Tải bản đầy đủ

công tác quản lý hoạt động khai thác khoáng sản trên địa bàn tỉnh thái nguyên

Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ
KHAI THÁC KHOÁNG SẢN
1.1. Cơ sở lý luận về khoáng sản và quản lý khai thác khoáng sản
1.1.1. Khái quát chung về khoáng sản
1.1.1.1. Khái niệm
Theo Luật Khoáng sản năm 2010 [14], “Khoáng sản là khoáng vật,
khoáng chất có ích được tích tụ tự nhiên ở thể rắn, thể lỏng, thể khí tồn tại
trong lòng đất, trên mặt đất, bao gồm cả khoáng vật, khoáng chất ở bãi thải
của mỏ”.
Khoáng sản cũng có thể được hiểu là nguồn nguyên liệu tự nhiên có
trong nguồn gốc vô cơ hoặc hữu cơ, tuyệt đại bộ phận nằm trong lòng trái đất
và quá trình hình thành có liên quan mật thiết đến quá trình lịch sử phát triển
của vỏ trái đất trong thời gian dài từ hàng ngàn năm đến hàng chục năm, hàng
triệu năm.
1.1.1.2. Đặc điểm khoáng sản Việt Nam
Theo Lại Hồng Thanh (2009) [8], “tài nguyên khoáng sản của nước ta
có những đặc điểm như sau:
Thứ nhất, nước ta không có tiềm năng lớn về các khoáng sản năng
lượng. Dầu khí chỉ đảm bảo khai thác được khoảng 30 năm nữa, do vậy cần
tăng cường tìm kiếm thăm dò khai thác. Than biến chất cao với trữ lượng đã

được đánh giá đạt hàng tỷ tấn cần phải khai thác sâu hàng trăm mét và hơn
nữa mới bảo đảm nhu cầu phát triển kinh tế của đất nước. Than biến chất thấp
ở dưới sâu đồng bằng Sông Hồng tuy dự báo có tài nguyên đến vài trăm tỷ tấn
nhưng độ sâu hàng ngàn mét dưới lòng đất, điều kiện khai thác cực kỳ khó
khăn và phức tạp cả về công nghệ, an ninh xã hội và môi trường. Tiềm năng
Urani và địa nhiệt không đáng kể và chưa được thăm dò để đánh giá cụ thể.
Thứ hai, nước ta có nhiều khoáng kim loại nhưng trữ lượng không
nhiều. Rất nhiều khoáng sản kim loại (vàng, bạc, đồng, thiếc, kẽm, chì...) thế


giới rất cần trong khi trữ lượng lại có hạn, chỉ khai thác mấy chục năm là cạn
kiệt nên không đảm bảo tiêu dùng trong nước phục vụ cho phát triển kinh tế.
Một số ít khoáng sản như Bauxit, đất hiếm, ilmenit có trữ lượng lớn nhưng
các khoáng sản này trên thế giới các quốc gia khác cũng có trữ lượng tương
đương hoặc lớn hơn nước ta. Trữ lượng Bauxit trên thế giới là 27 tỉ tấn với
sản lượng khai thác hàng năm khoảng 200 triệu tấn. Đất hiếm trên thế giới đạt
99 triệu tấn, nhu cầu hàng năm chỉ khoảng 125.000 tấn. Trữ lượng Titan trên
thế giới đạt hơn 2 tỷ tấn, hàng năm thế giới tiêu thụ hơn 6 triệu tấn titan và dự
báo khoảng 128 năm nữa thế giới sẽ khai thác hết.
Thứ ba, nước ta có nhiều khoáng chất công nghiệp và vật liệu xây dựng
phục vụ tốt cho phát triển kinh tế đất nước và có thể xuất khẩu. Tuy nhiên,
nguồn tài nguyên này không có giá trị kinh tế cao.
Thứ tư, các loại khoáng sản quý có giá trị kinh tế cao như đá quý, ruby,
kim cương ... chưa xác định rõ trữ lượng, các loại đá quý khác cũng chưa
được khảo sát và phát hiện”.
1.1.1.3. Phân loại khoáng sản
Theo Lại Hồng Thanh (2009) [8], “có nhiều cách để phân loại tài
nguyên khoáng sản, thông thường, người ta phân loại theo các tiêu chí sau:
Phân loại theo nguồn gốc: Nội sinh (sinh ra trong lòng trái đất), ngoại
sinh (sinh ra trên bề mặt trái đất).
Phân loại theo mục đích, công dụng và thành phần hóa học: Khoáng
sản nhiênliệu (dầu mỏ, khí đốt, than, đá cháy); khoáng sản kim loại (kim loại
đen, kim loại màu, kim loại quý hiếm); khoáng sản phi kim (vật liệu khoáng,
đá quý, vật liệu xây dựng).
Phân loại dựa trên trạng thái vật lý: Khoáng sản rắn (kim loại, phi kim
và đá màu, đá quý); khoáng sản lỏng (dầu mỏ, nước khoáng, nước nóng...);
khoáng sản khí (khí đốt và khí trơ)”.
1.1.1.4. Vai trò của khoáng sản
- “Tài nguyên khoáng sản là một yếu tố nguồn lực quan trọng của quá



trình sản xuất.
- Tài nguyên thiên nhiên khoáng sản là yếu tố thúc đẩy sản xuất phát
triển, các nước đang phát triển thường quan tâm đến việc xuất khẩu sản phẩm
thô, đó là những sản phẩm được khai thác trực tiếp từ nguồn tài nguyên thiên
nhiên của đất nước, chưa qua chế biến hoặc ở dạng sơ chế. Nguồn tài nguyên
thiên nhiên cũng là cơ sở để phát triển các ngành sản xuất nông nghiệp, công
nghiệp, công nghiệp chế biến, công nghiệp năng lượng, công nghiệp vật liệu
xây dựng...
- Tài nguyên thiên nhiên là cơ sở tạo tích lũy vốn và phát triển ổn định.
Sự giàu có về tài nguyên, đặc biệt về năng lượng giúp cho một quốc gia ít lệ
thuộc hơn vào các quốc gia khác và có thể tăng trưởng một cách ổn định, độc
lập khi thị trường tài nguyên thế giới rơi vào tình thái bất ổn. Tài nguyên
khoáng sản còn tham gia vào thương mại quốc tế. Nước ta cũng như nhiều
nước trên thế giới, nhờ xuất khẩu khoáng sản, cho thuê đất cũng mang lại
nguồn thu đáng kể cho đất nước.
- Ngành khai khoáng cũng có cơ hội phát triển và tham gia vào thương
mại, đầu tư quốc tế, tài nguyên khoáng sản có ý nghĩa về phương diện chính
trị. Các quốc gia ít có tài nguyên khoáng sản sẽ ở vào thế kém độc lập, tự chủ
hơn trong giao lưu quốc tế, thường lệ thuộc về cả kinh tế và chính trị đối với
các quốc gia có ưu thế về vấn đề này”.
1.1.2. Khai thác khoáng sản
1.1.2.1. Khái niệm về khai thác khoáng sản
Theo Luật khoáng sản năm 2010 [14], “khai thác khoáng sản là hoạt
động nhằm thu hồi khoáng sản, bao gồm xây dựng cơ bản mỏ, khai đào, phân
loại, làm giàu và các hoạt động khác có liên quan.
Khai thác khoáng sản là hoạt động được tiến hành sau khi đã có giấy
phép khai thác của cơ quan nhà nước có thẩm quyền và được tính từ khi mỏ
bắt đầu xây dựng cơ bản (hay còn gọi là mở mỏ) cho đến khi mỏ kết thúc khai
thác (đóng cửa mỏ - phục hồi môi trường)”.


