Tải bản đầy đủ

Vương hổ ứng không vong, nguyệt phá 12 cung trường sinh bí luận

VẬN DỤNG KHÔNG VONG MỘT CÁCH LINH HOẠT
Không vong ngoài các nội dung về cát hung cùng ứng kỳ còn có rất nhiều hàm nghĩa. Không vong là không có ở đây, mất đi, thiếu hụt, bất an,
không có lòng tin, kết cuộc, hư vọng, hư không, giả dối, thấp trũng, hang động, không gian…. Cần căn cứ vào từng quẻ và các việc dự đoán khác
nhau mà vận dụng linh hoạt.
Ví dụ 1:
Ngày Canh Ngọ tháng Tân Hợi Năm Đinh Sửu, xem về thi tuyển công việc được quẻ Thủy Phong Tỉnh biến Tốn.
Phụ Mẫu

Mậu Tý

Huynh Đệ

Tân Mão

Đằng xà

Thê Tài

Mậu Tuất

Tử Tôn


Tân Tỵ

Câu trần

Quan Quỷ

Mậu Thân

Thê Tài

Tân Mùi

Chu tước

Quan Quỷ

Tân Dậu

Quan Quỷ

Tân Dậu

Thanh long

Phụ Mẫu

Tân Hợi

Phụ Mẫu

Tân Hợi

Huyền vũ

Thê Tài

Tân Sửu

Thê Tài



Tân Sửu

Bạch hổ

X
Thế

Ứng

Hào Phụ Mẫu là thành tích, Quan Quỷ là thứ hạng nên đều lấy làm dụng thần.
Quẻ này Hào Phụ Mẫu lưỡng hiện đều lâm Nguyệt Kiến vượng nên cuộc thi này thành tích không tệ. Hào thế không vong là trong lòng không
nắm chắc, lâm Câu Trần là tượng trong lòng rất bận tâm về kết quả thi. Hào Quan Quỷ lưỡng hiện, nhưng kim tại nguyệt hưu tù lại bị Nhật Thần
Ngọ hỏa khắc thương là tượng không có tên trên bảng. Hào động lại là tử địa của quan tinh nên căn bản không có cơ hội xoay chuyển.
Phụ Mẫu cũng là có tên trong danh sách hoặc bảng thông báo trúng tuyển. Hợi thủy không vong là danh sách trúng tuyển không có tên. Hợi hợi
tự hình nên khả năng do lỗi của mình gây ra. Quẻ biến lục xung mọi chuyện cuối cùng không thành.


Ứng nghiệm: Thành tích cuộc thi đúng là điểm số cao nhất. Nhưng vì tự mình không cẩn thận ghi sai số báo danh nên không được trúng tuyển.
Án: Thành tích tốt nhưng lại không thi đậu tất có nguyên nhân. Nếu công việc không có thi tuyển thì lấy hào quan làm chủ. Tý thủy hóa mão cũng
là hóa hình, hình có hàm nghĩa là nhầm lẫn, sửa đổi.
Ví dụ 2:
Ngày Bính Ngọ tháng Quý Tị Năm Bính Tý, một nam 20 tuổi xem về hôn nhân được quẻ Sơn Thủy Mông biến Thiên Phong Cấu.
Phụ Mẫu

Bính Dần

Quan Quỷ

Bính Tý

Tử Tôn

Bính Tuất

Huynh Đệ

Mậu Ngọ

Tử Tôn

Mậu Thìn

Phụ Mẫu

Mậu Dần

Thế

Ứng

Tử Tôn

Nhâm Tuất

Thanh long

X

Thê Tài

Nhâm Thân

Huyền vũ

X

Huynh Đệ

Nhâm Ngọ

Bạch hổ

X

Thê Tài

Tân Dậu

Đằng xà

Quan Quỷ

Tân Hợi

Câu trần

Tử Tôn

Tân Sửu

Chu tước

Lấy tài làm dụng thần. Ứng là thê vị lâm Phụ Mẫu dần mộc. Phụ Mẫu là chứng thư kết hôn, không vong biểu kỳ không có kết hôn. Hào Tài không
hiện trên quẻ là người này trong cuộc sống không có nữ nhân. Cho nên quẻ này là xem về tìm đối tượng.
Hào thế động sinh hào tài, người này đang theo đuổi người khác. Hào Phụ Mẫu cũng là người chủ hôn, không vong là không có người làm mối.
Thê Tài dậu kim phục dưới hào thế Tử Tôn tuất thổ, người này đang theo đuổi nữ tử ở khá gần. Sách viết: “Hào Ba hào bốn là thôn quê, làng xã”,
huống chi Thê Tài dậu kim trường sanh ở nguyệt lệnh, hào thế cũng được nguyệt lệnh sinh, sinh từ một nơi nên đoán là người này hiện đang theo
đuổi 1 nữ nhân là người cùng quê.


Hào Ứng không vong là đối phương không phải thật tâm. Thê Tài không hiện trong quẻ, cô gái này tránh mặt không muốn gặp. Ứng khắc thế là
bên nữ trong lòng không muốn quan hệ, chỉ là người này theo đuổi đơn phương. Hào 3 huynh động hóa tài, là bên nữ ép buộc phải ra ngoài, lâm
Đằng Xà, Đằng Xà chủ quấy rầy, chính là sống chết quấn lấy người ta. Hào tài bị nhật nguyệt khắc, trong quẻ lại có huynh đệ Ngọ hỏa phát động,
hào Ứng không vong đều là tượng bất thành.
Ứng nghiệm: chính xác như trên đã luận đoán, cuối cùng không thành.
Án: Phục, có tượng rời xa, trốn tránh. Dậu ở giữa tam hội cục Thân Dậu Tuất là cùng quê hương. Nguyên thần, hào gian huynh động hóa tài sinh
thế là người giới thiệu.
Ví dụ 3:
Ngày Mậu Ngọ tháng Tị Năm Bính Tý, một nam xem về việc làm ăn buôn bán sắt thép được quẻ Thiên Phong Cấu.
Phụ Mẫu

Nhâm Tuất

Chu tước

Huynh Đệ

Nhâm Thân

Thanh long

Quan Quỷ

Nhâm Ngọ

Huynh Đệ

Tân Dậu

Bạch hổ

Tử Tôn

Tân Hợi

Đằng xà

Phụ Mẫu

Tân Sửu

Ứng

Thế

Huyền vũ

Câu trần

Đoán: Lấy hào tài làm dụng. Mới nhìn qua quẻ thì thấy Thê Tài dần mộc hưu tù không hiện trên quẻ lại tử tại Nhật Thần, nguyên thần Hợi thủy
nguyệt phá là tượng vô tài.


Tuy nhiên, hào thế Phụ Mẫu Sửu thổ là mộ kim, lâm Câu Trần, Câu Trần chủ kiến trúc phòng ốc, Phụ Mẫu cũng chủ kiến trúc phòng ốc, nên Phụ
Mẫu sửu có thể luận rộng ra là nhà kho sắt thép. Tuần không là kho rỗng, là buôn bán không có hàng trong kho, có thể hiểu là không có hàng tích
trữ. Ứng là khách hàng sinh thế, là tượng có nhiều khách, lâm huyền vũ, huyền vũ chủ ái muội mập mờ nên là còn có người đi cửa sau. Luận là
buôn bán rất tốt, cung không đủ cầu, thậm chí còn có người có quan hệ nhờ vả mua sắt thép.
Tử Tôn Hợi thủy nguyệt phá, năm Ất Hợi điền thực đoán là năm 1995 đại phát tài.
Kết quả hoàn toàn chính xác, quẻ này cần phải luận đoán linh hoạt. Nếu người này buôn bán không phải là kim loại sắt thép sợ rằng quẻ này không
thể đoán là phát tài.
Án: đây là ví dụ đặc biệt.
Ví dụ 4:
Ngày Kỷ Hợi tháng Giáp Tý năm Mậu Dần, một người nữ xem về sức khỏe được quẻ Ly.
Huynh Đệ

Kỷ Tỵ

Thế

Tử Tôn

Kỷ Mùi

Chu tước

Thê Tài

Kỷ Dậu

Thanh long

Quan Quỷ

Kỷ Hợi

Tử Tôn

Kỷ Sửu

Bạch hổ

Phụ Mẫu

Kỷ Mão

Đằng xà

Ứng

Câu trần

Huyền vũ

Đoán: lấy hào thế làm Dụng Thần. Quan Quỷ Hợi thủy được nhật nguyệt bang phù cực vượng, lâm hào 3 xung khắc hào thế, hào 3 là thận, thủy
cũng chủ thận, chính là thận thủy quá vượng mà đưa tới bệnh về thận. Thế lâm Câu Trần, Câu Trần chủ sưng tấy cho nên trên người đang bị phù.


