đến các bên tranh chấp, lưu tại Ủy
ban nhân dân cấp xã nơi có đất tranh chấp; (5) Đối với trường hợp hòa giải thành mà
có thay đổi hiện trạng về ranh giới, người sử dụng đất thì Ủy ban nhân dân cấp xã gửi
biên bản hòa giải đến Phòng Tài nguyên và Môi trường đối với trường hợp tranh chấp
đất đai giữa hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư với nhau; gửi đến Sở Tài nguyên
và Môi trường đối với các trường hợp khác [48].
- Luật Đất đai 2013 quy định, Tranh chấp đất đai đã được hòa giải tại Ủy ban
nhân dân cấp xã mà không thành thì thẩm quyền giải quyết quy định như sau: (1)
Tranh chấp đất đai mà đương sự có Giấy chứng nhận hoặc có một trong các loại giấy
tờ quy định tại Điều 100 của Luật này và tranh chấp về tài sản gắn liền với đất thì do
Tòa án nhân dân giải quyết; (2). Tranh chấp đất đai mà đương sự không có Giấy chứng
nhận hoặc không có một trong các loại giấy tờ quy định tại Điều 100 của Luật này thì
đương sự chỉ được lựa chọn một trong hai hình thức giải quyết tranh chấp đất đai theo
quy định sau đây: Nộp đơn yêu cầu giải quyết tranh chấp tại Ủy ban nhân dân cấp có
thẩm quyền theo quy định tại khoản 3 Điều này hoặc Khởi kiện tại Tòa án nhân dân có
thẩm quyền theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự; (3) Trường hợp đương sự
lựa chọn giải quyết tranh chấp tại Ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền thì việc giải


15
quyết tranh chấp đất đai được thực hiện như sau: Trường hợp tranh chấp giữa hộ gia
đình, cá nhân, cộng đồng dân cư với nhau thì Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện giải
quyết; nếu không đồng ý với quyết định giải quyết thì có quyền khiếu nại đến Chủ tịch
Ủy ban nhân dân cấp tỉnh hoặc khởi kiện tại Tòa án nhân dân theo quy định của pháp
luật về tố tụng hành chính; Trường hợp tranh chấp mà một bên tranh chấp là tổ chức,
cơ sở tôn giáo, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, doanh nghiệp có vốn đầu tư
nước ngoài thì Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh giải quyết; nếu không đồng ý với
quyết định giải quyết thì có quyền khiếu nại đến Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi
trường hoặc khởi kiện tại Tòa án nhân dân theo quy định của pháp luật về tố tụng hành
chính; (4) Người có thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai tại khoản 3 Điều này
phải ra quyết định giải quyết tranh chấp. Quyết định giải quyết tranh chấp có hiệu lực
thi hành phải được các bên tranh chấp nghiêm chỉnh chấp hành. Trường hợp các bên
không chấp hành sẽ bị cưỡng chế thi hành [48].
b. Đối với việc giải quyết tranh chấp liên quan đến địa giới hành chính
Theo Điều 137, Luật Đất đai năm 2003, TCĐĐ liên quan đến địa giới hành
chính giữa các đơn vị hành chính do UBND của đơn vị hành chính đó cùng phối hợp
giải quyết. Trong trường hợp không đạt được sự nhất trí hoặc việc giải quyết làm thay
đổi địa giới hành chính thì tranh chấp liên quan đến địa giới hành chính tỉnh, thành phố
trực thuộc Trung ương, huyện, quận, thị xã, thành phố trực thuộc tỉnh có trách nhiệm
cung cấp các tài liệu cần thiết và phối hợp với cơ quan nhà nước có thẩm quyền để giải
quyết TCĐĐ liên quan đến địa giới hành chính. Bộ Tài nguyên và Môi trường, cơ
quan quản lý đất đai của tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, huyện, quận, thị xã,
thành phố trực thuộc tỉnh có trách nhiệm cung cấp các tài liệu cần thiết và phối hợp
với cơ quan nhà nước có thẩm quyền để giải quyết TCĐĐ liên quan đến địa giới hành
chính [38].
