Tải bản đầy đủ

Đề cương môn phương pháp nghiên cứu khoa học

CÂU HỎI PPNCKH
Câu 1. Quan điểm hệ thống - cấu trúc trong nghiên cứu QLGD.
Câu 2. Quan điểm lịch sử-lôgic trong nghiên cứu QLGD.
Câu 3. Quan điểm thực tiễn trong nghiên cứu QLGD.
Câu 4. Phương pháp quan sát khoa học
Câu 5.Phương pháp điều tra (khảo sát).
Câu 6. Phương pháp tổng kết kinh nghiệm giáo dục.
Câu 7. Vấn đề phối hợp sử dụng các phương pháp nghiên cứu trong đề tài QLGD?
Câu 8. Làm rừ lý do chọn đề tài, mục đích, nhiệm vụ, khách thể, đối tượng, phạm
vi giới hạn NC đề tài
Câu 9. Làm rừ lý do chọn đề tài, phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu đề
tài QLGD.
Câu 10. Các bước cơ bản trong giai đoạn triển khai nghiên cứu đề tài QLGD.
Câu 11. Các yêu cầu khi viết công trình KHGD.
Câu 12.Các tiêu chí đánh giá công trình nghiên cứu QLGD.
Chỳ ý: Lấy ví dụ minh họa và rút ra ý nghĩa thực tiễn

1


Câu 1. Quan điểm hệ thống - cấu trúc trong nghiên cứu QLGD.

Trả lời
*KN: Quan điểm tiếp cận hệ thống - cấu trúc trong nghiên cứu khoa học giáo dục:
Là hệ thống luận điểm chỉ dẫn cách tiếp cận đối tượng nghiên cứu bằng phương pháp hệ
thống để phát hiện ra cấu trúc và tính hệ thống của đối tượng.
- Giúp cho người nghiên cứu nhận biết được quan hệ giữa cái bộ phận với cái toàn
thể, mối quan hệ, liên hệ của đối tượng nghiên cứu với các hiện tượng khác trong hệ
thống;
- Thấy được sự vận động, nảy sinh, biến đổi, phát triển của đối tượng, đồng thời
cũng thấy tính ổn định trong một thời điểm nhất định với những điều kiện nhất định của
đối tượng đó.
* Nội dung: Một thực thể bao giờ cũng tồn tại như một hệ thống, trong hệ thống,
có cấu trúc theo những cách thức nhất định; khi nghiên cứu đối tượng đó phải đặt nó
trong hệ thống và trong môi trường nhất định để nghiên cứu tìm ra cấu trúc và tính hệ
thống của nó.
- Hệ thống là tập hợp các thành tố tạo thành một chỉnh thể toàn vẹn, ổn định và
vận động theo quy luật.
- Cấu trúc là tổ chức bên trong, là cách thức riêng của sự tác động giữa các thành
tố trong hệ thống.
- Hệ thống và cấu trúc là những thuộc tính quan trọng của mọi sự vật, hiện
tượng. Giữa hệ thống và cấu trúc luôn thống nhất biện chứng với nhau. Nói đến cấu
trúc là nói đến tính hệ thống, ngược lại nói đến tính hệ thống là nói đến cấu trúc của sự
vật.
* Đặt ra cho hoạt động nghiên cứu khoa học giáo dục những yêu cầu chung như
sau:
- Nghiên cứu các sự vật, hiện tượng giáo dục một cách toàn diện trên cơ sở phân
chia chúng thành từng bộ phận để phân tích, xem xét tìm ra tính hệ thống.
- Nghiên cứu đầy đủ các mối liên hệ bên trong của đối tượng nghiên cứu tìm ra
quy luật phát triển nội tại của chỳng.
- Nghiên cứu đối tượng trong mối liên hệ với các sự vật, hiện tượng khác, với môi
trường, tìm ra các mối liên hệ bên ngoài và điều kiện ảnh hưởng đến sự tồn tại, phát
triển của đối tượng.
- Trình bày kết quả nghiên cứu theo quan điểm hệ thống - cấu trúc.
Câu 2. Quan điểm lịch sử-lôgic trong nghiên cứu QLGD.
Trả lời:
* KN: Quan điểm tiếp cận lịch sử - lôgic trong nghiên cứu khoa học giáo dục: Là
tập hợp các luận điểm chỉ dẫn cách tiếp cận đối tượng nghiên cứu bằng phương pháp
lịch sử -lôgic để tìm quy luật phát triển, dự báo xu hướng tương lai của đối tượng đó.
- Vai trò hướng dẫn tiến trình nghiên cứu tìm tòi, sáng tạo khoa học theo lôgic lịch
sử.