Quan Quỷ lâm nguyệt là bệnh đã lâu, bệnh lâu gặp lục xung là hung triệu. May mà hào thế không vong là tượng trốn vào chỗ không, nên Quan
Quỷ khắc hào thế giảm nhược, không đến nổi phát triển nghiêm trọng. Bởi vì thủy là kỵ thần, hào thế tuyệt tại Hợi thủy cho nên bản thân không
thích uống nước, Tài là đi tiểu nhiều lâm hào 4. Hào 4 là nhà vệ sinh, cho nên vừa uống nước xong đã phải đi nhà cầu. Thu đông thủy vượng, trong
2 mùa này bệnh tình nghiêm trọng nhất.
Nữ nhân hào ba là âm, thủy vượng lâm huyền vũ, huyền vũ chủ nan ngôn chi ẩn (việc khó nói, nỗi niềm khó nói), hàn chứng, người này trong
người có hàn chứng, khí hư nhiều. Thế cư hào sáu, hào sáu là đầu, vì tuần không mà không được nguyên thần sinh, lại có quẻ Ly chủ máu huyết,
nguyên thần mão mộc lâm đằng xà, đằng xà chủ ít, nên đoán là bị thiếu máu não.
Kết quả: toàn bộ suy đoán đều chính xác. Cô này bị bệnh thận đã 3 năm, đã chữa nhiều nơi mà chưa khỏi, trên người nhiều chỗ bị phù thũng.
Tại sao không đoán là sẽ chết, bởi vị nội nhân không có hào động khắc thế.
Ví dụ 5:
Năm Mậu Dần tháng Mùi ngày Đinh Sửu, một người nữ xem về việc kiện tụng được quẻ Lôi Hỏa Phong.
Quan Quỷ

Canh Tuất

Phụ Mẫu

Canh Thân

Thê Tài

Canh Ngọ

Bạch hổ

Huynh Đệ

Kỷ Hợi

Đằng xà

Quan Quỷ

Kỷ Sửu

Tử Tôn

Kỷ Mão

Thanh long
Thế

Ứng

Huyền vũ

Câu trần
Chu tước


Đoán: xem mối quan hệ sinh khắc giữa thế ứng làm chủ. Phụ Mẫu là đơn kiện, Phụ Mẫu trì thế là người này đi kiện đối phương, là nguyên cáo.
Không vong là trong lòng không biết nên đối xử với đối phương thế nào, lâm huyền vũ, huyền vũ chủ nội tâm, không vong lại chủ bất an nên đoán
là sau khi kiện đối phương trong lòng bất an.
Quan Quỷ lưỡng hiện ta lấy hào nguyệt phá làm chủ. Quan Quỷ Sửu thổ lâm hào hai, hào hai là trạch lâm Câu Trần chủ đất đai, kiến trúc, là bởi
vì bất động sản mà kiện tụng. Ứng lâm hào hai là ứng nhập phi trạch, là đối phương đã chiếm nhà của, địa bàn người này. Ứng sinh thế là tượng
đối phương muốn cầu hòa. Thế tuần không nên không được sinh là nguyên cáo không đáp ứng.
Tới tháng thân, hào Ứng xuất nguyệt bất phá, hào thế xuất không được sinh người này sẽ chấp nhận điều kiện của đối phương.
Ví dụ 6:
Ngày Quý Mão tháng Mậu Thân năm Đinh Sửu, có một người nam xem về hôn nhân được quẻ Trạch Địa Tụy.
Phụ Mẫu

Đinh Mùi

Bạch hổ

Huynh Đệ

Đinh Dậu

Tử Tôn

Đinh Hợi

Câu trần

Thê Tài

Ất Mão

Chu tước

Quan Quỷ

Ất Tỵ

Phụ Mẫu

Ất Mùi

Ứng

Thế

Đằng xà

Thanh long
Huyền vũ

Đoán: Thê Tài là dụng thần. Thê Tài lâm nhật sinh thế, trước mắt đã có đối tượng mà đối tượng nguyện ý quan hệ qua lại. Dụng Thần mão mộc,
tý ngọ mão dậu là tròn, mộc chủ thon dài, nên người nữ dáng dấp mặt tròn vóc người thon dài.


Dụng Thần mặc dù sinh thế nhưng không nên bị Nguyệt Kiến khắc thương, hào Ứng ám động khắc, ứng là tha nhân (người khác), tháng dậu sợ
có biến cố, đối tượng bị người khác cướp đi. Thế lâm thanh long không vong, không vong không được sinh, thanh long là hỷ, là không có chuyển
hỷ.
Ví dụ 7:
Ngày Ất Mùi tháng Giáp Thân năm Đinh Sửu, có 1 người nam vì đơn vị bắt thăm phân phòng, xem mình có thể được phòng thẳng lên cầu thang
hay không. Bởi vì người này không muốn phòng thẳng hướng cầu thang được quẻ Phong Thủy Hoán biến Thiên Thủy Tụng.
Phụ Mẫu

Tân Mão

Huynh Đệ

Tân Tỵ

Tử Tôn

Tân Mùi

Huynh Đệ

Mậu Ngọ

Tử Tôn

Mậu Thìn

Phụ Mẫu

Mậu Dần

Thế
X

Ứng

Tử Tôn

Nhâm Tuất

Huyền vũ

Thê Tài

Nhâm Thân

Bạch hổ

Huynh Đệ

Nhâm Ngọ

Đằng xà

Huynh Đệ

Mậu Ngọ

Câu trần

Tử Tôn

Mậu Thìn

Chu tước

Phụ Mẫu

Mậu Dần

Thanh long

Đoán: lấy Hào Phụ Mẫu là dụng thần, phụ lưỡng hiện lấy hào sơ Phụ Mẫu dần mộc nguyệt phá làm dụng thần. Dụng thần tại hào sơ là phòng ở
tầng 1, lâm mộc là hướng về phía đông.
Hào năm là đường đi lâm bạch hổ là trong lòng ý muốn rất mạnh, chỗ này có thể hiểu là cầu thang. Hào thế lâm hào 5 không vong là phòng của
người này không đối diện về phía cầu thang.
Buổi chiều sau khi bắt thăm, quả nhiên được phòng tầng 1 ở phía đông, không hướng về phía cầu thang.


NGUYỆT PHÁ BIỆN NGHĨA
Cách dùng Nguyệt phá cùng không vong khá giống nhau, ngoại trừ dùng để luận đoán cát hung và ứng kỳ, bên trong còn bao hàm nhiều nội dung
ý nghĩa khác.
Nguyệt phá là phá hư, diệt trừ, đánh nát, nát bấy, vỡ nát, chia lìa, biệt ly, đổ nát, cái khe, khe hở vết rách, vết thương, mục nát, hủ bại, thối rữa,
phá lệ, bẻ gảy…
Trong một quẻ nếu chỉ bình thường luận đoán về sinh khắc cát hung, sẽ bỏ sót rất nhiều tin tức quý báu quan trọng, khiến cho nguyên bản sự việc
vốn vô cùng phong phú, phức tạp thể hiện trên quẻ trở thành bình đạm, vô vị, không có gì lạ. Chỉ có đi sâu nhận thức được mỗi loại hiện tượng
đều có những hàm nghĩa thâm sâu, mới có thể đạt tới trình độ đoán quẻ tầng bậc cao. Ở đây chỉ nói một số ví dụ có liên quan đến nguyệt phá ngõ
hầu để mọi người có một cái nhận thức mới về nguyệt phá.
Ví dụ 1:
Ngày Đinh Mão tháng Quý Mùi năm Ất Hợi, có người mẹ xem về hôn nhân cho con gái được quẻ Thủy Hỏa Ký Tế biến Thủy Lôi Truân.
Huynh Đệ

Mậu Tý

Quan Quỷ

Huynh Đệ

Mậu Tý

Thanh long

Mậu Tuất

Quan Quỷ

Mậu Tuất

Huyền vũ

Phụ Mẫu

Mậu Thân

Phụ Mẫu

Mậu Thân

Bạch hổ

Huynh Đệ

Kỷ Hợi

Quan Quỷ

Canh Thìn

Đằng xà

Quan Quỷ

Kỷ Sửu

Tử Tôn

Canh Dần

Câu trần

Tử Tôn

Kỷ Mão

Huynh Đệ

Canh Tý

Chu tước

Đoán: Lấy Quan Quỷ làm Dụng Thần.