1.1.2.2. Các quy định, nguyên tắc trong khai thác khoáng sản
Luật Khoáng sản 2010 [14] và Nghị định hướng dẫn thi hành quy định
tương đối chặt chẽ về chủ thể và hoạt động khai thác khoáng sản.
Theo quy định tại Điều 51 Luật Khoáng sản 2010, điều kiện cần để có
thể trở thành chủ thể khai thác khoáng sản gồm hai yêu cầu sau:
“Là tổ chức (doanh nghiệp được thành lập theo Luật doanh nghiệp; hợp
tác xã, liên hiệp hợp tác xã được thành lập theo Luật hợp tác xã) hoặc hộ kinh
doanh. Có đăng ký kinh doanh ngành nghề khai thác khoáng sản
Trong đó hộ kinh doanh đăng ký kinh doanh ngành nghề khai thác
khoáng sản chỉ được khai thác khoáng sản làm vật liệu xây dựng thông
thường, khai thác tận thu khoáng sản.
Đối với doanh nghiệp, hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã có đăng ký kinh
doanh ngành nghề khai thác khoáng sản:
+ Có dự án đầu tư khai thác khoáng sản ở khu vực đã thăm dò, phê
duyệt trữ lượng phù hợp với quy hoạch. Dự án đầu tư khai thác khoáng sản
phải có phương án sử dụng nhân lực chuyên ngành, thiết bị, công nghệ,
phương pháp khai thác tiên tiến phù hợp; đối với khoáng sản độc hại còn phải
được Thủ tướng Chính phủ cho phép bằng văn bản;
+ Có báo cáo đánh giá tác động môi trường hoặc bản cam kết bảo vệ
môi trường theo quy định của pháp luật về bảo vệ môi trường;
+ Có vốn chủ sở hữu ít nhất bằng 30% tổng số vốn đầu tư của dự án
đầu tư khai thác khoáng sản.
Đối với hộ kinh doanh có đăng ký kinh doanh ngành nghề khai thác
khoáng sản:
+ Có dự án đầu tư khai thác khoáng sản ở khu vực đã thăm dò và phê
duyệt trữ lượng phù hợp với quy hoạch thăm dò, khai thác, sử dụng khoáng
sản tỉnh, thành phố nơi có khoáng sản. Dự án đầu tư khai thác khoáng sản
phải có phương án sử dụng nhân lực chuyên ngành, thiết bị, công nghệ,
phương pháp khai thác phù hợp.


+ Có bản cam kết bảo vệ môi trường được xác nhận theo quy định của
pháp luật về bảo vệ môi trường.
+ Có vốn chủ sở hữu ít nhất bằng 30% tổng số vốn đầu tư của dự án
đầu tư khai thác khoáng sản.
+ Quy mô công suất khai thác không quá 3.000 m3 sản phẩm là khoáng
sản nguyên khai/năm”.
1.1.3. Quản lý hoạt động khai thác khoáng sản
1.1.3.1. Khái niệm về quản lý hoạt động khai thác khoáng sản
Theo Phạm Hồng Sơn và Phan Huy Đường (2013) [13], “Quản lý khai
thác khoáng sản là một bộ phận của quản lý nhà nước về hoạt động khoáng
sản, thuộc lĩnh vực tài nguyên và môi trường. Quản lý nhà nước về hoạt động
khai thác khoáng sản là sự tác động có định hướng, có tổ chức của các cơ
quan quản lý nhà nước đến các tổ chức, cá nhân và các hoạt động khai thác
khoáng sản của họ nhằm đạt mục tiêu đã xác định thông qua việc áp dụng các
nguyên tắc, công cụ và biện pháp quản lý phù hợp với điều kiện môi trường,
hoàn cảnh kinh tế-xã hội cụ thể trong từng giai đoạn.
Mục tiêu của quản lý nhà nước đối với hoạt động khoáng sản nhằm
khai thác lợi thế của quốc gia phục vụ cho nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội,
đồng thời đảm bảo giữ gìn, bảo vệ môi trường đáp ứng yêu cầu phát triển bền
vững. Đồng thời hạn chế và tiến tới xoá bỏ những bất cập, tác động tiêu cực
của hoạt động khai thác khoáng sản tràn lan, lãng phí tài nguyên quốc gia và
hủy hoại môi trường, ảnh hưởng xấu tới sức khỏe và đời sống con người”.
1.1.3.2. Ý nghĩa của quản lý hoạt động khai thác khoáng sản
Quản lý nhà nước về khai thác khoáng sản có những ý nghĩa như sau:
- “Giúp thực hiện mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của địa phương:
Mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội là cái đích cần đạt tới của quản lý nhà
nước. Để đạt được mục tiêu tổng thể chung, Nhà nước (chủ thể quản lý) phải
đặt ra mục tiêu cụ thể đối với từng lĩnh vực quản lý. Mục tiêu quản lý này
không phải bất biến mà mỗi giai đoạn phát triển có những mục tiêu quản lý


riêng, phù hợp. Hiệu quả kinh tế - xã hội được thể hiện qua các chỉ tiêu về thu
ngân sách, giải quyết việc làm, nâng cao đời sống người lao động và tái phân
phối lợi tức xã hội. Để đạt mục tiêu trên đòi hỏi công tác quản lý của nhà
nước phải chặt chẽ để việc khai thác khoáng sản đảm bảo tiết kiệm, hiệu quả.
- Hạn chế tác động xấu của hoạt động khai thác khoáng sản đến môi
trường: Khoáng sản là thành phần của môi trường, là yếu tố tạo thành môi
trường nên việc khai thác khoáng sản có ảnh hưởng rất lớn đến môi trường.
Cả về lý thuyết và thực tiễn đều cho thấy khai thác khoáng sản là một trong
những hoạt động có tác động xấu đến môi trường. Do vậy, hạn chế tác động
của khai thác khoáng sản đến môi trường sinh thái là một mục tiêu quan trọng
trong quản lý nhà nước về khai thác khoáng sản.
- Bảo vệ quyền sở hữu toàn dân đối với khoáng sản mà Nhà nước là
đại diện: Trên cơ sở khoáng sản thuộc sở hữu toàn dân mà Nhà nước là đại
diện chủ sở hữu, các quy định pháp luật về khoáng sản, khai thác khoáng sản
thể hiện rõ các quyền của chủ sở hữu và lợi ích của người dân đối với tài
nguyên khoáng sản”.
1.1.4. Nội dung quản lý khai thác khoáng sản
1.1.4.1.Chính sách, pháp luật, quy định của Nhà nước về khai thác khoáng
sản
Trong đó có nội dung rất quan trọng là cấp phép khai thác, đấu giá
quyền khai thác khoáng sản, quản lý khối lượng khai thác khoáng sản, thu
tiền cấp quyền khai thác khoáng sản.
- “Cấp phép khai thác tạo cơ sở cho hoạt động khai thác khoáng sản
được triển khai. Về thẩm quyền, UBND cấp tỉnh cấp Giấy phép khai thác
khoáng sản làm vật liệu xây dựng thông thường, than bùn, khoáng sản tại các
khu vực có khoáng sản phân tán, nhỏ lẻ đã được Bộ Tài nguyên và Môi
trường khoanh định và công bố; Giấy phép khai thác tận thu khoáng sản;
đồng thời có quyền gia hạn, thu hồi, chấp thuận trả lại loại giấy phép nêu trên;
chấp thuận trả lại một phần diện tích khu vực khai thác khoáng sản; chấp