Theo Luật đất đai năm 2013, tranh chấp địa giới hành chính giữa các đơn vị
hành chính do Ủy ban nhân dân của các đơn vị hành chính đó cùng phối hợp giải
quyết. Trường hợp không đạt được sự nhất trí về phân định địa giới hành chính hoặc
việc giải quyết làm thay đổi địa giới hành chính thì thẩm quyền giải quyết được quy
định như sau: (1) Trường hợp tranh chấp liên quan đến địa giới của đơn vị hành chính
tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương thì Chính phủ trình Quốc hội quyết định; (2)
Trường hợp tranh chấp liên quan đến địa giới của đơn vị hành chính huyện, quận, thị
xã, thành phố thuộc tỉnh; xã, phường, thị trấn thì Chính phủ trình Ủy ban thường vụ
Quốc hội quyết định [48].
1.2.3.2. Về giải quyết khiếu nại
Theo Luật Khiếu nại năm 2011, quy định thủ trưởng các cơ quan HCNN
(UBND các cấp và các cơ quan chuyên môn thuộc UBND) có thẩm quyền giải quyết


16
khiếu nại lần đầu đối với quyết định hành chính, hành vi hành chính của mình, của cán
bộ, công chức do mình quản lý trực tiếp; đồng thời giải quyết khiếu nại lần hai đối với
quyết định hành chính, hành vi hành chính của thủ trưởng cơ quan HCNN cấp dưới
trực tiếp đã giải quyết lần đầu nhưng còn khiếu nại hoặc khiếu nại lần đầu đã hết thời
hạn nhưng chưa được giải quyết [43].
Như vậy, thẩm quyền giải quyết khiếu nại lần đầu thuộc về người có quyết định
hành chính, hành vi hành chính; thẩm quyền giải quyết khiếu nại lần hai do thủ trưởng
cơ quan cấp trên trực tiếp của người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại lần đầu giải
quyết. Việc quy định thẩm quyền giải quyết lần đầu như vậy là phù hợp với cơ chế
quản lý hiện nay, đồng thời tạo điều kiện cho việc giải quyết khiếu nại được chính xác,
kịp thời. Đồng thời, việc quy định như vậy sẽ tạo điều kiện cho người có quyết định
hành chính, hành vi hành chính có cơ hội tự sửa chữa những sai sót có thể có trong quá
trình quản lý của mình, tránh gây mất thời gian, công sức của các cơ quan khác. Tuy
nhiên, nếu người khiếu nại không đồng tình với quyết định giải quyết khiếu nại lần
đầu thì có quyền khiếu nại lần hai. Việc quy định Thủ trưởng cơ quan cấp trên trực tiếp
của người có quyết định hành chính, hành vi hành chính giải quyết lần hai đối với
quyết định hành chính đã được người có quyết định hành chính, hành vi hành chính
giải quyết lần đầu còn khiếu nại là phù hợp, làm cho công tác giải quyết khiếu nại
được khách quan và công bằng hơn.
Theo điều 162 của Luật đất đai năm 2003, các quyết định hành chính, hành vi
hành chính bị khiếu nại bao gồm: Quyết định giao đất, cho thuê đất, thu hồi đất, trưng
dụng đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất, quyết định bồi thường, hỗ trợ,
GPMB, tái định cư, cấp hoặc thu hồi giấy chứng nhận QSDĐ, quyết định gia hạn thời
gian sử dụng đất. hành vi hành chính trong quản lý đất đai bị khiếu nại là hành vi của
cán bộ, công chức nhà nước khi giải quyết công việc để ra các quyết định hành chính
nêu trên [38].