Ứng

Thế

O


Hào thế không vong là tượng bất an, lâm Đằng Xà là tượng phiền não, động mà hóa mộ là tượng bị vây khốn. Nên đoán là vì chuyện hôn nhân
của con mà trong lòng tâm phiền ý loạn, rất khổ não.
Thế ứng tỉ hòa, không có mai mối khó thành.
Tử Tôn mão mộc nhập mộ tại Nguyệt Kiến Quan Quỷ, đoán là người con cũng rầu rỉ bởi vì tìm không được đối tượng.
Trong quẻ Quan Quỷ lưỡng hiện, tuất thổ không vong. Năm 1994 Giáp Tuất đoán người con trong năm này bỏ một đối tượng. Sửu thổ nguyệt
phá, đoán người con trong tháng này bỏ rơi một đối tượng
Tất cả suy đoán trên đều ứng nghiệm.
Trong quẻ hào thế động mà hóa xuất Quan Quỷ, đoán là năm nay vào tháng hợi có thể xuất hiện một bạn trai, nhưng phải có người bề trên làm
mối mới thành. Sau kết quả như thế nào vì không có tin tức phản hồi nên không rõ.
Ví dụ 2:
Ngày Nhâm Ngọ tháng Bính Thân năm Bính Tý, có người xem về bệnh dạ dày của mình được quẻ Thiên Lôi Vô Vọng biến Phong Thủy Hoán.
Thê Tài

Nhâm Tuất

Huynh Đệ

Tân Mão

Bạch hổ

Quan Quỷ

Nhâm Thân

Tử Tôn

Tân Tỵ

Đằng xà

Tử Tôn

Nhâm Ngọ

Thê Tài

Tân Mùi

Câu trần

Thê Tài

Canh Thìn

Tử Tôn

Mậu Ngọ

Chu tước

Huynh Đệ

Canh Dần

X

Thê Tài

Mậu Thìn

Thanh long

Phụ Mẫu

Canh Tý

O

Huynh Đệ

Mậu Dần

Huyền vũ

Thế

Ứng

O


Đoán quẻ: hào thế Tử Tôn Ngọ hỏa trị nhật, trong quẻ lại có nguyên thần phát động là không đáng ngại. Hào thế là hỏa, nguyên thần Huynh Đệ
dần mộc cư hào 2, nguyệt phá lâm Thanh Long, nguyệt phá chủ thối rữa, nát rữa, lở loét, Thanh Long chủ đau nhức. Hào 3 chủ dạ dày, tĩnh mà
không động, đối với Dụng Thần vô hại, là tượng không có bệnh ở dạ dày. Mà nguyên thần dần mộc nguyệt phá, nên nơi đó chính là vùng bệnh.
Hào hai ở vị trí thấp so với hào ba, lâm mộc, mộc là vật nhỏ mà dài, ứng với bộ vị khu dưới dạ dày là môn vị, tá tràng, bởi vậy 2 chỗ đều có bệnh
mà không phải là bệnh dạ dày. Hào hai dần mộc nguyệt phá là lở loét môn vị, tá tràng.
Tử Tôn trì thế là lúc này đang trị liệu. Phụ Mẫu lâm ứng khắc thế, Phụ Mẫu là bệnh viện, hào Ứng là thầy thuốc cho nên là quá trình điều trị có
tác dụng phụ. Nguyên thần nguyệt phá, xuất nguyệt sẽ không bị phá, phải tháng sau mới có thể khỏi bệnh.
Quả nhiên không phải là bệnh dại dày mà là loét môn vị cùng tá tràng. Người này sợ tôi không biết tên những tạng phủ này nên nói là bệnh dạ
dày, điều trị quả thật có tác dụng phụ.


BÍ LUẬN 12 CUNG TRƯỜNG SINH
Các môn dự đoán đều ít nhiều đề cập đến 12 cung trường sinh, bởi vì phương pháp dự đoán bất đồng mà quan điểm cũng không nhất trí. Về 12
cung trường sinh ứng dụng trong lục hào (bốc phệ), cổ nhân chỉ chú trọng đến Sinh Vượng Mộ Tuyệt còn các phần khác đều không dùng, thật là
đối với Bốc Phệ đã lãng phí đi rất nhiều thông tin dự đoán. Nguyên do vì cổ nhân sử dụng 12 cung trường sinh để cân nhắc sự cát hung của Dụng
Thần làm tiêu chuẩn. Sinh vượng mộ tuyệt cố nhiên có ảnh hưởng đến cát hung của Dụng Thần, nhưng mà 12 cung trường sinh chân chính là sử
dụng trong biện nghĩa, mà không ở biện cát hung, cát hung chủ yếu do Ngũ Hành sinh khắc quyết định. Các sách như Bốc Phệ Chính Tông từng
giảng thuật qua hàm nghĩa của thai dưỡng mộ ( dưỡng chủ hồ nghi, mộ phần nhiều là ám vị. Hóa bệnh là thương tổn, hóa thai là câu liên. Hung
hóa trường sinh, mạnh mà không tan; cát gắn với mộc dục, bại mà không thành). Chúng ta trong quá trình dự trắc đối mặt với rất nhiều sự kiện
phức tạp, chỉ có mở rộng các loại tin tức, mới có thể đạt tới mức độ dự đoán cao, đối với sự việc cần xem có thể luận đoán được những sự tình vi
tế.
Tôi trong thời gian thực tiễn đã khám phá ta cách dùng chân chính của 12 cung trường sinh, qua thời gian nhiều lần sử dụng vô cùng ứng nghiệm.
Nay viết chi tiết ra đây.
1. Trường sinh: Nguồn gốc, khởi điểm, cội nguồn, nguồn gốc, gốc rễ, nguyên thủy, mới ra đời, sinh trưởng, sinh ra, phát sinh, trợ giúp, cứu trợ,
dựa vào, chỗ dựa vững chắc, người giúp đỡ, được cứu vớt, bồi dưỡng, chăm sóc, nhận được, tìm kiếm, thức tỉnh, ăn cơm…
2. Mộc dục: Tắm rửa, nhập thủy, thoát y, lỏa thể, dâm loạn, dâm tiết, đại tiểu tiện, đổ nát, khó coi, vô sỉ, ân trạch, chỗ tốt, làm dịu, chiếu cố, có
lợi, bại lộ, nhẵn bóng; trơ trụi, sáng bóng, bóng loáng, thẳng thắn, hưởng thụ, ngủ, điểm bạc nhược, yếu kém, nơi trí mạng, từ bỏ phòng vệ,
không đề phòng, không có năng lực phòng hộ…
3. Quan đái: Mặc quần áo, đội mũ, y phục, đang trang điểm, trang phục, bao trang, túi xách, trang sức, bề ngoài, cao quý, thăng cấp, vinh dự,
khen ngợi, phần thưởng;, tán thưởng, giành được chứng thư, phòng hộ, bảo quản, che đậy, nhập ngũ
4. Lâm quan: Nhà nước, cơ quan, quốc doanh, quan phủ, ra làm quan, đang làm quan, có vận làm quan, địa vị, nhân viên công vụ; công chức;
viên chức, a dua nghênh tiếp, nịnh hót, có bệnh, tai họa, cách cái chết (ly tử) không xa (bất viễn), nguy hiểm, sầu lo, tự lực cánh sinh, tự mình
nỗ lực, lớn lên, giai đoạn trưởng thành, sắp thành công, phát nguyện, hứa hẹn, biến hóa, xuất quỷ nhập thần, biến hoá tài tình, có nam nhân ở
bên người
5. Đế vượng: Vinh phát, phát đạt, thăng chức, lên cao, đắc ý, thần khí, tỏ vẻ, ra vẻ (đắc ý, ngạo mạn), tinh thần hưng phấn, huy hoàng, cực hạn,
cao triều, cực điểm, đến cùng, hết mức, điểm cuối, kết cục, cường đại, mạnh mẽ, hùng tráng, cao lớn, am hiểu, sở trường, có quyền
6. Suy: Vô lực, lực tiểu, mềm yếu, suy yếu, nhỏ yếu, hư nhược, yếu trí, tàn tạ, sa sút, tiêu điều, suy tàn, xui xẻo, lùi bước, nhược điểm, nhát gan,
nhỏ thấp, không có chỗ dựa, vô năng, không có năng lực, không có bản lãnh, bất học vô thuật, cao không được thấp không xong, không dám
phản kháng.