thuận chuyển nhượng quyền khai thác khoáng sản.
- Đấu giá quyền khai thác khoáng sản: Về nguyên tắc, việc cấp quyền
khai thác khoáng sản phải thực hiện trên cơ sở đấu giá quyền khai thác
khoáng sản nhằm bảo đảm tính công khai, minh bạch, tăng thu cho ngân sách
nhà nước. Tuy nhiên, có một số khu vực khoáng sản, loại khoáng sản khi cấp
quyền khai thác có thể không thông qua đấu giá.
Khối lượng khoáng sản khai thác là căn cứ để xác định các nghĩa vụ tài
chính chủ thể khai thác phải thực hiện (tiền cấp quyền khai thác khoáng sản;
thuế, phí). Quản lý chặt chẽ khối lượng khoáng sản khai thác là cơ sở để thực
hiện hiệu quả cơ chế quản lý khoáng sản thông qua các quy định về tài chính,
đảm bảo thực hiện nguyên tắc kết hợp hài hòa các loại lợi ích.
- Luật Khoáng sản năm 2010 [14] quy định khoản thu khi Nhà nước cấp
quyền khai thác khoáng sản cho các tổ chức, cá nhân được gọi là “Tiền cấp
quyền khai thác khoáng sản”.Việc xác định mức thu được căn cứ vào trữ lượng,
chất lượng, loại hoặc nhóm khoáng sản, điều kiện khai thác khoáng sản”.
1.1.4.2. Xây dựng quy hoạch khai thác khoáng sản
Quy hoạch là cơ sở cho việc cấp phép, cho thuê đất, đấu giá quyền khai
thác khoáng sản và quản lý hoạt động khai thác khoáng sản. Theo quy định,
Quy hoạch khai thác khoáng sản tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương được
lập đối với các loại khoáng sản sau: (1). Khoáng sản làm vật liệu xây dựng
thông thường, than bùn; (2). Khoáng sản ở khu vực có khoáng sản phân tán,
nhỏ lẻ đã được Bộ Tài nguyên và Môi trường khoanh định và công bố; (3).
Khoáng sản ở bãi thải của mỏ đã đóng cửa.
Quy hoạch khai thác khoáng sản có các nội dung chính sau đây:
(1). “Điều tra, nghiên cứu, tổng hợp, đánh giá điều kiện tự nhiên, kinh
tế - xã hội và thực trạng hoạt động khai thác khoáng sản trên địa bàn địa
phương;
(2). Đánh giá kết quả thực hiện quy hoạch kỳ trước;
(3). Xác định phương hướng, mục tiêu khai thác khoáng sản trong kỳ


quy hoạch;
(4). Khu vực cấm hoạt động khoáng sản, khu vực tạm thời cấm hoạt
động khoáng sản;
(5). Khoanh định chi tiết khu vực mỏ, loại khoáng sản cần khai thác và
tiến độ khai thác;
(6). Xác định quy mô, công suất khai thác, yêu cầu về công nghệ khai
thác;
(7). Giải pháp, tiến độ tổ chức thực hiện quy hoạch”.
1.1.4.3.Tổ chức thực hiện quản lý nhà nước về khai thác khoáng sản
Theo quy định, trách nhiệm quản lý nhà nước về khoáng sản trên địa
bàn tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương là của Ủy ban nhân dân các cấp.
“Để thực hiện trách nhiệm quản lý nhà nước của mình về khai thác
khoáng sản, UBND tỉnh giao nhiệm vụ cụ thể cho các Sở, ngành thuộc tỉnh.
Việc phân giao nhiệm vụ này căn cứ chức năng, nhiệm vụ của các đơn vị theo
quy định của pháp luật, đồng thời căn cứ thực tiễn địa phương. Tuy nhiên
nhìn chung theo quy định của các tỉnh, giúp UBND tỉnh thực hiện nhiệm vụ
quản lý nhà nước về khai thác khoáng sản bao gồm các Sở, ngành: Tài
nguyên và Môi trường, Xây dựng, Công Thương, Tài chính, Cục thuế tỉnh…
trong đó Sở Tài nguyên và Môi trường là cơ quan có lực lượng trực tiếp thực
hiện nhiệm vụ quản lý nhà nước về khai thác khoáng sản”.
1.1.4.4. Thanh tra, kiểm tra, giám sát, xử lý vi phạm pháp luật về khai thác
khoáng sản
“Quản lý nhà nước dù trên bất bất kỳ lĩnh vực nào, phạm vi nào cũng
gắn với thanh tra, kiểm tra, giám sát và xử lý vi phạm, quản lý nhà nước đối
với hoạt động khai thác khoáng sản cũng không ngoại lệ.
Thanh tra, kiểm tra, giám sát hoạt động khoáng sản nói chung, hoạt
động khai thác khoáng sản nói riêng trên địa bàn theo thẩm quyền phù hợp
quy định pháp luật về khoáng sản, pháp luật về thanh tra và luật tổ chức chính
phủ. Giải quyết các khiếu nại, khiếu tố về hoạt động khai thác khoáng sản của


tổ chức, cá nhân khai thác khoáng sản, doanh nghiệp sử dụng khoáng sản và
người dân. Xử lý vi phạm pháp luật và chính sách của nhà nước đối với hoạt
động khai thác khoáng sản. Lập báo cáo và cung cấp thông tin về kết quả
thanh tra, kiểm tra, giám sát hoạt động khai thác khoảng sản cho cơ quan quản
lý có thẩm quyền của địa phương, báo cáo cấp trên (chính phủ, cơ quan quản
lý chuyên ngành).
Ở cấp tỉnh, thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm pháp luật về khai thác
khoáng sản chủ yếu do Sở Tài nguyên và Môi trường, Sở Công Thương thực
hiện”.
1.1.5. Các nhân tố ảnh hưởng đến quản lý khai thác khoáng sản
Cũng như tất cả các công tác khác, công tác quản lý khai thác khoáng
sản cũng chịu tác động bởi nhiều yếu tố. Những yếu tố góp phần làm cho
công tác quản lý khai thác khoáng sản thuận lợi hoặc khó khăn, đơn giản hoặc
phức tạp, được hoàn thành tốt hoặc còn vướng mắc. Việc xem xét các yếu tố
ảnh hưởng giúp đi sâu, hiểu rõ nguyên nhân thực trạng của công tác này. Các
yếu tố ảnh hưởng được chia thành nhóm các yếu tố thuộc môi trường vĩ mô
và nhóm các yếu tố thuộc doanh nghiệp khai thác khoáng sản
1.1.5.1. Nhóm yếu tố thuộc môi trường vĩ mô
“Pháp luật, chính sách, quy định của nhà nước về khai thác khoáng sản:
Trong thời gian qua, Quốc hội và Chính phủ đã ban hành nhiều văn bản,
chính sách quan trọng về lĩnh vực khoáng sản, trong đó có khai thác khoáng
sản. Việc ban hành các văn bản pháp luật về khai thác khoáng sản và các văn
bản hướng dẫn thi hành là cơ sở cho các cơ quan của nhà nước trong việc
thực hiện chức năng quản lý về khai thác khoáng sản.
Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của đất nước: Chiến lược phát
triển kinh tế - xã hội là một hệ thống các quan điểm, mục tiêu cần đạt được
trong một thời kỳ dài. Việc quản lý nhà nước về khai thác khoáng sản phải
tuân theo các quan điểm, đường lối trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội
nhằm đạt được mục tiêu chung của đất nước.