2


- Giúp nhà khoa học nhìn thấy toàn cảnh sự xuất hiện, phát triển và diễn biến của
các đối tượng khách quan, phát hiện quy luật tất yếu về sự phát triển của đối tượng, trên
cơ sở đó có những dự báo chính xác về đối tượng.
* Nội dung: Mọi sự vật, hiện tượng trong thế giới khách quan đều trải qua các giai
đoạn lịch sử hình thành, phát triển và diễn biến khác nhau, luôn chịu sự tác động, chi
phối của hoàn cảnh xã hội lịch sử cụ thể.
- Lịch sử là tất cả những gì đã diễn ra, đã xảy ra, là một sự thật khách quan, ngoài
ý muốn chủ quan của con người.
- Lôgíc là trật tự của quá trình phát triển, là sự phản ánh trong tư duy của con
người về quá trình diễn biến lịch sử của hiện thực khách quan.
* Quan điểm này đặt ra cho hoạt động nghiên cứu khoa học giáo dục những yêu
cầu chung như sau:
- Trong nghiên cứu khoa học giỏo dục phải đặt đối tượng nghiên cứu vào hoàn
cảnh lịch sử cụ thể để phân tích tìm ra nguồn gốc lịch sử vấn đề nghiên cứu.
- Nghiên cứu khoa học giỏo dục phải chỉ ra các giai đoạn phát triển của đối tượng
trong lịch sử và đặc trưng bản chất của từng giai đoạn đó.
- Các vấn đề nghiên cứu khoa học giáo dục phải được chứng minh bằng thực tiễn
lịch sử và được trình bày theo lôgíc lịch sử.
- Nghiên cứu khoa học giáo dục phải dựa vào quan điểm lịch sử - lôgic để tìm ra
quy luật phát triển lịch sử của vấn đề nghiên cứu và dự đoán xu hướng phát triển tương
lai của đối tượng.
Cõu 3. Quan điểm thực tiễn trong nghiên cứu QLGD.
Trả lời:
* KN: Quan điểm tiếp cận thực tiễn trong nghiên cứu khoa học giáo dục: Là hệ
thống luận điểm quan trọng chỉ dẫn cách thức tiếp cận đối tượng nghiên cứu từ thực
tiễn, tạo ra sự thống nhất giữa lý luận với thực tiễn trong quá trình nghiên cứu.
- Vai trò của thực tiễn trong nghiên cứu khoa học giỏo dục
- Định hướng cho nhà khoa học xây dựng những ý tưởng nghiên cứu sát với thực
tiễn, đáp ứng yêu cầu của thực tiễn
* Nội dung: Trong nghiên cứu khoa học giáo dục, từ việc lựa chọn vấn đề nghiên
cứu đến xác định mục đích, mục tiêu, đối tượng, nội dung, phương pháp nghiên cứu phải
xuất phát từ thực tiễn, phù hợp với trình độ phát triển của thực tiễn, hướng vào cải tạo
thực tiễn giỏo dục.
- Thực tiễn là toàn bộ hoạt động vật chất có tính lich sử xã hội của con người
nhằm mục đích cải tạo tự nhiên và xã hội, tạo ra những điều kiện cần thiết cho sự tồn tại,
phát triển của xã hội và con người. Hoạt động thực tiễn có ba dạng cơ bản: hoạt động
sản xuất vật chất, hoạt động cải tạo xã hội và thực nghiệm khoa học. Các dạng hoạt động
đó có quan hệ tác động qua lại với nhau.
- Thực tiễn là nguồn gốc, là động lực, là tiêu chuẩn và là mục đích của nghiên cứu
khoa học.