Về trình tự thủ tục, theo quy định của Luật Khiếu nại năm 2011 thì trong thời
hạn 10 ngày, kể từ ngày nhận được khiếu nại thuộc thẩm quyền, người có thẩm quyền
giải quyết khiếu nại lần đầu phải thụ lý giải quyết; thông báo bằng văn bản cho người
khiếu nại, cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền chuyển khiếu nại đến và cơ quan
thanh tra nhà nước cùng cấp biết, trường hợp không thụ lý giải quyết thì phải nêu rõ lý
do. Thời hạn giải quyết khiếu nại lần đầu không quá 30 ngày, kể từ ngày thụ lý; đối với
vụ việc phức tạp thì thời hạn giải quyết có thể kéo dài hơn nhưng không quá 45 ngày,
kể từ ngày thụ lý. Ở vùng sâu, vùng xa đi lại khó khăn thì thời hạn giải quyết khiếu nại
không quá 45 ngày, kể từ ngày thụ lý; đối với vụ việc phức tạp thì thời hạn giải quyết
có thể kéo dài hơn nhưng không quá 60 ngày, kể từ ngày thụ lý. Việc giải quyết khiếu
nại lần đầu bao gồm các nội dung: thẩm tra, xác minh, tổ chức đối thoại, ban hành


17
quyết định giải quyết khiếu nại lần đầu, gửi quyết định đó cho người khiếu nại và các
bên liên quan [43].
Trong thời hạn 30 ngày mà khiếu nại lần đầu không được giải quyết hoặc kể từ
ngày nhận được quyết định giải quyết khiếu nại lần đầu mà người khiếu nại không
đồng ý thì có quyền khiếu nại đến người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại lần hai
hoặc khởi kiện vụ án hành chính tại Tòa án theo quy định của Luật tố tụng hành chính.
Thời gian, trình tự giải quyết khiếu nại lần hai của cơ quan HCNN thực hiện
tương tự như giải quyết khiếu nại lần đầu [43].
Theo Điều 204, Luật đất đai 2013 thì giải quyết khiếu nại, khiếu kiện về tranh
chấp đất đai được quy định như sau: (1) Người sử dụng đất, người có quyền lợi và
nghĩa vụ liên quan đến sử dụng đất có quyền khiếu nại, khởi kiện quyết định hành
chính hoặc hành vi hành chính về quản lý đất đai; (2) Trình tự, thủ tục giải quyết khiếu
nại quyết định hành chính, hành vi hành chính về đất đai thực hiện theo quy định của
pháp luật về khiếu nại. Trình tự, thủ tục giải quyết khiếu kiện quyết định hành chính,
hành vi hành chính về đất đai thực hiện theo quy định của pháp luật về tố tụng hành
chính [48].
1.2.3.3. Về giải quyết tố cáo
Theo Luật Tố cáo năm 2011, việc xác định thẩm quyền giải quyết tố cáo đối với
hành vi vi phạm pháp luật của cán bộ, công chức, viên chức trong việc thực hiện
nhiệm vụ, công vụ được xác định như sau: (1) Tố cáo hành vi vi phạm pháp luật trong
việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ của cán bộ, công chức, viên chức do người đứng đầu
cơ quan, tổ chức có thẩm quyền quản lý cán bộ, công chức, viên chức đó giải quyết.
Tố cáo hành vi vi phạm pháp luật trong việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ của người
đứng đầu, cấp phó của người đứng đầu cơ quan, tổ chức do người đứng đầu cơ quan,
tổ chức cấp trên trực tiếp của cơ quan, tổ chức đó giải quyết. (2) Tố cáo hành vi vi
phạm pháp luật trong việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ của cán bộ, công chức, viên
chức thuộc thẩm quyền quản lý của nhiều cơ quan, tổ chức do người đứng đầu cơ
quan, tổ chức trực tiếp quản lý cán bộ, công chức, viên chức bị tố cáo phối hợp với các
cơ quan, tổ chức có liên quan giải quyết. (3) Tố cáo hành vi vi phạm pháp luật trong
việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ của cán bộ, công chức, viên chức có dấu hiệu tội
phạm do cơ quan tiến hành tố tụng giải quyết theo quy định của pháp luật về tố tụng
hình sự [44].