Cơ chế phối hợp giữa các cơ quan quản lý nhà nước trong khai thác
khoáng sản. Cơ chế phối hợp hoạt động giữa các cơ quan quản lý các cấp có
vai trò quan trọng, quyết định hiệu quả quản lý. Trong lĩnh vực quản lý nhà
nước về khai thác khoáng sản, phối hợp được thực hiện trong suốt quá trình
quản lý, từ hoạch định chính sách, xây dựng thể chế, lập quy hoạch đến việc
tổ chức thực hiện.
Nhóm yếu tố thuộc địa phương
Quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội địa phương: Quy hoạch
phát triển kinh tế - xã hội địa phương là luận chứng phát triển kinh tế - xã hội
và tổ chức không gian các hoạt động kinh tế - xã hội hợp lý trên lãnh thổ nhất
định trong một thời gian xác định. Theo quy định ở địa phương có Quy hoạch
phát triển kinh tế xã hội cấp tỉnh, cấp huyện, quy hoạch thường được lập cho
thời kỳ 10 năm.
Chính sách khai thác khoáng sản của địa phương: Chính sách khai thác
khoáng sản của địa phương là đường lối cụ thể về khai thác khoáng sản ở địa
phương cùng các biện pháp, kế hoạch thực hiện đường lối ấy. Khai thác để
phục vụ nhu cầu địa phương hay phục vụ nhu cầu cả các tỉnh trong vùng, xác
định hoặc không xác định khai thác khoáng sản là ngành kinh tế mũi nhọn, bảo
vệ quyền lợi của địa phương và người dân nơi có khoáng sản được khai thác...
đều có tác động trực tiếp đến quản lý nhà nước về khai thác khoáng sản.
Điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội địa phương: Sự phân bố khoáng sản,
trữ lượng khoáng sản, vị trí địa lý, nhu cầu thị trường, hệ thống giao thông...là
các nhân tố quan trọng ảnh hưởng đến khai thác khoáng sản và do đó tác động
đến quản lý nhà nước về khai thác khoáng sản”.
1.1.5.2. Yếu tố thuộc về doanh nghiệp khai thác khoáng sản
“Ý thức chấp hành pháp luật về khai thác khoáng sản: Thực tiễn đã cho
thấy rằng nếu doanh nghiệp, chủ thể khai thác khoáng sản có ý thức chấp
hành pháp luật về khai thác khoáng sản tốt thì sẽ không hoặc hạn chế xảy ra
vi phạm trong hoạt động khai thác khoáng sản


Năng lực tài chính: Chỉ khi doanh nghiệp có năng lực tài chính mới có
khả năng đảm bảo hiệu quả kinh tế - xã hội của dự án khai khoáng, đầu tư
máy móc, áp dụng công nghệ khai thác tiên tiến để thu hồi tối đa khoáng sản,
hạn chế xảy ra tổn thất khoáng sản trong khai thác, hạn chế tác động tiêu cực
đến môi trường cũng như đảm bảo an toàn lao động trong khai thác.
Nguồn nhân lực của doanh nghiệp khai thác: Nhân lực trong doanh
nghiệp khai thác khoáng sản là những người trực tiếp tham gia quá trình khai
thác khoáng sản. Chất lượng nguồn nhân lực có vai trò quan trọng trong việc
đảm bảo khai thác đúng thiết kế, đảm bảo an toàn lao động...
Năng lực quản lý và kinh nghiệm khai thác khoáng sản của doanh
nghiệp: Lựa chọn doanh nghiệp có năng lực quản lý, kinh nghiệm khai thác
khoáng sản sẽ xóa bỏ tình trạng buôn bán giấy phép khai thác hay “ôm mỏ”
rất phổ biến trước đây”.
1.2. Kinh nghiệm quản lý khai thác khoáng sản
1.2.1. Kinh nghiệm quản lý khai thác khoáng sản của một số địa phương ở
trong nước
1.2.1.1. Kinh nghiệm quản lý khai thác khoáng sản của tỉnh Hà Nam
“Theo các Quy hoạch đã công bố thì tỉnh Hà Nam có một số loại tài
nguyên khoáng sản chính như: Đá vôi xi măng, đá vôi hoá chất, sét xi măng,
đá làm vật liệu xây dựng, sét làm gạch ngói… trong đó:Đá vôi sử dụng cho
công nghiệp sản xuất xi măng có tổng trữ lượng khoảng 4.193,6 triệu tấn; Đá
vôi cho công nghiệp hoá chất có tổng trữ lượng 426,2 triệu tấn.Sét xi măng có
trữ lượng khoảng 537,637 triệu tấn, gồm 09 mỏ sét ở huyện Thanh Liêm và
04 mỏ sét xi măng ở huyện Kim Bảng. Đá xây dựng thông thường có trữ
lượng khoảng 1.089,9 triệu m3, đất đá san lấp khoảng 290,944 triệu m3, chủ
yếu tập trung tại huyện Thanh Liêm và Kim Bảng. Các mỏ cát xây dựng, cát
sét làm vật liệu san lấp có trữ lượng khoảng 6,971 triệu m3 tập trung tại bãi
bồi ven sông Hồng thuộc huyện Duy Tiên, Lý Nhân, các mỏ này có quy mô
nhỏ, nhưng lại luôn được bồi hoàn hàng năm sau mùa mưa lũ…


Mặc dù trữ lượng khoáng sản trên địa bàn không được dồi dào và đa
dạng như nhiều địa phương khác trong cả nước. Tuy nhiên tỉnh Hà Nam là
một trong những tỉnh được đánh giá cao về công tác quản lý khai thác khoáng
sản nhờ thực hiện những biện pháp như:
- Thực hiện nghiêm pháp luật, chính sách, quy định của nhà nước về
khai thác khoáng sản. Đặc biệt là công tác cấp phép hoạt động khai thác
khoáng sản, được thực hiện rất chặt chẽ theo đúng quy định của pháp luật về
khoáng sản. Nhờ đó tỉnh Hà Nam đã quản lý tốt khối lượng khoáng sản khai
thác, đặc biệt là các loại khoáng sản như đá, đá vôi, sét xi măng… Việc tính
tiền cấp quyền khai thác khoáng sản và thu tiền cấp quyền khai thác khoáng
sản năm 2017, 2018 được triển khai thực hiện tốt và đạt kết quả tích cực.
- Thực hiện nghiêm túc nguyên tắc quản lý, chỉ được tiến hành khai
thác khoáng sản khi được cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền cho phép,
trách nhiệm bảo vệ khoáng sản chưa khai thác được coi là mối quan tâm hàng
đầu của tỉnh cũng như các địa phương. Thực hiện nhiều giải pháp phòng
ngừa, ngăn chặn hoạt động khai thác khoáng sản trái phép bằng nhiều hình
thức như: ban hành các công văn, chỉ thị nhằm bảo vệ khoáng sản chưa khai
thác; các địa phương, các ngành chức năng công bố địa chỉ thư điện tử, số
điện thoại đường dây nóng để tổ chức, cá nhân biết, phản ánh mọi thông tin
về tình trạng khai thác khoáng sản trái phép trên địa bàn; tổ chức nhiều đợt
truy quét, giải toả, tịch thu nhiều phương tiện phục vụ khai thác trái phép, xử
phạt hành chính đối với các tổ chức cá nhân có vi phạm…
- Thực hiện minh bạch hóa hoạt động khai thác khoáng sản, trong đó
quan trọng nhất là minh bạch hóa công tác thu tiền cấp quyền khai thác
khoáng sản. Thành lập Hội đồng thẩm định để xem xét, xác định số tiền các
đơn vị phải nộp làm cơ sở trình UBND tỉnh phê duyệt. Sau khi có Quyết định
phê duyệt số tiền cấp quyền khai thác khoáng sản của UBND tỉnh, Sở Tài
nguyên và Môi trường phối hợp với Cục Thuế tỉnh để thông báo cho tổ chức,
cá nhân được cấp quyền khai thác khoáng sản thực hiện theo quy định.