3


- Sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn là một trong những nguyên tắc cơ bản
của triết học Mác - Lênin, là con đường đạt tới chân lý khách quan trong nghiên cứu
khoa học.
* Quan điểm này đặt ra những yêu cầu chỉ đạo hoạt động nghiên cứu khoa học
giáo dục như sau:
- Nghiên cứu khoa học giáo dục phải đứng trên quan điểm thực tiễn để lựa chọn
đề tài, xây dựng ý tưởng nghiên cứu.
- Nghiên cứu khoa học giáo dục phải nghiên cứu đối tượng trong sự vận động,
phát triển của thực tiễn.
- Kết quả nghiên cứu khoa học giỏo dục phải được chứng minh bằng thực tiễn, có
tác dụng hướng dẫn và cải tạo thực tiễn giáo dục.
Cõu 4. Phương pháp quan sát khoa học
* KN: Phương pháp NCKH là tổng hợp những cách thức, biện pháp mà chủ thể
nghiên cứu sử dụng để nhận thức, khám phá đối tượng nghiờn cứu, tạo ra hệ thống tri
thức mới về đối tượng đó. Gồm các nhóm phương pháp nghiên cứu khoa học sau:
- Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn giáo dục
- Nhóm phương pháp nghiên cứu lý thuyết QLGD
- Nhóm phương pháp nghiên cứu hỗ trợ
* KN: Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn giáo dục: Là hệ thống các phương
pháp mà chủ thể nghiên cứu sử dụng để thu thập, xử lý thụng tin khoa học trên cơ sở
nghiên cứu, khám phá các sự vật, hiện tượng trong thực tiễn quản lý giáo dục và rút ra
các kết luận khoa học từ thực tiễn đó.
- Thường được sử dụng để khám phá, phỏt hiện, xử lý thụng tin, rút ra kết luận khoa học,
đồng thời còn được sử dụng trong việc kiểm chứng các lý thuyết, các kết luận khoa học.
Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn giáo dục bao gồm các phương pháp cụ thể
như: Phương pháp quan sát khoa học; Phương pháp điều tra; Phương pháp nghiên cứu sản
phẩm giỏo dục; Phương pháp thực nghiệm sư phạm; Phương pháp tổng kết kinh nghiệm...
* Phương pháp quan sát khoa học
- Khỏi niệm: Phương pháp quan sát khoa học là cách thức người nghiên cứu thu
thập thông tin về đối tượng nghiờn cứu bằng tri giác trực tiếp hoặc gián tiếp đối tượng đó
và các nhân tố khác có liên quan.
Phương pháp quan sát có hai loại hình cơ bản là quan sát trực tiếp và quan sát gián tiếp.
+ Quan sát trực tiếp là quan sát trực diện đối tượng đang diễn biến trong thực tế
bằng mắt thường hay bằng các phương tiện kỹ thuật.
+ Quan sỏt gián tiếp là quan sỏt diễn biến hiệu quả của các tác động tương tác giữa
đối tượng cần quan sát với các đối tượng trung gian khác, khi không thể quan sát trực tiếp
được đối tượng cần quan sát.
Trong quá trình quan sát, người nghiên cứu có thể sử dụng nhiều thủ thuật quan sát
khác nhau như quan sát toàn diện, quan sát bộ phận, quan sát quá trình, quan sát thời
điểm, quan sát thăm dò...tuỳ theo mục đích nghiên cứu mà lựa chọn loại hình và cách thức
quan sát cho thích hợp.
4


Quan sát với tư cách là một phương pháp nghiên cứu khoa học cần phải có mục
đích xác định, có kế hoạch, có hệ thống.
*Yêu cầu và các bước khi sử dụng phương pháp quan sát:
- Yêu cầu khi sử dụng phương pháp quan sát:
+ Nghiên cứu nắm vững cơ sở lý luận và cách thức tiến hành quan sát khoa học;
+ Hiểu rừ đối tượng quan sát và xác định rừ mục đích, các nhiệm vụ, nội dung, trình tự
quan sát; nên có từ 2 người trở lên cùng quan sát một đối tượng, hoặc quan sát lặp lại nhiều
lần;
+ Số lượng tài liệu thu được phải đủ lớn đảm bảo yêu cầu về thống kê-xác xuất đem
lại độ tin cậy cho kết quả nghiên cứu;
+ Thông tin thu được phải đảm bảo phản ánh khách quan, trung thực hiện tượng
nghiờn cứu, mô tả đúng thực trạng đó diễn ra cả về định tính và định lượng.
+ Phối hợp phương pháp khác để có nhận định khách quan, toàn diện và chính xác hơn
-Cách thức tiến hành quan sát:
+ Xây dựng kế hoạch quan sát.
+ Chuẩn bị quan sát.
+ Tiến hành quan sát.
+ Xử lý tài liệu.
+ Kiểm tra lại kết quả quan sát.
*Những ưu điểm và hạn chế phương pháp quan sát:
- Được sử dụng khá phổ biến, khá hiệu quả: thấy hình ảnh thực, sinh động của sự
vật hiện tượng cần nghiên cứu và qua đó thu thập được nhiều tài liệu khoa học cho qua
trình phân tích, tổng hợp, so sánh để tìm hiểu bản chất, quy luật vận động và mối liên hệ
của đối tượng nghiên cứu.
- Tuy nhiên, nhìn chung quan sát chỉ đưa lại cho người nghiên cứu những biểu hiện
bề ngoài trực tiếp của đối tượng nghiên cứu
- Kết quả quan sát có thể bị chi phối bởi năng lực của cỏc giác quan và phụ thuộc
vào lăng kính chủ quan của người quan sát
- Đôi khi những dấu hiệu thu thập được trong quá trình quan sát không phản ánh
đúng bản chất của đối tượng.
Vì vậy, quá trình quan sát phải tạo điều kiện cho đối tượng vận động một cách tự
nhiên, bộc lộ bản chất của nó, đồng thời phải sử dụng phối hợp quan sát với các phương
pháp khác.
Cõu 5: Phương pháp điều tra (khảo sát).
* Khái niệm: Phương pháp điều tra khảo sát trong nghiên cứu khoa học, là cách thức
người nghiên cứu sử dụng một số câu hỏi nhất loạt đặt ra cho một tập hợp đối tượng người
cần thu thập ý kiến của họ về một vấn đề nào đó cần nghiên cứu tìm hiểu.
* Phương pháp điều tra cú hai loại hình thường dùng là điều tra cơ bản và điều tra xã
hội học.
- Điều tra cơ bản: là khảo sát sự cú mặt của các đối tượng trên một diện rộng để
nghiên cứu các quy luật phân bố cũng như các đặc điểm về mặt định tính và định lượng.
5