7. Bệnh: Hàm nghĩa tật bệnh, ổ bệnh, thương tổn, cần uống thuốc, khuyết điểm, nhược điểm, nơi bất túc, thiếu sót, tật xấu, chỗ sơ hở, điểm sơ
hở, chỗ hiểm (trên thân thể), địa điểm quan trọng, tâm bệnh, hủ bại, vấn đề, ôn thần, ghét, căm ghét, căm thù, cừu nhân, nhìn hằn thù, coi là kẻ
thù, tìm vui,
8. Tử: Hàm nghĩa tử vong, chung kết, xong đời, ngưng lại, đọng lại, đáng sợ, yên tĩnh, trống trải, an tĩnh, tàn tạ, sa sút, tiêu điều, không có sinh
khí, không có sức sống, không để ý, để tâm vào chuyện vụn vặt, đi vào chỗ bế tắc, không linh hoạt, không thể biến thông, bướng bỉnh ngoan
cố, chí có 1 con đường tối, ngây ngô, khô khan, cứng nhắc, vụng về, nghĩ không thoáng, lòng dạ hẹp hòi, không còn dư địa, không có đường
lui
9. Mộ: Hàm nghĩa kho tàng, ngăn chặn tứ phía, bao dung, bao hàm, cất chứa, chôn giấu, ẩn núp, đóng kín, thu thập, quyền hạn, quản lý, quản
chế, thuộc về, khống chế, điều khiển, chỉ huy, thâu tóm, cạm bẫy, không tự do, bị quản thúc, bảo vệ, hộ vệ, hôn mê, bóng tối trở lực, bế tắc,
không lưu loát, không thông suốt, kết thúc, ám muội, hồ đồ, không minh bạch, mê mẫn, si mê, nghĩ không ra, luẩn quẩn trong lòng
10. Tuyệt: Hàm nghĩa không có đường lui, nguy hiểm, tuyệt địa, tuyệt cảnh, vách đá, chia tay, đoạn tuyệt, trận quyết chiến, thất vọng, tâm tro ý
lạnh, hết hi vọng, tuyệt vọng, hết thuốc chữa, không thể ra sức, không thể phát triển được lực lượng, lãnh khốc vô tình, đình chỉ, biến mất, vô
ảnh vô tung
11. Thai: Mang thai, nhược tiểu, nhỏ tuổi, ngây thơ, sơ cấp, cất bước, công tác chuẩn bị, tính toán sơ bộ, kế hoạch, hình thành, di truyền, tiên
thiên, thiên sinh, bản tính khó dời, cấu kết, bận tâm, bận lòng, quan tâm, ý tưởng, thai là tiểu mộ, có chút nghĩ không thông, phản ảnh chậm
chạp
12. Dưỡng: Thu dưỡng, nghỉ ngơi, liệu dưỡng, dinh dưỡng, tẩm bổ, bồi dưỡng, dưỡng dục, dựa vào, trợ giúp, nâng đỡ, dưỡng chủ hồ nghi, hàm ý
hoài nghi, không yên lòng, không nỡ, chột dạ, bất an, quan tâm, mới ra đời, sinh trưởng, ký thác, nhận làm con thừa tự, nhược tiểu
Ta dùng hàm nghĩa nào căn cứ vào quẻ cùng nội dung cần đoán, quý tại linh hoạt đa biến.
Ví dụ 1:
Ngày Nhâm Thìn tháng Nhâm Tý năm Đinh Sửu, có người nam xem về việc thai sản của vợ, được quẻ Thiên Trạch Lí biến Thiên Thủy Tụng.
Huynh Đệ

Nhâm Tuất

Huynh Đệ

Nhâm Tuất

Bạch hổ

Tử Tôn

Nhâm Thân

Tử Tôn

Nhâm Thân

Đằng xà

Phụ Mẫu

Nhâm Ngọ

Phụ Mẫu

Nhâm Ngọ

Câu trần

Huynh Đệ

Đinh Sửu

Phụ Mẫu

Mậu Ngọ

Chu tước

Thế


Quan Quỷ

Đinh Mão

Phụ Mẫu

Đinh Tỵ

Ứng
O

Huynh Đệ

Mậu Thìn

Thanh long

Quan Quỷ

Mậu Dần

Huyền vũ

Đoán: Lấy Tử Tôn làm Dụng Thần. Tử Tôn thân kim trì thế là điềm mang thai, hào thai của Tử Tôn là mão mộc lâm hào 2 thai vị, cũng là dấu
hiệu mang thai. Nguyệt Kiến Tý thủy sinh hào thai Quan Quỷ mão mộc, Tý thủy là đất mộc dục của mão mộc là thai nhi lông tóc chưa hình thành,
mới vừa mang thai.
Quẻ này Tử Tôn thân kim tử tại Nguyệt Kiến, trong quẻ Phụ Mẫu phát động khắc là dấu hiệu không hay. Hào động Phụ Mẫu tị hỏa, hào biến Quan
Quỷ dần mộc cùng với Tử Tôn thân kim tạo thành tam hình, sợ rằng thai nhi khó có thể sinh hạ. Tử Tôn là hào dương, hào dương phát động, quẻ
lại thuộc cung Cấn, là nam hài. Về nguyên nhân chết, Tý thủy là đất tử của Tử Tôn thân kim, lại hình hào thai mão mộc, Tý thủy là tài, sợ là vợ
muốn nạo thai.
Hào 6 huynh đệ tuất thổ được Phụ Mẫu tị hỏa sinh trợ, Nhật Thần xung thành ám động khắc tài, tài không hiện trên quẻ, nhập mộ tại nhật, tuyệt
tại hào động Phụ Mẫu tị hỏa, quẻ biến du hồn, là tin tức việc hai người chia tay. Phụ Mẫu là chứng thư kết hôn, lâm Huyền Vũ là ngầm định minh
ước, nhập mộ tại hào ám động tuất thổ là cầm không ra chứng thư kết hôn. Tài phục dưới thế, nhập mộ cũng là tượng kim ốc tàng kiều. Nói rõ là
không có giấy hôn thú, gọi là thê tử chẳng qua là đối tượng sống cùng mà thôi.
Năm Mậu Dần Tử Tôn gặp tuyệt, lại thành tam hình cần đề phòng.
Quả nhiên là ở chung mà chưa kết hôn, nữ phương mang thai. Sau đến năm Mậu Dần tháng mão, hai người bởi vì mâu thuẫn cãi nhau, nữ phương
khăng khăng muốn chia tay, tự mình phá thai, buồn bã chia tay. Thai nhi là nam hài.
1. Hào 2 là thai vị
2. Hỏa sinh thổ, thổ sinh kim tưởng rằng là cát cục. Độc phát trường sinh Dụng Thần cũng cho là cát sao?
Ví dụ 2:


Ngày Tân Tị tháng Đinh Tị năm Mậu Dần, có người nam xem về vận năm được quẻ Hỏa Sơn Lữ biến thuần Ly.
Huynh Đệ

Kỷ Tỵ

Huynh Đệ

Kỷ Tỵ

Đằng xà

Tử Tôn

Kỷ Mùi

Tử Tôn

Kỷ Mùi

Câu trần

Thê Tài

Kỷ Dậu

Thê Tài

Kỷ Dậu

Chu tước

Thê Tài

Bính Thân

Quan Quỷ

Kỷ Hợi

Thanh long

Huynh Đệ

Bính Ngọ

Tử Tôn

Kỷ Sửu

Huyền vũ

Tử Tôn

Bính Thìn

Phụ Mẫu

Kỷ Mão

Bạch hổ

Ứng

Thế

X

Đoán: Tử Tôn trì thế lâm bạch hổ, Tử Tôn là binh lính, bạch hổ chủ đao thương, quẻ thuộc cung Ly, Ly là giáp trụ, nên đoán là hiện đang công
tác tại nghành công an.
Hào thế động hóa hồi đầu khắc, Phụ Mẫu chủ văn thư, là có người cáo trạng. Lâm hào sơ là người thủ hạ, lâm bạch hổ, bạch hổ chủ đạo lộ, mão
mộc là dịch mã ( tị dậu sửu mã tại hợi mão, không phải như các sách chỉ nói mã tại hợi), cho nên người tố cáo là một tài xế và là cấp dưới của
người này. Mão mộc là tử địa của hào thế, là tượng cáo giác đến cùng không đạt mục đích quyết không bỏ qua. Tháng hai là mão, đoán chuyện
này phát sinh ở tháng hai. Tháng Thìn là thổ, bang phù hào thế nên từ tháng ba về sau tương đối hòa hoãn. Tháng tỵ sinh hào thế, đoán có người
giúp đở giải vây, trước mắt nguy cơ đã qua. Tuy nhiên hóa xuất mão mộc không có chế ngự, sợ rằng tháng hợi sinh mão mộc, người kia có chỗ
dựa, lại lần nữa phản công cáo giác. Cần phải tích cực giải quyết chuyện này, không thể không lo.
Những luận đoán trên đều chính xác, người này làm trong nghành công an, do người tài xế có cầu một việc, nhưng vì không được giải quyết mà
ghi hận trong lòng, tố cáo người này tham ô công quỹ, sự kiện phát sinh ở tháng hai. Bởi vì có quan hệ nhiều với ngành tư pháp nên được hết sức
giúp đỡ, đến tháng tư đã bình an. Người này nghe tôi khuyến cáo đã hoàn trả lại toàn bộ công quỹ. Nhưng mà tới tháng hợi, đối phương lại tố cáo
lần nữa, bên tư pháp cho là công quỹ mặc dù đã hoàn trả, cũng phải truy cứu trách nhiệm hình sự, người này vì vậy đã trốn ra ngoài, đến bây giờ
vẫn chưa quay về.
Ví dụ 3:


Ngày Bính Ngọ tháng Mậu Ngọ năm Mậu Dần, có người nữ xem về công việc được Địa Trạch Lâm.
Tử Tôn

Quý Dậu

Thê Tài

Quý Hợi

Huynh Đệ

Quý Sửu

Bạch hổ

Huynh Đệ

Đinh Sửu

Đằng xà

Quan Quỷ

Đinh Mão

Phụ Mẫu

Đinh Tỵ

Thanh long
Ứng

Thế

Huyền vũ

Câu trần
Chu tước

Đoán: Lấy hào Quan Quỷ làm Dụng Thần. Quan Quỷ trì thế là có công việc, phùng không là không có lòng dạ vào công việc. Quan ở hào 2 lâm
Câu Trần, hào 2 là trạch, cổ luận Câu Trần là nha môn, nay luận Câu Trần là nhân viên làm việc tại cơ quan nhà nước.
Quan Quỷ hưu tù, tử tại nhật nguyệt là công việc không có tiền đồ. Ứng lâm huyền vũ, là đất trường sinh của Quan Quỷ, là trong lòng muốn ra
ngoài mưu cầu phát triển. Tuy nhiên hào thế không vong không được sinh, Hợi thủy cũng suy nên muốn thay đổi công việc mà không được.
Người nữ này hiện đang làm tại tòa án, những luận đoán trên đều phù hợp với hiện trạng của cô.
Ví dụ 4:
Ngày Canh Ngọ tháng mão năm Mậu Dần (TK: tuất hợi), La tiên sinh xem vận năm của người bạn được quẻ Cấn biến Sơn Địa Bác.
Quan Quỷ

Bính Dần

Thê Tài

Thế

Quan Quỷ

Bính Dần

Đằng xà

Bính Tý

Thê Tài

Bính Tý

Câu trần

Huynh Đệ

Bính Tuất

Huynh Đệ

Bính Tuất

Chu tước

Tử Tôn

Bính Thân

Quan Quỷ

Ất Mão

Thanh long

Ứng

O


Phụ Mẫu

Bính Ngọ

Phụ Mẫu

Ất Tỵ

Huyền vũ

Huynh Đệ

Bính Thìn

Huynh Đệ

Ất Mùi

Bạch hổ

Án: Dụng lâm tước, thái tuế lâm Quan lâm Xà tác kỵ thần khắc dụng, thân động hóa mão khắc tuất, dương chủ quá khứ, sợ rằng đã có quan phi.
Thân sinh tý, tý xung ngọ, ngọ sinh tuất là cát. Dụng không, ứng tháng Thìn.
Đoán: Lấy huynh đệ làm dụng, lưỡng hiện lấy hào tuần không tuất thổ. Huynh đệ tuất thổ lâm Chu Tước, bị Nguyệt Kiến Quan Quỷ khắc chế, lại
có Quan Quỷ trì thế lâm thái tuế, năm nay bằng hữu tất có quan sự triền thân.
Án: Thái tuế nhập hào, lâm quỷ làm kỵ thần khắc dụng.
Tử Tôn thân kim phát động sinh thê tài Tý thủy, Tý thủy bị nhật xung ám động, tài ám động lại sinh quan, là việc quan ti tố tụng này có liên quan
dây dưa đến rất nhiều vấn đề.
Tử Tôn thân kim lâm Thanh Long động hóa Quan Quỷ, Tử Tôn chủ ngu nhạc (vui chơi giải trí), Thanh Long sắc tình, Quan Quỷ chủ tai họa, chính
là ứng với “Tử Tôn phát động hóa Quan Quỷ, nhạc cực sanh bi (vui quá hoá buồn)”. Thuyết minh là vì nữ nhân hoặc quan hệ nam nữ gây ra. Mà
Thanh Long cũng chủ tài, lại có tài ám động sinh Quan Quỷ, là còn có vấn đề về kinh tế.
Nhật Can là canh, Giáp Mậu Canh ngưu dương, quý nhân tại Sửu Mùi, Sửu thổ có thể hợp trụ Tý thủy, khiến cho Tý thủy không thể sinh kỵ thần
Quan Quỷ, lại có thể làm cho thân kim nhập mộ, không thể sinh hào tài, cũng có thể bang phù tuất thổ, cho nên cần tìm một người cầm tinh ngưu
mới có thể giúp đỡ được. Nếu không, Dụng Thần đế vượng ở Tý thủy, hào đế vượng ám động sinh trợ kỵ thần, là vấn đề trên phương diện kinh tế
sẽ càng làm càng lớn. Nay Dụng Thần Tuần Không là còn núp tại không địa, tháng Thìn xung thực, Dụng Thần nhập mộ thì tai họa lao ngục sẽ
đến.
La tiên sinh lúc ấy nói cho tôi biết, bằng hữu của ông bị kiện vụ án kinh tế, nhưng không liên quan gì đến nữ nhân. Buổi chiều ngày hôn đó, La
tiên sinh lại tới, nói rằng tôi đoán rất đúng, bằng hữu của ông bởi vì mâu thuẫn với nữ nhân sống cùng, bị nữ nhân kia tố cáo nên mới bị cuốn vào
vụ kiện, thật ra thì người này cũng không có tham ô cái gì. Sau tìm được 1 người cần tinh trâu trợ giúp đã giải quyết được chuyện này.