- Ràng buộc trách nhiệm của doanh nghiệp khai thác khoáng sản với
nơi có khoáng sản để giữ gìn môi trường, đảm bảo sự phát triển bền vững ở
địa phương. Thu phí vận chuyển từ doanh nghiệp khoáng sản để phục vụ
chương trình cải tạo các tuyến đường xuống cấp nghiêm trọng. Do cả nước
chưa quy định về thu cụ thể nên tỉnh tự xây dựng và ban hành mức thu dựa
trên nguyên tắc: bảo đảm đủ tiền để xây dựng và sửa chữa đường trong khả
năng đóng góp của doanh nghiệp và mức thu được điều chỉnh theo giá bán
khoáng sản. Tỉnh cũng thực hiện phân cấp quyền sử dụng kinh phí cho địa
phương quản lý”.
1.2.1.2. Kinh nghiệm quản lý khai thác khoáng sản của tỉnh Sơn La
Nguồn tài nguyên khoáng sản Sơn La tuy trữ lượng không lớn, phân bố
rải rác song rất phong phú, đa dạng với khoảng 120 mỏ, điểm mỏ, điểm quặng
và điểm khoáng hoá. Các mỏ và điểm mỏ, điểm quặng, điểm khoáng hoá, các
vành phân tán đã được thống kê và nêu rất cụ thể trong thuyết minh bản đồ
khoáng sản tỉnh. Khoáng sản Sơn La chủ yếu khai thác đá vôi phục vụ cho
nhu cầu xây dựng hạ tầng, nhà ở; khai thác than phục vụ nhu cầu chất đốt nội
tỉnh; thăm dò mỏ Đồng-Ni ken khu vực bản Phúc (Bắc Yên).
Các cấp Lãnh đạo tỉnh Sơn La rất quan tâm đến công tác đánh giá, xây
dựng quy hoạch, sử dụng hợp lý tài nguyên khoáng sản phục vụ cho mục tiêu
phát triển kinh tế xã hội của tỉnh đồng thời bảo vệ được môi trường, đảm bảo
sự phát triển bền vững. Vì vậy, tỉnh Sơn La cũng đã có những kinh nghiệm
quý báu trong công tác quản lý hoạt động khai thác khoáng sản như:
- “Quy định chi tiết về đấu giá quyền khai thác khoáng sản. Để thực
hiệnđược điều này, trong thời điểm Bộ Tài nguyên và Môi trường chưa có
hướng dẫn, UBND tỉnh đã chủ động ban hành các quy chế tạm thời về việc
đấu giá quyền khai thác khoáng sản thuộc thẩm quyền; quy định tạm thời về
trình tự, thủ tục xác định giá khởi điểm để đấu giá và giao cấp quyền khai
thác khoáng sản. Kết quả đấu giá, từ năm 2010 đến năm 2018, đã đấu giá
thành công 62 mỏ khoáng sản, thu về ngân sách nhà nước 134.537 triệu đồng.


- Tỉnh cũng đã ban hành Quy chế phối hợp giữa các cơ quan quản lý
nhà nước trong hoạt động khoáng sản trên địa bàn tỉnh. Trên cơ sở chức năng,
nhiệm vụ, quyền hạn được giao, tùy theo tính chất, nội dung của công tác
quản lý hoạt động khoáng sản, các cơ quan trên địa bàn tỉnh thực hiện theo
đúng nguyên tắc, chuyên môn, nghiệp vụ của mỗi cơ quan, bảo đảm kết quả
phối hợp đạt yêu cầu; đảm bảo tính thống nhất, không chồng chéo, không gây
ảnh hưởng đến hiệu quả chung; đảm bảo sự phối hợp đồng bộ; đề cao trách
nhiệm của cơ quan chủ trì, cơ quan phối hợp.
- Xây dựng quy định cụ thể về hỗ trợ địa phương đối với các doanh
nghiệp khai thác khoáng sản; thực hiện công khai nguồn thu từ khai thác tài
nguyên khoáng sản; áp dụng quy trình tham vấn trong cấp phép khai thác.
- Ở cấp địa phương phân làm hai cấp quản lý. Ban quản lý khai thác
khoáng sản tỉnh chịu trách nhiệm về quản lý các mỏ khai thác quy mô nhỏ.
Nhóm giám sát của các bên liên quan, giám sát hoạt động khai khác đối với
các thành viên quy mô lớn, khi thực thi đã đem đến những kết quả tích cực
như: Doanh thu tăng, tăng ngân sách, tăng cường sự tham gia của các bên,
phát triển nhận thức xã hội và môi trường...”
1.2.2. Bài học kinh nghiệm đối với quản lý khai thác khoáng sản tại tỉnh
Thái Nguyên
Thực tiễn quản lý Nhà nước về khai thác khoáng sản từ một số tỉnh nêu
trên là những bài học kinh nghiệm quý. Từ đó Thái Nguyên rút ra được một
số bài học kinh nghiệm đối với công tác quản lý Nhà nước về khai thác
khoáng sản trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên như:
- “Hiệu quả quản lý trong khai thác khoáng sản rất quan trọng và đặc
biệt là trong quá trình triển khai các dự án.
- Phải tuân thủ nghiêm ngặt các vấn đề có tính nguyên tắc trong hoạt
động khai thác như đảm bảo khai thác bền vững, đảm bảo về môi trường và
an sinh xã hội trên địa bàn có hoạt động khai thác diễn ra.
- Xây dựng những quy định cụ thể về hỗ trợ địa phương đối với các


doanh nghiệp khai thác khoáng sản.
- Có Quy chế phối hợp giữa các cơ quan quản lý nhà nước trong hoạt
động khoáng sản trên địa bàn tỉnh, quy định rõ ràng trách nhiệm, quyền hạn
của từng cơ quan.
- Quy định chi tiết, minh bạch về một số công tác quan trọng trong khai
thác khoáng sản như cấp phép khai thác khoáng sản, đấu giá quyền khai thác
khoáng sản, thu chi tiền cấp quyền khai thác khoáng sản…
- Ràng buộc trách nhiệm của doanh nghiệp khai thác khoáng sản với
nơi có khoáng sản để giữ gìn môi trường, đảm bảo sự phát triển bền vững ở
địa phương”.