Thí dụ: Điều tra địa hình, địa chất; điều tra dõn số, trình độ văn hoá của quốc gia; điều tra
chỉ số thụng minh của học sinh ...
- Điều tra xã hội học: là điều tra quan điểm, thái độ của quần chúng về một sự kiện
chính trị, xã hội, hiện tượng văn hoá, thị hiếu nào đó. Ví dụ: Điều tra nguyện vọng nghề
nghiệp quân sự của thanh niên, học sinh; điều tra hay trưng cầu ý kiến nhân dân về các loại
Luật.
+ Điều tra xã hội học thường được sử dụng phổ biến trong nghiên cứu khoa học giáo
dục bằng cách trưng cầu ý kiến thụng qua phỏng vấn, hội thảo hoặc hệ thống alket.
. Phỏng vấn là cách thức trưng cầu ý kiến thông qua núi chuyện trực tiếp giữa nhà
khoa học với các đối tượng cần biết ý kiến.....
( Câu hỏi phỏng vấn phải được chuẩn bị trước. Người phỏng vấn phải có chiến thuật
chủ động dẫn dắt cuộc trò chuyện )...
. Cách thức phỏng vấn được thực hiện theo cỏc loại hình: phỏng vấn có chuẩn bị
trước; phỏng vấn không chuẩn bị trước; trao đổi trực tiếp; trao đổi qua điện thoại hoặc
qua E-mail. Quá trình phỏng vấn có thể được ghi âm, tốc ký hay quay phim để có tài
liệu đầy đủ về đối tượng.
+ Hội thảo là phương pháp thu thập thụng tin bằng cách tổ chức cho các đối
tượng nghiên cứu tham gia tranh luận khoa học về các tình huống liên quan đến vấn đề
nghiên cứu, thông qua đó để họ bộc lộ quan điểm, tư tưởng của bản thân. Điều quan
trọng nhất trong kỹ thuật tổ chức hội thảo là khộo léo đặt câu hỏi tạo tình huống thu
hút sự tham gia tích cực của các thành viên và tạo bầu không khí tranh luận thực sự
khoa học.
+ Anket là hệ thống các câu hỏi bằng văn bản với các phương án trả lời khác
nhau, người được hỏi chọn phương án trả lời theo quan niệm và nhận thức của mình.
Anket có hai loại là anket đóng và anket mở.
. Anket đóng là hệ thống các câu hỏi với các phương án trả lời sẵn, người được
hỏi chỉ việc chọn một trong các phương án trả lời đó có.
. Anket mở là hệ thống câu hỏi vừa có các phương án trả lời sẵn, vừa có chỗ để
người được hỏi có thể bổ sung ý kiến riêng của mình.
* Yêu cầu và cách thức tiến hành phương pháp điều tra
- Yêu cầu khi sử dụng phương pháp điều tra
+ Xác định rừ mục đích điều tra và nắm rừ đặc điểm, khả năng của đối tượng
điều tra; cần đảm bảo số lượng thông tin đủ lớn (trên 30 người) về đối tượng điều tra
theo yêu cầu của các quy luật xác suất - thống kê.
+ Đối với khoa học giáo dục, vấn đề quan trọng nhất của kỹ thuật xây dựng
phiếu điều tra trong quá trình nghiên cứu là thiết kế hệ thống câu hỏi. Số lượng câu hỏi
trong một phiếu không quá nhiều (thường từ 5 đến 10 câu hỏi).
+ Câu hỏi phải ngắn gọn, rừ ràng, đúng mục đích để người trả lời khụng thể hiểu
sai hoặc đoán mũ. Các câu hỏi phải có tính hệ thống và được sắp xếp theo một chiến
thuật vừa hỗ trợ cho nhau vừa kiểm tra lẫn nhau.
+ Mỗi câu hỏi phải nhằm thu thập một lượng thụng tin cần thiết và khi tập hợp các
thông tin đó sẽ làm bộc lộ nhận thức, tâm trạng hay quan điểm chung của xã hội theo mục
6