Ví dụ 5:
Ngày Canh Thìn tháng Mùi năm Mậu Dần, một chủ công xưởng khai thác than xem về phong thủy được quẻ Phong Trạch Trung Phu biến Thiên
Thủy Tụng.
Quan Quỷ

Tân Mão

Huynh Đệ

Nhâm Tuất

Đằng xà

Phụ Mẫu

Tân Tỵ

Tử Tôn

Nhâm Thân

Câu trần

Huynh Đệ

Tân Mùi

Phụ Mẫu

Nhâm Ngọ

Chu tước

Huynh Đệ

Đinh Sửu

Phụ Mẫu

Mậu Ngọ

Thanh long

Quan Quỷ

Đinh Mão

Huynh Đệ

Mậu Thìn

Huyền vũ

Phụ Mẫu

Đinh Tỵ

Quan Quỷ

Mậu Dần

Bạch hổ

Thế

Ứng

X

O

Đoán: Công xưởng xem phong thủy là vì hiệu ích kinh tế và sự an toàn của công nhân là chính, nên lấy hào tài làm chủ. Huynh đệ mùi thổ trì thế
phát động, huynh đệ là cửa, lại có hào thế là tọa sơn, phát động lấy phản hướng mà đoán, tọa Sửu hướng Mùi. Thế là quỷ khố là cửa bất chánh,
huynh đệ động hóa Phụ Mẫu lâm Chu Tước, là vừa phá tài lại có quan ti khẩu thiệt.
Hào tài hưu tù không hiện trên quẻ, phục dưới đất tuyệt tỵ hỏa là hiệu ích kinh tế không tốt. Hào sơ là tiểu khẩu, ở công xưởng đại biểu công nhân,
đồng thời hào tài cũng đại biểu công nhân, hào sơ là đất tuyệt của tài, là tài không quay về, công nhân không muốn làm ở công xưởng. Tài lâm
tuyệt địa lại nhập mộ, tại công xưởng công nhân có thương tai. Sơ lâm Bạch Hổ, hào sơ là chân, Bạch Hổ chủ chấn thương do bị ngã, va đập, là
trong công nhân phát sinh thương tai ở chân. Hào tài nhập mộ tại nhật là có sự kiện tử vong. Vì sao tử vong? Trong quẻ tài lâm Câu Trần, Câu
Trần là điền thổ, đoán công nhân tử vong có liên quan đến việc bị khối đất đè ép.
Người xem phản hồi, công xưởng mở hướng tây nam, hiện đang gặp khó khăn về kinh tế, trước mắt chỉ hoạt động một nửa. Trong công xưởng
đúng là phát sinh chuyện tử thương. Người bị thương 1 tại đùi, 1 tại chân, còn có một vì than sập đè trong mỏ ngạt thở mà chết.
Sau căn cứ tình huống sinh khắc trong quẻ mà tiến hành điều chỉnh phong thủy


Ví dụ 6:
Ngày Quý Tị tháng Giáp Tý năm Mậu Dần, xem về sức khỏe của con được quẻ Phong Hỏa Gia Nhân biến Tốn.
Huynh Đệ

Tân Mão

Huynh Đệ

Tân Mão

Bạch hổ

Tử Tôn

Tân Tỵ

Tử Tôn

Tân Tỵ

Đằng xà

Thê Tài

Tân Mùi

Thê Tài

Tân Mùi

Câu trần

Phụ Mẫu

Kỷ Hợi

Quan Quỷ

Tân Dậu

Chu tước

Thê Tài

Kỷ Sửu

X

Phụ Mẫu

Tân Hợi

Thanh long

Huynh Đệ

Kỷ Mão

O

Thê Tài

Tân Sửu

Huyền vũ

Ứng

Thế

Đoán: Tử Tôn tị hỏa nguyệt khắc lâm nhật, lực lượng vượng suy tương đương. Trong quẻ Phụ Mẫu Hợi thủy ám động khắc dụng, nhưng có Sửu
thổ động khắc chế, nguyên thần mão mộc động sinh, cho nên tình trạng sức khỏe tiểu hài vẫn tương đối tốt.
Tử Tôn tị hỏa hào 5 lâm Đằng xà bị Nguyệt Kiến Tý thủy khắc, hào 5 là ngũ quan, hỏa chủ nhãn tình, Đằng xà chủ quái dị, nên đoán là tiểu hài
nhãn tình có chút khác thường. Quẻ thuộc cung tốn, tốn là bạch nhãn, nên đoán là tiểu hài mắt có nhiều điểm trắng như bạch nhãn. Bởi vì kỵ thần
Nguyệt Kiến Tý thủy là thai địa của tị hỏa, nên đoán đây là hiện tượng bẩm sinh.
Phản hồi: tiểu hài thiên sinh điếu bạch nhãn, nhìn như lúc nào cũng trợn trắng con ngươi.
Ví dụ 7:
Ngày Ất Mùi tháng Giáp Tý năm Mậu Dần, một người nam xem bao giờ có con được quẻ Lôi Thiên Đại Tráng biến Càn Vi Thiên.


Huynh Đệ

Canh Tuất

X

Huynh Đệ

Nhâm Tuất

Huyền vũ

Tử Tôn

Canh Thân

X

Tử Tôn

Nhâm Thân

Bạch hổ

Phụ Mẫu

Canh Ngọ

Phụ Mẫu

Nhâm Ngọ

Đằng xà

Huynh Đệ

Giáp Thìn

Huynh Đệ

Giáp Thìn

Câu trần

Quan Quỷ

Giáp Dần

Quan Quỷ

Giáp Dần

Chu tước

Thê Tài

Giáp Tý

Thê Tài

Giáp Tý

Thanh
long

Thế

Ứng

Đoán: Tử Tôn tử tại Nguyệt Kiến, quẻ ngoại phục ngâm, kỵ thần Phụ Mẫu trì thế, hào thế nguyệt phá, quẻ lục xung biến lục xung, tất cả đều là
tượng hung, là điểm không có con. Tử Tôn thân kim là bệnh địa của hào thế, lại có ngoại quái phục ngâm, đoán là vấn đề hài tử luôn trong lòng
như một cái tâm bệnh, vì vậy mà thống khổ vô cùng.
Hào 3 huynh đệ Thìn thổ là nguyên thần của Tử Tôn, lại là đất dưỡng của Tử Tôn. Hào 3 về bộ vị chủ cơ quan sinh dục, không vong nên không
sinh Dụng Thần, là sinh lý có vấn đề. Thìn là thủy khố, thủy là tài, tài là tinh dịch nên Thìn thổ tức là tinh nang. Không vong là số lượng tinh trùng
ít, khó có thể làm vợ mang thai.
Kết quả: người này kết hôn nhiều năm, thê tử vẫn không mang thai. Người đến bệnh viện kiểm tra, khám ra vì người này tinh trùng quá ít.