Chương 2
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Các câu hỏi nghiên cứu
Xuất phát mục tiêu nghiên cứu, đề tài sẽ phải làm rõ và trả lời được
các câu hỏi sau:
- Công tác quản lý hoạt động khai thác khoáng sản tại tỉnh Thái Nguyên
trong thời gian qua đã đạt được những kết quả như thế nào?
- Có những mặt nào tích cực, mặt nào còn hạn chế, nguyên nhân của
những hạn chế đó trong công tác quản lý hoạt động khai thác khoáng sản tại
tỉnh Thái Nguyên?
- Những giải pháp nào có thể góp phần hoàn thiện hơn công tác quản lý
hoạt động khai thác khoáng sản tại tỉnh Thái Nguyên trong thời gian tới?
2.2. Phương pháp nghiên cứu
2.2.1. Phương pháp thu thập số liệu
2.2.1.1. Thu thập số liệu thứ cấp
Số liệu thứ cấp được sử dụng trong luận văn là các thông tin về công tác
quản lý khai thác khoáng sản, đặc điểm KTXH của tỉnh Thái Nguyên và một
số thông tin về công tác này tại một số địa phương khác… được thu thập từ
Sở Tài nguyên và môi trường, Sở Công Thương tỉnh Thái Nguyên, các trang
thông tin điện tử của tỉnh Thái Nguyên và một số địa phương khác.
Ngoài ra, nghiên cứu còn tham khảo thêm các thông tin từ luật, nghị
định, thông tư, từ các quy định, báo cáo của cơ quan Nhà nước ở Trung ương,
Ban Cán sự Đảng, UBND tỉnh và cơ quan chuyên môn quản lý nhà nước về
khai thác khoáng sản. Niên giám thống kê của Tổng cục Thống kê và Cục
Thống kê tỉnh Thái Nguyên. Ngoài ra nghiên cứu còn tham khảo một số công
trình, đề tài nghiên cứu khoa học có liên quan đến khai thác khoáng sản và
quản lý nhà nước về khai thác khoáng sản của một số nhà khoa học, những
nhà chuyên môn, các luận văn thạc sỹ, các bài báo, các bài viết được đăng tải
trên Internet, các bài tham luận tại các hội thảo khoa học...


2.2.1.2. Thu thập số liệu sơ cấp
Tác giả thu thập số liệu sơ cấp bằng cách điều tra trực tiếp như sau:
- Đối tượng điều tra: các doanh nghiệp khai thác khoáng sản trên địa
bàn tỉnh Thái Nguyên và các cán bộ đang công tác tại các cơ quan ban ngành
có nghiệp vụ quản lý hoạt động khai thác khoáng sản tại tỉnh Thái Nguyên.
- Số mẫu điều tra:
+ Đối với mẫu điều tra là các doanh nghiệp khai thác khoáng sản trên
địa bàn Tỉnh Thái Nguyên: tính đến 31/12/2018 trên địa bàn Tỉnh Thái
Nguyên có tổng 124 doanh nghiệp khai thác khoáng sản, tác giả tiến hành
điều tra toàn bộ số doanh nghiệp này.
+ Đối với mẫu điều tra là những cán bộ có làm việc liên quan đến
công tác hoạt động khai thác khoáng sản tại tỉnh Thái Nguyên:
Tác giả điều tra toàn bộ các cán bộ có liên quan đến công tác quản lý
hoạt động khai thác khoáng sản tại tỉnh Thái Nguyên bao gồm 46 người, hiện
đang công tác tại các đơn vị: UBND tỉnh, Sở Tài Nguyên Môi trường, Sở
Công Thương, Sở Kế hoạch Đầu tư, Liên đoàn địa chất Đông Bắc, Sở Tài
Chính, Sở Khoa học công nghệ. Đây là những người trực tiếp tiến hành các
công cụ và phương pháp tác động đến công tác quản lý hoạt động khai thác
khoáng sản tại tỉnh Thái Nguyên, có thể đưa ra nhận định chính xác nhất về
công tác quản lý hoạt động khai thác khoáng sản trên địa bàn tỉnh.
- Đặc điểm mẫu điều tra: Đặc điểm mẫu điều tra được thể hiện qua
bảng số liệu sau:
Bảng 2.1: Đặc điểm mẫu điều tra
STT

I
1.1
1.2

Tiêu chí
Số mẫu điều tra
Giới tính
Nam
Nữ

Số lượng
(Người)

Cơ cấu
(%)

170

100%

112
58

65,88
34,12


II
2.1
2.2
III
3.1
3.1
IV
4.1
4.2

Tuổi
Dưới 30 tuổi
Từ 30-60 tuổi
Thời gian công tác
Từ 1-5 năm
Trên 5 năm
Trình độ học vấn
Đại học
Sau đại học

37
133

21,76
78,24

52
118

30,59
69,41

133
37

78,24
21,76

(Nguồn: Tổng hợp từ số liệu điều tra, 2019)
- Kết cấu phiếu điều tra: Phiếu điều tra được thiết kế riêng cho 02
nhóm đối tượng phỏng vấn (1) là nhóm các cán bộ làm nghiệp vụ tại các cơ
quan quản lý và (2) là các cán bộ phụ trách công tác quản lý khai thác khoáng
sản tại các công ty.
Phiếu điều tra nhóm đối tượng (1) sẽ bao gồm 3 phần chính:
+ Phần thứ nhất là các thông tin liên quan đến cá nhân người được phỏng
vấn như: họ tên, năm sinh, giới tính, chức vụ, trình độ học vấn, đơn vị công tác.
+ Phần thứ hai là các đánh giá về công tác quản lý hoạt động khai thác
khoáng sản.
+ Phần thứ ba là các ý kiến khác của người được phỏng vấn.
Phiếu điều tra nhóm đối tượng (2) sẽ bao gồm 4 phần:
+ Phần thứ nhất là các thông tin liên quan đến cá nhân người được phỏng
vấn như: họ tên, năm sinh, giới tính, chức vụ, trình độ học vấn, đơn vị công tác.
+ Phần thứ hai là các thông tin liên quan đến doanh nghiệp
+ Phần thứ ba là các đánh giá về công tác quản lý hoạt động khai thác
khoáng sản
+ Phần thứ tư là các ý kiến đánh giá đóng góp khác của người được
phỏng vấn.
- Nội dung của phiếu điều tra được trình bày trong phụ lục số 01.
- Thang đo của bảng hỏi: Để đánh giá về công tác quản lý hoạt động


khai thác khoáng sản, luận văn sử dụng thang đo Likert 5 cấp độ cho các câu
hỏi. Điểm trung bình của mỗi tiêu chí sẽ được dùng để đánh giá công tác
quản lý hoạt động khai thác khoáng sản của các đối tượng được khảo sát.
+ Giá trị bình quân của thang đo Likert cho từng câu hỏi:
Xi = (∑ Xi*fi)/ (∑fi)
Trong đó:
Xi: là biến quan sát theo thang đo Likert
fi: Số người trả lời cho giá trị Xi
+ Ý nghĩa của từng giá trị trung bình của thang đo khoảng:
Giá trị khoảng cách = (Max - Min)/ n = (5 -1)/ 5= 0,8
Từ đó ta có: Giá trị trung bình và ý nghĩa của thang đo Likert:
Rất không