đích điều tra. Khi thiết kế bộ cụng cụ điều tra cần dự tính trước cách thức xử lý số liệu
theo từng giai đoạn cả về định tính và định lượng (bảng tổng hợp thống kê sơ bộ...).
* Cách thức tiến hành sử dụng phương pháp điều tra
- Xây dựng kế hoạch điều tra.
- Xây dựng các mẫu phiếu điều tra.
- Chọn mẫu điều tra.
- Tiến hành điều tra.
- Xử lý tài liệu.
- Kiểm tra kết quả điều tra.
Câu 6. Phương pháp tổng kết kinh nghiệm giáo dục.
Trả lời
* Khái niệm: Phương pháp tổng kết kinh nghiệm giỏo dục: Là phương pháp dùng lý
luận nghiên cứu, phân tích, xem xột lại những thành quả của hoạt động thực tiễn giáo dục
trong qúa khứ nhằm rút ra những kết luận, những bài học bổ ích cho thực tiễn và cho khoa
học.
- Tổng kết kinh nghiệm thường hướng vào nghiên cứu diễn biến và nguyên nhân của
các sự kiện và nghiên cứu các giải pháp đó áp dụng trong thực tiễn.
- Phương pháp tổng kết kinh nghiệm còn nhằm phát hiện quá trình hình thành của
những kinh nghiệm sáng tạo, chỉ ra những cơ sở khoa học của các kinh nghiệm tiên tiến
- Đồng thời, tổng kết kinh nghiệm cũng góp phần ngăn ngừa sự tái diễn những sai lầm,
thiếu sót trong quá khứ.
- Tuy nhiên, phương pháp tổng kết kinh nghiệm nếu không được tổ chức chặt chẽ
sẽ dễ dẫn đến tình trạng chỉ thu được những sự kiện, kinh nghiệm vụn vặt, không phản
ảnh đầy đủ đặc trưng bản chất của kinh nghiệm.
*Cách thức tiến hành tổng kết kinh nghiệm giáo dục thường trải qua những bước
cơ bản như sau:
- Phát hiện cỏc sự kiện điển hình.
- Gặp gỡ, trao đổi với các nhân chứng.
- Dựng lại quá trình phát triển của đối tượng.
- Hệ thống hóa kinh nghiệm,rút ra những bài học cần thiết.
- Thảo luận dân chủ.
- Phổ biến rộng rãi các bài học kinh nghiệm.
Cõu 10: Các bước cơ bản trong giai đoạn triển khai nghiên cứu đề tài khoa
học giáo dục
Trả lời:
* Để thực hiện có kết quả của giai đoạn này, đòi hỏi cần nắm vững và thực hiện
tốt các yêu cầu cơ bản sau:
- Phải đảm bảo tính kế hoạch theo nhiệm vụ nghiên cứu đề tài đó xác định.
- Phải sử dụng tổng hợp, nhuần nhuyễn các quan điểm tiếp cận và các phương pháp
nghiên cứu khoa học.
- Quá trình thu thập thông tin và xử lý kết quả phải đảm bảo tính khách quan, chân
thực và được kiểm nghiệm chặt chẽ, đạt tới độ tin cậy cao.
7