Ví dụ 8:
Ngày Bính Tý tháng Sửu năm Mậu Dần, có người xem bệnh được quẻ Sơn Thủy Mông biến Địa Thủy Sư.
Phụ Mẫu

Bính Dần

O

Thê Tài

Quý Dậu

Thanh long


Quan Quỷ

Bính Tý

Quan Quỷ

Quý Hợi

Huyền vũ

Tử Tôn

Bính Tuất

Tử Tôn

Quý Sửu

Bạch hổ

Huynh Đệ

Mậu Ngọ

Huynh Đệ

Mậu Ngọ

Đằng xà

Tử Tôn

Mậu Thìn

Tử Tôn

Mậu Thìn

Câu trần

Phụ Mẫu

Mậu Dần

Phụ Mẫu

Mậu Dần

Chu tước

Thế

Ứng

Đoán: Hào thế Tử Tôn tuất thổ, Tử Tôn huyết quản ( mạch máu), tuất là hỏa khố, hỏa chủ huyết, cũng là tượng mạch máu, lâm Bạch Hổ, Bạch Hổ
chủ máu, ý nghĩa càng rõ ràng. Nay hào 6 Phụ Mẫu dần mộc độc phát, dần là bệnh địa của hào thế, động mà khắc thế tất là ổ bệnh, vùng nhiễm
bệnh. Phụ Mẫu chủ đầu, hào 6 cũng chủ đầu, tất là bệnh ở đầu, hào 6 lâm Thanh Long, Thanh Long chủ đau nên đoán là mạch máu não có vấn đề
đưa tới nhức đầu.
Phản hồi: vì nghẽn động mạch đầu đưa tới nhức đầu liên tục.
Ví dụ 9:
Ngày Bính Thân tháng Bính Dần năm mão, có người nam xem về vận năm được quẻ Trạch Sơn Hàm biến Hỏa Sơn Lữ.
Phụ Mẫu

Đinh Mùi

Huynh Đệ

Đinh Dậu

Tử Tôn

Đinh Hợi

Huynh Đệ

Bính Thân

Quan Quỷ

Bính Ngọ

Ứng

Thế

X

Quan Quỷ

Kỷ Tỵ

Thanh long

O

Phụ Mẫu

Kỷ Mùi

Huyền vũ

Huynh Đệ

Kỷ Dậu

Bạch hổ

Huynh Đệ

Bính Thân

Đằng xà

Quan Quỷ

Bính Ngọ

Câu trần


Phụ Mẫu

Phụ Mẫu

Bính Thìn

Bính Thìn

Chu tước

Đoán: Hào thế bị Nguyệt Kiến Thê Tài xung phá, lại có hào tài không hiện trên quẻ, trong quẻ huynh động, là tài không như ý, sự nghiệp không
vừa ý.
Hào 5 huynh đệ lâm Huyền Vũ động hóa Phụ Mẫu mùi thổ, huynh và hào thế cùng ngũ hành bang trợ thế, Phụ Mẫu là tài khố, Huyền Vũ là lừa
gạt, âm thầm, đoán là tuy có nhiều bằng hữu trợ giúp, nhưng cũng bị liên lụy vì bằng hữu, bị mất tiền hoặc lừa gạt. Tài nhập mộ hào Ứng, ứng là
tha nhân, đoán là có vài người cầm tiền mà không trả.
Hào thế bị tài nguyệt xung phá, tài không hiện trên quẻ lại nhập mộ hào 6, tài chủ phân, nước tiểu, đoán là người này bị bệnh táo bón. Thế lâm xà,
xà chủ tâm phiền ý loạn, ác mộng, hoảng sợ, lâm hào 3, hào 3 là giường thì ý nghĩa càng rõ ràng. Nguyên thần Phụ Mẫu mùi thổ là hào 6 bị Nguyệt
Kiến khắc thương là động mà hóa xuất Quan Quỷ là hào 6 chủ đầu, là có bệnh ở đầu. Mùi thổ là đất quan đái của hào thế, lâm Thanh Long chủ
đau đầu, trên đầu dường như mang cái vòng kim cô, đoán là bị suy nhược thần kinh, đau đầu mất ngủ, ngủ không ngon giấc.
Phản hồi nói: mấy năm gần đây dựa vào bằng hữu hỗ trợ kiếm được hơn hai mươi vạn nguyên, các bằng hữu thấy hắn có tiền liền hướng hắn
mượn, chỉ mượn mà không trả. Bản thân có bệnh suy nhược thần kinh, giấc ngủ không tốt, thường bị táo bón.
Ví dụ 10:
Ngày Mậu Thìn tháng Đinh Mão năm mão, có người nam xem về cát hung của vợ con được quẻ Hỏa Trạch Khuê biến Càn Vi Thiên.
Phụ Mẫu

Kỷ Tỵ

Huynh Đệ

Kỷ Mùi

Tử Tôn

Kỷ Dậu

Huynh Đệ

Đinh Sửu

Quan Quỷ

Đinh Mão

X
Thế
X

Huynh Đệ

Nhâm Tuất

Chu tước

Tử Tôn

Nhâm Thân

Thanh long

Phụ Mẫu

Nhâm Ngọ

Huyền vũ

Huynh Đệ

Giáp Thìn

Bạch hổ

Quan Quỷ

Giáp Dần

Đằng xà


Phụ Mẫu

Đinh Tỵ

Ứng

Thê Tài

Giáp Tý

Câu trần

Đoán: lấy Thê Tài cùng Tử Tôn làm Dụng Thần. Thê Tài Tý thủy không hiện trên quẻ, phục dưới hào 5 huynh đệ mùi thổ, phi khắc phục, hào tài
lại tử tại Nguyệt Kiến, nhập mộ tại nhật, kỵ thần Sửu thổ động hóa tiến thần khắc, hung tượng trùng trùng. Nhìn lại Tử Tôn dậu kim, bị nguyệt
xung phá, nhập mộ tại Sửu thổ, nhưng được huynh đệ mùi thổ sinh, lại có Nhật Thần sinh hợp, không đến nổi đại hung.
Thê Tài, Tử Tôn đều nhập mộ, là tượng mất đi tự do. Tài bị Quan Quỷ mùi thổ mộ khố khắc chế (hình như tác giả có nhầm lẫn), quan là công an,
mộ khố là cục công an. Có tượng bỏ tù, lại xem hào Tử Tôn, bị Nguyệt Kiến Quan Quỷ xung phá. Tổng hợp lại đoán là thê tử cùng con cả 2 đều
vào tù.
Là bởi vì chuyện gì mà cả 2 đều vào tù? Hào tài bị huynh đệ mùi thổ khắc thương. Trong dịch ẩn có giảng, mùi thổ là dược liệu, lâm Thanh Long,
Thanh Long là trúng độc, mùi thổ lâm Thanh Long có thể hiểu độc dược. Đoán là thê tử cùng con bởi vì buôn bán ma tuý mà vào ngục.
Hào tài suy cực, Nguyệt Kiến lại hình, đoán là thê tử tội tử hình, hào Tử Tôn được sinh phù, trong trung có cứu, đoán là người con bị xử nhẹ hơn.
Quả nhiên vợ con người này bởi vì buôn bán ma túy mà năm 1998 tháng mùi ngày Ất Mão đều bị bắt vào tù, trải qua khắp nơi bôn tẩu tìm người,
đã dành ra hơn 3 vạn nguyên, sau vợ bị xử tù chung thân, con xử tù 10 năm. Nhưng bị tòa án cấp trên bác, cho là phán hình quá nhẹ nên đã xét xử
lại. Sau kết quả như thế nào, tôi không nhận được phản hồi nên không rõ.
Ví dụ 11:
Ngày Giáp Tuất tháng Đinh Mão năm Kỷ Mão, có người nữ xem vận năm được quẻ Địa Sơn Khiêm biến Lôi Thiên Đại Tráng.
Huynh Đệ