Không

đồng ý
1.00 - 1.80

đồng ý
1.81 - 2.60

Bình thường

Đồng ý

Rất đồng ý

2.61 - 3.40

3.41 - 4.20

4.21 - 5.00

2.2.2. Phương pháp xử lý số liệu
Số liệu được xử lý trên phần mềm Excel trên máy tính. Đối với những
thông tin định lượng, tác giả tiến hành tính toán các chỉ tiêu cần thiết như số
tuyệt đối, số tương đối, số trung bình và lập thành các bảng biểu, sơ đồ.
2.2.3. Phương pháp chuyên gia
Là phương pháp tham khảo ý kiến đánh giá của các chuyên gia về công
tác quản lý hoạt động khai thác khoáng sản tại tỉnh Thái Nguyên. Ý kiến
chuyên gia được sử dụng để đánh giá về thực trạng và vướng mắc trong công
tác quản lý hoạt động khai thác khoáng sản tại địa phương. Bên cạnh đó, tác
giả còn tham khảo ý kiến chuyên gia về các nhân tố ảnh hưởng đến công tác
quản lý hoạt động khai thác khoáng sản trên địa bàn tỉnh.
2.2.4. Phương pháp phân tích thông tin
Phân tích là chia vấn đề ra thành từng phần, tiếp cận chúng ở những
góc độ khác nhau, tài liệu khác nhau, sau đó tổng hợp chung lại để có nhận


thức chung nhất, đúng đắn và đầy đủ về vấn đề, từ đó tìm ra được bản chất,
quy luật của đối tượng nghiên cứu.
2.2.4.1. Phương pháp thống kê mô tả
Phương pháp thống kê được sử dụng phố biến trong Chương III. Các số
liệu được thống kê từ các Báo cáo của Sở Tài Nguyên và Môi trường, UBND
tỉnh, Hội đồng nhân dân tỉnh Thái Nguyên...nhằm cung cấp tư liệu cho việc
đánh giá kết quả quản lý nhà nước về khai thác khoáng sản của tỉnh.
2.2.4.2. Phương pháp so sánh
- Phương pháp so sánh: nhằm so sánh số tuyệt đối, số tương đối, số
bình quân để đánh giá và kết luận về mối liên hệ giữa sự vật và hiện tượng
theo thời gian.
Phương pháp so sánh trong luận văn được sử dụng để nghiên cứu diễn
biến thay đổi của các nội dung sau: so sánh tình hình khoáng sản Việt Nam
với các nước, của Thái Nguyên so với cả nước, so sánh các chỉ tiêu, các yếu
tố định lượng kết quả khai thác khoáng sản trong giai đoạn 2016-2018. So
sánh tình hình thanh tra, kiểm tra, xử lý các vi phạm chính sách, pháp luật về
khai thác khoáng sản trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên qua các năm. So sánh,
đánh giá định tính các nhân tố ảnh hưởng hoặc các biện pháp quản lý địa
phương đã áp dụng để khai thác khoáng sản đảm bảo sự phát triển bền vững.
2.3. Hệ thống các chỉ tiêu nghiên cứu
2.3.1. Các chỉ tiêu phân tích dữ liệu thứ cấp
- Nhóm các chỉ tiêu về chính sách pháp luật, quy định của nhà nước về
khai thác khoáng sản.
+ Số lượng văn bản được ban hành
+ Số lượng hoạt động tuyên truyền, phổ biến được tổ chức (số lớp học
nghiệp vụ, số đợt tập huấn, số lần giao lưu trực tuyến)
+ Số mỏ thực hiện tổ chức đấu giá, số lần tổ chức đấu giá, số đơn vị
trúng đấu giá, số tiền thu được qua đấu giá.
+ Số lượng giấy phép thăm dò khoáng sản được tiếp nhận, thẩm định


và cấp; Số lượng giấy phép còn hiệu lực.
+ Số lượng giấy cấp phép khai thác khoáng sản được cấp, số lượng giấy
cấp phép khai thác được cấp mới, giấy phép khai thác khoáng sản được điều
chỉnh, diện tích khai thác, trữ lượng khoáng sản được cấp phép khai thác mới,
quyết định phê duyệt trữ lượng khoáng sản.
+ Chỉ tiêu thu nộp ngân sách (số tiền thu cấp quyền khai thác)
- Nhóm các chỉ tiêu phản ánh công tác xây dựng quy hoạch, kế hoạch
hoạt động khai thác khoáng sản tại tỉnh Thái Nguyên.
+ Số lượng quy hoạch, kế hoạch được ban hành, được điều chỉnh.
+ Tỷ lệ quy hoạch, kế hoạch được thực hiện đúng và tỷ lệ bị vi phạm,
không hoàn thành.
- Nhóm các chỉ tiêu phản ánh đặc điểm tổ chức bộ máy quản lý hoạt
động khai thác khoáng sản tại tỉnh Thái Nguyên.
+ Số lượng người làm việc trong bộ máy quản lý.
+ Cơ cấu theo: Độ tuổi; Thời gian công tác; Trình độ chuyên môn, học
vấn; Cơ quan làm việc...
- Nhóm các chỉ tiêu phản ánh hoạt động thanh tra, kiểm tra, giám sát xử
lý vi phạm pháp luật về khai thác khoáng sản tại tỉnh Thái Nguyên.
+ Số lượng mỏ/đơn vị được kiểm tra
+ Số lượng đợt thanh tra, kiểm tra, giám sát xử lý vi phạm pháp luật về
khai thác khoáng sản.
+ Số đơn vị, cá nhân bị xử phạt
+ Số tiền xử phạt khi có vi phạm, số giấy phép bị thu hồi, số giấy phép
bị tước quyền sử dụng, số đơn vị đình chỉ hoạt động.
- Nhóm các chỉ tiêu khác:
+ Nhóm các chỉ tiêu phản ánh đặc điểm tự nhiên, kinh tế, xã hội của
tỉnh Thái Nguyên: Tốc độ tăng trưởng GDP; Tỷ lệ chuyển dịch cơ cấu kinh tế;
Tỷ lệ hộ nghèo; Số lượng việc làm...
+ Nhóm các chỉ tiêu phản ánh thực trạng khoáng sản và hoạt động khai


thác khoáng sản của tỉnh:
./ Chỉ tiêu hiệu quả về lao động: Số lượng lao động làm việc trong
ngành khai thác khoáng sản; thu nhập bình quân của lao động.
./ Chỉ tiêu về hiệu quả sử dụng cơ sở vật chất kỹ thuật: Trình độ công
nghệ khai thác; Mức độ tổn thất tài nguyên trong quá trình khai thác.
./ Chỉ tiêu hiệu quả về vốn: Tổng vốn đầu tư cho ngành khai thác
khoáng sản; Giá trị sản xuất; Hiệu quả đầu tư của ngành khai thác khoáng
sản; Tỷ số giữa đóng góp vào GDP/Tổng mức đầu tư.
2.3.2. Các chỉ tiêu phân tích dữ liệu sơ cấp
- Tính phù hợp của các văn bản quy phạm pháp luật về khai thác, chế
biến và sử dụng khoáng sản.
- Tính phù hợp của việc xây dựng, phê duyệt quy hoạch thăm dò, khai
thác, chế biến và sử dụng khoáng sản.
- Tính phù hợp và số lượng giấy phép được cấp hoạt động khai thác
khoáng sản.
- Tính hiệu quả kiểm tra, thanh tra hoạt động khai thác khoáng sản.
- Mức độ tận thu khoáng sản, tiết kiệm trong khai thác khoáng sản.
- Mức độ bảo vệ môi trường, bảo đảm an toàn lao động và vệ sinh lao
động trong hoạt động khai thác khoáng sản.
- Mức độ thực hiện các quy định về quản lý hành chính, trật tự và an
toàn xã hội trong hoạt động khai thác khoáng sản.