Về thẩm quyền giải quyết tố cáo hành vi vi phạm pháp luật của cán bộ, công
chức trong việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ trong cơ quan HCNN được quy định như
sau: (1) Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn có thẩm quyền giải quyết tố
cáo hành vi vi phạm pháp luật trong việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ của cán bộ,
công chức do mình quản lý trực tiếp. (2) Chủ tịch Ủy ban nhân dân quận, huyện, thị


18
xã, thành phố thuộc tỉnh có thẩm quyền giải quyết tố cáo hành vi vi phạm pháp luật
trong việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ của Chủ tịch, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân
cấp xã, người đứng đầu, cấp phó của người đứng đầu cơ quan chuyên môn thuộc Ủy
ban nhân dân cấp huyện và cán bộ, công chức do mình bổ nhiệm, quản lý trực tiếp. (3)
Người đứng đầu cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực
thuộc trung ương có thẩm quyền giải quyết tố cáo hành vi vi phạm pháp luật trong việc
thực hiện nhiệm vụ, công vụ của người đứng đầu, cấp phó của người đứng đầu cơ
quan chuyên môn trực thuộc cơ quan mình và cán bộ, công chức do mình bổ nhiệm,
quản lý trực tiếp. (4) Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương
có thẩm quyền giải quyết tố cáo hành vi vi phạm pháp luật trong việc thực hiện nhiệm
vụ, công vụ của Chủ tịch, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện, người đứng đầu,
cấp phó của người đứng đầu cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh và
cán bộ, công chức do mình bổ nhiệm, quản lý trực tiếp. (5) Tổng cục trưởng, Cục
trưởng và cấp tương đương được phân cấp quản lý cán bộ, công chức có thẩm quyền
giải quyết tố cáo hành vi vi phạm pháp luật trong việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ
của người đứng đầu, cấp phó của người đứng đầu đơn vị thuộc Tổng cục, Cục và cấp
tương đương, cán bộ, công chức do mình bổ nhiệm, quản lý trực tiếp. (6) Bộ trưởng,
Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ có thẩm quyền giải quyết tố cáo hành vi vi phạm pháp
luật trong việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ của người đứng đầu, cấp phó của người
đứng đầu cơ quan, đơn vị thuộc Bộ, thuộc cơ quan ngang Bộ và cán bộ, công chức do
mình bổ nhiệm, quản lý trực tiếp. (7) Thủ tướng Chính phủ có thẩm quyền giải quyết
tố cáo hành vi vi phạm pháp luật trong việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ của Bộ
trưởng, Thứ trưởng, Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Thủ trưởng, Phó
Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ, Chủ tịch, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp
tỉnh và cán bộ, công chức do mình bổ nhiệm, quản lý trực tiếp [44].
Theo quy định của Luật Tố cáo năm 2011 thì trình tự giải quyết tố cáo được quy
định như sau: (1) Tiếp nhận, xử lý thông tin tố cáo. (2) Xác minh nội dung tố cáo. (3)
Kết luận nội dung tố cáo. (4) Xử lý tố cáo của người giải quyết tố cáo. (5) Công khai
kết luận nội dung tố cáo, quyết định xử lý hành vi vi phạm bị tố cáo [44].
Về hình thức tố cáo thì có thể bằng đơn hoặc tố cáo trực tiếp. đối với hình thức
tố cáo trực tiếp thì người tiếp nhận có trách nhiệm hướng dẫn người tố cáo viết đơn
hoặc người tiếp nhận phải ghi nội dung tố cáo và yêu cầu người tố cáo ký tên hoặc
điểm chỉ để xác nhận [44].