- Tuân thủ đầy đủ các bước trong giai đoạn triển khai nghiên cứu.
* Giai đoạn triển khai nghiên cứu một đề tài khoa học giáo dục thường được
tiến hành thông qua các bước cơ bản như:
Bước 1: Thu thập thụng tin, dữ liệu nghiên cứu
Các nguồn thông tin thu thập bao gồm:
- Các công trình khoa học có liên quan trực tiếp hay gián tiếp tới đề tài đó được
công bố trong nước và ngoài nước.
- Các tư liệu, số liệu từ các kho lưu trữ quốc gia, kho lưu trữ của các ngành.
- Tư liệu, số liệu thực tế của các đơn vị, các ngành từ trung ương đến cơ sở.
- Thực trạng phát triển của đối tượng nghiên cứu từ kết quả điều tra, khảo sát, thí
nghiệm, thực nghiệm, tổng kết kinh nghiệm…
- Để thu thập các thông tin, dữ liệu khoa học, đũi hỏi cỏc nhà nghiên cứu phải lựa
chọn nhiều hình thức, phương pháp.
Bước 2: Xử lý các tài liệu đó thu thập
- Xử lý về định lượng:
Xử lý về định lượng là xem xét, đánh giá các tài liệu đó thu thập được về mặt số
lượng xem có đủ độ tin cậy cần thiết không; dùng phương pháp toán học để xử lý các số
liệu tạo thành các tham số đặc trưng có thông tin cô đọng, cho phép nhà nghiên cứu rút ra
được các kết luận cần thiết.
- Xử lý về mặt định tính
Xử lý về định tính là xem xét, đánh giá kết quả nghiên cứu về mặt chất lượng, trên
cơ sở tổng hợp các số liệu đó thu thập được từ các nguồn tài liệu khác nhau; cần thực hiện
các thao tác phân loại - hệ thống hóa - khái quát hoá các số liệu, dữ liệu đó thu thập được;
từ đó vận dụng các thao tác suy luận khoa học để tỡm ra được các tính chất, đặc điểm, qui
luật của đối tượng.
- Đo đạc các kết quả nghiên cứu:
Trong quá trình thu thập, xử lý cỏc thụng tin, nhà nghiên cứu cần phải chú ý đo
đạc các kết quả nghiên cứu. Muốn vậy cần phải xác định chính xác các tiêu chí, các chuẩn
đo và các phương pháp đo đạc. Các tiêu chí đo, chuẩn và thang đo phải được thiết kế
thống nhất, có độ tin cậy cao,đo đúng cái cần đo.
Bước 3: Kiểm tra kết quả nghiên cứu
- Kiểm tra bằng các phép suy luận lôgic
Có hai cách suy luận là: suy luận diễn dịch và suy luận qui nạp.
Suy luận qui nạp là phép suy luận đi từ những tri thức cụ thể đến tri thức khái quát,
từ cái riêng đến cái chung. Suy luận diễn dịch là phép suy luận mà tư duy đi từ cái khái
quát này tới cái khái quát khác, từ cái bộ phận này tới cái bộ phận khác, từ cái cụ thể này
tới cái cụ thể khác. Từ nội dung của phép suy luận, nhà nghiên cứu cần kiểm tra các kết
luận về các thông tin đó được xử lý .
- Kiểm tra bằng thực nghiệm khoa học
Qui trình tiến hành thực nghiệm khoa học được tiến hành qua các bước chính sau:
+ Chuẩn bị cho thực nghiệm.
Xác định rừ mục đích, nội dung, phạm vi, thời gian, đối tượng thực nghiệm.
Cụ thể hoá giả thuyết khoa học của đề tài thành giả thuyết thực nghiệm.
8


Xác định rừ phương pháp tiến hành và chủ thể tiến hành thực nghiệm.xác định
chính xác chuẩn đánh giá, phương thức đánh giá, lựa chọn mẫu thực nghiệm mang tính
phổ biến, giữ vững tính khách quan của quá trỡnh thực nghiệm.
+ Tiến hành thực nghiệm.
Sau khi kiểm tra chu đáo tất cả công tác chuẩn bị cho thực nghiệm, nhà nghiên
cứu tiến hành thực nghiệm một cách thận trọng, chu đáo, nghiêm túc.
+ Phân tích kết quả thực nghiệm.
Sau khi kết thúc thực nghiệm, cần phân tích kết quả thực nghiệm cả về mặt định
lượng và định tính để chứng minh hoặc bóc bỏ giả thuyết.
Cáu 11: Các bước, yêu cầu khi viết công trình KHGD
Đây là giai đoạn trình bày các kết quả nghiên cứu của đề tài khoa học bằng một văn
bản khoa học; Trong giai đoạn này Nhà NC nên cần tuân thủ theo các bước chính:
- Hoàn thiện dàn ý công trình sau khi đó có các kết quả nghiên cứu thu thập được;
- Viết và sửa chữa bản thảo;
- Viết hoàn chỉnh văn bản khoa học trình bày các kết quả của đề tài;
Để viết công trình khoa học đạt được chất lượng, cần chú ý thực hiện một số vấn
đề chính là:
+ Khi viết phần tổng quan vấn đề nghiên cứu, cần phân tích, đánh giá đúng các
công trình khoa học đó được công bố liên quan đến đề tài. Nêu bật được sự kế thừa và
điểm mới của đề tài mà mình sẽ nghiờn cứu. Nờn diễn đạt nội dung cốt lõi của các công
trình đó cụng bố bằng ngôn ngữ của mình, không nên trích dẫn nguyên văn quá nhiều.
Tránh liệt kê đơn thuần các công trình khoa học đó biết, mà phải phân tích, đánh giá
khách quan các kết quả nghiên cứu đó.
+ Xây dựng cơ sở lý thuyết của đề tài. Đây là công việc khó khăn, phức tạp nhất
của quá trình nghiên cứu một đề tài khoa học. Đòi hỏi nhà nghiên cứu phải sử dụng thuần
thục các thao tác phân tích, hệ thống hoá, khái quát hoá các tài liệu và bằng các suy luận
khoa học để tạo ra cơ sở lý luận của đề tài.
+ Xây dựng cơ sở thực tiễn của vấn đề nghiên cứu. Phải sử dụng tổng hợp các
phương pháp nghiên cứu thực tiễn để thu thập các số liêu dữ liệu; đồng thời phải sử dụng
các phương pháp toán thống kê để xử lý số liệu từ đó rút ra được các kết luận khách quan,
chính xác
+ Phải đáp ứng tốt các yêu cầu của một văn bản khoa học: cả về văn phong, về
hỡnh thức, bố cục, về trích dẫn khoa học
Về văn phong trong đề tài khoa học phải sử dụng nhiều dạng ngôn ngữ như lời
văn, biểu đồ, đồ thị, số liệu, biểu thức toán học...để diễn đạt chính xác, sinh động, khách
quan về kết quả nghiên cứu.
9