Chương 3
THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG KHAI THÁC
KHOÁNG SẢN TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH THÁI NGUYÊN
3.1. Đặc điểm địa bàn nghiên cứu
3.1.1. Điều kiện tự nhiên
3.1.1.1. Vị trí địa lý
Tỉnh Thái Nguyên phía bắc tiếp giáp với tỉnh Bắc Kạn, phía tây giáp
với tỉnh Vĩnh Phúc và tỉnh Tuyên Quang, phía đông giáp với các tỉnh Lạng
Sơn và Bắc Giang, phía nam tiếp giáp với Thủ đô Hà Nội. Với vị trí địa lý là
một trong những trung tâm chính trị, kinh tế của khu Việt Bắc nói riêng, của
vùng trung du miền núi Đông Bắc nói chung, Thái Nguyên là cửa ngõ giao
lưu kinh tế xã hội giữa vùng trung du miền núi với vùng đồng bằng Bắc Bộ.
3.1.1.2. Địa hình
“Thái Nguyên có nhiều dãy núi cao chạy theo hướng Bắc Nam và thấp
dần xuống phía Nam. Cấu trúc vùng núi phía Bắc chủ yếu là đa phong hóa
mạnh, tạo thành nhiều hang động và thung lũng nhỏ.
Phía Tây Nam có dãy Tam Đảo với đỉnh cao nhất 1.590m, các vách núi
dựng đứng và kéo dài theo hướng Tây Bắc - Đông Nam.
Ngoài dãy núi trên còn có dãy Ngân Sơn bắt đầu từ Bắc Kạn chạy theo
hướng Đông Bắc, Tây Nam đến Võ Nhai và dãy núi Bắc Sơn chạy theo
hướng Tây Bắc, Đông Nam. Cả ba dãy núi Tam Đảo, Ngân Sơn, Bắc Sơn đều
là những dãy núi cao che chắn gió mùa đông bắc.
Thái Nguyên là một tỉnh trung du miền núi nhưng địa hình lại không
phức tạp lắm so với các tỉnh trung du, miền núi khác, đây là một thuận lợi của
Thái Nguyên cho canh tác nông lâm nghiệp và phát triển kinh tế xã hội nói
chung so với các tỉnh trung du miền núi khác”.
3.1.1.3. Khí hậu
Khí hậu Thái Nguyên vào mùa đông được chia thành 3 vùng rõ rệt:
- “Vùng lạnh nhiều nằm ở phía bắc huyện Võ Nhai.

23


- Vùng lạnh vừa gồm Định Hóa, Phú Lương và phía Nam Võ Nhai.
- Vùng ấm gồm các huyện: Đại Từ, thành phố Thái Nguyên, Đồng Hỷ,
Phú Bình, Phổ Yên và thành phố Sông Công.
Nhiệt độ chênh lệch giữa tháng nóng nhất (tháng 6 là 28,9 độ) với
tháng lạnh nhất (tháng 1 là 15,2 độ) là 13,7 độ. Tổng số giờ nắng trong năm
dao động từ 1.300 đến 1.750 giờ và phân phối tương đối đều cho các tháng
trong năm.
Khí hậu Thái Nguyên chia làm 2 mùa rõ rệt, mùa mưa từ tháng 5 đến
tháng 10 và mùa khô từ tháng 10 đến tháng 5. Lượng mưa trung bình khoảng
2.000 đến 2.500mm/năm; cao nhất vào tháng 8 và thấp nhất vào tháng 1.
Nhìn chung khí hậu tỉnh Thái Nguyên thuận lợi cho phát triển ngành
nông, lâm nghiệp”.
3.1.1.4. Thủy văn
“Sông Cầu là con sông chính của tỉnh và gần như chia Thái Nguyên ra
thành hai nửa bằng nhau theo chiều bắc nam. Sông bắt đầu chảy vào Thái
Nguyên từ xã Văn Lăng, huyện Đồng Hỷ và đến địa bàn xã Hà Châu, huyện
Phú Bình, sông trở thành ranh giới tự nhiên giữa hai tỉnh Thái Nguyên và Bắc
Giang, sau đó hoàn toàn ra khỏi địa bàn tỉnh ở xã Thuận Thành, huyện Phổ
Yên. Ngoài ra Thái Nguyên còn có một số sông suối khác nhưng hầu hết đều
là phụ lưu của sông Cầu. Trong đó đáng kể nhất là sông Đu, sông Nghinh
Tường và sông Công. Các sông tại Thái Nguyên không thuộc lưu vực sông
Cầu là sông Rang và các chi lưu của nó tại huyện Võ Nhai, sông này chảy
sang huyện Hữu Lũng, Lạng Sơn và thuộc lưu vực sông Thương. Ngoài ra,
một phần diện tích nhỏ của huyện Định Hóa thuộc thượng lưu sông Đáy.
Ngoài đập sông Cầu, Thái Nguyên còn xây dựng một hệ thống kênh
đào nhân tạo dài 52 km ở phía đông nam của tỉnh với tên gọi là Sông Máng,
nối liền sông Cầu với sông Thương để giúp việc giao thông đường thủy và
dẫn nước vào đồng ruộng được dễ dàng.
Thái Nguyên không có nhiều hồ, nổi bật nhất là Hồ Núi Cốc, đây là hồ

24


nhân tạo được hình thành do việc chặn dòng sông Công. Hồ có độ sâu 35 m
và diện tích mặt hồ rộng 25 km², dung tích của hồ ước tính từ 160 triệu - 200
triệu m³. Hồ được tạo ra nhằm các mục đích cung cấp nước cho nông nghiệp,
thoát lũ cho sông Cầu và phát triển du lịch. Hiện hồ đã có một vài khu du lịch
đang được quy hoạch và mục tiêu xây dựng thành khu du lịch trọng điểm
quốc gia”.
3.1.2. Điều kiện kinh tế - xã hội
“Tỉnh Thái Nguyên gồm có 02 Thành phố: Thành phố Thái Nguyên,
Thành phố Sông Công, 01 thị xã Phổ Yên và 06 huyện gồm Phú Bình, Đồng
Hỷ, Võ Nhai, Định Hóa, Đại Từ, Phú Lương. Tổng số gồm 180 xã, trong đó
có 125 xã vùng cao và miền núi, còn lại là các xã đồng bằng và trung du.
Thái Nguyên có nền kinh tế phát triển, trong đó công nghiệp đóng vai
trò chủ yếu. Những thành tựu quan trọng có thể kể đến là Thái Nguyên đứng
thứ 2 cả nước về tăng trưởng, thứ ba cả nước về giá trị kim ngạch xuất khẩu.
GDP bình quân đầu người và giá trị sản xuất công nghiệp lần lượt đứng thứ 4
và thứ 3 trong số 10 tỉnh thuộc vùng Thủ đô. Môi trường đầu tư kinh doanh
tiếp tục được cải thiện với chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh xếp thứ 5/63
tỉnh, thành phố năm 2018, 4 năm liên tiếp, tỉnh Thái Nguyên nằm trong số 10
tỉnh, thành có chất lượng điều hành tốt nhất.
Năm 2018, kinh tế - xã hội trên địa bàn tỉnh giữ được đà tăng trưởng;
các chỉ tiêu kinh tế cơ bản như: Giá trị sản xuất công nghiệp duy trì quy mô
cao và đạt tốc độ tăng khá, tạo động lực cho chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo
hướng công nghiệp hóa; xuất khẩu và thu ngân sách trên địa bàn đều đạt cao;
cung cầu hàng hóa được đảm bảo; sản xuất nông nghiệp nhìn chung phát triển
tốt do dịch bệnh truyền nhiễm nguy hiểm trên đàn gia súc gia cầm không phát
sinh, giá bán sản phẩm chăn nuôi đang duy trì ở mức cao. An ninh trật tự, an
toàn xã hội được đảm bảo; các chính sách xã hội được chú trọng và thực hiện
đầy đủ, tạo điều kiện ổn định và cải thiện đời sống dân cư. Bên cạnh đó còn
tồn tại những khó khăn, thách thức như: chỉ số giá tiêu dùng vẫn tiềm ẩn nguy

25


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×