Thời hạn giải quyết tố cáo là 60 ngày, kể từ ngày thụ lý giải quyết tố cáo; đối
với vụ việc phức tạp thì thời hạn giải quyết là 90 ngày, kể từ ngày thụ lý giải quyết tố
cáo. Trong trường hợp cần thiết, người có thẩm quyền giải quyết tố cáo có thể gia hạn
giải quyết một lần nhưng không quá 30 ngày; đối với vụ việc phức tạp thì không quá
60 ngày [44].


19
Khi xác minh nội dung tố cáo thì người giải quyết tố cáo tiến hành xác minh
hoặc giao cho cơ quan thanh tra nhà nước cung cấp hoặc cơ quan, tổ chức, cá nhân có
trách nhiệm xác minh nội dung tố cáo.
Khi kết luận nội dung tố cáo, trước hết phải căn cứ vào nội dung tố cáo, văn bản
giải trình của người bị tố cáo, kết quả xác minh nội dung tố cáo, tài liệu, chứng cứ có
liên quan, người giải quyết tố cáo phải kết luận bằng văn bản về nội dung tố cáo. Kết
luận nội dung tố cáo phải có các nội dung sau đây: Kết quả xác minh nội dung tố cáo;
Kết luận việc tố cáo đúng, đúng một phần hoặc sai; xác định trách nhiệm của từng cá
nhân về những nội dung tố cáo đúng hoặc đúng một phần; Các biện pháp xử lý theo
thẩm quyền; kiến nghị biện pháp xử lý với cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền
(nếu có) [44].
* Theo Luật đất đai năm 2013, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2014 thì giải
quyết tố cáo về đất đai được quy định như sau:
- Cá nhân có quyền tố cáo vi phạm pháp luật về quản lý và sử dụng đất đai;
- Việc giải quyết tố cáo vi phạm pháp luật về quản lý và sử dụng đất đai thực
hiện theo quy định của pháp luật về tố cáo [48].
1.2.4. Những ưu điểm, nhược điểm, hạn chế của các quy định pháp luật hiện hành
về giải quyết tranh chấp, khiếu nại, tố cáo đất đai
1.2.4.1. Ưu điểm
Hệ thống pháp luật giải quyết tranh chấp, KNTC về đất đai được ban hành khá
đầy đủ. Trong đó, trọng tâm vẫn là Luật khiếu nại, Luật tố cáo, Luật đất đai và các
Nghị định hướng dẫn thi hành. Ngoài ra, có những Luật liên quan khác như Luật hoà
giải cơ sở, Luật tiếp công dân... những văn bản này đã quy định cơ bản, rõ ràng trình
tự, thủ tục và thẩm quyền, thời hạn và cách thức giải quyết đối với từng loại vụ việc.
Đã phân định rõ trách nhiệm của các ngành, các cấp, hạn chế được sự chồng chéo,
mâu thuẫn.
Đồng thời, hệ thống pháp luật cũng thường xuyên được điều chỉnh, sửa đổi, bổ
sung cho phù hợp với tình hình mới. Do đó, đã giúp giải quyết tương đối tốt các vụ
việc tranh chấp, KNTC về đất đai, góp phần giữ vững trật tự, an toàn xã hội, thúc đẩy
phát triển kinh tế nước nhà.
Đối với chính quyền tỉnh .... .... , trong thời gian qua đã tuân thủ thực hiện tốt
các quy định của pháp luật trong giải quyết tranh chấp, KNTC về đất đai. Tỉnh đã chú
trọng ban hành một số văn bản quy phạm pháp luật (QPPL) thuộc thẩm quyền theo
Luật định, chủ yếu là tăng cường quản lý Nhà nước về đất đai (giá đất, hạn mức
giao đất, bồi thường GPMB...), các văn bản này đã có tác động tích cực trên địa bàn
tỉnh.


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×