Sử dụng ngôn ngữ phải đảm bảo độ chính xác về ngữ pháp, ngữ nghĩa; tránh dùng
từ ngữ khoa trương, bóng bẩy, nặng về yếu tố cảm xúc, chủ quan. Câu văn thường được
viết ở dạng bị động để phản ánh khỏch quan, trung thực về kết quả nghiờn cứu.
Về hình thức, bố cục, tuỳ theo tính chất của từng loại đề tài khoa học mà có những
quy định cụ thể. Tuy nhiên phải đảm bảo tính lôgíc, tính hệ thống, nhất quán và phản ánh
chính xác về kết quả nghiên cứu.
Về trích dẫn, phải đảm bảo tính trung thực, tính pháp lý cũng như những yêu cầu về
đạo đức trong trích dân khoa học.
Câu 12. Các tiêu chí đánh giá công trình NC KHGD
1. Mục đích đánh giá
Đánh giá các công trình nghiên cứu khoa học GD là công việc thường xuyên và rất
quan trọng của các tổ chức, cơ quan quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học. Đánh giá các
công trình khoa học nhằm cỏc mục đích cơ bản sau:
Xem xét khách quan chất lượng và giá trị đích thực của các sản phẩm nghiên cứu
(kết quả nghiên cứu đề tài luận văn, luận án, bài báo, sáng kiến kinh nghiệm và các đề tài
khoa học các cấp…), ý nghĩa đối với phát triển khoa học và khả năng ứng dụng trong thực
tiễn.
Quan điểm đánh giá: Đảm bảo tính khách quan và toàn diện là yêu cầu cơ bản của
mọi hoạt động đánh giá, đặc biệt trong lĩnh vực đánh giá kết quả nghiên cứu khoa học.
Yêu cầu khách quan được thực hiện trong suốt quá trỡnh đánh giá, từ xác định mục đích,
yêu cầu, quy trỡnh và phương pháp đánh giá, hệ thống tiêu chí…nhằm phản ánh trung
thực các kết quả và giá trị nghiên cứu, không bị chi phối bởi định kiến chủ quan của
người đánh giá. Trong đánh giá kết quả nghiên cứu phải đảm bảo xem xét một cách toàn
diện mọi mặt các nhân tố khách quan, chủ quan tác động ảnh hưởng trong quá trỡnh
nghiờn cứu; đồng thời đánh giỏ toàn diện cỏc giỏ trị khoa học, kinh tế, xó hội, thụng tin,
đào tạo, nhân lực… Đánh giá tính khách quan của các phương pháp nghiên cứu, tính hiệu
quả của quá trỡnh tổ chức nghiờn cứu so với yờu cầu, mục đích đó xỏc định.
Đánh giá đúng kết quả hoạt động của cá nhân, tập thể các nhà khoa học để nắm
vững hiệu quả hoạt động của họ. Với luận văn, luận án, xem xét đánh giá kết quả quá
trỡnh học tập, nghiờn cứu của người học, qua đó đánh giá đúng nhân cách khoa học để
xét, đề nghị trỡnh độ học vấn cho họ (cử nhõn, thạc sĩ, tiến sĩ).
Với cấp chỉ đạo, thông qua đánh giá là cách thức để tổ chức và quản lý các hoạt
động khoa học, là biện phỏp nghiệm thu sản phẩm, tỡm tũi cỏc phương hướng phát triển
mới của khoa học, phát hiện các cá nhân, tập thể có năng lực nghiên cứu để giao các đề tài
mới phù hợp.
10