Quý Dậu

Tử Tôn

Quý Hợi

Phụ Mẫu

Quý Sửu

Huynh Đệ

Bính Thân

Quan Quỷ

Bính Ngọ

Thế
X

Ứng

X

Phụ Mẫu

Canh Tuất

Huyền vũ

Huynh Đệ

Canh Thân

Bạch hổ

Quan Quỷ

Canh Ngọ

Đằng xà

Phụ Mẫu

Giáp Thìn

Câu trần

Thê Tài

Giáp Dần

Chu tước


Phụ Mẫu

Bính Thìn

X

Tử Tôn

Giáp Tý

Thanh long

Đoán: Quẻ về vận năm đầu tiên xem cát hung hào thế, đồng thời chiêm đoán mục đích người xem. Phương pháp gồm có: 1. Xem hào sơ, hào sơ
là tâm tư. 2, Xem hào thai của hào thế, hào thai cũng là tâm tư. 3, Xem hào động, thần cơ tại hào động, hào động diễn tả khởi đầu của sự vật. 4,
Xem có thiếu lục thân nào cùng lục thân nào bị không phá, hào bệnh, bởi vì thiên cơ ở nơi bệnh.
Quẻ này hào sơ Phụ Mẫu Thìn thổ lâm Thanh Long phát động, Thanh Long chủ tài bạch, Phụ Mẫu chủ phòng ốc, cửa hàng, tài không hiện trên
quẻ, lại có hào thai của thế là Quan Quỷ Ngọ hỏa động hóa tài, khẳng định người này chủ yếu là hỏi về tài, định mở cửa hàng làm ăn. Trong quẻ
Tử Tôn trì thế là tư bản, tiền bạc, hào tài lâm nguyệt hữu khí, nhưng hào thế Tử Tôn Hợi thủy bị Sửu thổ, Thìn thổ phát động mà khắc, hơn nữa
lại bị Nhật Thần khắc, đoán là năm nay mặc dù có tài là nhưng không nên đầu tư lớn, nếu không dù tiền vốn cũng không thu về được.
Tài lâm Chu Tước là việc làm ăn liên quan đến thực phẩm, ăn uống. Cô này nói là bản thân đã mua đất xây dựng, dự định xây dựng cửa hàng về
thực phẩm, đồ uống.
Đoán tới đây, cô này đột nhiên hỏi có thể xem vận năm cho em hay không. Tôi thấy quan lâm Chu Tước thành tam hợp cục tới khắc hào huynh
đệ, lại có huynh đệ thân kim lâm Câu Trần nhập mộ, liền nói luôn là người em này đã bị công an bắt. Cô này vội hỏi có thể được thả hay không?
Câu hỏi chứng tỏ tôi đoán chính xác. Tôi nói rằng cần tìm một người cầm tinh gà và người cầm tinh lợn giúp đỡ mới được. Cô này nói mình tuổi
lợn, mẹ tuổi gà, mà trong nhà chỉ có 2 người có thể hỗ trợ.
Cô này lại hỏi về hôn nhân, tôi hỏi năm sinh thì nói là sinh năm 1959. Trong quẻ Tử Tôn Hợi thủy trì thế, Quan Quỷ nhập mộ, lại có quẻ biến lục
xung nên khẳng định hôn nhân không tốt. Nhưng Quan Quỷ vượng tướng lâm hào Ứng là phu vị, lại cư hào trạch, đoán là hiện chưa có ly hôn.
Trong quẻ Tử Tôn trì thế, thế khắc hào Ứng là tượng kết hôn muộn. Lại có Phụ Mẫu lâm nhật, sách viết: “Phụ Mẫu lâm nhật, hôn kỳ khả định”.
Tức là lấy hào Phụ Mẫu định hôn kỳ. Hào 4 Phụ Mẫu Sửu thổ động hóa xuất Quan Quỷ, năm sửu tính cả tuổi mụ là 27 tuổi, phù hợp số tuổi kết
hôn muộn, đoán là năm 1985 kết hôn. Năm 92 tới năm 96 kim thủy vượng địa, hào Tử Tôn đắc trợ, đoán những năm này hôn nhân bất hòa. Hào
Ứng quan phục hạ tài, lại động mà hóa xuất 1 tài là 2 tài 1 quan, đoán là trượng phu ngoại tình, bên cạnh hai nữ nhân. Cô này nói rằng tất cả lời
đoán đều đúng.
Tiếp cô này lại hỏi về sức khỏe của mình. Tôi thấy Tử Tôn Hợi thủy trì thế bị Nhật Thần tuất thổ khắc thương, hào 5 là ngũ quan, thủy chủ khẩu,
cổ họng, đoán là bị viêm họng. Quan Quỷ Ngọ hỏa vượng, quẻ thuộc cung Đoài chủ ruột, Ngọ hỏa chủ tiểu tràng, hào 2 về hào vị cũng chủ ruột,
Chu Tước chủ chứng viêm, đoán là bị viêm ruột. Hào 4 Sửu thổ động khắc thế, hào 4 là ngực, Phụ Mẫu chủ ngực, hóa xuất Quan Quỷ là bệnh,


Ngọ hỏa lâm là tâm tạng, lâm Đằng xà là tượng bất an, đồng thời Sửu thổ lại là suy địa của hào thế, hào thế lâm Bạch Hổ, Bạch Hổ chủ máu, đoán
là tâm tạng cung cấp máu không đủ, tâm tạng suy kiệt, thường hoảng hốt. Lại có hào 6 nguyên thần không phá, không sinh hào thế là tượng choáng
váng đầu.
Cô này lại hỏi về cha. Tôi thấy Phụ Mẫu sửu nguyệt khắc nhật hình, động hóa Quan Quỷ, nhập mộ tại hào sơ Thìn thổ, đoán là cha đã không còn
nhân thế. Phụ Mẫu lâm kim khố ở hào 4 là bộ ngực, hệ thống hô hấp có bệnh. Bởi vì Sửu thổ động hóa quỷ, Phụ Mẫu Thìn thổ nhật phá, đoán cha
vào năm 1993 ( Quý Dậu ứng hợp phá) hoặc năm 1997 ( Đinh Sửu) qua đời. Kết quả cô này nói là cha vì ung thư đường hô hấp mà mất năm 1993.
Ví dụ 12:
Ngày Nhâm Tý tháng Canh Thìn năm Canh Thìn, có người bạn xem về việc vợ mang thai đươc quẻ Cấn biến Thủy Hỏa Ký Tế.
Quan Quỷ

Bính Dần

Thê Tài

Bính Tý

Huynh Đệ

Bính Tuất

Tử Tôn

Bính Thân

Phụ Mẫu

Bính Ngọ

Huynh Đệ

Bính Thìn

Thế

O

Thê Tài

Mậu Tý

Bạch hổ

X

Huynh Đệ

Mậu Tuất

Đằng xà

Tử Tôn

Mậu Thân

Câu trần

Thê Tài

Kỷ Hợi

Chu tước

Huynh Đệ

Kỷ Sửu

Thanh long

Quan Quỷ

Kỷ Mão

Huyền vũ

Ứng

X

Đoán: lấy Tử Tôn làm dụng. Tử Tôn thân kim lâm hào 3 được Nhật Thần sinh là có khí. Hào 3 là tử cung lâm Tử Tôn vượng tướng chủ mang thai.
Hào 2 thai, Phụ Mẫu Ngọ hỏa được hào thế dần mộc phát động sinh trợ có Nhật Thần xung là ám động, thai vị lâm Thanh Long cũng là tượng
mang thai.
Tuy nhiên trong quẻ nguyên thần Thìn thổ lâm Nguyệt Kiến động hóa hồi đầu khắc, Tử Tôn tử tại hào tài Tý thủy, tuyệt tại thế là thai nhi khó lòng
được ra đời. Hào thế động hóa Tý là đất tuyệt của Tử Tôn, là bản thân không muốn, lâm Bạch Hổ, Bạch Hổ là huyết thần chủ sảy thai, là tượng


muốn phá thai. Tử Tôn tử tại hào Thê Tài, lại có hào thế động hóa Thê Tài, Thê Tài động hóa nguyên thần của Tử Tôn là tuất, đây là phép cách
sơn hóa hào, hóa xuất nguyên thần của Tử Tôn lâm nguyệt phá là đã định quyết tâm phá thai. Ở đây Hào Cách là thê tài, là nguyên nhân vì vợ mà
muốn phá thai. Hào sơ nguyên thần lâm nguyệt hóa hồi đầu khắc, là dự định trong tháng này phá thai. Bởi vì mão mộc không vong, trong vòng 3,
4 ngày sẽ không đi phá thai.
Kết quả người bạn nói đúng như vậy. Vợ đã mang thai một tháng, bởi vì công ty sắp xếp đến công tác tại Thẩm Quyến một năm, tiền lương rất
cao, cơ hội rất hiếm, cho nên dự định phá thai. Vì mấy ngày gần đây bận rộn không có thời gian, dự định trong thời gian tới sẽ làm.


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×