2. Tiêu chí đánh giá
* Hiệu quả khoa học:
Đánh giá công trình khoa học trước hết là đánh giá số lượng và chất lượng thông tin
mới mà công trình đem lại. Đó là: những khám phá, phát hiện mới về các hiện tượng khoa
học, các quy luật vận động, phát triển của tự nhiên, xã hội; những đóng góp, bổ sung hay
hoàn thiện lý thuyết khoa học đó có; khả năng áp dụng các thành quả khoa học đó tỡm ra
vào thực tiễn cuộc sống; tỡm, tạo ra cỏc giải phỏp tối ưu có khả năng khai thông cho hoạt
động thực tiễn, thúc đẩy sự vật hiện tượng phát triển; phát hiện ra cách tiếp cận, phương
pháp nghiên cứu mới…
Hiệu quả khoa học của mỗi công trình khoa học biểu hiện ở số, chất lượng những
giá trị thông tin, được đo bằng tính cấp thiết của công trình và tính thời sự về đáp ứng yêu
cầu ứng dụng kết quả nghiên cứu trong thực tiễn giáo dục.
*Hiệu quả kinh tế
Hiệu quả kinh tế của công trình khoa học được đánh giá bằng:
Khả năng ứng dụng kết quả nghiên cứu khoa học GD vào thực tiễn sẽ tạo ra quy
trình mới trong hoạt động giáo dục, đào tạo làm phát triển chất lượng giáo dục, tạo ra
năng xuất lao động sư phạm cao, sản phẩm GD có chất lượng hơn, phục vụ tốt hơn nhu
cầu XH.
Hiệu quả kinh tế của một công trình khoa học GD cần được xem xét, tính toán
ngay trong phạm vi nghiên cứu đề tài; những chi phí cho quá trình nghiên cứu và những
thành quả thu được sau nghiên cứu. Nghĩa là, giá thành một sản phẩm NC khoa học cao
hay thấp, mức độ tiêu thụ về tài chính nhiều hay ít có liên quan trực tiếp đến việc đầu tư
nghiên cứu và hiệu quả của nó.
*Hiệu quả xã hội
Thể hiện qua mức độ đóng góp của CTNC vào Quá trình giải quyết các VĐ xã hội
đặt ra, thúc đẩy XH phát triển (về con người, cộng đồng, giáo dục, nâng cao chất lượng và
mức sống của các tầng lớp dân cư, môi trường…). Đề tài nghiên cứu có giá trị đem lại
hiệu quả xã hội, góp phần giải quyết có hiệu quả những mâu thuẫn, khai thông những
vướng mắc, tồn tại đang đặt ra; tạo ra những quan niệm mới, giải pháp mới, tiến bộ, phù
hợp nhằm thúc đẩy sự phát triển của xã hội theo xu hướng tích cực.
Các đề tài nghiên cứu khoa học GD, việc triển khai nghiên cứu cũng như thực hiện
các giải pháp đưa ra cần hết sức thận trọng và tính toán kỹ đến các hiệu quả cụ thể, trong
đó đặc biệt chú ý đến hiệu quả chính trị - xã hội.
* Hiệu quả thông tin

11


Thể hiện qua QT và kết quả thu thập thông tin, xây dựng cơ sở dữ liệu tin cậy phục
vụ cho các hoạt động nghiên cứu và phổ biến thông tin khoa học về kết quả nghiên cứu.
Các kết quả nghiên cứu được xử lý, thông tin rộng rói trong cộng đồng khoa học và XH.
Các ấn phẩm thông tin khoa học có giá trị được công bố trên các tạp chí trong nước, quốc
tế…và được sử dụng rộng rói trong thực tiễn GD.
*Hiệu quả đào tạo
Hiệu quả đào tạo là sự đóng góp của các hoạt động nghiên cứu khoa học giáo dục
trong công tác đào tạo và phát triển giáo dục, đào tạo đội ngũ nhân lực khoa học về số
lượng và chất lượng thông qua hoạt động nghiên cứu khoa học. Các hoạt động nghiên cứu
đổi mới nội dung, chương trình đào tạo để nâng cao chất lượng và hiệu quả đào tạo. Chất
lượng và hiệu quả nghiên cứu khoa học phụ thuộc nhiều vào yếu tố khách quan và chủ
quan, trong đó yếu tố chủ quan là con người (chuyên gia, cán bộ khoa học) là rất quan
trọng, điều này liên quan đến năng suất lao động tri thức. Lao động tri thức luôn đòi hỏi
năng suất cao và tự chịu trách nhiệm về công việc của mình; sự đổi mới liên tục là công
việc, nhiệm vụ và trách nhiệm của lao động tri thức; nó đòi hỏi họ phải không ngừng học
tập, nghiên cứu và giảng dạy.

12



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×